Đọc tiểu thuyết Sói đồng hoang của Hermann Hesse, tôi thèm muốn được đi dạo khắp nơi như nhân vật Harer, nhưng lại chỉ có thể ngồi như bị đóng đinh trong phòng làm việc, lật các loại tạp chí, đến nỗi tờ Đông Châu nhật báo cũng phải đọc đi đọc lại năm sáu lần mà vẫn không hết ngày. Thế mà Harer có thể lật xem sách cũ, tắm nước nóng, luyện khí công, được ra ngoài tản bộ, ngắm những áng mây rực rỡ sắc màu.
Tôi thường nghĩ, nếu hồn phách tôi giống con chuột lùng sục trong tòa nhà hành chính, nhất là chui xuyên qua các phòng làm việc của lãnh đạo, nhất định tôi sẽ biết được rất nhiều bí mật. Không cho phép tôi làm “sói đồng hoang” thì tôi đành làm con chuột trong nhà vậy, dù làm chuột nhà, cũng chỉ là trong tâm hồn thôi, chứ đừng nghĩ tôi muốn làm con chuột thật, nhưng vì muốn hóa rồng thì trước tiên cần phải giỏi lao vào đêm tối như chuột mới được. Thực ra tôi đâu muốn trở thành chuột, cũng chẳng thích hóa rồng, tôi chỉ muốn thành một con cáo. Tôi cho rằng trên đời có hai loại người: một là cáo mượn oai hùm và hai là mong muốn trở thành cáo mượn oai hùm. Có người vừa thăng quan, nắm được quyền, liền cho mình đã thành hổ, thành rồng; đừng có mơ tưởng hão huyền nữa đi, hổ và rồng chân chính là chức quan và quyền lực, ai có được chức quan và quyền lực, người đó sẽ có thể là cáo mượn oai hùm; cho dù con chuột được giao ghế ngồi theo kiểu hổ sinh uy, thì đây cũng chỉ như quy luật bao tiền phát ra ánh sáng lấp lánh kế bên một vũng bùn mà thôi.
Tôi cầm tinh con chuột, khi làm việc, tâm hồn tôi thường giống như con chuột, thích sục sạo trong tòa nhà. Bạn gái đặt tên tôi là “chuột nhắt”, cô ấy là Thượng Tiểu Quỳnh, đang làm việc ở phòng 6 Ủy ban Kỷ luật tỉnh. Vì công việc của cô ấy là bắt các quan tham, nên tôi gọi cô ấy với biệt hiệu “mèo mun”. Thế là “chuột nhắt” và “mèo mun” trở thành tên gọi thân mật giữa hai chúng tôi.
Tôi vào làm việc trong văn phòng Ủy ban thành phố với mong muốn lập đại nghiệp. Hồi còn đại học, tôi đã mơ ước được làm Tỉnh trưởng, Thị trưởng, tạo phúc cho trăm họ một phương. Nhưng cha lại bảo tôi, muốn lập nghiệp phải nghĩ cách tranh giành vị trí danh giá, ở đó đầy những mưu đồ thế lợi, những bộ mặt lạnh của thế gian. Một người không có vị trí danh giá trong xã hội, sẽ không được người ta coi trọng, bởi thế gian này chỉ nhìn cuộc sống bằng con mắt mưu lợi mà thôi. Cha tôi đã trải hơn hai mươi năm trên quan trường, tuy không có được vị trí gì xuất chúng, nhưng cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế, ông nói: “Một người không có địa vị xã hội, thì đừng bao giờ nói đến phú quý.” Lời của cha tôi tuy có chút thiên kiến, nhưng lại rất đúng với căn bệnh thời đại, bởi chúng tôi thường đánh đồng địa vị xã hội với giá trị con người. Thực ra cha tôi cũng là người có bản lĩnh, nhưng không được phát huy; về điểm này, sau khi rời khỏi Thị ủy mới kiểm nghiệm được, bởi từ hai bàn tay trắng ông đã lập nên một tập đoàn bất động sản danh tiếng nhất thành phố Đông Châu. Dù cha từng phải đọ sức quyết liệt, thương trường từng trải có thừa, nhưng trước sau luôn ôm mộng chính trị, vì thế tôi chưa tốt nghiệp đại học, ông đã quan hệ tìm “cửa” nhờ gửi, sử dụng trăm ngàn kế đưa tôi vào Ủy ban thành phố. Lúc đầu định xin vào phòng Tổng hợp 1, nhưng ông nghĩ: cựu Thị trưởng còn nửa nhiệm kỳ nữa sẽ chuyển lên làm đại biểu quốc hội, đương nhiệm thường vụ Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc là người có tương lai nhất để thay thế cựu Thị trưởng. Cha tôi luôn tin vào con mắt kinh nghiệm hai mươi năm theo đường chính trị của mình, thế là đưa tôi vào phòng Tổng hợp 2, chuyên phục vụ Lưu Nhất Hạc. Ông ấy khuyên tôi, trên quan trường, muốn có tiền đồ tốt đẹp, điều quan trọng nhất là đi theo đúng người. Năm cha tôi làm Trưởng phòng nhà đất, cũng theo nhầm người, nổi nóng với Phó chủ nhiệm chủ quản, lại đắc tội với một “tay vịn”, kết quả mãi chẳng thể ngẩng đầu lên nổi. Cha cho tôi kinh nghiệm dù đi theo ai cũng phải theo người là “cánh tay vịn”, hoặc có khả năng thành “cánh tay vịn”; theo bằng cách nào, thì dựa vào năng lực phân tích, lý giải vấn đề của mình.
Ở văn phòng Ủy ban, chỉ có hai người tạm thời là “tay vịn” của tôi, một là Triệu Trung Trưởng phòng Tổng hợp 2, người kia là Tiêu Phúc Nhân, phó thư ký, Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban thành phố. Khi mới đến, tôi đã phát hiện quan hệ giữa Trưởng phòng Triệu Trung với Phó Thị trưởng Lưu không bình thường, bởi ngay đến chủ nhiệm Tiêu Phúc Nhân cũng phải nể mặt, nhưng rốt cuộc quan hệ giữa họ là gì, tôi hoàn toàn không biết. Ở phòng Tổng hợp 2, cấp bậc của tôi thấp nhất, sự từng trải cũng nông cạn nhất. Tôi biết trên chốn quan trường, cấp bậc hay quá trình công tác đều chẳng có gì đáng nói cả, có những trường hợp thăng quan tiến chức không cần xét đến cấp bậc hay quá trình công tác. Dù chỉ là số rất ít, nhưng những người này thường được thăng chức rất nhanh, lại thăng cao như thể ngồi trên hỏa tiễn vậy. Về điểm này, tôi biết trong đó có “cửa”, chỉ có điều bản thân không đủ năng lực để nhận ra cửa nào mà thôi. Thậm chí nhiều khi tôi còn nghĩ, nếu mình là con giun trong bụng lãnh đạo thì tốt biết mấy, như vậy tôi mới hiểu rõ lối vào cửa “thăng cao” của mỗi người, tập hợp tất cả kinh nghiệm để chọn đúng “cửa” cho mình, lo gì không có tiền đồ tươi sáng?
Nhưng trước mắt, tôi mới chỉ là con giun đũa trong bụng Triệu Trung, trước tiên phải hiểu rõ tâm tư, ý muốn của anh ta, sau đó mới “tùy bệnh mà kê thuốc”. Phải giành được sự tin tưởng của Triệu Trung, mới có nhiều cơ hội rèn luyện kinh nghiệm. Vậy mà trong mắt anh ta, tài năng lại tỷ lệ thuận với cấp bậc, cấp bậc càng cao, tài năng càng lớn. Đương nhiên ở phòng Tổng hợp 2 này, chức vụ của Triệu Trung là cao nhất, do đó cơ hồ tài năng của anh ta lớn nhất? Nhưng, từ khi tôi đặt chân vào đây, chưa bao giờ thấy Triệu Trung viết bản báo cáo hay đề án nào cả; những đề án lớn đều do Phó phòng Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh đảm nhiệm. Hoàng Tiểu Minh là thạc sĩ chính quy duy nhất của văn phòng, chuyên phụ trách những báo cáo nặng về chính trị, còn những báo cáo nhỏ không đáng kể, sẽ do Âu Bối Bối viết.
Trưởng phòng Triệu tuy không viết báo cáo, nhưng lại ra vẻ mình phải sửa nhiều lắm, sau một hồi gạch gạch xóa xóa, báo cáo do Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh viết, liền biến thành kiệt tác của anh ta. Việc đi họp với Phó Thị trưởng Lưu thì đến Phó phòng Hứa Trí Thái còn không đủ tư cách, huống hồ Hoàng Tiểu Minh, cái chức nhân viên phụ trách khoa học nhỏ nhoi như tôi thì càng không đáng nói tới. Âu Bối Bối rất giỏi tiếng Anh, nên trở thành người chuyên trách phiên dịch của Phó Thị trưởng Lưu. Vốn dĩ khi tiếp khách nước ngoài đều do văn phòng đối ngoại phiên dịch, nhưng hình như Phó Thị trưởng dùng Âu Bối Bối quen rồi, nên mỗi lần có khách nước ngoài, ông ấy đều chỉ đích danh Âu Bối Bối, kết quả tôi là người nhàn nhất phòng. Cũng như Phó Thị trưởng Lưu, phó thư ký Tiêu Phúc Nhân mỗi lần đi dự hội nghị hoặc được Phó Thị trưởng điều phái làm công việc gì đều đưa tôi theo, tôi nghiễm nhiên trở thành thư ký riêng của ông ấy. Cho dù Triệu Trung không coi trọng Tiêu Phúc Nhân, nhưng cha tôi trăm vạn lần, dặn đi dặn lại rằng, tôi phải tìm cơ hội để phục vụ Tiêu Phúc Nhân, bởi ông ấy có vai trò rất quan trọng trong việc mở đường thăng tiến của tôi. Qua một thời gian quan sát, tôi phát hiện sở thích đặc biệt nhất của Tiêu Phúc Nhân là đánh cờ, thế là tôi âm thầm nghiên cứu và luyện cờ, chiêu này quả nhiên hiệu nghiệm, tôi không những vô tình trở thành thư ký “hữu thực vô danh” của Tiêu Phúc Nhân, mà còn là bạn cờ không thể tách rời của ông ấy, dần dà trở thành “cận thủy lâu đài”, hiểu biết khá nhiều về chính trị.
Tôi phát hiện trong khi đám người kia đang trăm phương nghìn kế “vượt sông đãi vàng”, thì tôi đã bắc một chiếc cầu trên sông để thu tiền qua cầu, tính ra còn lợi ích hơn trực tiếp đãi vàng. Đừng coi tôi là thư ký cấp một của phòng Tổng hợp 2 chỉ biết viết biên bản cuộc họp, thực ra bảo tôi viết đề án lớn, chắc chắn sẽ không kém gì Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh. Viết loại văn chương rập khuôn theo công thức như vậy, chỉ cần đoán được mạch suy nghĩ của lãnh đạo, đồng thời nắm rõ tình hình chính trị và những vấn đề mà lãnh đạo quan tâm, nhất định “đã viết là chuẩn”.
