“Ai cũng muốn được lên thiên đường, nhưng cánh cửa thiên đường không như địa ngục có thể đẩy một cái là mở được ngay. Và chính tôi là người đã nhầm tưởng cánh cửa địa ngục là cửa thiên đường.” Đây là lời của một cán bộ thất thế mà tôi đọc được trên báo hôm nay, nó khiến tôi rất xúc động. Trên thế gian này ngoài cánh cửa thiên đường và địa ngục, có cánh cửa thứ ba không nhỉ? Nếu không thì người ta nỗ lực phấn đấu vì cái gì? Chẳng lẽ chỉ là để đẩy cánh cửa địa ngục? Trải qua bao phen lao tâm khổ tứ, tôi mới bất ngờ phát hiện ra rằng ngày nào tôi cũng phải mở một cánh cửa, đó là cánh cửa văn phòng làm việc cũng là cửa phòng Tổng hợp 2 tòa Thị chính thành phố Đông Châu, bởi tôi là Trưởng phòng. Những lúc mở cánh cửa ấy là lúc tôi dương dương đắc ý nhất, và cũng là khi tâm hồn tôi vô cảm nhất.
Tối qua đi thăm một vị lãnh đạo cũ mà tôi từng dưới trướng nhiều năm. Ông ấy bị bệnh: trúng độc nước tiểu. Đúng, là bệnh trúng độc nước tiểu, chứ không phải nhiễm độc đường tiết niệu. Nhiều người đến thăm cứ nghĩ đó là bệnh nhiễm độc đường tiết niệu chứ khó mà hiểu được bệnh trúng độc nước tiểu, nhưng sau khi nghe ông ấy giải thích, mọi người mới vỡ lẽ. Sở dĩ ông ta bị như vậy là vì uống nước tiểu trong thời gian dài. Mặc dù phải nhập viện, nhưng ông ta vẫn tranh thủ tuyên truyền về “liệu pháp nước tiểu” cho những ai tới thăm. Ông ta say sưa giảng giải về lợi ích của việc uống nước tiểu, lại còn đọc vanh vách câu trong Bản thảo cương mục(1): “Vị mặn, tính hàn, không độc. Chủ trị ho lâu ngày, chảy nước mũi, đau quặn ruột, tổn thương do va đập, sưng trĩ đau nhức.” Ông ta còn nói “liệu pháp nước tiểu” chính là quốc túy, quan niệm ấy vẫn chưa hề thay đổi, hệt như khi tôi còn phục vụ ông ta năm năm về trước. Chẳng những quan niệm vẫn vậy mà còn nỗ lực thực hành theo, đến nỗi bây giờ phải nhập viện gấp.
Nhắc đến “liệu pháp nước tiểu” tôi liền lợm giọng, buồn nôn, cũng giống Sartre(2) từng thấy Buồn nôn(3) vì một tư tưởng mông lung nhạt nhẽo xuất hiện trong đầu. Ông không biết nó là cái gì, cũng không dám nhìn thẳng vào nó mà vẫn thấy buồn nôn. Lúc đầu tôi cho rằng nước tiểu và tư tưởng là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, nhưng sau khi nghe vị lãnh đạo cũ khuyên nên uống nước tiểu, tôi mới chợt nhận thấy té ra “liệu pháp nước tiểu” đúng là một loại tư tưởng, tương tự loại tư tưởng về quốc túy.
Dù nghỉ hưu đã nhiều năm, nhưng xét về địa vị và quá trình cống hiến, vị lãnh đạo cũ ấy vẫn là một “Thái sơn Bắc đẩu” của thành phố Đông Châu. Khi ông ta tuyển tôi thì tôi đang là cán bộ điều tra nghiên cứu của Văn phòng Cục cán bộ lão thành Thành ủy. Sở dĩ ông ta chọn tôi làm thư ký là vì ông ta từng đọc bài tôi viết về “cán bộ lão thành dưỡng sinh thế nào” được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Chính trị Đông Châu. Để viết được bài đó, tôi đã tham khảo đủ loại tư liệu về phương pháp dưỡng sinh của người già. Ông ta đặc biệt tin tưởng vào bài viết và những kiến thức, kỹ thuật nền tảng về dưỡng sinh của tôi. Kỳ thực về phương diện dưỡng sinh, tôi nào có kiến thức và kỹ thuật gì, chẳng qua chỉ nhận lời mời của chuyên mục Quốc túy trên tờ Nghiên cứu Chính trị Đông Châu, viết một bài trong lúc nhàn rỗi, không ngờ nó lại nhận được lời khen ngợi của ông ấy, rồi ma xui quỷ khiến thế nào lại chọn tôi làm thư ký.
Mãi khi nhậm chức, tôi mới biết, ông ta chọn tôi làm thư ký là vì muốn tôi có thể sửa bản thảo một cuốn sách, đương nhiên tính đến thời điểm tôi nhậm chức thì bản thảo này vẫn chưa hề có chữ nào, mà chỉ mới ở dạng ý tưởng của ông ta mà thôi. Mãi đến năm năm sau tính từ ngày tôi nhậm chức, bản thảo mới được hoàn thành với tựa đề Bàn về vấn đề triết học của liệu pháp nước tiểu.
Sách tuy do tôi viết, nhưng người ký tên đương nhiên là ông ta. Ông ta tốn năm năm mới hoàn thành xong tác phẩm tâm huyết, nhưng không vì mục đích xuất bản, mà chỉ là những mẩu ghi chép về kinh nghiệm dưỡng sinh của bản thân để chia sẻ với các cán bộ lão thành, đồng thời cũng lưu lại chút di sản tinh thần cho lớp cán bộ trẻ.
Điều khiến tôi khổ sở nhất là lúc đầu vì không thể hiểu được đầy đủ hàm ý của ông về “liệu pháp nước tiểu”, nên ông ta đã rất không hài lòng với thứ văn chương mà tôi đã chấp bút. Ông một mực tin tưởng rằng thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý. Qua nhiều lần ông ta khuyên nhủ, cũng vì mục đích hoàn thành tốt chức trách của mình, tôi đành phải đích thân trải nghiệm “liệu pháp nước tiểu”, không ngờ đã uống vậy suốt năm năm trời. Hằng ngày, ngoài việc soạn lại những lời nói và suy nghĩ của sếp, ông ấy còn yêu cầu tôi phải viết cả những cảm nhận của mình về“liệu pháp nước tiểu” thành một văn bản, ít nhất hai ngàn chữ trở lên. Ông ấy ngồi duyệt bài của tôi như phê duyệt văn kiện vậy, thậm chí còn dùng cả bút đỏ. Năm năm trôi qua, tôi không những hoàn thành cho sếp một tập tác phẩm Bàn về vấn đề triết học của liệu pháp nước tiểu, mà bản thân còn cảm nhận được rõ rệt nhất về “liệu pháp nước tiểu” ấy.
Tôi được sắp xếp lên Văn phòng Ủy ban thành phố, làm Trưởng phòng Tổng hợp 2. Hôm chia tay sếp, bạn bè mở tiệc chúc mừng. Ông Trời ơi, tôi nhìn những cốc bia màu vàng đang sủi đầy bọt trắng mà nước mắt ròng ròng. Bạn bè ai cũng cho rằng vì tôi được thăng chức, mừng quá nên khóc. Nhưng nào ai biết tôi khóc vì quá tủi thân đâu chứ! Phải uống nước tiểu suốt năm năm ròng rã tôi mới lên được cái chức Trưởng phòng này.
Giờ đây nhớ lại nỗi khổ năm năm uống nước tiểu, tôi như tên tù phạm vừa thoát khỏi trại giam, tinh thần như bị chia thành hai nửa, từng cơn buồn nôn vọt đến tận tim óc.
Đáng lý ra, tôi phải quay trở lại Cục cán bộ lão thành thành ủy, nhưng cũng thật tình cờ, hồi ấy tôi có viết một bài lý luận về “Xây dựng phát triển thành phố Đông Châu” đăng trên Đông Châu nhật báo, rất vừa ý Ủy viên thường vụ mới được thăng chức Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương. Đương nhiên trước đó, mỗi dịp lễ tết, Bành Quốc Lương đều đến thăm sếp của tôi. Sếp cũng rất quan tâm đến sự tiến bộ của ông ta, luôn tính đến chuyện cất nhắc lên ghế lãnh đạo Phó Thị trưởng, vì thế Bành Quốc Lương biết tôi khá rõ. Đúng dịp cuốn Bàn về vấn đề triết học của liệu pháp nước tiểu vừa hoàn thành và được Thành ủy cho in một ngàn cuốn khiến sếp tôi hoàn toàn mãn nguyện, và hẳn là cũng đến thời điểm thả tôi đi rồi. Vừa hay gặp lúc Bành Quốc Lương đến thăm sếp tôi nhân dịp năm mới, đầu tiên Phó Thị trưởng Bành than thở về nỗi khổ tâm vì không có người chấp bút bên cạnh, sau đó là một tràng tán thưởng cách thức hành văn của tôi, đồng thời đề xuất ý kiến muốn đưa tôi về làm Trưởng phòng Tổng hợp 2 của Ủy ban thành phố. Sếp tôi không chút đắn đo vui vẻ đồng ý.
Tôi có được chức trưởng phòng như thế đấy. Có nằm mơ tôi cũng không nghĩ rằng sếp tôi bất ngờ đổ bệnh vì uống nước tiểu. Tất nhiên đây là kết quả chẩn đoán của Tây y, trong khi sếp tôi lại hết lòng tin tưởng Đông y. Ông khăng khăng cho rằng bệnh lần này không phải do uống nước tiểu, mà chỉ vì hai ngày liền không đi tiểu mà thôi. Sở dĩ hai ngày liền không đi tiểu là vì sếp đã hơn 70 tuổi, tuyến tiền liệt có những biểu hiện bất thường, không thải được nước tiểu, làm “liệu pháp nước tiểu” bị gián đoạn. Tối qua lúc đến thăm, thấy ông ta vẫn giữ vững quan điểm, dặn dò: “Chủ động tuyên truyền mọi người nên uống nước tiểu của chính mình nhé!”
Nói thật tôi cũng uống nước tiểu năm năm rồi, nên đối với “liệu pháp nước tiểu” tôi có quyền phát ngôn nhất. Ban đầu nghe theo lời khuyên của sếp, tôi cũng cho rằng uống nước tiểu sẽ “tráng thân kiện thể, kéo dài tuổi thọ”, nhưng đến khi trải nghiệm rồi tôi chợt bừng tỉnh: nước tiểu là chất thải không dễ lọc, do thận bài tiết ra, nếu uống lại há chẳng phải làm tăng thêm gánh nặng cho gan và thận sao? Không trúng độc mới là lạ! Nói rõ ràng, nước tiểu không phải nước, tuy thành phần chủ yếu là nước, nhưng nó lại chính là độc tố, là những chất cặn bã của quá trình trao đổi chất trong cơ thể đào thải ra ngoài. Thực ra xã hội cũng giống cơ thể con người, thông qua những lần thay đổi triều đại trong lịch sử mà đào thải ra vô số thứ văn hóa rác rưởi, nó chính là những thứ tai hại nhất, thế nhưng chúng ta lại luôn coi chúng là những thứ vĩ đại nhất, là văn hóa truyền thống cần phải phát huy. Cảm nhận sâu sắc của tôi về việc “uống nước tiểu” thực ra chính là thứ rác rưởi như vậy.
Tối hôm được thăng chức có một buổi liên hoan chúc mừng, tôi uống khá nhiều nên bạn phải lái xe đưa về. Dọc đường cảm thấy cơ thể nhộn nhạo, buồn nôn, nhìn qua khung cửa sổ xe, dưới ánh đèn đường, tôi thấy một mảnh giấy rách dính dưới đế giày một người đi bộ. Anh ta liền di di mấy cái xuống mặt đường, khiến mảnh giấy rách thêm, rơi ra khỏi đế giày, rồi bị một cơn gió thổi bay tứ phía. Thấy cảnh tượng đó, tôi tự nhắc nhở mình không được coi thường những cơn gió ấy.
Về tới nhà, không kìm được cơn buồn nôn nữa, tôi lập tức tìm lại mớ cảm xúc “uống nước tiểu” mà hai năm trước đã tâm huyết viết ra với hơn một vạn chữ, nay giấy đã ngả vàng trông như những chiếc lá khô, tìm một nơi vắng vẻ đốt nó đi, ánh lửa chiếu đỏ khuôn mặt tôi, ngọn lửa phát ra âm thanh lép bép như tiếng cười chế giễu.
Phòng Tổng hợp 2 mà tôi tiếp nhận, tính ra chỉ có năm người, nhưng tình hình vô cùng phức tạp, đây là điều tôi chưa lường tới được. Cũng khó trách, bước vào văn phòng làm việc của phòng Tổng hợp 2 cũng chính là tiến vào trung tâm quyết sách của Văn phòng Ủy ban thành phố. Phòng Tổng hợp 2 tương đương văn phòng của Phó Thị trưởng thường vụ, do đó tôi cũng sánh ngang Chủ nhiệm văn phòng Phó chủ tịch, ai mà chả thích làm Chủ nhiệm văn phòng Phó Thị trưởng chứ. Nhưng có lẽ người thích vị trí này nhất là Hứa Trí Thái. Anh ta là Phó phòng Tổng hợp 2, cũng là Phó phòng Hành chính. Đừng nhìn vóc người nhỏ thó, khuôn mặt dài như viên gạch của anh ta mà coi thường, bên trong con người anh ta ẩn chứa nhiều điều khiến người khác không dám coi thường đấy. Tôi ghét nhất lúc anh ta hếch miệng trên bộ mặt hắc ám lên để cười, nó khiến tôi luôn nghĩ đến câu thành ngữ Nụ cười giấu dao. Thế cũng tốt, nó thường xuyên nhắc tôi phải dè chừng với anh ta. Tôi gờm mặt Hứa Trí Thái bởi tiền nhiệm của tôi đã bị anh ta làm cho rớt đài, chuyện đó xứng đáng được xem như một cuộc “chính biến”.
Nói đến vị tiền nhiệm của tôi – Triệu Trung, vốn gốc rễ rất vững. Ban đầu chỉ là Phó chủ nhiệm văn phòng thương mại Liên Hoa, sau đó được Phó Thị trưởng, Thường vụ Thành ủy thành phố Đông Châu Lưu Nhất Hạc trực tiếp đưa lên làm Trưởng phòng Tổng hợp 2. Lưu Nhất Hạc là tiền nhiệm của Bành Quốc Lương, vừa được thăng chức Phó Tỉnh trưởng tỉnh Thanh Giang. Nhân cơ hội Lưu Nhất Hạc rời khỏi Đông Châu, Hứa Trí Thái liền ngấm ngầm xúi giục tập thể làm đơn liệt kê ra bảy tội trạng gửi lên Đảng ủy tố cáo Triệu Trung. Đảng ủy lập tức phái Trưởng phòng nhân sự xuống tìm hiểu sự tình, gọi từng nhân viên phòng Tổng hợp 2 để nói chuyện. Đáng thương cho Triệu Trung khi đó đang ở Nhật Bản nghỉ mát, tận hưởng phong cảnh của Hokkaido, khi về nước, Đảng ủy chẳng đoái hoài gì, ngay cả gọi anh ta lên nói chuyện cũng không mà tức khắc điều Triệu Trung xuống Trung tâm phục vụ vừa mới thành lập của cơ quan hậu cần. Sau một phen giãy giụa bầm dập, Triệu Trung không chịu nổi nhục, tức giận từ chức.