Tôi tin chắc một điều, mèo có đường mèo, chuột có đường chuột. Triệu Trung không cho tôi viết đề án lớn, tôi đành phải đi con đường đánh cờ. Trong phòng Tổng hợp 2 này mỗi năm có mười cơ hội đi nước ngoài đều do Triệu Trung vơ hết, mọi người ai cũng oán giận. Trước đây đường tiến của Hứa Trí Thái, Hoàng Tiểu Minh và Âu Bối Bối đều bị Triệu Trung ỷ quyền thế chặn đứng, cơ hội xuất ngoại chẳng bao giờ đến lượt họ. Sở dĩ mọi người cứ nhẫn nhục, thứ nhất bởi lợi ích trước mắt, thứ hai là vì Triệu Trung lợi dụng sự tín nhiệm của Phó Thị trưởng Lưu, “cáo mượn oai hùm” mà. Chính vì thế, Triệu Trung thực thi chuyên chế, khiến cho phòng Tổng hợp 2 chỉ có “tập trung” mà không có “dân chủ”, đến mức nó giống như một cái đầm chết. Triệu Trung tước hết thành quả lao động của mọi người trong phòng, để anh ta tích lũy danh hiệu và thăng chức. Vậy mà Triệu Trung chỉ nghĩ đến dã tâm của bản thân, lại coi nhẹ dã tâm của những người theo đuổi chính trị, bởi những người theo đuổi chính trị thì chỉ cần có dã tâm họ sẽ biết đợi cơ hội mà hành động, điểm này được thể hiện rất rõ trong con người Hứa Trí Thái, bởi cả văn phòng Ủy ban ai cũng biết anh ta làm Phó phòng lâu nhất, giữ cương vị này đã hơn mười năm. Từ hồi Tiêu Phúc Nhân làm Trưởng phòng Tổng hợp 2, Hứa Trí Thái đã là Phó phòng, đến khi Tiêu Phúc Nhân lên chức phó thư ký Ủy ban, Chủ nhiệm phòng hành chính, Hứa Trí Thái vẫn là Phó phòng. Vì thế giờ đây anh ta thà cùng xuống địa ngục với Giêsu, chứ không muốn sống trong thiên quốc không có Giêsu. Vì thế, khi biết tin Phó Thị trưởng Lưu được thăng chức Chủ tịch tỉnh Thanh Giang, Hứa Trí Thái đã ngồi trước bàn làm việc của mình liên tục hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác, hút một mạch gần hết cả bao.
Phó Thị trưởng Lưu chuyển đi, tức là phòng Tổng hợp 2 sẽ “thay vua đổi chúa”, vậy mà vẫn không làm cho Triệu Trung từ bỏ cơ hội đi nước ngoài. Ngày Phó Thị trưởng Lưu họp mặt chia tay để lên tỉnh, visa đi nước ngoài của Triệu Trung cũng đã ký xong. Tối hôm đó, Phó Thị trưởng Lưu, không, phải gọi là phó Tỉnh trưởng Lưu, mời toàn thể cán bộ nhân viên phòng Tổng hợp 2 liên hoan tại nhà hàng Thế giới để bày tỏ cảm ơn chúng tôi mấy năm qua đã vất vả phục vụ. Nói thực, từ khi đến phòng Tổng hợp 2, đây là lần đầu tiên tôi gặp trực diện Lưu Nhất Hạc. Trong bữa tiệc, Lưu Nhất Hạc hỏi thăm kỹ càng tình hình của tôi, vì trước đây tôi vốn chuẩn bị rất kỹ, nhưng mấy năm qua, Triệu Trung luôn coi thường tài năng của tôi, không bao giờ cho tôi cơ hội biểu hiện trước mặt Phó Thị trưởng, vì thế tối nay là một dịp may hiếm có, tôi phải tận dụng để tạo ấn tượng sâu sắc với Lưu Nhất Hạc, ít nhất cũng để ông ấy có cảm giác đáng tiếc, là vì sao bên cạnh mình còn có một con rồng nằm, Triệu Trung dùng người như thế nào chứ? Làm sao cho cái mặt heo của Triệu Trung phải cực kỳ khó xử mới được.
Quả nhiên, Lưu Nhất Hạc hỏi tôi học chuyên ngành gì? Tôi bình tĩnh đáp là Chính trị học. Mắt Lưu Nhất Hạc bỗng sáng lên, hình như ông ấy muốn thử tôi: “Cậu có thể giới thiệu cho tôi hai tác phẩm kinh điển về Chính trị học, được không?” Máu trong người tôi bừng lên, Lưu Nhất Hạc thật sự chạm vào họng súng của tôi rồi. ông ấy tuy ở địa vị cao nhưng không có thời gian đọc sách, đặc biệt là sách kinh điển, nhưng tôi thì từ thời đại học đã đọc hết toàn bộ tuyển tập kinh điển chính trị rồi.
Tôi giả vờ khiêm tốn, nói: “Lưu Tỉnh trưởng, ông là thạc sĩ luật học, nhất định đã đọc Chính trị luận của Aristoteles.”
Lưu Nhất Hạc nói không chút giấu giếm:
“Đại Vỹ, cậu quá đề cao tôi rồi, thạc sĩ luật học của tôi chẳng qua là Chủ nghĩa Mác-Lê nin, không phải học luật, cũng không phải chính trị học. Không giấu gì các cậu, tôi chưa hề đọc cuốn sách nào của Aristoteles.”
Cách nói của Lưu Nhất Hạc khiến tôi cảm thấy kính phục, lúc này Hoàng Tiểu Minh nói chen vào: “Tư tưởng chính trị chủ yếu của Aristoteles là ‘đạo trung dung’”.
Lưu Nhất Hạc hỏi vẻ hứng thú: “Nói như vậy chính trị học của Aristoteles với đạo Khổng Tử tuy phong cách ngôn ngữ khác nhau, nhưng đều huyền diệu như nhau?”
Tôi sợ Hoàng Tiểu Minh chơi trội, “hớt tay trên” nên vội vàng tiếp ngay: “Trung dung ở ta không thể giống trung dung bên nước ngoài, ‘đạo trung dung’ của Aristoteles là muốn duy trì ổn định của xã hội, cần phải tìm một lực lượng có tác dụng đứng giữa người nghèo và người giàu để lôi kéo họ, đó cũng chính là giai cấp tư sản dân tộc, hay giai cấp trung sản. Aristoteles cho rằng giai cấp trung sản không giống người nghèo hòng mưu cầu tài sản của người khác, cũng không như người giàu dễ dàng gây ra cho người khác những điều hy vọng không đáng được. Họ vô tư sống trong bình an, là mỹ đức trung dung, thích hợp làm trọng tài giữa hai tầng lớp giàu - nghèo.”
Lưu Nhất Hạc hào hứng nói theo mạch của tôi: “Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đạo trung dung của Aristoteles rất đáng được chúng ta lấy làm gương chứ! Đại Vỹ, cậu có thể giới thiệu cho tôi một cuốn chính trị học thực dụng không?”
Tôi nhìn ánh mắt Lưu Nhất Hạc, cảm thấy ông ta rất chân thành chứ không phải muốn chất vấn, thế là mở hết tâm gan nói: “Đương nhiên thực dụng nhất là Quân vương của Machiavelli.”
Lưu Nhất Hạc càng có hứng thú, hỏi tiếp: “Cách vận dụng thế nào?”
Nói thực lòng, sở dĩ tôi giới thiệu cuốn sách này là muốn thể hiện cụ thể hơn trình độ chính trị của mình, đồng thời lại muốn thăm dò phẩm chất chính trị của Lưu Nhất Hạc, bèn buột miệng nói: “Bởi Quân vương chính là báo cáo chân thực nhất về kỹ xảo tranh đấu chính trị.”
Lưu Nhất Hạc bỗng nghiêm túc: “Vậy liệu có đủ thực dụng?”
Thấy mọi người đều chăm chú, đến nỗi người giỏi về chính trị như Hoàng Tiểu Minh cũng vểnh tai lắng nghe, tôi bèn nói một mạch: “Machiavelli chỉ ra, chính trị chỉ có một mục tiêu, đó là thành công. Vì thế có thể không từ thủ đoạn, ông ta cho rằng, một quân chủ nếu muốn duy trì và giữ vững địa vị, nhất thiết phải biết làm những việc vô đạo đức. Ví dụ, muốn hại người triệt để, nhất định phải đạt tới mức khiến họ phải lâm vào tình trạng muôn kiếp không thể hồi phục, như vậy sẽ chẳng cần lo lắng đến việc họ có ý muốn báo thù. Hoặc làm việc ác, phải làm xong một lần, ân huệ thì nên ban cho ít một. Ông ấy còn nhắc nhở quân chủ nhất thiết phải như con chó sói để quen cạm bẫy, đồng thời phải như con sư tử khiến đám cáo chồn phải khiếp sợ. Ông ấy nói cô đọng ý chính ‘Được người ta sợ hãi sẽ an toàn hơn nhiều so với được người ta kính yêu... bởi vì kính yêu sợi dây gắn bó với ân nghĩa, nhưng vì nhân tính vốn hủ bại, bất cứ lúc nào, chỉ cần có lợi đối với bản thân, họ liền chặt đứt ngay sợi dây đó. Nhưng sợ hãi thì khác, do sợ bị trừng phạt mà họ giữ gìn.’ Trong khi đánh giá Machiavelli, Bertrand Russell đã phê phán khá chính xác: ‘Quyền lực thường cần dựa vào dư luận, mà dư luận phải dựa vào tuyên truyền. Lúc tiến hành tuyên truyền, nếu anh làm cho người ta thấy mình rất có đức, anh sẽ chiếm được lợi thế. Trước mặt công chúng ngu tối ấy, tốt nhất nên giả dạng có đức, bởi giả nhân giả nghĩa thường có thể thu được rất nhiều hiệu quả.’”
Tôi chưa nói xong, Triệu Trung liền nói chen vào: “Tinh túy, quá tinh túy, Machiavelli quả thật là nhà giám định và đánh giá quyền lực tài ba!”