Vụ việc đó đã gây ra một trận phong ba bão táp ở văn phòng Ủy ban thành phố. Điều tôi không hiểu được là khi đó hầu như không ai đồng tình với Triệu Trung. Theo lý, việc Triệu Trung phải rời phòng Tổng hợp 2 chỉ là chuyện sớm muộn, bởi “Nhất triều thiên tử, nhất triều thần”(4). Lưu Nhất Hạc tuy thăng chức nhưng “nước xa không thỏa được cơn khát”. Trước khi Lưu Nhất Hạc chuyển đi đã ngầm sắp xếp Triệu Trung làm Phó chủ nhiệm đặc khu kinh tế của thành phố, đang chờ Thành ủy sát hạch thì đã bị Hứa Trí Thái phá bĩnh, chứng cứ của “bảy tội trạng lớn” cũng đã bị phát giác.
Khi Lưu Nhất Hạc còn là chủ quản của bộ phận Kinh tế ngoại thương thì nhân viên phòng Tổng hợp 2 có nhiều cơ hội đi nước ngoài. Mỗi năm có tới bảy, tám lượt xuất ngoại nhưng đều bị Triệu Trung ôm trọn, đến cả Hứa Trí Thái cũng chẳng được sơ múi. Không chỉ dừng lại ở đó, từ khi Triệu Trung nhậm chức Trưởng phòng Tổng hợp 2, toàn bộ công văn giấy tờ chưa từng đếm xỉa đến mà đều đẩy qua cho Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh. Tài liệu giấy tờ thì do Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh viết, nhưng khi họp hành báo cáo với lãnh đạo thì không đến phiên hai người họ. Đây là kiểu nhào nặn đổi ngôi riêng có của Triệu Trung. Nếu cấp trên khen báo cáo nào thì Triệu Trung nhận hết về mình, báo cáo nào không vừa lòng cấp trên thì ông ta đùn sang cho người khác.
Quá đáng hơn, Triệu Trung còn răn đe tất cả mọi người phải giữ khoảng cách nhất định với Lưu Nhất Hạc. Nhân viên điều tra nghiên cứu của phòng Tổng hợp 2 Hoàng Tiểu Minh là thạc sĩ duy nhất của phòng, cũng là tay viết văn rất giỏi, được Văn phòng Ủy ban thành phố công nhận là tài tử. Bao nhiêu công văn báo cáo hóc búa của phòng đều nhờ ngòi bút của anh ta viết ra, nhưng chưa bao giờ Hoàng Tiểu Minh được vào phòng làm việc của Lưu Nhất Hạc, bởi Triệu Trung không cho Hoàng Tiểu Minh có cơ hội gặp ông ta.
Một lần, Triệu Trung bị cảm không đi làm được, đúng ngày đó có đại diện của tập đoàn tài chính Hương Cảng đến Đông Châu hội đàm để làm thủ tục thu mua bia của nhà máy Hắc Thủy. Lưu Nhất Hạc thân chinh đón tiếp, chiêu đãi và hội đàm với khách nên ông ấy yêu cầu phòng Tổng hợp 2 cử người cùng đi. Vừa hay Hứa Trí Thái phải giải quyết khá nhiều đơn từ báo cáo, thế là Phó phòng Hứa cử ngay Hoàng Tiểu Minh tháp tùng Lưu Nhất Hạc. Nếu như bình thường, Hoàng Tiểu Minh chẳng có cơ hội chen chân vào việc này, mà Triệu Trung sẽ đích thân tháp tùng. Đây là việc Triệu Trung không ngờ tới. Hoàng Tiểu Minh đi cùng Lưu Nhất Hạc mới có một lần mà đã giành được thiện cảm của Lưu Nhất Hạc. Ngay sau đó ông ta đã ra chỉ thị với Triệu Trung từ nay cứ để Hoàng Tiểu Minh đi cùng. Cũng không biết Triệu Trung nói gì với Lưu Nhất Hạc, mà từ đó Hoàng Tiểu Minh hoàn toàn bị thất sủng, bất cứ dịp tốt nào cũng không đến lượt. Những chuyện này, sau khi đến phòng Tổng hợp 2 tôi mới tìm hiểu rõ ngọn ngành.
Phòng tôi còn có một nhân viên nữa tên là Chu Đại Vỹ, mới 27-28 tuổi, tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Quản lý doanh nghiệp. Chu Đại Vỹ vào phòng Tổng hợp 2 với mục đích rất rõ ràng, hy vọng sẽ có cơ hội làm thư ký cho vị Thị trưởng nào đó. Sở dĩ có suy nghĩ như vậy đều do cha cậu ấy – Chu Văn Vũ. Hồi đầu Chu Văn Vũ là Trưởng phòng bất động sản của văn phòng Thành ủy, sau xuống vùng duyên hải làm quản lý nhà đất, hiện là một thương gia chuyên mua bán nhà đất có tiếng tăm nhất thành phố Đông Châu. Chu Văn Vũ vốn thích “hô mưa gọi gió”, ra oai trong giới chính trị nhưng lại chẳng làm được gì thành ra thất vọng chán chường. Sau khi con trai tốt nghiệp, muốn đi du học nhưng ông không đồng ý, tổn hao bao tâm tư khuyên nhủ con làm việc trong cơ quan nhà nước, lại dùng trăm phương nghìn kế đưa bằng được con trai vào phòng Tổng hợp 2. Khi đó Chu Văn Vũ dự tính sau năm năm, con trai sẽ được sắp xếp thay thế Tống Đại Minh, làm thư ký cho Thường vụ Thành ủy, Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc. Nhưng “người tính không bằng trời tính”, mới hai năm Lưu Nhất Hạc đã được thăng chức làm Phó Tỉnh trưởng của tỉnh Thanh Giang, lại đem cả thư ký Tống Đại Minh đi theo, thế là giấc mộng của Chu Đại Vỹ đành tạm thời bỏ đó.
Hồi mới đến làm việc, Chu Đại Vỹ đã khác hẳn mọi người, cậu ta rất biết điều, đặc biệt hết mực cung kính Triệu Trung. Sở dĩ Đại Vỹ bước được vào phòng Tổng hợp 2, chủ yếu do cha cậu ta nhờ cậy Tiêu Phúc Nhân, Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban thành phố. Nhưng muốn vào phòng Tổng hợp 2 cũng phải có sự “chiếu cố” của Trưởng phòng, cho nên bố Đại Vỹ đã ngầm mời Triệu Trung dùng cơm vài lần, nghiễm nhiên cậu ta được vào phòng Tổng hợp 2 cũng nhờ cái gật đầu của Triệu Trung. Vì mấy tầng quan hệ này nên Triệu Trung dùng Đại Vỹ như một thư ký riêng, sát sườn.
Một lần, “ông sếp” Triệu Trung đổ bệnh, biểu hiện chứng bán thân bất toại, Triệu Trung biết bố của Đại Vỹ “rộng của nhiều đường” nên hỏi cậu ta có người quen ở khoa nội thần kinh của bệnh viện Lục quân hay không. Cũng may, bạn học của bố Đại Vỹ là Phó chủ nhiệm khoa nội thần kinh của bệnh viện Lục quân. Vì muốn lấy lòng Triệu Trung, Chu Đại Vỹ không những đưa anh ta vào bệnh viện mà còn đưa đi xét nghiệm kiểm tra toàn diện, thế mà sau khi mọi việc hoàn tất, Triệu Trung cũng chẳng thèm nói một tiếng cảm ơn. Mưa như trút nước suốt đêm, sáng sớm vẫn chưa có dấu hiệu tạnh, Đại Vỹ đang trong chăn êm đệm ấm, chợt nghe chuông điện thoại reo, thì ra Triệu Trung gọi, sai cậu ta đến bệnh viện lấy kết quả xét nghiệm cho mình. Đại Vỹ còn đang ngái ngủ, nhưng vì giấc mộng thư ký cho Thị trưởng nên vẫn cố nhẫn nhịn, ngoan ngoãn khoác áo mưa đến bệnh viện. Vụ việc này khiến cậu ta cảm thấy bị sỉ nhục ghê gớm. Tôi đến làm việc đã lâu rồi mà vẫn nghe Đại Vỹ chửi Triệu Trung là “con lợn thối”.
Phòng tôi có duy nhất một “cô nương” – Phó phòng Âu Bối Bối. Âu Bối Bối không chỉ là mỹ nhân duy nhất trong phòng mà cũng là mỹ nhân độc nhất của cả văn phòng Ủy ban thành phố, tốt nghiệp Học viện Ngoại ngữ, nói tiếng Anh cực lưu loát. Cô ta đã gần 30 tuổi nhưng vẫn vô cùng quyến rũ, đôi mắt to như cặp hắc hồ điệp, khiến ai nhìn vào cũng muốn “không yên phận”. Đương nhiên Triệu Trung là người muốn “không yên phận” nhất. Đúng với cái gọi là: “Lâu đài gần nước, sớm được ngắm trăng(5)”. Anh ta không những muốn ăn đậu phụ mà còn muốn uống cả sữa đậu nành. E ngại mối quan hệ giữa Triệu Trung và Lưu Nhất Hạc, Âu Bối Bối giận mà không dám nói.
Rốt cuộc Triệu Trung với Lưu Nhất Hạc có quan hệ thế nào, chẳng ai hay biết, tất cả chỉ là phỏng đoán. Lời phỏng đoán nhiều nhất vẫn là: cha của Lưu Nhất Hạc phải chịu khổ sở trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, được cha của Triệu Trung nuôi sống, dù sao cũng là quan hệ từ đời cha đến con. Triệu Trung có núi lớn để dựa, thảo nào mới hoành hành bá đạo như thế.
Chẳng qua Hứa Trí Thái nhân lúc chỗ dựa của Triệu Trung bất ổn mà kiên quyết xuống tay, tâm địa của ông ta thật “đáng gờm”, huống hồ cuộc “khởi nghĩa” của Hứa Trí Thái lại không giành được thắng lợi cuối cùng, vì bất ngờ tôi lên nhậm chức, phá vỡ mộng tưởng “lật đổ để thay thế” của ông ta. Điều này chứng tỏ quan hệ giữa tôi và Hứa Trí Thái sẽ phải thực sự tế nhị, tôi phải đề phòng ông ta lại phát động cuộc “khởi nghĩa lần hai”. Thông thường, khởi nghĩa không do nguyên nhân và điều kiện bên ngoài quyết định mà bởi nội bộ bên trong. Vậy nguyên nhân bên trong là gì? Qua nhiều lần suy xét, tôi mới nhận ra quan hệ giữa Triệu Trung và đồng nghiệp trong phòng rất bất ổn. Sự bất ổn này là do sự chuyên chế của Triệu Trung tạo thành. Triệu Trung vọng tưởng thông qua phòng Tổng hợp 2 để thực hiện chế độ “quân thần”, nhằm mục đích che đậy năng lực kém cỏi, nương nhờ Lưu Nhất Hạc để tiến thân và bảo vệ lợi ích của riêng mình, thế nên tạo định kiến “tôi chính là phòng Tổng hợp 2, phòng Tổng hợp 2 chính là tôi”, khiến toàn bộ thành viên trong phòng ai cũng ngao ngán, đến mức Hứa Trí Thái phải “đứng lên khởi nghĩa”. Nhưng Hứa Trí Thái không phải là người làm cách mạng chân chính, ông ta không thể cự tuyệt nổi sự mê hoặc “biến hòn gạch thành bánh mỳ”. Kỳ thực hòn gạch cũng chỉ là hòn đảo Abraxas dưới ngòi bút của Sir Thomas More(6), tất cả chỉ là hư ảo.
Thực ra, con người Hứa Trí Thái là vậy, không cần dùng hòn đá để mê hoặc, mà ông ta cần bánh mỳ. Sau khi nhậm chức không lâu tôi liền có cơ hội đi Mỹ, Phó Thị trưởng Bành trực tiếp dẫn đầu đoàn. Tôi nhường cho Hứa Trí Thái cơ hội này, ông ta cười ngay, cái bộ “mặt cục gạch” bỗng lập tức biến thành bánh mỳ.
Cách tôi chọn rất đơn giản, cũng rất thực dụng. Bởi tôi hiểu rằng, thế gian không ai có thể biến hòn đá nóng bỏng trên sa mạc thành những chiếc bánh mì nướng nóng hổi, trừ khi là thượng đế, mà thượng đế lại đã cự tuyệt rồi, họ tin rằng con người sống không chỉ dựa vào bánh mỳ, bởi những bí mật của cuộc sống không chỉ ở trạng thái sống, mà còn ở chỗ “vì sao sống”. Thực ra về bản chất, muôn vàn chúng sinh đều hướng về ba thứ mê hoặc mà Giêsu gặp phải trong sa mạc. Giêsu là thần linh, cho nên nhìn mọi vật đều như không có gì, do đó ông ta vượt qua được mọi thử thách của bọn quỷ Sa tăng. Nhưng con người thuộc phần xác thịt, dù có chút phần thần linh thì cũng ký thác cả vào thân xác. Người trên thế gian, dù có là thánh nhân quân tử cũng đều phải trải qua sự cám dỗ của ma quỷ. Thuở sơ khai, ma quỷ dụ dỗ Adam và Eva ăn trái cấm, về sau dùng mỹ nữ đánh gục anh hùng thiện chiến Đại Vệ Vương, đến cả vua trí tuệ xứ La Môn cũng khó tránh phải cung kính quỳ lạy dưới chân tượng nước khác. Sa tăng còn quỳ trước mặt Thượng đế để tố cáo người công chính Job, khiến ông ấy “thân bại danh liệt”, uất ức trong lòng... muốn chống lại cám dỗ của quỷ Sa tăng, có khác nào “truyện nghìn lẻ một đêm”. Huống hồ nhân viên phòng Tổng hợp 2 chỉ là một phần tử trong muôn vàn chúng sinh giữa thế giới vô biên, cũng chỉ như hạt cát trong sa mạc. Họ không cần Thượng đế, họ cần “ong chúa”, “kiến chúa”, cũng tức là họ cần người phân phát bánh mì. Mục tiêu của tôi chính là biến phòng Tổng hợp 2 thành một đàn ong hoặc tổ kiến, hòa hợp nhất trí, do đó tôi buộc mình phải trở thành “ong chúa” hoặc “kiến chúa”.
Nhưng tôi chỉ là “ong chúa”, “kiến chúa” của phòng Tổng hợp 2, vì khi đứng trước mặt Bành Quốc Lương, tôi cũng chỉ là con ong, cái kiến tầm thường, thậm chí trước mặt Tiêu Phúc Nhân cũng thế. Về điểm này, tôi ý thức được sâu sắc rằng, mọi người trong phòng cũng đều hiểu được. Chính vì thế, ai cũng muốn “đẩy” tôi đi, bởi chỉ có “đẩy” tôi đi, thì khoảng cách giữa họ với “ong chúa, kiến chúa thực sự” mới gần hơn đôi chút.