Lưu Nhất Hạc ôn hòa bình dị khác thường, nghiêm túc hỏi: “Triệu Trung, nói vậy là cậu rất tán thưởng quan điểm của Machiavelli? Đọc sách không thể thoát ly khỏi bối cảnh thời đại, quê hương của Machiavelli là ở Florence thuộc bán đảo Italia, thời đó bán đảo Italia ở vào tình trạng chia năm xẻ bảy, hình thành 5 lực lượng cát cứ lớn là Milanno, Venice, Forence, Rome và Napoli; ngoài ra còn rất nhiều thành nhỏ và nước chư hầu, giữa các nước xảy ra tranh hùng cướp đất, khói lửa chiến tranh liên miên, thiếu hẳn một lực lượng chính trị có sức mạnh, nên khó thể thống nhất bán đảo Italia độc lập. Với tình trạng chia cắt dài lâu này, Machiavelli cho rằng: chỉ khi xây dựng nên một chính trị trung ương tập quyền, mới có thể ngăn chặn nội loạn và chống lại sự coi khinh của nước ngoài, bảo vệ quốc gia và giữ gìn sự tôn nghiêm dân tộc. Nhưng Machiavelli tôn sùng chế độ cộng hòa, cuộc đời chính trị của ông ấy gắn liền với nước Cộng hòa Florence. Suốt thời kỳ giữ chức vụ trong chính phủ nước Cộng hòa Florence, ông đã nhiều lần nhận sứ mệnh ngoại giao ra nước ngoài, làm sứ giả của một nước thương nghiệp giàu có mà không có sức tự vệ, đối mặt với sự lăng nhục của các lân bang cường thịnh, ông cảm thấy sỉ nhục vì sự chia cắt của tổ quốc. Chính vì vậy, ông viết Quân vương, hy vọng nó có thể lợi dụng tập quyền lớn mạnh để xua đuổi ngoại bang, hoàn thành đại nghiệp thống nhất Italia. Triệu Trung thật khéo, coi nhà tư tưởng chính trị vĩ đại như vậy thành nhà âm mưu quyền thuật. Triệu Trung, tôi khuyên anh cố gắng đọc lại nguyên tác, phải nhớ kỹ, cơ sở của thế giới quan là chính trị quan.”
Lời của Lưu Nhất Hạc khiến Triệu Trung lúng túng ra mặt, càng làm tôi không biết trốn đi đâu. Rõ ràng, Lưu Nhất Hạc là một đại gia đọc kinh điển, rất thông thuộc Quân vương, vậy tôi là kẻ múa rìu qua mắt thợ rồi, may mà Âu Bối Bối tiếp lời bằng chủ đề khác, tối nay cô ta tỏ ra “tâm sự ngổn ngang”, ánh mắt nhìn Lưu Nhất Hạc cũng khác mọi người, đăm đắm ngấn tình, đương nhiên phải quan sát kỹ mới nhận ra. Sở dĩ tôi nhận ra được là vì tôi cũng đang trong thời kỳ yêu say đắm, “mèo mun” vẫn dùng ánh mắt như thế để nhìn tôi, tôi cười thầm vì Âu Bối Bối không tự lượng sức mình, mà vội cầm micro, nói muốn hát tặng Lưu Nhất Hạc bài hát Mười lần tiễn hồng quân. Cả phòng Tổng hợp 2, ai cũng biết Lưu Nhất Hạc rất thích bài này. Có lần tôi gặp Lưu Nhất Hạc ở khu nhà vệ sinh, ông ấy vừa đi vừa ngâm nga bài ấy.
Nhạc nổi lên, Âu Bối Bối hát rất tình cảm: Một lần đưa tiễn hồng quân xuống núi, gió thu, mưa phùn lất phất. Trên núi, tiếng con nai kêu não lòng, từng cây ngô đồng trút lá, xin hỏi người thân một câu, Hồng quân ơi, bao giờ đoàn quân trở lại... hương sơn!
Mọi người cùng hát theo, lúc hát Âu Bối Bối không nhìn màn hình mà nhìn Lưu Nhất Hạc đắm đuối, đến câu: “Tình sâu như biển không thể quên, Hồng quân ơi, cách mạng thành công, sớm quay về quê hương” mắt cô ấy đã ngấn lệ, giọng điệu cũng không còn giống tiễn đưa Hồng quân, mà như tiễn đưa tình lang vậy, cảm giác đó khiến tôi vô cùng kinh ngạc, lẽ nào Bối Bối... sao có thể vậy chứ?
Bữa tiệc kết thúc bằng ca khúc Tiếng chuông lạc đà của Hứa Trí Thái, mọi người ra khỏi nhà hàng Thế Giới đúng lúc trăng treo ngọn liễu. Chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy buồn, lười đến sân Ủy ban lấy xe đạp, mặc dù nó chỉ cách nhà hàng một bức tường. Tôi cũng không gọi xe, mà chỉ muốn đi bộ trong màn đêm. Vốn dĩ với thực lực kinh tế của cha tôi, hằng ngày đi làm, tôi có thể lái chiếc BMW đi làm, nhưng xe của các Thị trưởng, Phó Thị trưởng đều chỉ là Audi, tôi mà lái BMW, chẳng khác gì tự hủy hoại đường tiến thân của mình. Làm ở phòng Tổng hợp 2 mấy năm, tôi đã đánh mất chính mình, giờ sao đủ tư cách nói đến vọng tưởng vượt qua chính mình, đủ tư cách tự vấn mình là ai?
Tôi thích đêm tối, chỉ khi màn đêm buông xuống, tôi mới thích chạy nhảy lung tung, điều này chắc cũng liên quan tới tuổi con chuột của tôi. Làm gì có ai thấy chuột dạo khắp mặt đường vào ban ngày bao giờ, rất nguy hiểm, đêm tối mới cho tôi cảm giác an toàn. Khoái cảm lớn nhất đương nhiên là nỗi sợ hãi, nhưng cũng chưa bằng nỗi sợ của con người khi tham gia giao thông vào ban ngày, bởi bất cứ người nào nhắm mắt qua đường thì trăm phần trăm sẽ ngã trên vũng máu, người còn như thế, huống hồ tôi chỉ là con “chuột nhắt trong nhà”. Nghĩ tới đây, tôi càng hâm mộ sói hoang, bởi chí ít nó còn có niềm vui đuổi theo sói cái, còn tôi, chỉ là con chuột nhắt trong nhà, chẳng tìm được chuột cái, bởi tôi không phân biệt được sự khác nhau giữa người và chuột. “Xét từ góc độ của sói, bất cứ hành vi nào của con người đều sẽ rất khôi hài ngu xuẩn và không ra thể thống gì”, nhìn từ góc độ của chuột, bất kỳ hành vi nào của con người hầu như đều quay về tính chuột. Tôi chẳng biết đây là bất hạnh của người hay là bất hạnh của chuột, hoặc là đại phúc của cả hai. Dù sao loài chuột cũng từng là con vật được người cưng chiều, đương nhiên loài chuột cũng cần học yêu theo loài người, tôi không biết quan niệm của mình là lạc quan hay bi quan, tôi chỉ biết tiến hóa cũng chính là biến đổi, văn minh là sản phẩm của biến đổi, chính trị là cái trứng của văn minh sau khi biến đổi, người ấp trứng thành người, chuột ấp trứng thành chuột, sợ nhất chính là sói, cáo, hổ, báo ấp trứng, đương nhiên bọn chúng không thể ấp trứng, chúng gặp trứng ăn trứng, gặp người ăn người, và chuột đương nhiên là món ngon của chúng. Ngày nay chuột và người ngày càng hiểu nhau, yêu kính lẫn nhau thậm chí còn cùng nhau biến đổi.
Tôi bước đi một cách vô định, đầu óc mông lung, bỗng chuông điện thoại reo, thì ra “mèo mun” gọi đến, tôi lập tức lấy lại tinh thần. Thực lòng, chỉ lúc gặp mặt hoặc nghe giọng nói của “mèo mun”, tôi mới thoát khỏi tư duy của loài chuột, cảm thấy mình là một con người, đây cũng chính là điểm “mèo mun” cuốn hút tôi nhất. Có lúc thậm chí tôi nghĩ, thiếu nữ đẹp như thế, những lúc đối diện với quan tham, liệu có nảy sinh ý nghĩ bất chính nào không? Sau đó tôi lại nghĩ, hay những hoài niệm tốt đẹp của cuộc sống làm cho quan tham trở thành ngay thẳng, chân chính. Nói chung, đừng coi cô ấy là cô gái hơn hai mươi tuổi đã tham gia điều tra những vụ đại án tham ô, cô ấy nói mỗi khi đối diện với quan tham, cô ấy không khác gì một con mèo đối diện với con chuột. Tôi và “mèo mun” đã mấy tuần nay không gặp mặt nhau, tôi nghĩ cô ấy nhớ tôi, muốn tôi mời đi khiêu vũ hoặc đến quán bar nói chuyện. “Mèo mun” rất thích khiêu vũ, một khi đã vào quán bar với tôi thì cô ấy uống rượu như nước giải khát. Tôi vừa cất giọng gọi: “Tiểu Quỳnh!”, cô ấy đã liến thoắng rằng vừa nhận nhiệm vụ đi điều tra án ở thành phố Xương Sơn. Tôi tò mò hỏi án gì, cô ấy bảo phải giữ bí mật. Bí thư Tề dẫn đoàn sẵn sàng lên đường, cô ấy còn dặn tôi ngoan ngoãn ở nhà, cô ấy đi khoảng chục ngày sẽ về, xong hôn “chụt” một tiếng, rồi cúp điện thoại.
Tôi đứng ngây người hồi lâu, lắc đầu nghĩ, án mà Tề Tú Anh dẫn đầu một đoàn điều tra không những là án lớn mà còn là trọng án, xem ra thành phố Xương Sơn lại sắp “động đất lớn” rồi đây. Tề Tú Anh mới nhận chức Bí thư Ban Kỷ luật tỉnh ủy tỉnh Thanh Giang chưa đầy một năm, mà đã có ba Phó Thị trưởng bị ngã ngựa, một dạo ba chữ “Tề Tú Anh” khiến rất nhiều người trong quan trường tỉnh Thanh Giang đứng ngồi không yên. Khi làm việc ở tỉnh K, Tề Tú Anh đã được nhân dân tặng cho cái tên “Nữ Bao Công”, tôi thì lại không cho là vậy, muốn trở thành “Bao Công không nhận lục thân” đâu có dễ dàng. Thông qua “mèo mun” tôi được biết, chồng bà ta bị bệnh chết đã hơn hai mươi năm nay, bà ấy vẫn ở vậy nuôi con. Cuộc sống “mẹ góa con côi” đã hình thành nên tính cách rất mạnh mẽ của bà ấy. Dù vậy, tôi vẫn không tin ở đời này có chính nghĩa thuần khiết như thế, cũng như trong con người vẫn có tính cách của loài chuột, chính nghĩa chẳng qua là hoa sen mọc ra từ bùn lầy mà thôi, mà hoa sen lại do con người trồng trọt chăm sóc mà nên.