Vẫn là Hứa Trí Thái hành động đầu tiên. Tôi đã xem nhẹ một vấn đề quan trọng nhất, đó là sau khi mọi người đã có bánh mì, vẫn muốn giải quyết rõ ràng chuyện tôn thờ ai. Chẳng lẽ người của phòng Tổng hợp 2 đều không tôn thờ tôi sao? Không thể, bởi một Trưởng phòng nhỏ bé chỉ biết quỳ lạy dưới chân quyền uy, thì sao có thể trở thành quyền uy? Sau khi toàn bộ viên chức phòng Tổng hợp 2 lần lượt được đi tham quan nước ngoài, tôi mới nhận ra ham muốn “được voi đòi tiên” của họ ngày càng mãnh liệt hơn. Điều khiến tôi mất ăn mất ngủ nhất là việc Âu Bối Bối nói với tôi, gần đây Hứa Trí Thái có đi dự tiệc cùng Phó Thị trưởng Bành, hơn nữa bữa tiệc này được tổ chức tại “Nhà hàng Thế giới”. Mọi người nên biết phải là khách quý quan trọng mới được Phó Thị trưởng mời dùng bữa tại Nhà hàng Thế giới. Âu Bối Bối còn cho biết, chỉ có 4 người tham dự bữa tiệc: Bành Quốc Lương, Hồ Chiếm Phát, Hứa Trí Thái và một ông già bí ẩn. Sở dĩ gọi là “ông già bí ẩn” vì ông ấy hơn 50 tuổi. Hồ Chiếm Phát là thư ký của Phó Thị trưởng Bành, cũng là một “con quỷ háo sắc, ngắt hoa, ghẹo cỏ”. Âu Bối Bối biết được thông tin này từ miệng của Hồ Chiếm Phát cũng không có gì là lạ, vấn đề mấu chốt là “ông già bí ẩn” kia là ai? Ông ta với Hứa Trí Thái có quan hệ thế nào? Tại sao Bành Quốc Lương lại hạ mình chiêu đãi ông ta? Hàng loạt câu hỏi cứ rối lên, khiến tôi mất ăn mất ngủ.
Lúc đầu tôi định bảo Âu Bối Bối dò hỏi ở chỗ Hồ Chiếm Phát, nhưng đường đường là Trưởng phòng, tôi không thể hạ mình mở miệng nhờ vả điều đó. Tôi không phải hạng đàn ông thấy phụ nữ đẹp mà không muốn “mây mưa”, thậm chí tôi còn ao ước năm năm làm thư ký cho sếp cũ, thứ tôi uống không phải nước tiểu của chính mình, mà là của Âu Bối Bối, nhất định đó sẽ là một sự hưởng thụ tuyệt vời! Những bài viết về “cảm giác khi uống nước tiểu” của tôi chắc hẳn sẽ trở thành áng văn thơ “thiên cổ tuyệt mỹ”. Ấy vậy mà Bối Bối càng tỏ vẻ xinh đẹp dyên dáng, tôi lại càng giả vờ chẳng “động lòng”. Nikolai Gavrilovich Chernyshevsky(7) từng nói: “Nhà cách mạng nằm trên tấm gỗ đóng đinh để luyện rèn ý chí.” Tôi thầm nghĩ “ngủ trên tấm gỗ đóng đinh” thì có là gì, có bản lĩnh cứ thử đứng trước mặt Bối Bối mà không có ý đồ gì xấu xa, đó mới là ý chí thật sự. Để giữ chặt “chỗ ngồi” của mình, ngày nào tôi cũng phải vật lộn chống chọi với cám dỗ khủng khiếp như vậy đấy.
Chớp mắt tôi đã làm Trưởng phòng được hai năm. Tuy không bị nỗi đau “uống nước tiểu” giày vò nữa, nhưng lại gặp phải kiểu “biển chết mênh mông, mịt mù không biết đâu là bờ”. Trên tường phòng làm việc có treo một chiếc đồng hồ bằng thạch anh, mỗi khi nhìn nó, tôi có cảm giác như nhìn vào một hố sâu thăm thẳm, giống hệt một hầm bẫy, còn tôi lại cam tâm tình nguyện tiến vào đó. Có lúc tôi lại cảm thấy nó như khuôn mặt, khuôn mặt này biết vui giận thất thường, biến hóa phức tạp nhưng không hiểu sao đều biến thành mặt của mấy người trong phòng Tổng hợp 2: Có lúc biến thành bộ mặt “da cười, thịt không cười” của Hứa Trí Thái – khuôn mặt mà tôi ghét nhất, vì nó có khả năng biến thành khuôn mặt người chú ruột của Hamlet Calaudius; có lúc biến thành khuôn mặt sáng sủa của Hoàng Tiểu Minh, đây là khuôn mặt tôi ghen tỵ nhất, vì nó luôn toát lên sự kiêu ngạo mà cao quý; có khi lại biến thành khuôn mặt xinh đẹp đến rung động lòng người của Bối Bối, đó là khuôn mặt tôi rất thích; có lúc lại biến thành khuôn mặt với vẻ đơn thuần của Đại Vỹ, đây là khuôn mặt có vẻ dễ bị lợi dụng nhất. Tuy nhiên, cũng có lúc biến thành mặt tôi, khuôn mặt đã từng uống nước tiểu, cứ đung đưa, chẳng khác gì quả lắc đồng hồ. Kỳ thực, chiếc đồng hồ bằng thạch anh này hệt như một con mắt khổng lồ, lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào thế giới nội tâm của chúng tôi.
Sau khi nhậm chức, tôi có gặp Triệu Trung một lần, đó là lần anh ta mời tôi ăn cơm. Tôi nhận lời một phần vì nể mặt, một phần vì muốn tìm hiểu thêm về phòng Tổng hợp 2, nhất là về trận “chính biến” khiến anh ta rớt đài. Hình như Triệu Trung – một kẻ rất giỏi “xúi giục, ly gián” cũng nhận ra tâm tư của tôi, nhưng tôi cũng chẳng phải kẻ khù khờ không biết gì, vẫn giữ được đầu óc tỉnh táo. Dù sao anh ta cũng kể cho tôi một vài chuyện mà tôi không lường trước được. Triệu Trung nói: “Kẻ lãnh đạo thật sự của cuộc ‘chính biến’ trong phòng Tổng hợp 2 lần đó, không phải là Hứa Trí Thái!” Tôi giật mình, vội hỏi: “Không phải Hứa Trí Thái, vậy là ai?”
Triệu Trung ngậm điếu thuốc, cười nói: “Dương Hằng Đạt ơi là Dương Hằng Đạt! Tôi cứ tưởng cậu tinh tường hơn tôi, hóa ra cũng chỉ là loại ‘đại ngu nhược trí(8)’! Tôi hỏi cậu, nếu Hứa Trí Thái lên chức Trưởng phòng Tổng hợp 2, thì ai có khả năng lên Phó phòng nhất?”
Tôi lẩm bẩm: “Lẽ nào lại là Hoàng Tiểu Minh.”
Triệu Trung giơ ngón tay trỏ, dí dí vào mặt tôi mấy cái, rồi nốc hết cốc bia. Ý đồ của Triệu Trung rất rõ ràng, tôi muốn yên ổn cần “áp sát” Hoàng Tiểu Minh. Đây đúng là chỗ “ngu xuẩn” nhất của Triệu Trung. Từ Triệu Trung, biết Hoàng Tiểu Minh là “bom hẹn giờ” của phòng, tôi muốn “quả bom” đó không nổ, thì cần phải liên minh với Hoàng Tiểu Minh, kiềm chế Hứa Trí Thái, khiến hai người họ “đấu đá” với nhau, còn tôi sẽ làm trọng tài. Chính trị là tạo sự cân bằng, nhưng một khi cân bằng bị phá vỡ, chắc chắn sẽ xảy ra “chính biến”. Triệu Trung vì không hiểu quy luật này, kết quả Hoàng Tiểu Minh ngầm câu kết với Hứa Trí Thái, đẩy anh ta “rớt” khỏi vũ đài chính trị. Nhìn thấu điểm này, tôi sẽ cho Hoàng Tiểu Minh những lợi ích tốt nhất, cũng sẽ giao cho cậu ta cây “phất trần” trong công việc, khiến Hứa Trí Thái ghen tỵ, hình thành cục diện “một núi hai hổ”, tôi sẽ “ngọa sơn quan hổ đấu”. Qua một thời gian điều chỉnh, tôi hoàn toàn khống chế được “cục diện” nội bộ của phòng, nhưng lại lơ là một người – Chu Đại Vỹ.
Chu Đại Vỹ vừa cặp kè với Hồ Chiếm Phát, vừa “canh cánh” về Hoàng Tiểu Minh. Hồ Chiếm Phát đã có kinh nghiệm năm năm làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành, chẳng lẽ lại đổi người? Sau này tôi mới phát hiện ra đầu mối tại phòng tư liệu của văn phòng Ủy ban. Bởi thời gian đó tôi thường xuyên thấy Hoàng Tiểu Minh đến phòng tư liệu. Một hôm, nhân lúc cậu ta không ở đó tôi đến phòng tư liệu, phát hiện những tài liệu mà Hoàng Tiểu Minh tìm đọc đều liên quan tới vấn đề “Cải cách xí nghiệp quốc doanh”. Đây chắc chắn là viết luận văn, nhưng ai viết? Chẳng lẽ thằng cha này học lên tiến sĩ? Không thể, cậu ta học thạc sĩ ngữ văn, sao học nổi tiến sĩ kinh tế? Tôi sực tỉnh, Phó Thị trưởng Bành đang làm nghiên cứu sinh kinh tế, chuyên ngành Quản lý Kinh tế Quốc dân, việc này trở thành tảng đá đè nặng lòng tôi. Rõ ràng tôi và Hồ Chiếm Phát đều là hai cánh tay đắc lực của Phó Thị trưởng Bành, nhưng tôi thấy khá ngứa mắt khi Hồ Chiếm Phát thường “hoa múa chân tay” ở phòng Tổng hợp 2, bất kỳ có tài liệu nào trong tay, anh ta cũng “mũi ngang mắt dọc” dòm ngó, cứ như báo cáo do chính mình viết ra vậy, còn phòng Tổng hợp 2 nghiễm nhiên thuộc về mình. Từ sau khi tôi phát hiện cái tật “hoa chân múa tay” của Hồ Chiếm Phát, bất cứ công văn nào của Phó Thị trưởng Bành, tôi cũng rà soát lại những điều mà Hồ Chiếm Phát đích thân báo cáo với ông ta. Nhờ thế Hồ Chiếm Phát được tôi “giải vây” cho mấy lần, nên nhớ mãi trong lòng.
Hồ Chiếm Phát có xuất phát điểm khá thấp, chỉ là thư ký cho Phó phòng, nhưng một khi Phó Thị trưởng Bành rời đi thì rất có thể ông ta sẽ vào vị trí tương đương tôi, dù vậy tôi cũng coi như chẳng có chuyện gì to tát, tôi đã có sếp cũ chống lưng phía sau, lại là người được Bành Quốc Lương trực tiếp tuyển chọn, dù có bắt tôi chuyển vị trí chắc chắn cũng không thể thấp hơn vị trí hiện tại, vì Phó Thị trưởng Bành cũng phải báo cáo lại với sếp cũ của tôi. Vấn đề là luận văn thạc sĩ của Phó Thị trưởng Bành, tài liệu quan trọng như vậy tại sao không những không để tôi viết mà còn giấu không cho tôi biết, giao cho Hoàng Tiểu Minh, chuyện này hình như có ẩn ý gì đây. Hoàng Tiểu Minh là thạc sĩ duy nhất trong phòng, xét về tình, giao cho cậu ta viết cũng có thể chấp nhận, nhưng tại sao phải giấu tôi? Chẳng lẽ đây là cách Phó Thị trưởng Bành thử thách cậu ta sao? Nếu vậy sẽ có ba trường hợp: Một là thử thách về năng lực phân tích đánh giá và lý giải vấn đề, hai là thử thách về trình độ hành văn, ba là thử thách khả năng giữ bí mật! Thư ký của ông ấy nhất định phải có đầy đủ tố chất trên cả ba phương diện này. Chẳng lẽ ông ta muốn Hoàng Tiểu Minh thay thế Hồ Chiếm Phát? Hèn chi Chu Đại Vỹ lúc nào cũng để ý đến Hoàng Tiểu Minh. Chu Đại Vỹ luôn mong mỏi được thay thế Hồ Chiếm Phát làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành, để thực hiện được mơ ước đó, ngày nào Đại Vỹ gặp được Hồ Chiếm Phát cũng y như gặp được Chúa cứu thế vậy. Tôi đoán có lẽ Hồ Chiếm Phát đã ngầm hứa hẹn với Chu Đại Vỹ. Vậy, đây mới đúng là chỗ non nớt của cậu ta. Cậu ta quên một điều rất quan trọng, đó là: Muốn trở thành thư ký của Phó Thị trưởng Bành, Hồ Chiếm Phát cũng có tác dụng, nhưng không phải là nhân tố quyết định; tôi cũng có tác dụng, nhưng cũng không phải nhân tố quan trọng nhất; đến cả Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban Tiêu Phúc Nhân cũng không quyết định nổi, chỉ có phó Thị trưởng Bành mới là người quyết định. Chu Đại Vỹ đúng là “mồ cha không khóc, đi khóc đống đất mối”, như vậy thì sao hy vọng được Phó Thị trưởng cất nhắc? Ngược lại, Hoàng Tiểu Minh khác hẳn, cậu ta không hề để lộ điều gì, cứ lặng lẽ mà làm, đã dùng dao thì phải biết chặt đằng lưỡi.
Cũng may tôi phát hiện ý đồ của Hoàng Tiểu Minh, thấy cậu ta tỏ vẻ ngấm ngầm công kích Hồ Chiếm Phát, kiềm chế Hứa Trí Thái, nhưng ý đồ thực sự là nhằm thẳng vào Phó Thị trưởng Bành. Trên chốn quan trường, nếu không hiểu rõ ngọn ngành, việc gì cũng có thể phát sinh. Phải biết rằng quyền lực là thứ đỉnh cao của đạo đức và lý tính, nó giống như toàn bộ sức mạnh của tinh thần, như khẩu đại bác có thể bắn tất cả ước vọng của con người vào vũ trụ. Đương nhiên, vũ trụ tuy vô hạn nhưng lại ẩn náu trong tâm con người. Trước đây con người cho rằng “hữu” là vô hạn, mà “vô” lại là hữu hạn. Dù thượng đế và ma quỷ đều do con người tạo ra, nhưng trước mặt quyền lực, người ta không những đánh mất thượng đế mà còn tuột cả ma quỷ, chỉ còn lại tự do. Mà từ xưa đến nay, con người đã cho rằng tự do là “thiện”, không tự do là “ác”. “Việc gì phải nhận thức về cái thiện, ác chết tiệt này; nó trở nên quan trọng từ bao giờ?” Tôi nhớ câu này trong kịch Anh em nhà Karamazov(9) (The Brothers Karamazov). Tôi không nhớ trong ba anh em họ ai đã nói câu này, nhưng dù sao, tôi cũng cảm thấy rất có lý.
Sau khi biết tin Triệu Trung phát tài, tôi thầm nghĩ, anh ta đúng là một câu đố không lời giải đáp, bởi cách phát tài của anh ta hoàn toàn bất thường. Anh ta không chơi cổ phiếu, cũng không kinh doanh bất động sản, mà “thầu đình chùa”. Hai năm nay, anh ta bao thầu tất cả đình miếu, chùa chiền trong toàn tỉnh Thanh Giang, mời các đại hòa thượng về làm trụ trì, việc quan trọng tiếp theo là tạo ra những thần thoại cho chúng. Nghe nói các thần thoại này đã thu hútđược rất nhiều thiện nam tín nữ. Khói hương càng nghi ngút, “hầu bao” của Triệu Trung sẽ càng phình to.
Suy đi nghĩ lại tôi cũng không tài nào hiểu nổi những “thiện nam tín nữ” kia có thật sự tin vào Phật hay không? Họ có biết mình quỳ lạy ai không? Không hiểu sao lại có nhiều tín đồ Phật giáo đến vậy? Cho đến một hôm tôi vô tình vào tiệm sách, chọn đi chọn lại rồi mua một quyển Kim Cang kinh, mua về rồi nhưng không muốn xem, vứt lăn lóc trên bàn. Tôi không biết mình thuộc loại tâm lý gì, tự dưng lại muốn “ngộ đạo”, đúng lúc tâm muốn “ngộ đạo”, lại có niềm dục vọng nào đó xen vào, như có hai cánh tay cùng kéo tôi vậy.