Triệu Trung vừa ra nước ngoài, Hứa Trí Thái đã đứng ngồi không yên, dù tôi rất ghét sự độc tài của Triệu Trung nhưng cũng không hề ngờ Hứa Trí Thái lại có dũng khí làm cuộc “khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng” như thế. Bởi bình thường ấn tượng của tôi về anh ta là một người nhẫn nhịn, biết “ngậm đắng nuốt cay”. Tôi vẫn không hiểu sao Hứa Trí Thái không lên nổi chức Trưởng phòng, cảm giác anh ta tiếp nhận chức vụ thay Triệu Trung, không những tận tâm tận lực mà còn khá thân thiết và gần gũi, khiến anh em trong phòng thấy khá thoải mái, vậy mà cuối cùng lại không được toại nguyện. Từ vụ việc của Hứa Trí Thái, và trải qua rất nhiều lần suy nghĩ tôi mới phát hiện ra Hứa Trí Thái chỉ giỏi chạy mà không có tài leo cây. Hay nói cách khác, tầm nhìn của anh ta chỉ quen nhìn ở đồng bằng, không có cây, hoặc có thể anh ta tự cho mình là một cái cây. Sở dĩ tôi nói vậy là vì từ khi vào phòng tổng hợp 2, tôi đã cảm thấy anh ta không giống người có tính cách của động vật, mà ngược lại là người có đầy đủ tính chất của thực vật. Với sự hiểu biết của tôi, con người chỉ có hai bản tính chủ yếu, đó là nhân tính và thú tính. Loại thú tính này có thể là sói, có thể là chuột, cũng có thể là hổ, hoặc chó, rắn, hay bọ hung… ít nhất cũng là động vật. Từ trước đến nay tôi chưa từng nghe nói trong bản tính của con người, ngoài tính người còn có tính thực vật, ai sẽ tưởng tượng được rằng trong bản tính con người lại có tính “cỏ đuôi chó”, “đậu giác” tính, “dưa chuột” tính... Tôi chỉ nghe nói có loại thực vật ăn những loài động vật nhỏ, loại thực vật này giống như một cái lọ chứa đầy nước cam ngọt, chính xác là giống như cái miệng há to chứa đầy nước. Vì quá tò mò, nên tôi lên mạng tìm kiếm những loài thực vật ăn thịt, thì được biết có tới mười ngành, hai mươi mốt họ thuộc hơn sáu trăm loại, gồm cỏ bắt ruồi, cây gọng vó, cỏ lọ… chúng không những có khả năng hấp dẫn mồi, bắt mồi, tiêu hóa côn trùng, hút chất dinh dưỡng của côn trùng, mà đến cả những loài động vật như nhái bén, kỳ nhông, chim non cũng không có cơ may thoát khỏi chúng. Xem ra tôi coi thường thực vật rồi đây, bản tính con người Hứa Trí Thái đúng là có thực vật tính. Trong bản tính con người mà có đặc tính của thực vật ăn thịt, tức là người đó rất có khả năng ẩn náu, khiến người khác khó lòng nhận ra được. Nhất là Triệu Trung, có quyền lực tuyệt đối ở phòng Tổng hợp 2, ngông nghênh càn rỡ, từ trước đến giờ luôn coi thường Hứa Trí Thái. Có câu “sơ xuất mất Kinh Châu”, tôi nhận ra lần này Hứa Trí Thái không những nắm chắc cơ hội làm cuộc “chính biến”, mà còn được sự ủng hộ giúp đỡ nhiệt tình của quần chúng, bởi trong thư tố cáo, Hứa Trí Thái liệt kê bảy tội trạng của Triệu Trung, Hoàng Tiểu Minh và Âu Bối Bối đều đã ký tên.
Ở phòng Tổng hợp 2, tôi hợp Hoàng Tiểu Minh nhất, hai chúng tôi cùng có sở thích đi dạo trong hiệu sách. Đối diện Văn phòng Ủy ban là thư viện thành phố, kế bên là hiệu sách Tân Hoa, hai chúng tôi là khách thường xuyên ở đó. Đừng cho rằng Hoàng Tiểu Minh là người hướng nội, bởi cậu ta là người có hoài bão rất lớn. Ở văn phòng Ủy ban thành phố này, cậu ta là người duy nhất có trình độ học thức đáng nể. Trước đây tôi cho rằng Tiểu Minh sẽ nhận được sự ngưỡng mộ của Lưu Nhất Hạc, nhưng vì Triệu Trung “chọc gậy bánh xe”, nên đây chính là sự đáng tiếc của Lưu Nhất Hạc.
Bức thư gửi công khai lên Đảng ủy, tôi đoán ba chữ Hoàng Tiểu Minh rất sắc nét, chắc hẳn cậu ta đã dứt khoát khi ký tên, ngược lại chữ ký Âu Bối Bối lại yếu đuối ngoằn nghèo, hình như lúc ký tên, cô ta còn do dự. Nói thực, tôi cũng không muốn dính vào vụ việc này, bởi dù thành công, tôi cũng chẳng được lợi gì, Ủy ban cũng chẳng vì chuyện ấy mà thăng chức cho từng người, huống hồ nếu thất bại thì hậu quả không thể lường trước được.
Lúc Hứa Trí Thái bảo tôi ký tên, tôi mượn cớ đi tiểu, phải gọi điện cho cha nói rõ tình thế trước mắt đã. Bình thường tôi cũng kể với cha rất nhiều chuyện nội bộ phòng Tổng hợp 2, ông ấy không những hiểu rõ nội tình, mà còn nắm chắc tình hình của cả Ủy ban thành phố, dầu sao ông ấy cũng gần hai mươi năm chinh chiến trong chính giới rồi mà. Với sự từng trải của mình, ông bảo tôi phải tìm ngay Tiêu Phúc Nhân báo rõ hết tình hình phòng Tổng hợp 2. Tôi nghe xong như mở cờ trong bụng, đúng rồi, hằng ngày khi đánh cờ với Tiêu Phúc Nhân, ông ta thường nói, công tác tình báo trên chiến trường quan trọng nhất; trên quan trường còn quan trọng hơn.
Ra khỏi nhà vệ sinh rồi quẹo trái, qua hai cánh cửa nữa là đến phòng của Tiêu Phúc Nhân. Tôi đẩy cửa, hấp tấp chạy vào, Chủ nhiệm Tiêu đang ngồi đọc công văn, thấy tôi hớt hơ hớt hải, biết ngay có chuyện, ông cười hòa nhã chỉ tôi ngồi vào ghế. Vừa đặt mông xuống, tôi bỗng thấy ngần ngại, đây không là bán rẻ bạn bè, cũng là bán rẻ đồng nghiệp, một khi Hứa Trí Thái, Hoàng Tiểu Minh, Âu Bối Bối biết được, tôi sao sống ở phòng Tổng hợp 2 được nữa chứ?
Tiêu Phúc Nhân không hổ danh là Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban, vừa nhìn đã thấu hết tâm sự tôi. Ông ấy hớp một ngụm trà, cười nói: “Đại Vỹ, Thị trưởng Lưu lên tỉnh rồi, tân Thị trưởng vẫn chưa đến nhậm chức, Triệu Trung lại ra nước ngoài công tác, có phải lòng người của phòng Tổng hợp 2 đang phấp phỏng hả?”
Lãnh đạo vẫn là lãnh đạo, thời điểm này không bộc lộ lòng trung thành thì đợi lúc nào nữa, vì thế tôi đem hết chuyện trong phòng, rồi vụ “chính biến” nói rõ cho Tiêu Phúc Nhân nghe. Ông ấy mỉm cười nói: “Triệu Trung chuyên quyền ngạo mạn, không tránh khỏi mọi người ca thán, anh ta ỷ có Thị trưởng Lưu đỡ lưng, nên thường ngày, đến cả tôi cũng coi chẳng ra gì, huống hồ Hứa Trí Thái. Điểm này, Thị trưởng Lưu nhận ra rồi, nhưng trước khi lên tỉnh nhận nhiệm vụ mới, sao ông ấy không căn dặn Triệu Trung điều gì nhỉ? Đại Vỹ, việc này phải thuận theo lòng dân. Nhưng cậu làm rất đúng, phàm bất cứ việc gì cũng phải giữ gìn sự nhất trí của tổ chức. Cậu biết vì sao Hứa Trí Thái làm Phó phòng mười năm rồi không? Chỉ cúi đầu kéo xe, không ngẩng đầu nhìn đường, không ngẩng đầu nhìn đường thì làm sao biết mình đang kéo xe cho ai?”
Lời Chủ nhiệm Tiêu như rót trí tuệ vào đầu khiến tôi bừng tỉnh. Với tôi, tổ chức chính là Chủ nhiệm Tiêu Phúc Nhân. Toàn bộ cán bộ phòng Tổng hợp 2 đều vây quanh Thị trưởng, Phó Thị trưởng, cho rằng chỉ có họ mới có thể làm thay đổi vận mệnh của mình, mà vô tình bỏ qua Tiêu Phúc Nhân là một quan huyện thực sự. Nghĩ đến đây tôi sung sướng như Cristoforo Colombo phát hiện ra đại lục mới vậy. Tôi vội quay về phòng làm việc, không chút do dự ký ngay vào đơn tố cáo, tôi biết Triệu Trung “tiêu” rồi, nhưng cũng hiểu, Triệu Trung có đi khỏi phòng Tổng hợp 2, thì Trưởng phòng mới cũng không phải là Hứa Trí Thái, ai lại đi đề bạt một kẻ không nhận ra tổ chức chứ?