Triệu Trung vẫn không quên được phòng Tổng hợp 2, nói một cách chính xác thì anh ta nhớ Âu Bối Bối. Tôi biết lúc còn làm Trưởng phòng, Bối Bối ghét cay ghét đắng cái “thân bị thịt” của Triệu Trung. Anh ta quá béo, lại chỉ cao 1m70 mà bề ngang thì tròn như cái thùng phi, đi bộ một lúc đã thở phì phò lại thêm chất giọng ồm ồm, khiến tôi cũng cảm thấy anh ta chẳng khác nào con lợn được nuôi bằng cám công nghiệp. Nhưng chẳng hiểu vì sao gần đây Bối Bối thường xuyên trò chuyện điện thoại với anh ta, lại còn một câu “đại ca Triệu”, hai câu “đại ca Triệu”, nghe mà muốn phát sốt.
Một hôm, Triệu Trung đột nhiên gọi điện mời tôi ăn cơm. Nghe khẩu khí, tôi cảm thấy “ăn cơm” chỉ là danh nghĩa chứ thực ra anh ta đang có chuyện gì đó muốn nói. Tôi biết hai năm nay sở dĩ Triệu Trung bao thầu chùa miếu phát tài đều nhờ sự giúp đỡ của Lưu Nhất Hạc. Con người khi đã giàu về tiền tài sẽ muốn tìm cách vơ vét chút vốn liếng chính trị để đạt đến cảnh giới “phú quý mà cao sang”. Triệu Trung cũng không ngoại lệ, anh ta đã đường đường trở thành đại biểu của “sự thức tỉnh”. Triệu Trung có vô số “đệ tử” là cha mẹ của tăng ni đang trụ trì trong các chùa khắp tỉnh, những “đệ tử” này đa phần là những người có máu mặt, uy tín, địa vị. Vì lý do đó, anh ta chẳng khác gì kho thông tin của tỉnh Thanh Giang, ăn với anh ta một bữa cơm cũng tương đương một lần lên mạng Internet, thậm chí không khác gì được nghe bản tin tổng hợp của đài truyền hình.
Triệu Trung giờ đã khác hẳn ngày xưa, không tiếp khách ở nơi tuyềnh toàng, tùy tiện. Chiều tối anh ta tự lái chiếc Mercedes Benz, đón tôi đến nhà hàng “Kim Trùng Thảo Thực Phủ” hào hoa nhất thành phố Đông Châu. Đây là nơi thưởng thức những món đặc sản quý hiếm nhất, chính thống nhất của Đông Châu. Nhà hàng này là của mấy vị Trưởng phòng Chi cục thuế cùng đầu tư. Đến đây ăn cũng đều là những người có địa vị, uy thế và các đại gia ở Đông Châu.
Triệu Trung béo hơn hai năm trước nhưng phong độ thì khác xa, kiểu “đầu Lê Nin” khi trước giờ cạo phăng thành đầu trọc, cổ đeo một mặt ngọc phỉ thúy, có gắn hình Phật Di Lặc bằng vàng; tay vê chuỗi tràng hạt trầm hương; khiến người ta có cảm giác chỉ cần khoác thêm áo cà sa thì sẽ là hòa thượng.
Trong bữa tiệc, tôi không kìm nổi hiếu kỳ, bèn hỏi anh ta tại sao lúc đầu lại nghĩ đến việc bao thầu các chùa? Triệu Trung “úp mở” hỏi lại tôi: “Cậu biết linh hồn của người châu Á thiếu gì không?” Tôi lắc đầu, không hiểu dụng ý câu hỏi đó. Triệu Trung cười: “Đương nhiên là thiếu tín ngưỡng.” Tôi gật gật đầu, ra vẻ đã thông suốt. Bộ mặt gian thương – Triệu Trung nói tiếp: “Voltaire(10) nói rồi, nếu Thượng đế không tồn tại,thì nên tạo ra ông ta. Người châu Á đương nhiên không tin Thượng đế, chỉ có đạo Phật là gần gũi nhất với linh hồn. Hằng Đạt, trong linh hồn của người châu Á đã không có tín ngưỡng, vậy thì cách kiếm tiền tốt nhất chính là mua bán tín ngưỡng.”
Tôi không hiểu, hỏi lại: “Vì sao?”.
Anh ta lại gật gù nói: “Một khi nắm được linh hồn của ai đó, họ sẽ quỳ xuống vái lạy cậu. Thử nghĩ xem, một người cần cứu rỗi linh hồn, đến cả sinh mạng hiến dâng cho cậu cũng không tiếc, huống hồ những vật ngoại thân? Cậu không phát tài mới là lạ!” Nói xong, anh ta đắc ý cười to, châm một điếu thuốc rồi nói thêm: “Quyền lực đã có thể ‘chân lý hóa’, tín ngưỡng đương nhiên có thể ‘của cải hóa’. Hằng Đạt, chẳng giấu gì cậu, không rời quan trường, cậu sẽ không hiểu được đạo lý này đâu. Đấy gọi là ‘người trong cuộc thì mê muội, người ngoài cuộc thì tỉnh’, người ngoài cuộc muốn ‘phát tài’ cho người trong cuộc, đã ‘phát’ nhất định sẽ ‘tài’. Nếu không có cuộc ‘chính biến’ năm đó, tôi cũng không có ngày hôm nay. Thật lòng mà nói, tôi vẫn thầm cảm ơn Hứa Trí Thái, Hoàng Tiểu Minh, Âu Bối Bối và Chu Đại Vỹ! Hằng Đạt, cậu có biết vì sao trước đây mấy người đó phản lại tôi?”
Tôi nói thẳng băng: “Chẳng phải vì cái ghế dưới mông của ông anh năm đó sao?”
Triệu Trung khua khua tay: “Hằng Đạt, cậu chỉ nhìn thấy mặt ngoài của vấn đề. Xét từ bản chất, tâm linh con người cơ bản là đối lập. Chính vì thế, nhân tài không được yên, tâm linh cũng sẽ không yên, việc đó do bản tính con người quyết định. Bản tính con người không phải lý tính, chắc chắn là phi lý tính rồi, loại phi lý tính này quyết định khát vọng ‘muốn làm gì thì làm’ của con người. Cho dù cậu không có tín ngưỡng, nhưng thâm tâm mỗi người đều có cái Thần, ai cũng muốn ‘tạo phản’ với cái Thần trong tâm, thậm chí còn muốn giết chết nó, bởi giết chết cái ‘Thần’ này thì tâm linh sẽ tự do. ‘Thần’ này là gì? Nó là sự thống khổ và sợ hãi, nó đến cùng cuộc sống. Để chiến thắng đau khổ và sợ hãi, mỗi người đều muốn trở thành kẻ phản nghịch.”
Tôi hỏi xen vào: “Trở thành kẻ phản nghịch có được hạnh phúc không?”
Triệu Trung nói vẻ hào hứng: “Có người theo đuổi hạnh phúc, cũng có người truy cầu tự do. Chúng sinh khát khao hạnh phúc hơn, nhưng những người có tinh thần phản nghịch đều khao khát thứ quyền lợi ‘muốn làm gì tùy ý’, họ ghét mọi sự trói buộc, khát khao tự chủ. Tuy không lý giải được rõ ràng, nhưng từ họ chúng ta mới có thể thấy được nhân cách và cá tính. Đây là những thứ chính yếu và quý báu nhất của nhân loại.”
“Triệu Trung,” tôi ngắt lời anh ta, châm biếm nói: “Có phải anh nhiều tiền quá nên bị ‘ấm đầu’ rồi không, quan trường là mảnh đất không tồn tại cá tính, sao có thể sản sinh ra con người có cá tính được? Có phải anh đề cao Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh hơi quá rồi không?”
“Đương nhiên, tâm lý của những người trong cuộc ‘chính biến’ lần ấy không giống nhau. Thực ra trong số mấy người này, Hoàng Tiểu Minh là người có tinh thần phản nghịch nhất, Hứa Trí Thái chỉ là vũ khí trong tay anh ta, còn Chu Đại Vỹ và Âu Bối Bối chẳng qua chỉ là kẻ mù quáng hùa theo mà thôi.”
Triệu Trung phân tích một chặp, tôi tuy không dám gật bừa, nhưng cũng chẳng tìm được lời nào để phản bác, bỗng thấy hơi lúng túng. Trước giờ tôi chưa từng cảm thấy thiếu tự tin như hôm nay.
Bất chợt tôi nhớ đến chuyện Âu Bối Bối kể, Hứa Trí Thái dự tiệc cùng Phó Thị trưởng Bành và một người đàn ông bí ẩn, tôi không thể giấu kín chuyện này mà kể lại với Triệu Trung, vừa để tìm hiểu vừa để phản bác lại việc Triệu Trung đánh giá thấp khả năng “hiệp thương” của Hứa Trí Thái. Không ngờ Triệu Trung không những biết người đàn ông thần bí đó, mà còn có những lời giải đáp khiến tôi vô cùng kinh ngạc.
Chả là gần đây, Ủy ban Thanh tra Nhà nước tiến hành giao lưu trao đổi kinh nghiệm giữa Thanh tra các tỉnh trong toàn quốc. Nữ Thanh tra tỉnh Thanh Giang tên Tề Tú Anh đến Đông Châu. Vị nữ Bí thư này đã từng thanh tra ở tỉnh K, tìm ra đại án kinh hoàng cả nước, khiến một số người trên quan trường của tỉnh K mất ăn mất ngủ, lo sợ cuống cuồng. Gần đây bà ta đem “khí thế bừng bừng” của tỉnh K xuống Thanh Giang khiến nhiều người chịu áp lực vô cùng nặng nề.
Tề Tú Anh ly hôn đã lâu mà chưa tái hôn nhưng vẫn giữ quan hệ bạn tốt với mối tình đầu, vì họ là bạn học từ thời sinh viên. Trong phá án, bà ta nổi danh là “cánh tay thép”, rất ít bạn bè, nhưng trong tình yêu lại khác.
Người bạn học cũ đó của Tú Anh không ai khác, chính là “người đàn ông bí ẩn” trong bữa tiệc mà Phó Thị trưởng Bành và Hứa Trí Thái chiêu đãi hôm trước, ông ta tên Lâm Vĩnh Thanh, là ký giả thâm niên của Thanh Giang nhật báo. Do thẳng tính trực ngôn, từng dám phê phán cả cấp trên, nên suốt đời chỉ là cán bộ xoàng. Hứa Trí Thái trước khi lên làm việc ở Văn phòng Ủy ban thành phố Đông Châu, đã từng làm ký giả của Thanh Giang nhật báo, nên cũng là bạn của Lâm Vĩnh Thanh.
Triệu Trung vừa giới thiệu xong quan hệ giữa hứa Trí Thái và Lâm Vĩnh Thanh, tôi bất chợt nhận ra “nhân vật” mà Hứa Trí Thái đang sắm vai. Tôi nghĩ: Hứa Trí Thái, dựa vào cân lượng của mình như thế mà cũng muốn làm đệm lót sao? Không sợ gãy xương sống hả? Nhưng thú thực tôi vẫn phải thừa nhận Hứa Trí Thái đã nắm được “thiên cơ” để “vượt long môn”, đây chính là “vận”, chắc hẳn Phó Thị trưởng Bành lợi dụng cậu ta để làm “tấm đệm” cho mình! Vừa nghĩ thế, tôi bất giác rùng mình, cảm thấy Phó Thị trưởng Bành “đói bụng vơ quàng”! Vì sao ông ta được tân Bí thư Thanh tra tỉnh chào đón hân hoan như thế, mà lại hạ mình chiêu đãi họ đến vậy? Từ lâu tôi đã nghe nói, Tề Tú Anh là “Nữ Bao Công thiết diện vô tư, không nể tình thân tộc”. Nếu trước đây Phó Thị trưởng Bành sẽ chẳng thèm để ý đến kiểu người như thế, bởi ông ta thường nói một câu mà suốt đời tôi không thể quên: “Hằng Đạt à, nếu có người nào đến nhờ vả mình việc gì đó, nói rõ những khó khăn mà người ta không thể tự giải quyết, mình có khả năng giúp được, thì cố gắng giúp họ nhé!” Tôi thấy câu nói này đầy ắp chất tình. Phải nói rằng Tề Tú Anh và Bành Quốc Lương là hai cạnh đối nhau trong hình bình hành, dù kéo dài đến tận chân trời cũng không thể giao nhau. Nay Bành Quốc Lương lại chủ động kết nối trước, lẽ nào...
Đang trầm tư, Triệu Trung lại cho tôi biết một tin bất ngờ: “Hằng Đạt này, cuối năm hết nhiệm kỳ, thay đổi lãnh đạo, Thị trưởng chuyển lên làm Đại biểu Quốc hội của thành phố, cậu biết ai lên thay chức Thị trưởng không?”
Tôi trả lời ngay: “Phó Thị trưởng Bành chứ còn ai!”
Sở dĩ nói như vậy, bởi tôi cho rằng Bành Quốc Lương nắm vững mọi hoạt động của thành phố, có lần ông ấy cũng thổ lộ với tôi, rất có khả năng ông ấy sẽ được kế nhiệm chức Thị trưởng. Đương nhiên tôi một lòng một dạ đợi ngày ấy, vì như vậy tôi cũng được đà “nước nổi, thuyền lên”.
Không ngờ Triệu Trung cười khinh miệt, nói: “Hằng Đạt ơi là Hằng Đạt, bao nhiêu năm lăn lộn trên quan trường của cậu coi như công toi rồi, chứng tỏ cậu không hiểu gì về chính trị, cậu thấy ở Đông Châu này có trường hợp nào Phó Thị trưởng trực tiếp kế nhiệm chức Thị trưởng chưa?”
Tôi cố lục lọi nhớ lại mấy nhiệm kỳ trước, quả thật không có trường hợp nào như vậy. Không chờ thêm được nữa, tôi giục: “Triệu Trung, anh đừng chơi trò úp mở nữa, nhanh nói cho tôi biết là ai vậy?”
Triệu Trung đắc ý, châm điếu thuốc, hít một hơi thật sâu, nói: “Đương nhiên là Phó Tỉnh trưởng Lưu rồi!”
Tôi không kiềm chế được, buột miệng: “Lưu Nhất Hạc!”
“Hằng Đạt, cậu nghĩ mà xem,” Triệu Trung lộ rõ bộ mặt nô tài, cười hơ hớ nói: “Có còn ứng viên nào thích hợp hơn Phó Tỉnh trưởng Lưu không?”
Nhìn bộ mặt nung núc thịt của Triệu Trung lộ rõ vẻ đắc ý, một cảm giác lo lắng len lỏi vào tâm trí tôi. Năm đó, khi còn ở Đông Châu, Lưu Nhất Hạc và Bành Quốc Lương từng tranh nhau chức Thường vụ Phó Thị trưởng, giành giật cấu xé, tưởng không đến hồi kết thúc. Đến nay hai người lại tranh “ghế” Thị trưởng, nếu Bành Quốc Lương lại bị “bại trận”, liệu ông ta có chịu để yên không? Lưu Nhất Hạc thật sự đã trở lại, sợ rằng “quan trường” Đông Châu sắp xảy ra giông tố bão bùng đến nơi rồi.