Dù sao Hứa Trí Thái cũng mơ chức Trưởng phòng từ lâu rồi, nhất định sẽ bị Hoàng Tiểu Minh dụ dỗ. Từ sau khi mất bút ghi âm, Hoàng Tiểu Minh luôn “kính nhi viễn chi” với Triệu Trung. Trước đây anh ta luôn tỏ ra biết ơn, lúc nào cũng ủng hộ Triệu Trung, thực ra, Hoàng Tiểu Minh từ Ban nghiên cứu điều tra chuyển về phòng Tổng hợp 2 của văn phòng Ủy ban đâu phải do Triệu Trung quyết định, chẳng qua do trình độ anh ta tốt, giỏi văn chương, được sự tán thưởng của Lưu Nhất Hạc mà thôi, trong việc này Triệu Trung chỉ đóng một vai phụ, nhưng Hoàng Tiểu Minh lại bị cho là đều nhờ ơn Triệu Trung. Hứa Trí Thái đã không được Triệu Trung coi trọng, lại vô tình trở thành đầy tớ của Hoàng Tiểu Minh, đúng là Hoàng Tiểu Minh chịu quá nhiều oan ức rồi nhưng anh ta cũng cố nhẫn nhục, chỉ đến khi xảy ra vụ việc mất bút ghi âm, anh ta bị Triệu Trung đối xử theo kiểu “đẩy xuống giếng còn lấp đá”, sau rồi chuyện lan tới văn phòng Đảng ủy. Lúc đó Chủ nhiệm Tiêu có tìm tôi hỏi cho rõ tình hình. Lúc đầu tôi không có ấn tượng tốt với Hoàng Tiểu Minh lắm bởi anh ta chẳng qua chỉ có văn bằng học vị cao hơn mọi người một chút, nhưng không hẳn là “tài thật học thật”. Huống hồ trước khi đến đây, chỉ mình Hứa Trí Thái được làm những báo cáo quan trọng, bận rộn suốt ngày, tôi là người có hy vọng nhất sẽ là người thứ hai quản lý tài liệu quan trọng, nhưng khi Hoàng Tiểu Minh đến làm tôi chẳng còn chút hy vọng nào nữa. Cũng phải nói thật mấy báo cáo Hoàng Tiểu Minh viết tốt hơn Hứa Trí Thái rất nhiều, nó không thuộc thể loại văn chương khuôn mẫu mà đưa ra những kiến giải chính xác và rất thấu triệt. Tôi rất thích bản lĩnh này của Hoàng Tiểu Minh, nên dần dần cũng có ấn tượng tốt với anh ta, Hoàng Tiểu Minh cũng dần hiểu được tại sao mọi người trong phòng Tổng hợp 2 đều lạnh nhạt với mình, sau vô số lần được thử thách trước sự chuyên chế của Triệu Trung, anh ta bắt đầu chống đối khiến Triệu Trung tức giận. Nhìn Triệu Trung tướng tá mập mạp, tai to mặt lớn, nhưng bụng dạ nhỏ nhen, đích thị là một tay tiểu nhân, cũng vì Hoàng Tiểu Minh không cam tâm làm đầy tớ, ôm hận trong lòng, lại thêm việc chẳng may mất bút ghi âm bị Triệu Trung làm lớn chuyện. Do đó khi Tiêu Phúc Nhân hỏi tình hình, tôi tỏ ra phẫn nộ, nói tốt nhiều điều cho Hoàng Tiểu Minh, từ đó trở đi Hoàng Tiểu Minh cũng hiểu ra nhiều điều và quan hệ giữa chúng tôi lại càng thêm hòa hợp. Người ta càng gần gũi sẽ càng thêm hiểu nhau. Thực ra Hoàng Tiểu Minh là người có hoài bão lớn lại rất thẳng thắn, cuộc “chính biến” lần này từng nước cờ Hứa Trí Thái đi đều do chủ ý của Hoàng Tiểu Minh. Hứa Trí Thái cho rằng Hoàng Tiểu Minh tham gia “chính biến” vì vị trí Phó phòng. Nhưng kỳ thực Hoàng Tiểu Minh đã nhận ra kết cục của cuộc “chính biến”, trong khi Hứa Trí Thái thì cứ ôm mãi giấc mộng “Hoàng lương(1)”. Kể ra Hứa Trí Thái cũng thật đáng thương.
Triệu Trung đang thưởng thức phong cảnh gió mát nắng vàng ở Hokkaido không thể ngờ được rằng phòng Tổng hợp 2 dưới trướng thống trị của mình, lại có thể làm cuộc “cách mạng Tân Hợi”, đã thế còn nhận được sự đồng ý ngầm của Đảng ủy. Đến khi trở về, cảnh tượng đẹp mê hồn của Hokkaido vẫn còn vơ vẩn trong trí não, đã bị điều khỏi phòng Tổng hợp 2 xuống làm Thư ký ban hậu cần của Trung tâm phục vụ, cuối cùng cảm thấy con đường làm quan của mình đã đến hồi kết, nên anh ta kiên quyết từ chức, lập nghiệp hướng khác.
Dạo này Hứa Trí Thái giữ chức quyền Trưởng phòng. Từ khi tôi đến đây, chưa bao giờ thấy anh ta vui vẻ như thế. Nhưng ngày vui có bao giờ dài, Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương đến nhậm chức cũng đồng thời tuyển cho phòng Tổng hợp 2 một Trưởng phòng mới, anh ta là Dương Hằng Đạt, từng là Thư ký của lãnh đạo cũ năm năm liền.
Dương Hằng Đạt nhậm chức, cũng đồng nghĩa với tinh thần Hứa Trí Thái như rơi xuống đáy vực, nhưng Dương Hằng Đạt khác hẳn Triệu Trung, để Hứa Trí Thái giữ được tâm lý cân bằng, đồng thời cũng nhằm phá vỡ “liên minh” của Hoàng Tiểu Minh và Hứa Trí Thái, Dương Hằng Đạt dùng cách “chia để trị”, nhường toàn bộ cơ hội đi nước ngoài cho Hứa Trí Thái, đem toàn bộ công việc xử lý tài liệu quan trọng cho Hoàng Tiểu Minh, tôi và Âu Bối Bối cũng có nhiều cơ hội làm những báo cáo quan trọng hơn, phòng Tổng hợp 2 dường như đang từ “chuyên chế” chuyển sang “cộng hòa”. Nhưng thể chế ấy dần cũng có vấn đề, với việc Hứa Trí Thái được “bao thầu trọn gói” cơ hội đi nước ngoài, khiến lợi ích của phòng Tổng hợp 2 lại lần nữa mất cân bằng. Một khi lợi ích đã không công bằng, mọi người sao tránh khỏi chuyện so bì hơn kém.
Việc hấp dẫn nhất bày ra trước mắt tôi và Hoàng Tiểu Minh, đó là Hồ Chiếm Phát thư ký của Phó Thị trưởng Bành sắp hết nhiệm kỳ, chỉ tôi và Hoàng Tiểu Minh là có hy vọng được thay thế vị trí Hồ Chiếm Phát. Trước đó tôi và Hoàng Tiểu Minh khá thân thiết với nhau, thế mà giờ lại trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt. Bề ngoài anh ta tỏ vẻ chẳng mấy bận tâm chuyện đó, nhưng bên trong lại ngấm ngầm không bỏ qua bất cứ cơ hội nào.
Phó Thị trưởng Bành là Ủy viên thường vụ trẻ nhất thành phố Đông Châu, là ngôi sao mới trên bầu trời chính trị của tỉnh Thanh Giang, tiền đồ chính trị thênh thang rộng mở, chính vì thế, ông ta coi trọng báo cáo khác hẳn các Phó Thị trưởng khác. Ông ta tự tuyển chọn Dương Hằng Đạt làm Trưởng phòng Tổng hợp 2, không những nhằm lợi dụng lãnh đạo cũ để nổi danh, mà còn tận dụng tài cầm bút của Dương Hằng Đạt. Vừa nhậm chức xong, Dương Hằng Đạt làm một việc khiến Phó Thị trưởng Bành lập tức phải để mắt đến: tập hợp tất cả các bài văn của ông ta đã viết từ trước đến nay: từ bài nói chuyện, phát biểu tại hội nghị, tin ngắn, lý luận văn chương… thành một bộ “kho tư tưởng”, nhận được sự tán thưởng liên tiếp của Phó Thị trưởng Bành. Dương Hằng Đạt không hổ là thư ký của lãnh đạo lớn, vấn đề chính trị nào cũng giải thích thấu triệt hơn cả người học chính trị như tôi. Có lần ngồi đánh cờ, anh ta hỏi tôi: “Thế nào là chính trị?”, tôi nói chính trị là giành lấy và vận dụng quyền lực. Anh ta lắc đầu: “Trí tuệ chính trị là khiến ngày càng giảm bớt kẻ thù, tăng thêm đồng chí.” Tôi gật đầu khâm phục, anh ta hỏi tôi biết câu nói này của ai không? Tôi lại lắc đầu. Anh ta bảo đó là của Mao Trạch Đông nói với Điền Gia Anh, tôi nói Mao TrạchĐông không lý giải ý nghĩa thật sự câu nói này, nếu không ông ta đã không nói mình là sự kết hợp của Các Mác và Tần Thủy Hoàng. Dương Hằng Đạt chẳng bảo đúng hay sai, chỉ nói: “Kỳ thực Mao Trạch Đông là một người rất mâu thuẫn. Trên thực tế, ông ấy có tầm nhìn xa trông rộng, cũng có nhiều quyết sách chính trị không ai ngờ tới, nhất là trong thời kỳ chiến tranh. Có nhiều quyết sách của Mao Trạch Đông đã trở thành kinh điển trong lịch sử, cũng như đánh cờ, trong cờ vây chính trị cũng như quân sự, các nước cờ của Mao Trạch Đông đều có thể ghi vào sách hướng dẫn chơi cờ kinh điển. Nhưng theo tôi biết, Mao Trạch Đông cũng là người không khoan dung, thư ký của ông ấy là Hồ Kiều Mộc từng nói: ‘Mao Trạch Đông thiếu sự độ lượng, khoan dung trong chính trị’, Trần Bá Đạt nói: ‘Mao Trạch Đông rất dễ thù hận’. Đặng Tiểu Bình nói: ‘Mao Chủ tịch, nếu anh không nghe lời ông ta, ông ta sẽ nghĩ cách cho anh một vố, nhưng vố đó đến mức nào, ông ta còn có suy nghĩ.’ Cho nên Mao Trạch Đông cũng có mặt hẹp hòi, một nửa của ông ấy là Hổ, một nửa là Khỉ. Trước đây Triệu Trung cũng có điểm hẹp hòi, nên tôi nhất định phải rút kinh nghiệm, cải cách mở cửa thành công cũng từng rút ra kinh nghiệm: Giải phóng con người mới có thể giải phóng tư tưởng. Giải phóng con người thế nào? Chính là thêm bạn bớt thù.”