Triệu Trung có ý bảo tôi hãy về phe Lưu Nhất Hạc, đây gọi là “chim khôn chọn cành mà đậu, người khôn chọn chủ mà thờ”. Điều đó khiến tôi bỗng cảnh giác, không hiểu đây là ý của Triệu Trung hay của Lưu Nhất Hạc, đột nhiên tôi rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Trên quan trường, người ta bàn luận nhiều nhất về chữ “trung” vậy nhưng bất cứ lần “thay vua đổi chúa” nào thì “trung” cũng bị tuyên cáo vô căn cứ, chiến thắng luôn thuộc về “bất trung”.
Tôi luôn cho rằng công chức chẳng qua cũng chỉ là một cách kiếm sống, như công nhân làm việc, nông dân làm ruộng, thương nhân buôn bán, giáo viên dạy học... Nhưng công chức lại đòi hỏi phải có tư tưởng và đạo đức truyền thống văn hóa quá cao, đặc biệt hai chữ “công bộc” nặng như Thái Sơn, khiến người ta khó sống. Nói thật, từ khi bước vào con đường làm quan, tôi luôn vì lãnh đạo mà phục vụ, đầu tiên là sếp cũ với năm năm nghiên cứu “liệu pháp nước tiểu”. Tiếp đến là dốc lòng dốc sức phục vụ Bành Quốc Lương, quanh năm suốt tháng thức khuya dậy sớm, bò trên những dòng kẻ để viết hơn trăm vạn chữ để rồi trên tài liệu luôn là chữ ký của ông ta. Cái công việc giống như may áo cưới cho người ta vậy, tôi cảm thấy còn chẳng bằng một nhà văn, nhà văn viết tiểu thuyết có danh, có lợi, còn tôi, một xu tiền công “viết báo cáo” cũng không có, thuốc hút khi viết tài liệu cũng tự móc tiền túi, vậy “công bộc” ở chỗ nào, phải là “tư bộc” mới đúng.
Trước lời khuyên của Triệu Trung, tôi vẫn ra vẻ thản nhiên nhưng anh ta đã nhìn thấu sự do dự của tôi. Ai chẳng muốn đi theo người tài giỏi, nhưng đứng trước cái gọi là quan lớn thì như đối diện một khối đá nặng, có thể đè chết người.
Câu nói của Triệu Trung khiến tôi vô cùng xúc động. Vấn đề nào cũng có cái chủ yếu, thứ yếu. Cái thứ yếu lại không cam chịu ở địa vị của mình, vì vậy sẽ khó tránh khỏi có tranh đấu. Trong cuộc tranh đấu này, nhân vật tép riu như tôi làm cách nào để không biến thành vật hy sinh, đây mới là vấn đề quan trọng nhất. Thảo nào, trên quan trường, người ta thường quan niệm “còn tiền còn gạo còn đệ tử, hết tiền hết gạo hết anh-tôi.” Dấn thân vào con đường làm quan, cũng như “đường vào nước Thục” của Lý Bạch(11), bạn phải vượt qua những ngọn núi cao ngất, băng qua những dòng nham thạch chảy xiết, nhưng cũng không thiếu những cạm bẫy trải đầy hoa tươi hay những tảng đá ngầm giấu mình dưới nước. Có thể sang được bờ bên kia thuận lợi hay không, hoàn toàn dựa vào khả năng phân tích, đánh giá của chính bạn, huống hồ bạn còn chưa biết có bờ bên kia hay không.
Ăn xong, tôi không để Triệu Trung đưa về, mà đi bộ một mình. Không khí trong lành khiến tôi vô cùng dễ chịu, chỉ có điều bóng những người phụ nữ thấp thoáng dưới gốc cây hai bên đường trông mờ nhạt như trong bức tranh cũ kỹ. Tôi lầm bầm: “Những con gà(12) này thật đáng thương.” Có người giơ tay vẫy tôi, cũng có người đi tới đi lui, bắt chuyện làm quen. Nói thực, những người này sao so được với Âu Bối Bối. Tôi nhớ lúc ăn tiệc, Triệu Trung luôn miệng khoe đã “chiếm” được cô ấy, khiến tôi nổi máu ghen. Cứ đi lững thững, lâu lắm rồi tôi không thả bộ một mình trong đêm tối thế này. Trước đây đi tản bộ là một cách hưởng thụ, ngồi trong văn phòng quá lâu, hình như tôi quên mất rằng con người cần đi tản bộ. Đi bộ liệu có phải là đi vào cõi vĩnh hằng hay không? Thiên đường ở xa, đường đời lại gần, việc gì phải bỏ gần tìm xa chứ!
“Tôi đang thoải mái đi giữa màn đêm đen tối”, đây là cảm giác của Stephen Dedalus dưới ngòi bút của James Joyce. Nhưng hiện tại tôi đâu có được thoải mái như thế... Một phụ nữ đến gần cất giọng uốn éo: “Đại ca, đi chơi chút nhé!” Tôi xua tay, cảm thấy quan điểm “Eva không có lỗ rốn” của Stephen Delalus cũng rất có lý. Nhưng ông ta lại cho rằng dây chính là “dây cáp thịt” của con người, tôi không thể tùy tiện đồng ý, mà cho rằng: “dây cáp thịt” của con người chính là cái “bộ phận kia” trên cơ thể người đàn ông, nó là nguồn gốc của thiện và ác.
Người có dục vọng, sẽ coi tất cả những việc sinh lợi là việc thiện. Người sợ chết, những việc khiến mình thoát chết, được coi là việc thiện. Thật không ngờ, thiện ác đều là con đẻ của tự do, đều phi lý tính. Ác là con đường của mỗi người, ác bí mật sẽ trở thành thiện. Trong tâm của mỗi người đều ẩn náu cái ác, đây là một “bản ngã” khác. Nguồn gốc thực sự của ác là tự do, nguồn gốc thực sự của thiện cũng vậy. Tự do là thứ không tầm thường, không thể tin được và không chính xác, khi đã biến thành phóng túng thì đó chính là ác. Tại sao “quyền lực tuyệt đối” sản sinh ra “hủ bại tuyệt đối”? Bởi “quyền lực tuyệt đối” lại sinh ra “tự do tuyệt đối”! Mà sự tự do tuyệt đối ấy một khi biến thành phóng túng, sẽ chẳng nề hà bất cứ thứ thần thánh nào, bất cứ giới hạn nào. Cũng như Triệu Trung, anh ta tự cho mình có thể thành Phật, những thiện nam tín nữ kia bề ngoài cúng bái dâng lễ cho Phật, nhưng thực tế lại là cung dưỡng anh ta. Trong suy nghĩ của Triệu Trung, cứu rỗi linh hồn là cách kiếm được nhiều tiền nhất, lợi dụng cả tín ngưỡng để phát tài, như vậy rõ ràng anh ta đã cự tuyệt thiện ác. Triệu Trung có cuộc sống thoải mái hơn tôi, hơn bất cứ công chức nào. Tôi rất hâm mộ anh ta, vì sao chứ? Nghĩ đi nghĩ lại tôi luôn cảm thấy Triệu Trung là một “cái tôi khác” đang ẩn náu sâu trong tâm khảm tôi.
Về đến nhà, bà xã tôi vẫn còn chưa ngủ, cô ấy luôn vậy, lo lắng cho tôi. Cũng khó trách, thế giới bên ngoài vô số cám dỗ. Nhân vật nhỏ có cám dỗ nhỏ, nhân vật lớn có cám dỗ lớn. Dù là ai, nếu muốn chống lại những cám dỗ đó, trừ khi người đó được chế tác bằng nguyên liệu đặc biệt. Vậy mà trước đây, tôi từng cho rằng, trên thế giới này làm gì có nguyên liệu đặc biệt nhưng bà xã tôi lại thường xuyên chế ra một số nguyên liệu, không đúng, không phải nguyên liệu mà là dược liệu, nấu thành thuốc cho tôi uống. Dù học Tây y, nhưng cô ấy rất tin vào Đông y.
Từ sau khi tôi nhậm chức Trưởng phòng Tổng hợp 2, do thường xuyên thức đêm, nằm bò trên những dòng kẻ để viết, rồi lại hay ra ngoài “chén tạc chén thù” xã giao, ít vận động, cơ thể ngày một suy yếu, cái “dây cáp thịt” ngày càng khó bảo, nhiều khi phải “bỏ cuộc”. Bà xã tôi lo lắng ra mặt, đôn đáo chạy tìm rất nhiều phương thuốc dân gian về cho tôi uống, nhưng không hiệu quả. Hôm qua, cô ấy lại mang về thang thuốc mới.
Vừa bước vào phòng, bà xã liền bưng ngay một bát nước đen ngòm, nói rằng đây là thang thuốc gia truyền sáu đời của thầy Đông y. Đương nhiên tôi không muốn làm cô ấy thất vọng, liền nhận lấy bát thuốc, ngửa cổ ực một hơi cạn sạch. Bà xã tôi tuy không phải tiên nữ, nhưng cũng khá xinh xắn, ngoài cặp nhũ đầy đặn, những chỗ khác đều mảnh dẻ. Hồi trước khi chưa đến phòng Tổng hợp 2, bà xã là viên ngọc trong mắt tôi, nhưng kể từ khi lên chức Trưởng phòng, tôi lại thấy bà xã chẳng thể so bì được với Âu Bối Bối.
Bà xã trách tôi đã uống nước tiểu năm năm, giờ đột nhiên đứt quãng nên mới khiến “cậu nhỏ mềm yếu” thế, khuyên tôi tiếp tục. Vừa nghe cô ấy nói thế, tôi đã lửa giận bốc ngùn ngụt: “Bảo uống nước tiểu, thà tôi chết đi còn hơn”, bà xã sợ quá, đành lẳng lặng đi khắp nơi tìm thuốc. Kể cũng lạ, ra ngoài... tôi có bị thế đâu, vậy mà cứ về nhà là “trên bảo dưới không nghe”. Cũng may, bà xã học ngành y, cô ấy cho rằng do áp lực công việc khiến tôi như vậy, nên mỗi khi lâm trận, cô ấy tỏ ra dịu dàng thêm gấp bội.
Thuốc vừa vào bụng, tôi thấy trong người đã nóng hừng hực. Nhìn ánh mắt long lanh, đẹp mê hồn của bà xã, tôi biết mình không thể trốn được vụ “trả bài” đêm nay rồi. Quả như dự đoán, vừa chui vào chăn, đầu lưỡi trơn ẩm, mềm mại như con rắn nhỏ của cô ấy đã chu du khắp những bộ phận nhậy cảm của tôi. Cặp nhũ phong trắng ngần vun cao lên trước mặt tôi... cứ như cô ấy là người vừa uống thuốc chứ không phải tôi vậy. Nói thật, tôi rất muốn thỏa mãn bà xã nhưng ý nghĩ “làm tình” là trách nhiệm, là nghĩa vụ, giống như ngày ngày tôi phải “bò” trên những dòng kẻ để hoàn thành công việc vậy! Vì thế mà bỗng dưng “lửa tình tắt ngấm”. Bà xã buồn bã rời khỏi tôi. Nhìn vẻ thất vọng ấy, tôi hận đến nỗi chỉ muốn thiến mình luôn.
Cái giá của sự “mềm yếu” lần này là sáng hôm sau tôi buộc phải tiếp tục “liệu pháp nước tiểu”. Không còn cách nào khác, phải uống vậy. Liền một tuần sử dụng mà tình trạng của tôi vẫn chẳng thay đổi gì.
May mắn thay, sáng hôm đó, Âu Bối Bối mua cuốn tạp chí Sinh hoạt gia đình để trên bàn cho mọi người truyền tay nhau đọc. Tôi lật vài trang, thấy có đoạn: “Nếu bạn bị bất lực, phần lớn là do tâm lý ‘chán cơm, thèm phở’, vậy trong lúc làm tình với vợ, bạn có thể tưởng tượng mình đang ‘hành sự’ với người mà mình mong muốn, lập tức bệnh hết liền.” Thấy vậy, tôi mừng lắm, người mà tôi mong muốn đang “xa tận chân trời, gần ngay trước mắt” đây thôi.
Đến tối, tôi không chờ nổi nữa, muốn “thực nghiệm” ngay. Bà xã lại tưởng vì uống nước tiểu nên “hùng phong châu Á” đã được khôi phục. Cô ấy được kích thích, rên rỉ, tôi liền tưởng tượng tiếng rên ấy là của Âu Bối Bối, quả nhiên, “cậu nhỏ” bỗng cương cứng lên.
Tôi hay có những giấc mơ kỳ quái, nhất là sau khi “yêu”. Thực ra giấc mơ của tôi rất giản đơn, trong mơ tôi cứ đi tìm một người đàn ông trong công viên Chính Hưng. Người dạo chơi trong công viên này hầu hết đều là cán bộ cấp phòng trở lên. Tôi dạo quanh khu trồng hoa hướng dương, loại hoa này luôn hướng về mặt trời, mang ý nghĩa chính trị. Tôi không thích dạo ở khu dành riêng cho cán bộ cấp cục, đó là khu trồng toàn tùng, cúc với ngụ ý “vững chắc muôn đời”. Tôi thích dạo chơi khu sen xanh của các lãnh đạo cấp Phó Thị trưởng trở lên, những bông hoa mang ý nghĩa thanh cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nhưng không phải tôi thích vì ý nghĩa đó, mà vì những ngôi nhà ở đây, dù là hình dáng, kết cấu hay diện tích đều khiến tôi thèm đến nhỏ dãi. Nhà Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương là tòa nhà ba tầng, rộng hơn ba trăm mét vuông, bên ngoài trang trí rất sang trọng khiến bất cứ công nhân viên chức nào nhìn cũng phải ôm giấc mộng trở thành một Thị trưởng.
Nhưng những giấc mơ ấy cứ trùng lặp nhau. Trong mơ, tôi như một cô hồn thất lạc giữa công viên Chính Hưng âm u như rừng sâu thăm thẳm. Lúc đi qua khu vườn sen xanh, bỗng phía trước một cánh cửa sắt lớn, một con sói cái gầy trơ xương đang nhe răng trợn mắt chặn đường. Tôi sợ quá quay đầu chạy thục mạng, chạy ngay vào khu vườn thông cúc. Chưa kịp hoàn hồn thì lại gặp một con sư tử đực đang há to cái miệng đầy máu, gầm gừ. Tôi đành tiếp tục chạy, hy vọng gặp được ai đó cứu mình. Khó khăn lắm mới chạy được đến khu hướng dương, nhưng loanh quanh lại đụng phải con báo hoa. Tôi nghĩ: thế là tiêu rồi. Bỗng nhìn thấy Âu Bối Bối đang đứng trên ban công nhà, vẫy tay gọi tôi. Tôi mừng quá, liền gọi to: “Âu Bối Bối, mau đến cứu anh!” Bất ngờ một bàn tay vỗ lên vai tôi, quay đầu nhìn lại, thì ra là Bành Quốc Lương. Tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên: “Phó Thị trưởng Bành, là ông thật sao?” Bành Quốc Lương như hồn ma treo cổ, thè lưỡi nói: “Trước đây tao là người, giờ không phải nữa rồi!” Tôi hoảng quá, giật mình tỉnh dậy, toàn thân vã mồ hôi lạnh.
Tôi không kể với bất cứ ai về giấc mơ kỳ quái ấy. Tôi lục lọi rất nhiều tác phẩm của Sigmund Freud(13), cũng không tìm thấy chỗ nào lý giải về duyên do giấc mộng ấy. Câu nói của Bành Quốc Lương: “Trước đây tao là người, giờ không phải nữa rồi” khiến tôi “không rét mà run”. Phó Thị trưởng Bành không phải là người thì là gì? Chẳng lẽ là quỷ? Tôi không tin thế gian này tồn tại quỷ, nhưng lại tin có quỷ. Ví như, người rõ ràng ngủ trên giường lại cảm thấy mình đang làm đủ thứ chuyện, gặp rất nhiều người, hiện tượng này là sao? Rõ ràng là có linh hồn đang hoạt động.
Những tin tức do Triệu Trung cung cấp cực kỳ chính xác. Lưu Nhất Hạc quả thực đã được đề bạt làm Bí thư Thành ủy, quyền Thị trưởng thành phố Đông Châu. Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa là đại hội vòng hai, bỏ phiếu bầu Thị trưởng. Ban đầu tôi lo lắng Phó Thị trưởng Bành không giữ nổi hai chữ “Thường vụ”, không ngờ ông ta vẫn được ngồi yên vị, tôi có thể thở phào nhẹ nhõm. Nhưng thái độ của ông ta đối với tôi thì không còn thân mật như trước nữa, tôi nghi ngờ Hồ Chiếm Phát đã giở trò quỷ quái gì đó sau lưng. Sau một thời gian quan sát, tôi phát hiện rất nhiều tài liệu Phó Thị trưởng Bành không giao cho tôi, mà trực tiếp giao cho Hoàng Tiểu Minh. Bề ngoài tôi vẫn giữ vẻ bình thường nhưng bên trong thì buồn đến nẫu ruột.
Xét về tư cách và sự từng trải, người nông cạn nhất là Chu Đại Vỹ, nhưng giảo hoạt, xảo trá nhất cũng là tay ấy. Tuy lúc nào cậu ta cũng cười hềnh hệch ra vẻ không để bụng chuyện gì, nhưng thực ra đó chỉ là ngụy tạo. Là một Trưởng phòng, tôi hiểu rất rõ, tay này đang “nếm mật nằm gai”.
Hết giờ làm, Hứa Trí Thái, Hoàng Tiểu Minh và Âu Bối Bối lục tục ra về, chỉ còn tôi và Chu Đại Vỹ. Cậu ta bưng bàn cờ lại, cười tít mắt nói: “Trưởng phòng, chơi một ván nhé?”
Bình thường Chu Đại Vỹ thường đánh cờ với Tiêu Phúc Nhân, cậu ta rất mê cờ. Khi tôi mới về phòng, Chu Đại Vỹ đang còn là kẻ “điếu đóm” ở bàn cờ, nhưng chưa đến nửa năm, trong phòng đã không có đối thủ, thậm chí vô địch toàn Ủy ban tỉnh, đến Hoàng Tiểu Minh cũng phải “gác kiếm chào thua”. Bây giờ tôi mới cảm thấy mình không còn đủ sức đấu lại trước sự tiến bộ nhanh như vậy của cậu ta nữa, cứ như có cao thủ đứng sau chỉ dẫn cho cậu ta vậy. Dần dần tôi cũng phát hiện ra nguyên nhân khiến cậu ta khổ công luyện cờ: muốn trở thành “bạn cờ” của Tiêu Phúc Nhân – Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban thành phố. Chiêu này quả hiệu nghiệm, đến nay có việc gì Tiêu Phúc Nhân cũng gọi Chu Đại Vỹ, cậu ta nghiễm nhiên trở thành thư ký riêng của ông ta.
Tôi biết Đại Vỹ tìm tôi đánh cờ nhất định là có tính toán, nhưng biết đâu lại có thể lượm lặt được một số thông tin từ miệng thằng cha này chứ! Vì thế tôi liền vui vẻ nhận lời, bàn cờ được bày ra ngay trên bàn làm việc của tôi.
Chơi cờ cũng như trò chuyện với người yêu, phải có đối thủ xứng tầm. Nhưng với trình độ hiện tại của Đại Vỹ, tôi khó mà thắng nổi. Hình như cậu ta cố ý kéo dài thời gian, rề rà quần nhau với tôi. Ván đầu hòa, bày tiếp ván thứ hai, mặc dù cách chơi của Đại Vỹ không thay đổi, nhưng nước cờ rất vững, hoàn toàn kín kẽ, khó công kích. Tôi vờ cố gắng tập trung chú ý vào ván cờ, đợi Chu Đại Vỹ nói ra ý đồ. Quả không sai, cậu ta vừa mở miệng đã làm tôi thất kinh.
“Trưởng phòng,” Đại Vỹ ăn một quân tốt, rồi thủng thẳng nói tiếp: “Âu Bối Bối có thai, nhưng chuẩn bị ly hôn, anh biết không?”
Tôi nghe xong, tim đập thình thịch: Âu Bối Bối kết hôn đã mấy năm, có thai là chuyện thường, không có mới là chuyện lạ. Ai làm chồng cũng không muốn vợ giận hờn trong thời kỳ này, sợ ảnh hưởng không tốt tới đứa con trong bụng, Vương Triều Quyền thật không hiểu đạo lý. Nhưng vợ đẹp như thế, lại đang có bầu mà đòi ly hôn, phía sau hẳn có nhiều uẩn khúc.
Tôi chạy một quân mã, cười hỏi: “Đại Vỹ, sao cậu biết Bối Bối có thai, lẽ nào cậu là kẻ thứ ba?”
Đại Vỹ vội giải thích: “Trưởng phòng, em vô tình thấy giấy siêu âm cô ấy để trên bàn làm việc; còn chuyện ly hôn có gì lạ, mấy lần cô ấy cãi nhau với chồng qua điện thoại ngay trước mặt em.”
Tuy Đại Vỹ và Bối Bối ngồi đối diện nhau, nhưng tôi lại khá cảnh giác với cậu ta, bởi không ngờ Đại Vỹ lại có tâm cơ đến thế, và rõ ràng cậu ta đã kích thích được tính hiếu kỳ của tôi: “Sao Bối Bối lại cãi nhau với Vương Triều Quyền?”
“Trưởng phòng,” Đại Vỹ nói lấp lửng: “Cũng chỉ là phán đoán thôi, em nghi cái thai trong bụng Bối Bối không phải của Vương Triều Quyền.”
Lời cậu ta như súng bắn bên tai vậy.
“Không phải của chồng cô ấy thì của ai?” Tôi tò mò cực điểm.
“Trưởng phòng,” Đại Vỹ vẫn lấp lửng: “Cũng chỉ là đoán thôi, em nghi là của Triệu Trung.”
Câu nói ấy khiến tôi sực nhớ, có lần Triệu Trung khoe khoang với tôi rằng anh ta đã chiếm được Bối Bối, không ngờ cô ta lại mang thai với thằng cha ấy. Nhưng Đại Vỹ cho tôi biết chuyện này để làm gì nhỉ? Triệu Trung từng nhiều lần nói với tôi, Phó Tỉnh trưởng Lưu Nhất Hạc rất thích văn phong của tôi, hy vọng tôi có thể lên chức Trưởng phòng Tổng hợp 1. Việc này tôi vẫn chưa nhận lời. Tôi luôn giữ vững quan điểm “trung thần không thờ hai chủ”. Phó Thị trưởng Bành đối với tôi không “nhạt”, ông ta giờ vẫn là Phó Thị trưởng thường vụ quản lý hành chính Ủy ban thành phố, hơn nữa dù tôi được điều về phòng Tổng hợp 1, cũng chẳng vượt ra khỏi lòng bàn tay của Phó Thị trưởng Bành.
Hôm nay Đại Vỹ bất ngờ rủ tôi đánh cờ, lẽ nào có ý thăm dò tôi? Tôi biết cậu ta luôn mơ ước trở thành thư ký của Thị trưởng, nhưng thấy tâm thái của Phó Thị trưởng Bành hình như chỉ hướng về Hoàng Tiểu Minh, nên Đại Vỹ đành phải lấy lòng Hồ Chiếm Phát. Hay Hồ Chiếm Phát biết việc Triệu Trung khuyên tôi về làm ở phòng Tổng hợp 1? Chắc không phải vậy đâu!
Nghĩ thì nghĩ, nhưng tôi vẫn bình thản nói: “Đại Vỹ, những lời này không thể tùy tiện, chuyện này có thể ảnh hưởng tới danh dự của Bối Bối đấy!”
Đại Vỹ gật gật đầu, dè dặt nói: “Đó là… Trưởng phòng, nhưng em vẫn tin vào sự phỏng đoán của mình, Âu Bối Bối sẽ bỏ đứa con và ly hôn.”
Tôi bình tĩnh hỏi: “Cậu dựa vào đâu để nói vậy?”
Đại Vỹ vừa ranh mãnh, vừa thành thật nói: “Vương Triều Quyền giống như em, chỉ là nhân viên phụ trách quèn ở phòng Xúc tiến thương mại thành phố, không thể là chỗ dựa của Bối Bối, ly hôn chỉ là chuyện sớm muộn. Dù là Triệu Trung cũng không che chở nổi cho cô ta, chẳng qua quan hệ giữa hai người đó chỉ là giao dịch giữa tiền và sắc. Người đàn ông của Bối Bối phải là người vừa có quyền vừa có thế như Phó Thị trưởng Bành. Trưởng phòng, cho nên thằngem này xin nhắc ông anh một câu: ‘Ít lạy Phật, năng vấn đạo’.”
Nói xong, cậu ta đẩy một con pháo chiếu tướng, tôi hết đường chạy, đành thua tiếp. Tôi nghĩ: “Trong phòng Tổng hợp 2, trước đây tôi chỉ coi trọng tài năng của Hoàng Tiểu Minh, lợi dụng cậu ta để kiềm chế Hứa Trí Thái, không ngờ lại bỏ qua Chu Đại Vỹ. Trên quan trường, rất khó kiếm được một người nói thật lòng. Cậu ta lại dám nói với tôi câu: ‘Ít lạy Phật, năng vấn đạo’, đủ thấy cậu ta đối với tôi cũng có phần chân thành.”
Tôi thu bàn cờ, không đánh nữa, vỗ vai Đại Vỹ, thân mật nói: “Cậu em, đi thôi, hôm nay ông anh này mời một chầu.”
Đến đêm, tôi lại rơi vào giấc mơ kỳ lạ. Tôi thấy mình giống như con chuột, sục sạo khắp công viên Chính Hưng. Quái lạ là con sói cái, sư tử đực và con báo hoa thấy tôi vẫn sống mà chẳng thèm truy đuổi. Lẽ nào tôi đã biến thành con chuột xấu xí khó coi, hoặc chúng nó chê tôi nhỏ quá không bõ dính răng. Tôi tin chắc: Xấu cực điểm sẽ là tốt cực điểm, những thứ đẹp đẽ mà cao quý ẩn náu trong bẩn thỉu đê tiện và tội ác, sao có thể dễ dàng nhìn thấy. Đây mới hoàn toàn là sự khéo léo của đẹp đẽ mà cao quý.
“Lý giải về giấc mộng, thực tế cuối cùng chúng ta đã đạt đến trình độ nào thì chưa thể nói được, chỉ có thực tiễn và kinh nghiệm mới hình thành phán đoán.” Sigmund Freud đã nói như vậy. Cho đến nay tôi vẫn không thể giải thích nổi những giấc mộng kỳ quái của mình, xem ra chưa có đủ kinh nghiệm, cũng tức là chưa đủ số lần ngủ mơ, vì thế không thể phán đoán được. Nhưng Sigmund Freud còn cho rằng: “Toàn bộ hoạt động tâm lý của con người đều bị chi phối bởi ‘nguyên tắc duy lạc’, tức là, cố gắng giành được khoái lạc, sẽ tránh được đau khổ.” Mỗi lần mơ xong, trong tôi lại xuất hiện một loại khoái cảm. Mọi người cũng biết, công việc của tôi được thực hiện theo trình tự đã được sắp sẵn, tương tự như chữ viết sắp sẵn trên trang giấy, mỗi trang một trăm chữ. Tôi như cây mạ non sinh trưởng trên mảnh đất giống như trang giấy, khi đã thành cây thì không thể thay đổi. Bởi thế giới tự nhiên đã tiến hóa thì tất cả đều phải tiến hóa theo, nhân loại tiến hóa, thời đại tiến hóa, xã hội tiến hóa, lịch sử tiến hóa, tôi không biết trên thế giới này, liệu có còn thứ gì không tiến hóa?
Nghĩ đi nghĩ lại, tôi mới phát hiện còn một thứ chưa tiến hóa, đó là xác thịt, nó không những không tiến hóa mà còn thoái hóa, tương lai chắc chắn đi đến diệt vong. Đây cũng là quy luật của tự nhiên. Chúng ta quá quen làm việc theo quy luật, cứ như có quy luật là sẽ có tất cả, sẽ có thiện ác, sẽ có thể chẳng cần gánh vác trách nhiệm hành vi của mình, sẽ có cuộc sống hạnh phúc. Vậy rõ ràng quy luật đã thay thế ý nguyện. Trong khi đó y học đã tiến hành vô số lần giải phẫu cơ thể mà vẫn chưa phát hiện ra ý nguyện là gì, nhưng tôi lại cảm giác được rất rõ về nó. Ngay cả khi bò trên những dòng kẻ để viết, tôi cũng có ý nguyện mãnh liệt là mình không muốn trở thành bất kỳ dòng kẻ nào trên trang giấy. Nhưng dù trân trọng ý nguyện của mình đến thế nào, tôi cũng bị lợi ích của chính mình áp cho quy định phù hợp với quy luật, biết làm sao đây? Tôi đành phải trốn ở trong những giấc mơ. Trong giấc mơ tôi cũng chẳng thể biến thành sói, sư tử, báo hoa để diễu võ dương oai, mà chỉ có thể biến thành con chuột trốn lủi khắp nơi. Nhưng cũng chính vì thế nên tôi mới tăng thêm khoái cảm sau khi trải qua nguy hiểm đến vậy; chứ nếu biến thành con hổ, không còn cảm giác lo sợ, thì sẽ không có được những khoái cảm ấy.
Từ khi có những giấc mơ ấy, tôi luôn ngờ rằng mình bị mắc bệnh Tâm thần phân liệt. Sau này khi dịch tác phẩm của Sigmund Freud, tôi mới phát hiện, thực chất giấc mơ của người mắc bệnh tâm thần và người bình thường cũng chẳng có gì khác biệt. Người khỏe mạnh cũng không thiếu những nhân tố hình thành giấc mơ. Người khỏe mạnh có khả năng kiềm chế, không những thế họ còn phải tiêu hao một số năng lượng nhất định để duy trì khả năng kiềm chế đó. Trong tiềm thức họ chưa đủ khả năng kiềm chế xúc động. Như vậy so với người bệnh thần kinh cũng không có gì khác, ai cũng có sự hão huyền trong mọi dục vọng, chỉ có điều người khỏe mạnh biết kiềm chế ý nguyện của mình trong giấc mộng mà thôi.
Buổi hội nghị do Lưu Nhất Hạc chủ trì hôm nay có chuyên đề “Nghiên cứu công tác Xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư”. Do muốn đưa hạng mục này triển khai rộng khắp toàn thành phố mà các đại biểu rất hăng say thảo luận. Buổi hội nghị đã phải kéo dài tới tận ba giờ chiều.
Họp xong tôi về phòng làm việc, chuẩn bị sắp xếp lại biên bản hội nghị. Bỗng chuông điện thoại nội bộ bất ngờ reo, là Bối Bối: “Trưởng phòng, Phó Thị trưởng Bành bảo anh qua phòng làm việc của ông ấy.” Công tác Xúc tiến thương mại thu hút đầu tư, kinh tế ngoại thương đều do Phó Thị trưởng Bành quản lý, họp gần một ngày, xem ra ông ấy còn có chỉ đạo riêng về nội dung biên bản hội nghị. Tôi cầm tập biên bản hội nghị, vội vã rời phòng.