Lời của Dương Hằng Đạt khiến tôi vô cùng kích động, chính nhờ những điều ấy, mà tôi và Hoàng Tiểu Minh tuy ngấm ngầm chạy đua gây cấn, nhưng bề ngoài lại vẫn rất hòa khí. Nhưng khi nhắc đến Mao Trạch Đông, tôi lại nghĩ tới lời của Hứa Trí Thái khi bảo tôi ký vào đơn để khơi mào cuộc “chính biến”. Đầu tiên anh ta kể chuyện Mao Trạch Đông phản kháng cha bạo ngược mà bỏ nhà đi, sau đó lại kể Mao Trạch Đông nói với Edgar Snow – phóng viên Hoa Kỳ rằng: “Lần phản kháng này để lại trong lòng tôi ấn tượng không thể phai mờ, nếu phản kháng, bạn còn có hy vọng thắng lợi; nếu khuất phục, bạn sẽ mãi mãi bị người khác áp bức”. Đoạn văn này khiến cho tôi cực kỳ ấn tượng, tôi đem “phản kháng” đổi thành tranh giành. Làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành, tôi nhất định phải tranh giành, nếu tranh giành tôi còn có hy vọng thắng lợi, nếu thừa nhận thất bại tức là tôi sẽ mất hy vọng. Thế nên trước một đối thủ mạnh như Hoàng Tiểu Minh, tôi chỉ có thể mưu lợi nhỏ mà khéo léo, chứ không có cơ hội thể hiện tài năng trước mặt Phó Thị trưởng Bành, do đó tôi không thể “tấn công mạnh” mà chỉ có thể chọn cách đi đường vòng. Cũng nhờ thế mà tôi phát hiện ra rằng Hồ Chiếm Phát làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành khác hẳn với thư ký của các Phó Thị trưởng khác, anh ta đã đạt tới cảnh giới “đại nô khinh chủ”, Phó Thị trưởng Bành rất nghe lời anh ta, và thông qua quan sát, tôi phát hiện ra Hồ Chiếm Phát cũng ngấm ngầm tuyển người thay thế, những trường hợp thế này rất ít gặp. Bình thường, thư ký của lãnh đạo hết nhiệm kỳ, lãnh đạo sẽ sắp xếp một vị trí tốt, vừa phủi mông đứng dậy là đi nhận chức cao, trong khi đó Hồ Chiếm Phát lại không thế, anh ta hao tâm tổn sức trong việc chọn người thay thế. Qua tiếp xúc tôi cảm thấy anh ta muốn tìm một thư ký mà anh ta nói gì nghe nấy, như vậy một khi rời khỏi cương vị thư ký, vẫn có thể điều khiển Bành Quốc Lương từ xa. Tôi bèn tương kế tựu kế, răm rắp nghe lời Hồ Chiếm Phát. Anh ta muốn học nghiên cứu sinh tại chức, nhưng khổ nỗi không “qua ải” tiếng Anh, bởi mới chỉ đủ khả năng nhận mặt hai mươi sáu chữ cái, tôi bèn chủ động chạy chọt cho anh ta, dù thi thế nào cũng đảm bảo đạt tám mươi điểm, anh ta hỏi vì sao? Tôi nói giám khảo phụ trách tiếng Anh trong phòng tuyển sinh là bạn thân của tôi thời đại học, sau khi thi, tôi bảo bạn tôi xé bài thi của anh ta đi, bù vào bài làm đúng. Hồ Chiếm Phát nghe thấy vậy mừng ra mặt, kết quả đạt tám mươi bảy điểm. Anh ta lập tức mời tôi uống rượu, trong bữa tiệc còn hứa sẽ giới thiệu tôi thay thế vị trí của anh ta. Sau đó, tôi cơ hồ trở thành con rối của anh ta, tôi biết mình tự rước phiền phức vào thân, Hồ Chiếm Phát vốn không thể dựa vào trình độ của bản thân mà thi đậu tại chức thạc sĩ, đến những kiến thức tối thiểu anh ta cũng chẳng có, không còn cách nào khác, tôi đành phải học thay anh ta. Cách này khá dễ, bởi trên thế giới này nơi nào cũng có sự giao dịch, đó cũng là chính trị. Trong bữa tiệc, Hồ Chiếm Phát mượn rượu chửi Âu Bối Bối lẳng lơ, tôi hỏi: “Cô ta lẳng lơ thế nào?” Anh ta nói vẻ khinh bỉ, cô ta cấu kết với Triệu Trung. Tôi biết Triệu Trung sau khi về vườn bao thầu chùa miếu mà phát tài, bản lĩnh lớn nhất của Triệu Trung là “phương đông không sáng, phương tây sáng”, nhưng nói Âu Bối Bối cấu kết với Triệu Trung thì tôi thấy quá khó hiểu. Bởi khi Triệu Trung còn làm Trưởng phòng, Âu Bối Bối ghét cay ghét đắng anh ta, đã thế còn nhiều lần chửi sau lưng là “đồ lợn chết tiệt”. Hồ Chiếm Phát nói gặp Triệu Trung và Âu Bối Bối cùng ăn cơm, thân mật như tình nhân, việc này khiến tôi không tài nào hiểu nổi. Đương nhiên cô ta khinh thường chồng mình, vì Vương Triều Quyền chỉ là nhân viên cục Xúc tiến thương mại quèn, không cao hơn Âu Bối Bối, trong khi cô ta là mẫu phụ nữ kiều diễm mơ mộng như vậy, sao có thể an tâm sống cùng Vương Triều Quyền chứ?
Tôi luôn cảm thấy Âu Bối Bối là người phụ nữ có mộng hoàng hậu, ánh mắt cô ta nhìn Lưu Nhất Hạc cũng là một minh chứng cho điểm này. Nếu Âu Bối Bối muốn cắm sừng chồng thì cũng “hàng bán đế vương”, sao có thể trong tay “chủ điền thổ” Triệu Trung chứ? Tôi mượn cơ hội rót rượu mà biết được khá nhiều đầu mối, có câu “rượu vào lời ra”, Hồ Chiếm Phát tỏ vẻ rất tức tối về việc của Âu Bối Bối, lớn tiếng chửi cô ta là lẳng lơ trăng hoa, còn chửi cô ta “xoạc hai chân lên hai thuyền”, tôi cứ băn khoăn mãi, nếu Triệu Trung là một chiếc thuyền, vậy chiếc thuyền kia là ai? Không thể là Hồ Chiếm Phát, lẽ nào là... Càng ngày tôi càng thấy tò mò.
Từ sau bữa Hồ Chiếm Phát mời cơm, nhiều chuyện thú vị cứ vô tình xuất hiện. Mấy hôm trước, “mèo mun” đi công tác Bắc Kinh, tôi đưa cô ấy ra sân bay, lúc cô ấy làm thủ tục kiểm tra an ninh, tôi phát hiện Vương Triều Quyền đeo cặp kính đen vội vàng đi qua, bên cạnh còn có hai người như tùy tùng, ba người đi vào sân bay rồi biến mất. Tôi hoàn toàn sững sờ, Vương Triều Quyền, một nhân viên quèn của Cục xúc tiến thương mại mà đi vào đường của sân bay như không có ai, khiến tôi càng tò mò hơn! Tôi nói với “mèo mun”, cô ấy bảo tôi bị hoa mắt. Về cơ quan tôi kể lại cho Âu Bối Bối, cô ta cũng bảo tôi “uống nhầm thuốc”. Trước đây tôi rất ghét thể loại tiểu thuyết hoang đường, bây giờ buộc phải thừa nhận một điều rằng thế giới ngày càng bị hoang đường hóa rồi, chúng ta đang sống trong hoang đường. Ai có thể ngờ được rằng Triệu Trung bị “rớt đài” ở phòng Tổng hợp 2, chao mình một cái, biến ngay thành hòa thượng giả, quanh mình quấn bao tiền vạn, hớp hồn Âu Bối Bối. Ai có thể tưởng tượng được Vương Triều Quyền, người chồng bị Âu Bối Bối khinh thường nhìn bằng nửa con mắt, chỉ trong chớp nhoáng, biến thành đại ca mắt kính đen, diễu võ dương oai đi xuyên đường vào phi trường như đi trong hành lang siêu thị. Ai có thể tưởng tượng được Âu Bối Bối không cam chịu yên tĩnh cô đơn, sẽ xoạc hai chân bước lên hai chiếc thuyền, một thuyền có tiền, một thuyền có quyền. Điều càng khiến tôi dở khóc dở cười là nghe “mèo mun” kể về chuyến tham quan ở thành phố Xương Sơn, người đó là Ủy viên thường vụ Phó Thị trưởng kiêm Cục trưởng, có sở thích lớn nhất là cầm dao giết lợn trước mặt mọi người.
Bí thư Ban kỷ luật tỉnh Tề Tú Anh vừa thị sát tại Cục công an thành phố Xương Sơn, đồ tể Cục trưởng công an không muốn lộ đao trước mặt bí thư Tề, bèn ra phía sau nhà ăn của Cục công an tự tay giết lợn béo khoản đãi. Kết quả đâm mấy nhát dao mà con lợn vẫn mãi không chết, cuối cùng một công an viên phải dùng dao đâm thêm vài nhát nữa nó mới tắt thở. Cục trưởng đồ tể này vẫn nghĩ không lộ tay đao trước mặt Tề Tú Anh, kết quả lại sa vào bẫy. Tề Tú Anh sở dĩ xuống thị sát Cục công an thành phố Xương Sơn chính là để kiểm chứng xem Cục trưởng Cục công an này có sở thích giết lợn thật hay không. Bởi bà ta nhận được thư tố cáo của nhân dân, trong thư không những tố cáo ông ta vi phạm pháp luật và kỷ luật ngành nghiêm trọng, tham ô, nhận hối lộ trắng trợn... mà còn tố cáo mỗi lần ông ta xuống cơ sở kiểm tra, chắc chắn đều thể hiện sở thích giết lợn nghiệp dư trước mặt mọi người. Quả nhiên đụng phải họng súng rồi. Trong thư tố cáo ông ta lợi dụng đặc quyền để giết lợn là có thực, còn những tố cáo khác cũng không hẳn là không có, cho nên Tề Tú Anh mới quyết định đích thân đi điều tra, quả nhiên lòi ra một loạt tham quan. Khi nghe “mèo mun” kể chuyện này, lòng tôi rối bời, nhiều suy nghĩ phức tạp, không cho rằng đây là thắng lợi của việc chống thói xấu, bởi tình trạng Cục trưởng đồ tể giết lợn chuẩn bị đãi “quan trên” không thay đổi, ông ta có “ngã ngựa” thì chẳng qua chỉ là vận may cho một số con heo mà thôi. Sự hoang đường sẽ bao hàm sự tồn tại của cái không thể và không nên, nhưng trong tồn tại lại có khả năng chứa đựng những điều không thể tách rời yếu tố hoang đường. Bởi hoang đường không phải xã hội Utopia (không tưởng), hoang đường chính là bản thân hiện thực. Thậm chí tôi còn cho rằng hoang đường chính là bản chất tồn tại của con người, càng là bản chất con người, càng là thống khổ của tồn tại.
Thường có câu “không là oan gia, không tụ họp”. Ở chốn quan trường Đông Châu ai cũng biết Lưu Nhất Hạc và Bành Quốc Lương là một cặp oan gia. Năm đó Bành Quốc Lương khổ tâm phiền não biết bao để tranh chức Phó Thị trưởng thường vụ với Lưu Nhất Hạc. Đến mức ở Đông Châu năm đó xuất hiện hàng loạt tin đồn nhảm nói về “cuộc chiến” của Lưu Nhất Hạc và Bành Quốc Lương. Thông tin Bành Quốc Lương tiếp nhận chức Thị trưởng Đông Châu là tin chấn động trên quan trường, cũng thật sự làm Bành Quốc Lương đau đầu. Cựu thị trưởng năm nay hết nhiệm kỳ, chuyển đi nơi khác, tiếp nhận vị trí ấy có khả năng sẽ là Lưu Nhất Hạc. Để xác nhận độ chính xác của thông tin này, tôi đã nhiều lần thử thăm dò Hồ Chiếm Phát, nhưng anh ta cứ lấp lửng. Tôi bỗng nhớ hôm Lưu Nhất Hạc mời phòng Tổng hợp 2 dự tiệc liên hoan, Âu Bối Bối hát bài Mười lần tiễn Hồng quân mang ý nghĩa tình cảm rất sâu sắc, mặc dù trong ca từ có những câu Hồng quân ơi, tình sâu như biển không thể nào quên, Hồng quân ơi, cách mạng thành công, sớm trở về với hương sơn… nhưng lúc ấy, ai cũng cảm thấy Lưu Nhất Hạc không thể quay lại, thậm chí tôi còn cho rằng con người đức độ tài cao như Lưu Nhất Hạc sẽ lên Tỉnh trưởng để từ đó tiến về Bắc Kinh. Vậy mà tin đồn trên quan trường lại biến hóa quỷ quái, ai cũng nghĩ rằng Lưu Nhất Hạc có thể giết ngựa thu kiếm, không đạp cho Bành Quốc Lương ngã ngựa, thì cũng làm hại Bành Quốc Lương. Tôi rất muốn vén bức màn sự thật lên để mọi người phải kinh ngạc bàng hoàng.
Lúc đó, sự cạnh tranh giữa tôi và Hoàng Tiểu Minh chức thư ký cho Bành Quốc Lương cũng bước vào giai đoạn căng thẳng nhất. Từ đầu tôi đã muốn ra sức quyết chiến đến cùng, nhưng từ khi cha tôi biết tin Lưu Nhất Hạc quay về làm Thị trưởng Đông Châu, lập tức khuyên tôi bỏ qua ý định làm thư ký cho Bành Quốc Lương, đừng cạnh tranh với Hoàng Tiểu Minh nữa. Tôi không muốn nghe, nên đã gân cổ đỏ mặt cãi lại, bố tôi mỏi miệng khuyên nhủ và cho tôi biết, bỏ cái ý định đó sẽ tiến bộ hơn, một khi Lưu Nhất Hạc làm Thị trưởng, Bành Quốc Lương cũng không dễ sống. Ông ấy còn nói, tiếng tăm của Bành Quốc Lương trên quan trường không bằng Lưu Nhất Hạc, ở chốn quan trường, đi theo ai cũng không thể theo kiểu “bụng đói vơ quàng”, một khi đã theo nhầm người, thì bao nhiêu công sức chỉ đành đổ xuống sông xuống biển mà thôi. Kinh nghiệm quan trường của bố tôi quả khiến người ta khâm phục, ông không những đánh giá tốt Lưu Nhất Hạc mà còn dùng quan hệ giữa Lưu Nhất Hạc với Tiêu Phúc Nhân để thuyết phục tôi. Tiêu Phúc Nhân là do Lưu Nhất Hạc một tay nâng đỡ, trong khi mấy năm nay tôi đã bỏ không ít công phu bên cạnh Tiêu Phúc Nhân, nghiễm nhiên trở thành thư ký “hữu thực vô danh” của ông ấy, vì thế chắc chắn Tiêu Phúc Nhân có đủ khả năng nâng đỡ tôi. Sau khi bị cha thuyết phục, tôi liền không cạnh tranh với Hoàng Tiểu Minh nữa.
Không lâu sau, Lưu Nhất Hạc tạm thời giữ chức quyền Thị trưởng Đông Châu. Thời gian đó, tôi cũng nhận thấy tính khí của Bành Quốc Lương rất nóng nảy, thường xuyên nổi giận với cấp dưới trong các cuộc họp, đến cả hai người thân thiết như Cục trưởng cục tài chính Trần Thực và Cục trưởng cục xúc tiến thương mại Ôn Hoa Kiên cũng không may mắn tránh khỏi những cơn bốc hỏa của ông ta. Một lần, Trần Thực và Ôn Hoa Kiên vừa báo cáo xong, Bành Quốc Lương bỗng đập bàn, mặc dù trên thực tế báo cáo của hai người không có sai sót gì, vì thế hai người đưa mắt nhìn nhau, kỳ thực hai người họ rất rõ vì sao Bành Quốc Lương nổi nóng, vì Ôn Hoa Kiên Và Trần Thực có quan hệ rất đặc biệt với Bành Quốc Lương. Cha tôi từng nói, Bành Quốc Lương là thường vụ Phó Thị trưởng xưng hô anh em với Trần Thực, Ôn Hoa Kiên chẳng có gì tốt đẹp, chẳng qua chỉ là cùng một giuộc, làm chuyện xấu thì ngã vào tay hai người này. Cha tôi nói vậy để khuyên tôi chỉ kính chứ không gần Bành Quốc Lương. Cuối cùng tôi cũng thực sự làm được, nhưng nhìn Hoàng Tiểu Minh tiến vào dinh, từng bước tiếp cận vị trí thư ký Phó Thị trưởng trong lòng tôi quả thực cũng không vui.
Đại hội II vào cuối năm, khi bỏ phiếu bầu thị trưởng, Lưu Nhất Hạc trúng cao phiếu nhất, vừa nhậm chức ông ta đã gióng trống mở cờ tổ chức Hội nghị Xúc tiến thương mại thu hút đầu tư, không chỉ nhằm vận động xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư tại thành phố Đông Châu, mà còn mở rộng khuyến khích, treo giải thưởng cho những đơn vị, cá nhân trong toàn tỉnh có nhiều cống hiến cho công tác đầu tư thương mại. Công tác đầu tư xúc tiến thương mại do Phó Thị trưởng Bành phụ trách, việc khen thưởng từng đơn vị, cá nhân đương nhiên cũng đều nằm trong kế hoạch vạch sẵn của ông ta. Thực ra rất nhiều cá nhân và đơn vị có đóng góp cho đầu tư thương mại, nhưng đóng góp lớn nhất là tập đoàn bất động sản nhà đất của bố tôi hợp tác với tập đoàn Vạn Thông Hồng Kông cải tạo sông Hắc Thủy và xây dựng đoạn Ngũ Gia Trang trên đoạn bãi sông. Phía Hồng Kông đầu tư hàng trăm tỷ đô Hồng Kông, vậy mà Bành Quốc Lương không thưởng cho tập đoàn của cha tôi mà lại cùng Ôn Hoa Kiên, Trần Thực đem tiền thưởng cho Robert, đại diện phía Hồng Kông, việc này khiến cha tôi cứ canh cánh trong lòng mãi.
Robert bất ngờ được “nhận” số tiền rất lớn, khoe trước mặt cha tôi, theo lời ông ta thì hạng mục và số tiền thưởng chênh lệch nhau quá lớn so với thực tế, chính vì lẽ đó bố bảo tôi ngầm để ý nhất cử nhất động của Bành Quốc Lương. Tôi tranh thủ lúc không có việc gì liền chạy đến phòng Hồ Chiếm Phát. Từ đó tôi biết Âu Bối Bối có thai, đứa con trong bụng cũng không phải của Vương Triều Quyền, mà là của Triệu Trung. Hồ Chiếm Phát nói ra điều đó hình như cũng có ý thổ lộ với tôi, mục đích để tôi loan tin, điểm này chắc hẳn có ý đồ gì đó.
Quả nhiên mấy ngày sau, Âu Bối Bối xin nghỉ phép nửa tháng, cũng không biết vì sao, nhưng mới được hai ngày đã thấy cô ta đội mưa bước vào văn phòng, lại còn gọi điện thoại, lớn tiếng chửi bới Vương Triều Quyền. Lúc ấy, tôi và Hồ Chiếm Phát đang đứng ở hành lang văn phòng Ủy ban bàn chuyện bài tập nghiên cứu sinh của anh ta, gặp Triệu Trung chải chuốt chỉnh tề từ phòng của Tống Đạo Minh đi ra, vừa thấy tôi và Hồ Chiếm Phát, anh ta phưỡn cái bụng to, vui vẻ đi tới, đầu tiên vỗ vai tôi thay lời chào hỏi, sau đó nói vẻ nghiêm túc: “Chiếm Phát, làm gì mà ấn đường của cậu tối vậy, đến chùa Từ Ân mà thắp hương nhé!” Hồ Chiếm Phát biết Triệu Trung nguyền rủa mình, bèn châm chọc: “Triệu Trung, nhìn anh ngày càng giống thái giám rồi đấy, thân hình anh như thế vẫn báo hại, rung động được ni cô sao?” Triệu Trung châm biếm nói: “Chiếm Phát, cậu có bản lĩnh úp chậu cứt lên đầu người khác như vậy thì sợ rằng Đại Vỹ học cả đời cũng không theo nổi đâu! Cũng khó trách, thày nào trò nấy mà!” Nói xong không đợi Hồ Chiếm Phát đáp lời đã vừa đi vừa cười ha hả.
Từ cuộc đối thoại đó tôi cũng đoán được lờ mờ, mỗi câu nói của Triệu Trung đều ngầm ám chỉ, đến cả Phó Thị trưởng Bành cũng được đem ra để chửi kèm. Bây giờ mọi người trong văn phòng Ủy ban đều cho rằng Triệu Trung và Âu Bối Bối có quan hệ mờ ám, kẻ theo đuôi chính là Hồ Chiếm Phát, Triệu Trung chửi Hồ Chiếm Phát giỏi chụp chậu cứt lên đầu người khác chính là chuyện này.
Nửa tháng sau, Âu Bối Bối kết thúc kỳ nghỉ, khi đi làm cô ta liền cao giọng tuyên bố mình đã ly hôn, cũng trong thời gian này Vương Triều Quyền từ chức đi Thâm Quyến. Tôi không biết cuối cùng Âu Bối Bối và Vương Triều Quyền, ai được tự do hay cả hai đều chịu sự ràng buộc nào khác? Bởi về căn bản con người ta vốn không có tự do, cho dù có tự do thì cũng là tự do đối với thứ không tự do, đây có vẻ như là chuyện hoang đường, giống như loại ký sinh trùng tồn tại trong tinh thần con người vậy. Chính vì tồn tại sự hoang đường này mà người ta mới thần thánh hóa những thứ áp bức mình, đè nén mình không sao thở được nhưng lại vẫn muốn giữ gìn nó, hoang đường có phải là sự ngẫu nhiên không? Không phải! Nó không chỉ là sự tồn tại chân thực, mà còn có khả năng phát triển hoặc đã từng phát triển. Cái gọi là ràng buộc chính là hoang đường, nó không có khả năng tồn tại bên ngoài thế giới, càng không thể tồn tại ngoài tinh thần. Tôi như vật thí nghiệm sống, mãi không thoát khỏi hoang đường. Tôi sống như con chuột trong tòa lầu, đã thoát khỏi nó, thoát khỏi người khác, thoát khỏi chính mình, chỉ có sự thoát ra mới có thể được tự do. Nhưng cuộc sống còn rất nhiều thứ cần chúng tôi bảo vệ, do đó không thể thoát ra một cách quang minh chính đại. Vì thế, tinh thần của người thuộc loại chuột, mong muốn của người cũng giống như chuột. Bao quanh chúng ta, bốn bên đều là tường, kiên cố như lô cốt, ánh sáng mặt trời khiến vàng lấp lánh, tất cả chúng ta đều đang hưởng thụ ánh hào quang của nó, dù có chói mắt. Chỉ có chuột không có hứng thú với ánh sáng, hứng thú của chúng là khoét được một lỗ nhỏ để thoát khỏi bất cứ tường đồng vách sắt nào, vì chỉ có tìm được một lỗ nhỏ thì chuột mới có được cuộc đời mới.
Điều khiến tôi không ngờ, chuột vừa đào xong một lỗ nhỏ, chưa kịp chui ra thì con mèo già đã lợi dụng lỗ hổng ấy để chui vào, bắt tôi ở trong cùng phối hợp hành động. Con mèo già không phải đến để bắt chuột, mà để tìm mùi tanh. Điều này chứng tỏ trong tòa lầu không chỉ có riêng chuột mà còn có cả cá bự.