Đến trước cửa phòng làm việc của Phó Thị trưởng, tôi nghe thấy tiếng cười nói vui vẻ bên trong vọng ra. Khẽ gõ cửa rồi bước vào, thì ra còn có hai người nữa, một là Cục trưởng Cục xúc tiến thương mại Ôn Hoa Kiên, người kia là Cục trưởng Cục tài chính Trần Thực. Cả thành phố Đông Châu này ai cũng biết hai người này là hai cánh tay đắc lực của Bành Quốc Lương, vậy mà chẳng hiểu sao tôi lại chẳng có chút ấn tượng tốt nào đối với họ cả. Xét về tướng mạo, họ đều tai to mặt lớn, thuộc loại tốt tướng, nhưng đó không phải bộ mặt thật của họ. Tôi nhớ Sigmund Freud từng nói, ngụy tạo của giấc mơ bao gồm “hiển ý” và “ẩn ý”. Khuôn mặt mà họ để chúng ta thấy chắc là “hiển ý”, còn khuôn mặt ta không thấy chính là “ẩn ý”. Cũng giống như trong giấc mơ kỳ quái, tôi biến thành con chuột “lủi đông trốn tây”, đại khái đó là “ẩn ý”. Trong khoảnh khắc hai bộ mặt tươi cười vui vẻ kia bắt tay tôi, tôi bỗng nhận ra phần khuôn mặt của Trần Thực rất giống mặt con mèo, không đúng, không phải mặt mèo, là mặt con báo hoa trong giấc mơ kỳ quái của tôi. Tôi vẫn thản nhiên quan sát bộ mặt đang ngậm điếu thuốc của Ôn Hoa Kiên, miệng dẩu ra rất giống miệng chó, nhất là cái mũi sát với mồm, rất giống mũi chó đang ngửi cái gì đó. Nhìn kỹ một chút, không phải mũi chó dữ, rõ ràng là mũi con sói. Nhìn kỹ lại, tôi bỗng giật mình, sao lại giống mặt con sói cái tôi gặp trong mơ thế cơ chứ! Thật kỳ lạ, vẫn thiếu con sư tử, chẳng lẽ...?
Tôi lơ đãng nhìn về phía Phó Thị trưởng Bành, cái miệng rộng bên mở, bên khép của ông ta, sao giống như con sư tử đang gầm vậy nhỉ? Tôi nghĩ có lẽ họp suốt cả ngày nên thần kinh lại bị phân liệt rồi. Tôi vẫn không hiểu tại sao tiềm thức của tôi sinh động đến vậy, mà vẫn không thể trở thành ý thức được. Tôi biết mỗi giấc mơ đều có một ý nghĩa nào đó, giấc mơ càng kỳ quái lại càng mang ý nghĩa đặc biệt, dù ý nghĩa ấy chưa hiển hiện ra nhưng tôi dự cảm, sớm muộn cũng có ngày biến thành hiện thực. Với mọi hoạt động của tiềm thức, “cầu đúng” không được đáp án chính xác, chỉ đành “cầu sai”. Có lúc sai lầm hết mức sẽ trở thành chân lý.
Phó Thị trưởng Bành nhấn mạnh với tôi lần nữa về tính chất quan trọng của việc khen thưởng dành cho nhân viên có cống hiến xuất sắc trong việc “Xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư”. Trước mắt, đơn vị xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư lớn nhất Đông Châu là Tập đoàn bất động sản nhà đất Chu Văn Vũ hợp tác với Tập đoàn Vạn Thông Hồng Kông, phát triển Hoa Viên Hà Cảng của Ngũ Gia Trang bên bờ sông Hắc Thủy. Đây là khu phát triển nhà ở cao tầng hạng sang nhất hiện nay của thành phố Đông Châu. Để làm mẫu tạo hiệu ứng phát triển, nhân rộng điển hình, Thường vụ Thành ủy quyết định khen thưởng nhân viên có cống hiến nổi bật trong hạng mục này, nhưng rốt cuộc khen thưởng ai, mức thưởng là bao nhiêu?
Lưu Nhất Hạc cố ý đẩy cho Bành Quốc Lương việc đó, để ông ấy đảm trách việc định người, định mức khen thưởng. Có lẽ Bành Quốc Lương cho rằng Lưu Nhất Hạc “nhường”, nhưng tôi lại cho rằng đây là “khuôn sáo” của Lưu Nhất Hạc. Bởi quyền lực này lớn lắm, đối với nhân viên có công trong việc xúc tiến đầu tư thương mại và thu hút đầu tư, nếu Thị trưởng muốn thưởng cho ai thì thưởng người đó, muốn thưởng mức bao nhiêu thì thưởng bấy nhiêu. Vậy thì đây không phải khen thưởng những người có thành tích mà là ban tặng. Hình như Bành Quốc Lương đã có tính toán của riêng mình, sau khi tính toán mức đầu tư của phía Hồng Kông bèn quyết định thưởng theo tỷ lệ ba phần nghìn. Ông ấy dặn đi dặn lại tôi “ba phần nghìn” không cần ghi vào biên bản cuộc họp, chỉ cần ghi đại khái: Thường vụ Ủy ban quyết định khen thưởng động viên các nhân viên có công trong Xúc tiến thương mại.
Sau đó, Phó Thị trưởng Bành nói với tôi: “Hằng Đạt, mai là sinh nhật của lãnh đạo cũ, tôi đã chuẩn bị hai chai rượu ngon tặng ông cụ.” Nói xong, ông ta khom lưng mở cửa tủ phía dưới tủ sách, lấy ra hai chai rượu Mao Đài đóng hộp sang trọng: “Hằng Đạt, tôi biết ông cụ rất thích uống rượu Mao Đài, đây là hai chai hơn năm mươi năm tuổi tặng ông cụ nhân ngày sinh nhật. Trước đây tôi thường trực tiếp đem đến, nhưng ngày mai tôi và Kiên Hoa, Trần Thực phải đi Hồng Kông, nhờ cậu truyền đạt thành tâm này của tôi đến ông cụ nhé!”
Tôi thực sự vô cùng khâm phục trí nhớ của Phó Thị trưởng Bành. Năm nào cũng thế, ông ta đều đến chúc mừng sinh nhật một cách chân thành như vậy. Có điều sau khi rời khỏi văn phòng làm việc của ông ta, tôi lại thấy trong lòng vô cùng trống trải. Trên quan trường Đông Châu, Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên và Trần Thực đều cầm tinh con Ngựa, người ta gọi là “cỗ xe tam Mã”, hơn nửa năm nay vì công việc “Xúc tiến thương mại thu hút đầu tư” mà đi Hồng Kông, Ma Cao liên tục, khí thế như “thiên mã hành không”. Ấy vậy mà gần đây xuất hiện nhiều lời đồn, có người nói gặp họ trong “chuồng gà lớn” ở Ma Cao. Những lời đồn ấy giống như đám ruồi nhặng từ hố phân vù vù bay lên, khiến ai cũng chán ghét. Thực ra ai chẳng mong muốn mình trở thành thiên mã. Dục vọng là thiên tính của con người, nhưng thiên tính ở mỗi người lại khác nhau, chẳng hạn có người thích chui vào “chuồng gà”, hoặc muốn được “cầm tù”, hoặc cũng có thể muốn tìm kiếm một thế giới khác. Cần nói rõ, con người vừa sinh ra đã bắt đầu tìm kiếm thế giới khác, nhưng có người tìm tới tìm lui, cuối cùng lại chui ngay vào “chuồng gà”.
Sau này tôi phát hiện có hai kiểu kiến trúc sư, một là thiết kế cung thủy tinh, hai là thiết kế chuồng gà, nhưng cả hai đều chưa thiết kế loại nào theo mẫu của linh hồn. Linh hồn thích bay, nhưng không phải là gà. Linh hồn cũng trầm tư nhưng không phải những ô vuông thẳng hàng chỉnh tề trên trang giấy dưới ngòi bút của tôi. Platon chia linh hồn thành ba bộ phận: lý trí, đam mê và dục vọng, đồng thời cho rằng lý trí là phần cao cấp nhất của linh hồn, nó xuất phát từ “thần” và tồn tại bất diệt. Bản tính của dục vọng là tham của cải, nó chiếm phần lớn trong linh hồn. Đam mê nếu được rèn luyện đúng cách, sẽ trở thành thứ phù trợ cho lý trí, cùng chế ngự dục vọng. Đam mê và dục vọng đều phải phục tùng lý trí, nhưng ngược lại, đam mê và dục vọng lại thường lãnh đạo lý trí, vì sao vậy?
Quả nhiên Chu Đại Vỹ nói đúng, Âu Bối Bối đột nhiên xin nghỉ nửa tháng. Từ khi tôi làm Trưởng phòng đến nay cô ấy chưa xin nghỉ ngày nào, thế mà giờ xin nghỉ hẳn nửa tháng. Đúng ra tôi nên hỏi rõ lý do, nhưng không hiểu sao, tôi đồng ý ngay không chút do dự.
Nhìn theo bóng cô ấy, tôi vừa thầm than: đúng là hồng nhan bạc phận, lại vừa khâm phục thằng cha giả hòa thượng Triệu Trung. Từ xưa đến nay chỉ cần có tiền và quyền thì cóc cũng ăn được thịt thiên nga. Mà thật ra Bối Bối cũng chẳng được coi là thiên nga, dù rất đẹp nhưng chỉ xếp vào loại cô gái lọ lem, mà còn là lọ lem đói bụng ăn bậy.
Tôi nghĩ, nếu những lời của Đại Vỹ là thật, Bành Quốc Lương biết được chuyện Bối Bối phá thai, ông ta sẽ nghĩ gì? Nếu biết cha của Đại Vỹ là ông chủ mua bán nhà đất có máu mặt nhất Đông Châu, ông chủ nhà đất tầm cỡ nào cũng phải “nắm lấy bím tóc của thổ địa”, nếu không thì sao làm ăn mua bán trôi chảy được. Vừa nghĩ đến đó, tôi liền thấy xấu hổ vì nhận ra dường như có một loại linh hồn nữa mang tên trần trụi. Friedrich Wilhelm Nietzsche(14) từng cho rằng thần và trời sinh ra cạm bẫy của lương tâm, tiếng nói của nó đã đi vào nơi thẳm sâu nhất của linh hồn. Ông ta đã chế tạo ra một Zarathusta(15) dám chất vấn mặt trời. Kết quả là Nietzsche.F đã điên, và tôi thực sự không muốn giẫm lên vết xe đổ của ông ấy.
Hai giờ chiều, Bối Bối đầu tóc bơ phờ, lao vào phòng làm việc như vừa chạy thoát khỏi cơn khủng bố tinh thần vậy. Tôi đang định hỏi: “Đang nghỉ phép sao cô không ở nhà nghỉ, đến đây làm gì?” thì cô ta đã ngoạc mồm ra chửi đổng trước mặt tất cả nhân viên trong phòng, ai cũng nghe rõ, cô ta đang chửi chồng mình – Vương Triều Quyền, chửi chán rồi lại òa lên khóc khiến mọi người không hiểu chuyện gì. Tôi ra ý bảo mọi người đi ra ngoài. Hoàng Tiểu Minh đi ra đầu tiên, tiếp đến là Hứa Trí Thái, Chu Đại Vỹ lúc đi ra còn ma mãnh liếc cô ta một cái. Lúc đầu tôi định đợi mọi người đi ra hết rồi nói vài lời khuyên nhủ cô ta, nhưng đứng một lúc không biết nói gì, đành lắc đầu, cũng ra khỏi phòng làm việc.
Âu Bối Bối nghỉ phép đúng nửa tháng, hôm đến làm việc cũng không chải chuốt, người gầy tóp lại. Hôm Bối Bối chửi chồng qua điện thoại, tuy nghe bập bõm tiếng được tiếng không, nhưng tôi cũng hiểu lúc cô ta phá thai về hai người cãi nhau, Bối Bối liền đội mưa chạy đến văn phòng. Nếu không phải mâu thuẫn kịch liệt, tại sao chồng cô ta lại nỡ để vợ vừa nạo thai xong đã phải đội mưa ra khỏi nhà?
Hết phép, hôm đến làm việc Âu Bối Bối tuyên bố với mọi người là cô ta đã ly hôn, Hoàng Tiểu Minh và Hứa Trí Thái tỏ ra kinh ngạc, chỉ có Chu Đại Vỹ và tôi vẫn thản nhiên như thường.
Thực ra, năng lực và trình độ của Hoàng Tiểu Minh không phù hợp với chức thư ký cho Thị trưởng. Vậy thì làm gì mới phù hợp đây? Thật ra tôi cảm thấy mình hợp hơn, thời gian tôi làm thư ký cho lãnh đạo cũ đủ để kiểm chứng. “Cảm nhận uống nước tiểu” do tôi viết còn sâu sắc hơn nhiều so với “Suy ngẫm về triết học liệu pháp nước tiểu” trong khẩu thuật của sếp cũ. Điều này chứng tỏ trải nghiệm thực tế của tôi cao hơn ông cụ, nhưng trải nghiệm thực tế của Hoàng Tiểu Minh lại cao hơn tôi. Về điểm này, dù nhiều người nhất là nhiều lãnh đạo không nhận ra hoặc vờ không nhận ra, nhưng là Trưởng phòng, tôi lại rất rõ. Tôi cho rằng, cậu ta không thích hợp làm thư ký cho Thị trưởng, mà có thể làm Thị trưởng hoặc cấp gì đó cao hơn cấp Thị trưởng. Tôi không hề “hoa ngôn lộng ngữ”, mà đó là nguyên tắc “thực sự cầu thị”. Đương nhiên tôi cũng nhận thấy mình cũng có năng lực và trình độ như vậy. Nhưng tôi cũng chỉ có thể kìm nén những điều này trong lòng, bởi nếu nói ra sẽ không phù hợp với nguyên tắc “thực sự cầu thị” và cũng quá chân thực.
Từ kinh nghiệm bản thân, tôi hiểu không được tin tưởng vào sự chân thực, bởi những thứ càng chân thực càng gần với giả dối. Hoàng Tiểu Minh hiểu rất rõ điều này, cậu ta giấu kín sự thật, trà trộn kêu be be giữa bầy dê, nhưng tôi biết cậu ta không phải dê mà là sói – một con sói vô cùng cô độc không tìm được đồng bạn. Cậu ta biết một con sói cô độc ẩn giữa đàn dê, muốn tiếp tục tồn tại tốt nhất phải biến thành con chó, nếu không nhất định sẽ chết dưới tay của người chăn dê. Do bản chất cậu ta là sói, nên một khi biến thành chó đương nhiên sẽ trở thành một con “chó ưu tú”. Về điểm này, Phó Thị trưởng Bành hiểu rõ nhất, chó tốt ai mà không thích? Vì thế việc Hoàng Tiểu Minh trở thành thư ký của Thị trưởng là việc nằm trong dự đoán của tôi.
Hoàng Tiểu Minh thay thế Hồ Chiếm Phát, đường hoàng làm thư ký cho Thị trưởng, Hồ Chiếm Phát nếm mật nằm gai năm, sáu năm, vừa mới yên vị ở cấp phòng nay đã trở thành “cây cầu cổ nối giữa khu vực phó và trưởng” một cách toại nguyện. Chu Đại Vỹ lại hoàn toàn khác, tay đó trở thành con sâu bám đuôi Hoàng Tiểu Minh. Tôi nghĩ, muốn lấy lòng được Hoàng Tiểu Minh, Đại Vỹ còn phải rèn luyện thêm vài năm nữa.
Người ta nói: Con mắt của quần chúng là tinh anh nhất. Trước đây tôi không tin, bởi tôi cảm thấy, con mắt tinh nhất vẫn là mắt của chính mình. Vì thế, tôi cũng chỉ tin vào mắt mình thôi. Nhưng ánh mắt quần chúng chiếu sáng khắp lượt con người Hoàng Tiểu Minh. Từ khi làm thư ký Thị trưởng, cậu ta nổi trội hơn hẳn các thư ký khác, nên các Thị trưởng ai cũng ước ao được như Phó Thị trưởng Bành, đồng thời tự trách bản thân có mắt như mù, sao không biết chọn Hoàng Tiểu Minh làm thư ký? Điểm này quần chúng đương nhiên hiểu, vì thế trong cuộc bình chọn tiên tiến cuối năm, hơn bảy trăm người của Văn phòng Ủy ban bỏ phiếu kín, Hoàng Tiểu Minh có số phiếu cao thứ ba, đó là điều chưa từng có trong lịch sử thư ký Thị trưởng.
Kể từ khi Lưu Nhất Hạc làm Thị trưởng Đông Châu, tôi chưa dùng bữa cùng Triệu Trung. Ngoài việc bao thầu đình chùa, anh ta còn làm thêm bất động sản nhà đất nữa. Có một việc tôi không thể giải thích được, từ khi Bối Bối phá thai và ly hôn không thấy cô ta và Triệu Trung qua lại gì với nhau nữa. Đến quan hệ giữa Phó Thị trưởng Bành với cô ta cũng chẳng phát hiện được gì mờ ám. Tôi bắt đầu nghi ngờ phán đoán của Đại Vỹ, xem ra cậu ta vẫn còn non trẻ.
Tối đến, tôi và bà xã vừa ăn cơm xong thì Triệu Trung gọi điện đến, nói muốn mời tôi đi uống trà. Khó từ chối, nên tôi đành phải lái xe đến phòng trà Minh Nguyệt. Đương nhiên chiếc Audi tôi lái là của công ty thuộc Cục xúc tiến thương mại. Nguyên trước đây các phòng tổng hợp của Uỷ ban thành phố không được cấp xe, nhưng rốt cuộc phòng nào cũng mượn xe để đi.
Phòng trà Minh Nguyệt là phòng trà sang trọng bậc nhất Đông Châu, ông chủ không ai khác chính là thằng cha giả hòa thượng Triệu Trung. Mục đích mở phòng trà cũng chỉ vì muốn “trưởng giả học làm sang”, giao lưu kết bạn. Lúc nhân viên lễ tân đưa tôi vào đã thấy anh ta đang chễm chệ trên ghế đai tròn, vừa thưởng trà, vừa lim dim lắng nghe tiếng đàn tỳ bà. Đánh đàn tỳ bà tuy là một thiếu nữ trông rất thanh thoát, xinh tươi, nhưng khúc điệu gảy lên lại như “bình bạc nổ, nước văng tung tóe”. Thấy tôi, Triệu Trung bừng mở mắt, vẫy vẫy tay, cô gái gảy tỳ bà ôm đàn lễ phép đi ra, phục vụ châm tiếp ấm trà Thiết Quan Âm.
Tôi nhấp một ngụm trà, nói đùa: “Hòa thượng giả mời tôi uống trà, chắc có bộ kinh Phật nào tâm đắc lắm đây!”
Triệu Trung tỏ vẻ nghiêm túc, bỏ điếu thuốc đang ngậm trên miệng xuống, hỏi: “Hằng Đạt, cậu biết tên khúc nhạc vừa rồi là gì không?” Tôi nào có để ý nên chẳng biết tên là gì, nhưng chợt nhớ lại cảm thấy láng máng nghe như âm thanh của thiên binh vạn mã, bèn nói bừa: “Có phải Xuân giang hoa nguyệt dạ không?”
Triệu Trung giương mắt nhìn tôi, thâm trầm nói: “Không ngờ cậu cũng bị quan trường ‘hun’ tới mức tẻ nhạt vô vị rồi, Xuân giang hoa nguyệt dạ là nhạc khúc trữ tình miêu tả lúc mặt trời vừa chếch bóng phía tây, mặt trăng mới nhú lên sườn núi phía đông. Đêm trăng của sông xuân u nhã mà khoan thai, mặt nước sóng biếc dập dờn, ánh trăng trải trên mặt sông tĩnh lặng, xa xa vẳng tiếng sáo tiêu, tiếng trống từ một chiếc thuyền nhỏ khiến người ta đắm chìm trong tình thơ, ý họa, bức tranh trữ tình như thế làm sao có ‘tiếng ngựa hí, đao khua’ được.”
Tôi bối rối: “Tiếng ngựa hí, đao khua thì tôi chưa nghe ra, nhưng trong khúc nhạc toát ra âm thanh giống như ‘gió núi mưa nguồn’ tràn ngập cả lầu trà này.”
“Thôi, bỏ đi!” Triệu Trung thở dài rầu rĩ nói: “Tôi cho cậu biết, đây là bài Thập diện mai phục, nổi tiếng nhất trong các khúc tỳ bà.”
Vừa nghe bốn chữ Thập diện mai phục là tim tôi đập thình thịch. Tôi biết Triệu Trung là người dựa lưng vào Lưu Nhất Hạc, vẫn thường tham dự vào cuộc tranh chấp quyền lực giữa Lưu Nhất Hạc và Bành Quốc Lương, giờ mời tôi uống trà lại nói chuyện “thập diện mai phục” là có ý gì?
“Triệu Trung,” tôi hỏi dò: “Vui lòng đẹp mắt như Xuân giang hoa nguyệt dạ không nghe, lại thích nghe Thập diện mai phục? Hòa thượng giả tâm bất tịnh à?”
“Hằng Đạt,” Triệu Trung thản nhiên nhìn tôi, vẫn úp mở: “Lúc giả làm thật, thì thật cũng là giả, nơi không là có, thì có sẽ hoàn không, nói Hồng lâu mộng là thông qua ẩn ý của ‘câu chuyện giả’ để nói việc thật, tôi vẫn không tin. Tiểu thuyết là tiểu thuyết, sao có thể là viết việc thật? Nhưng gần đây đọc lại Hồng lâu mộng, thật sự tôi đã nhìn thấy một số ‘việc thực’, mà còn là ‘việc thực’ xảy ra tại Đông Châu!”
Tôi kinh ngạc, buột miệng hỏi: “Đông Châu?”
“Nếu không thế bảo sao lịch sử luôn làm người ta kinh ngạc!” Hình như Triệu Trung đang chất chứa nhiều “tâm sự” lắm, anh ta rót trà cho tôi, nói tiếp: “Cậu nói xem, con người ta mê chức vị nhiều hơn hay vận mệnh nhiều hơn?”
Nghe Triệu Trung nói gần nói xa, tôi cũng phong thanh hiểu ra đôi chút. Nhìn cái mặt “lão Trư” của anh ta chất chứa nhiều tâm sự về chuyện tiền bạc và quyền lực, khiến tôi cảm thấy trong đầu heo trước mặt mình đang chứa rất nhiều bí mật không thể cho người khác biết. Tôi cũng cảm giác những bí mật ấy sẽ khiến con suối vận mệnh của tôi lao thẳng về vùng nước chết, tiền đồ của tôi hoàn toàn trôi xuống vực thẳm. Tôi đoán, tiệc trà hôm nay hẳn có nhiều mưu đồ, nếu không “cứng” những bí mật trong cái “đầu heo” kia sẽ không bộc lộ.
Tôi sa sầm mặt, cáu kỉnh hỏi: “Triệu Trung, anh thật quái quỷ, rốt cuộc anh muốn nói gì?”
Triệu Trung thấy tôi nổi cáu, liền vỗ vai tôi cười: “Hằng Đạt, tôi cho cậu một cơ hội lập công, cậu muốn không?”
Tôi không hiểu hỏi lại: “Là sao?”
Anh ta nhấp một ngụm trà, vẻ mặt thâm trầm rất nguy hiểm: “Dục vọng cũng giống như con nhền nhện cái độc ác, nó dính chặt tất cả những kẻ tham lam vào tấm lưới giăng sẵn của mình. Hằng Đạt, cậu thử đoán xem, hai hôm trước đi Ma Cao tôi đã nhìn thấy ai trong ‘chuồng gà’?”
Chẳng cần Triệu Trung nói ra, tôi cũng biết rõ hai hôm trước Bành Quốc Lương đi Hồng Kông, nhưng sao lại ở Ma Cao?
Mặc dù biết nhưng tôi vẫn không muốn tin, vì thế, tôi tỏ vẻ tò mò hỏi lại: “Triệu Trung, chắc anh nhìn nhầm người?”
“Hằng Đạt,” Triệu Trung cười ranh mãnh nói: “Tôi rất hiểu tâm tư của cậu, nhưng tôi từng làm việc ở văn phòng Ủy ban nhiều năm như thế, cậu vẫn nghĩ tôi sẽ nhầm được sao? Lúc đó tôi nhìn thấy tận mắt, nhưng ba người họ không thấy tôi đâu. Bành Quốc Lương ‘hóa trang’ giống hệt đại ca xã hội đen: cổ tay đeo lắc, ngón tay đeo nhẫn, cổ lủng lẳng sợi dây chuyền, miệng ngậm tẩu thuốc, quả thật tôi quá giật mình. Xem ra con người ta, cho dù ở vị trí cao bao nhiêu cũng không thoát ra khỏi nội tâm của chính mình, không ra khỏi kết cục định trước của số mệnh mà!”
Không nghi ngờ gì nữa, những lời của Triệu Trung nhằm bới móc Bành Quốc Lương, vậy rõ ràng Lưu Nhất Hạc đã bắt đầu hành động rồi. Thảo nào mấy hôm nay, Hoàng Tiểu Minh liên tục mời Hứa Trí Thái sang phòng làm việc của Bành Quốc Lương, xem ra Bành Quốc Lương “ngồi không vững” rồi, đây là mời Lâm Vĩnh Thanh đi làm công tác tư tưởng với Tề Tú Anh thôi! Nhưng cũng chưa chắc Tề Tú Anh có thể chi phối được vận mệnh của Bành Quốc Lương. Ai cũng biết “đánh rắn phải đánh dập đầu”, không chừng Lưu Nhất Hạc đã “thò chân” vào đến Thường vụ Thành ủy rồi cũng nên, không biết sẽ còn xảy ra chuyện gì nữa đây? Chính trị là dùng “thủ đoạn” đổi lấy “mục tiêu”. Tôi phải làm thế nào đây?
Rõ ràng, Triệu Trung đã nói thật với tôi, tức là coi tôi không phải người ngoài, và chắc hẳn phải có mưu đồ gì đó. Tôi cố trấn tĩnh nói: “Thường có câu ‘lửa cháy cửa thành, làm hại hồ cá’, Triệu Trung, chỉ mấy chén trà để giải khát sao có thể dập được lửa to, lại càng không thể cứu được hồ cá!”
Triệu Trung đưa cho tôi một điếu thuốc, rồi châm thuốc cho tôi, sau đó ranh mãnh nói: “Hằng Đạt, tôi rất hiểu tâm tư của cậu lúc này, nhưng trung thành cũng phải xem lãnh đạo thế nào chứ? Thị trưởng Lưu thích cậu từ lâu rồi, thường nói lãnh đạo cũ là người đức cao vọng trọng nhất trong Cục cán bộ lão thành. Cậu làm thư ký cho ông ấy nhiều năm, chỉ cần làm gì đó khiến ông ấy không nhúng tay vào việc này, thế là cậu lập được công lớn rồi!”
Lời của Triệu Trung khiến tôi xáo động, rõ ràng ý bảo tôi “diễn” cho kín kẽ. Đúng là trên quan trường, những vòng tròn quan hệ được coi trọng nhất. Tôi không mảy may nghi ngờ, trước mắt Bành Quốc Lương đang nứt ra một khe vực thẳm có thể nuốt trọn bất cứ ai nhảy xuống, tôi cớ gì phải nhảy theo chứ! Vực thẳm sâu hun hút thế, chỉ cần Bành Quốc Lương nhảy xuống lập tức sẽ mất hút, còn tôi lúc ấy có muốn trốn cũng không thoát. Vừa nghĩ đến đó trong đầu tôi bất giác xuất hiện một tảng đá có ghi: “Mộ của đám tuẫn táng theo Bành Quốc Lương.” Không! Dựa vào cái gì? Dựa vào đâu mà ông ta xuống địa ngục thì tôi cũng phải xuống theo?
Ngẫm đến đó, tay tôi khẽ run lên, vội cầm chén trà uống một hơi, hoang mang nói: “Triệu Trung, chuyện xảy ra đột ngột quá, để tôi suy nghĩ kỹ đã nhé!”
Triệu Trung vẻ như thông cảm, vỗ nhẹ vai tôi: “Hằng Đạt, tôi là thương nhân, tôi chỉ tin một câu: Ta không lên thiên đường, thì ai lên thiên đường?”
Có lẽ chủ đề này quá nặng nề, khiến mọi thứ chìm vào trầm lặng, Triệu Trung bèn chuyển đề tài, lim dim cặp mắt híp hỏi: “Bối Bối dạo này thế nào?”
Tôi chửi thầm, thằng cha béo núc chết tiệt, còn giả vờ giả vịt gì nữa, làm bụng người ta ễnh ra, khiến gia đình người ta tan nát lại vẫn không biết Âu Bối Bối thế nào. Nghĩ rồi, tôi nói: “Triệu Trung, anh luôn miệng nói đã ‘chiếm’ được Bối Bối, thế mà đến giờ vẫn chưa biết cô ấy ra sao ư?”
“Hằng Đạt,” Triệu Trung cười hì hì: “Chẳng giấu gì cậu, chiếm thì chiếm được rồi, nhưng mà đại sự không thành. Không hiểu sao, hôm ấy ‘súng’ lại không kéo ‘chốt’ được.”
Tôi nghĩ, đã làm cho người ta phễnh bụng lại còn xỏ lá. Tôi mỉa mai: “Đừng giả vờ, hạt giống đã ra hoa, kết quả rồi; không phải giống của anh thì của ai?”
Triệu Trung hất cái mặt heo nói: “Còn phải nói nữa sao, của chồng cô ta thôi!”
“Nếu của chồng sao cô ta lại ly hôn chứ?”
“Ly hôn?” Triệu Trung trợn mắt hỏi lại: “Hằng Đạt, cậu vừa nói Âu Bối Bối ly hôn sao?”
Tôi chỉ tay vào anh ta, cáu tiết: “Giả vờ con mẹ gì nữa!”
“Trời đất chứng kiến, Dương Hằng Đạt,” Triệu Trung gân cổ đỏ mặt nói: “Hôm đó tôi không kéo được chốt thật mà.”
“Vậy cái thai đó của ai?”
Vừa dứt câu, tôi bỗng hiểu ra, Triệu Trung hình như cũng hiểu ngay tức thì, liền đứng bật dậy, hằn học nói: “Hằng Đạt, tôi biết nghiệp chướng của ai gây nên rồi. Đồ chó chết, có chỗ để làm tới cùng rồi!”
Mặt trăng ảm đạm treo trên không trung, tôi lái xe mà không có mục tiêu, rồi chợt phát hiện: Vũ trụ là một cái tử cung cực lớn, vạn vật đều đầu thai trong nó, đó gọi là tồn tại. Tôi sinh ra trong tồn tại, một cọng lông tơ của tồn tại. Tôi có dục vọng, không biết tồn tại có dục vọng hay không, nhưng tôi biết nếu một thế giới không có cá tính, cho dù hạnh phúc thế nào, khoái lạc ra sao, hoàn mỹ bao nhiêu, đều đáng bị khiển trách, bởi con người và nhân loại là hai vấn đề khác hẳn nhau, và đó chính là thực chất của vấn đề.