Lần này “mèo mun” hành động rất bí mật, lúc đầu chẳng thổ lộ gì với tôi, mãi đến khi cô ấy làm việc ở Ban phục vụ văn phòng Ủy ban được một tuần tôi mới biết. Mục tiêu cô ấy gia nhập vào ban phục vụ chắc hẳn sẽ là vị lãnh đạo nào đó. Tâm trạng tôi bỗng thấy căng thẳng, nhưng mặc tôi truy hỏi, “mèo mun” nhất quyết không nói rõ mục đích, chỉ yêu cầu tôi im lặng mà phối hợp. Mới đầu, cô ấy phụ trách quét dọn phòng làm việc của Lưu Nhất Hạc, bất ngờ một tối nọ cô ấy gọi điện, bảo tôi hôm sau phối hợp với cô ấy quét dọn phòng của Bành Quốc Lương. Tôi bị “mèo mun” làm cho đầu óc rối tung, không biết mục tiêu của cô ấy là Bành Quốc Lương hay Lưu Nhất Hạc nữa. Từ khi Lưu Nhất Hạc nhậm chức Thị trưởng thành phố Đông Châu đến nay, mặc dù Bành Quốc Lương lo lắng không giữ nổi chức Phó Thị trưởng, Lưu Nhất Hạc vẫn không hề có hành động nào thể hiện việc bài trừ ông ta cả, mà còn thể hiện là người có tấm lòng quảng đại. Theo trực giác của tôi, nhất định Lưu Nhất Hạc không phải là người có vấn đề. Lúc đầu khi “mèo mun” làm ở phòng Lưu Nhất Hạc tôi đã chất vấn một thôi một hồi, bây giờ đột nhiên chuyển sang quét dọn phòng làm việc của Bành Quốc Lương. Chính vì thế tôi phải hỏi “mèo mun” cho rõ ngọn ngành, vì cha tôi luôn nhắc nhở tôi phải dựa vào cánh tay của Lưu Nhất Hạc. Khổ nỗi tôi vốn không có cơ hội tiếp cận Lưu Nhất Hạc, nếu có thể mò ra được mục đích thực sự của việc “mèo mun” vào quét dọn phòng Bành Quốc Lương để báo cho Lưu Nhất Hạc, lay động ông ta, thì tôi sẽ có cơ hội trở thành người ông ta tin cậy. Trên quan trường, người nào càng ở địa vị cao, thì lại càng cần có người cung cấp thông tin kịp thời cho mình, đừng thấy Lưu Nhất Hạc và Bành Quốc Lương sống yên ổn với nhau mà coi thường, thực ra bên trong là một cơn sóng ngầm chờ ngày bùng nổ, đây chính là ma lực của chính trị.
Buổi sớm nọ, tôi cùng “mèo mun” vào phòng làm việc của Bành Quốc Lương, cô ấy bảo tôi canh cửa, còn dặn dò tôi thấy người đi vào là phải tìm cách lảng ngay. Nói xong cô ấy lẻn vào phòng làm việc của Bành Quốc Lương, lục từ ngăn kéo lục tới cả giỏ giấy vụn, không biết cô ấy tìm cái gì, nhưng tôi phát hiện cô ấy chú ý đến mọi “tung tích”.
Tôi cho rằng sáng sớm thế này sẽ chẳng có ai dám vào khu văn phòng làm việc của các lãnh đạo, nên tôi đi vào phòng vệ sinh, không ngờ vừa “mở van”, Âu Bối Bối bỗng lẻn vào. Tôi giật mình, Âu Bối Bối không quen Tiểu Quỳnh, nếu thấy cô ấy đang lén lút trong phòng làm việc của Bành Quốc Lương, nhất định sẽ sinh nghi. Quả nhiên, lúc tôi vào đến nơi thấy Bối Bối đang truy hỏi “mèo mun”, tôi vội lên tiếng chào hỏi, may người trong văn phòng Ủy ban không ai biết Tiểu Quỳnh là bạn gái tôi. Có điều tôi cũng không biết vì sao Âu Bối Bối lại lẻn vào phòng Phó Thị trưởng Bành sớm như vậy, chỉ biết gần đây cô ta vừa phá thai vừa ly hôn, một loạt những tai tiếng và xui xẻo xảy ra. Cô ta thấy tôi vào phòng làm việc Phó Thị trưởng sớm như vậy cũng thấy kỳ lạ, tròn mắt hỏi tôi làm gì đến đây sớm thế, tôi vội nghĩ ra lý do, nói với cô ấy là máy tính của Hồ Chiếm Phát bị nhiễm vi rút, anh ta nhờ coi giúp, cô ta cũng sợ tôi biết động cơ mình đến phòng Bành Quốc Lương, nên nói vài câu đãi bôi rồi lặng lẽ đi thẳng. “Mèo mun” liếc tôi một cái vẻ trách móc, rồi lại tiếp tục lục tung giỏ giấy vụn.
Tối đến, tôi rủ “mèo mun” đi bar, cô ấy đoán ngay ra động cơ của tôi, nên hỏi đùa: “Anh đã phục vụ Lưu Nhất Hạc, lại cũng từng phục vụ Bành Quốc Lương, anh thấy hai người này, ai trung thực hơn?”
Tôi hỏi lại: “Em đã đọc cuốn tiểu thuyết Quảng trường ngôi sao của Patrick Modiano(2) chưa?” Cô ấy chỉ lắc đầu.
Tôi khoe khoang: “Trong sách có đoạn viết: qua kính vạn hoa, ta nhìn thấy một khuôn mặt, đó là do hàng ngàn mảnh phát quang tạo thành, chỉ chuyển động một cái, lập tức khuôn mặt đó thiên biến vạn hóa. Cuộc sống chính là chiếc kính vạn hoa, chưa hẳn thứ chúng ta nhìn thấy đã là chân thật. Tôi cho rằng chân thực là hoang đường nhất, cuộc sống cơ bản là không có chân thực, chỉ có chân tướng. Mà chân tướng của chính trị chính là kính vạn hoa.”
Cô ấy nói tôi ngụy biện, nói lý tính của hoang đường là chân thực nhất, tôi phản bác lại: “Nhưng bản chất của hoang đường là phi lý tính, phải biết rằng không chính trực thường là bức ép chính trực mà tạo thành.” Cô ấy cười, mắng tôi là “người chuột”. Tôi nói “người chuột” chính là “người hoang đường”. Cô ấy lại cười, dịu dàng nói: “Thú tính cũng là một thành tố tạo nên vận mệnh của nhân loại, chỉ là trong mỗi con người sẽ ẩn giấu thú tính khác nhau, ví như trên người em có tính mèo, trên người anh có tính chuột, anh biết Âu Bối Bối có tính gì không?” Tôi rất hào hứng, lắc đầu, tôi đoán “mèo mun” đã phát hiện ra bí mật gì từ Âu Bối Bối. Quả nhiên cô ấy nói vẻ khinh bỉ: “Âu Bối Bối là con hồ ly tinh, sáng sớm đã để lá thư lên bàn làm việc của Bành Quốc Lương nói rằng đứa bé cô ta bỏ chính là con của ông ta.” Điều này tôi đã đoán được từ lâu, tội nghiệp Triệu Trung, cứ phải cõng cái họa xấu của Bành Quốc Lương. Suy cho cùng, “mèo mun” là người yêu của tôi, nên mới dặn dò tôi không được gần gũi Bành Quốc Lương, lại dặn tôi phải thường xuyên tiếp xúc với Hồ Chiếm Phát, trước mắt không thể nói về thư tố cáo Bành Quốc Lương, tôi hỏi trong tố cáo nói gì? Tôi kinh ngạc nghe từ miệng của cô ấy nói hai từ “đánh bạc”.
Thực ra, tôi đã nghe nói Bành Quốc Lương mê cờ bạc từ lâu. Cha tôi cũng bảo thương nhân Hồng Kông Robert nói, đã từng đưa Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên và Trần Thực lên thuyền đánh bạc. Bố tôi không thích cờ bạc nên chỉ lên thuyền để xem cho biết. Trong khi đó Robert lại là dân cờ bạc bẩm sinh. Ngay tối hôm đó, Robert thua hết hai trăm năm mươi ngàn đô la Mỹ, ông ta đau khổ nói với cha tôi rằng, ông ta đã thua hết số tiền được thành phố ban thưởng về có thành tích trong công cuộc Xúc tiến thương mại. Quả thực Robert là kẻ nói năng vô tình, mà cha tôi lại là người nghe hữu ý, ông cho rằng bên thương cảng đầu tư quá nhiều, mà tiền thưởng như vậy là quá ít so với tỷ lệ thưởng đã đưa ra, trong đó nhất định có gian dối, vì thế ông ấy bảo tôi để ý việc này. Tôi kiểm tra lại biên bản về việc ban thưởng cho cá nhân, đơn vị có cống hiến trong công tác Xúc tiến đầu tư thương mại, nhưng biên bản không ghi tỷ lệ ban thưởng, điều này càng chứng minh cho phán đoán của ông ấy. Cuộc họp này do chính Dương Hằng Đạt ghi biên bản, cũng đủ thấy nó quan trọng thế nào. Một hôm, sau khi tan giờ làm việc, tôi hỏi dò: “Trưởng phòng, làm ván cờ cho vui, được không?” (Chủ ý của tôi là mượn cớ đánh cờ để dò hỏi tỷ lệ tiền thưởng) Dương Hằng Đạt vui vẻ ứng chiến. Nhưng kết quả hết ba ván cờ mà tôi không “moi” được tỷ lệ tiền thưởng. Tôi thầm khen, Hằng Đạt đúng là không hổ danh người đã từng năm năm kinh nghiệm làm thư ký cho lãnh đạo cũ, giữ miệng kín như hũ nút, một giọt nước cũng không chảy ra ngoài!
Cuối cùng Hoàng Tiểu Minh cũng được như ý nguyện, làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành, Hồ Chiếm Phát cũng thăng chức làm Phó trưởng khu Cổ Kiều. Thấy Hoàng Tiểu Minh háo hức, tôi vừa tiếc nuối, lại vừa thấy may mắn. Tiếc nuối vì mục đích của tôi vào văn phòng Ủy ban làm thư ký cho Thị trưởng mà chưa đạt, may mắn vì tôi biết Hoàng Tiểu Minh đi theo nhầm người. Trên quan trường, một khi ý thức được mình theo nhầm người, thì có hối cũng không kịp nữa. Hoàng Tiểu Minh là người thông minh, không thể không nhận ra điều này. Cũng chính vì vậy mà tôi đoán anh ta nhất định sẽ rất đau khổ.
Từ sau khi Hoàng Tiểu Minh làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành, Hứa Trí Thái luôn tranh thủ thời gian đến phòng cậu ta, rõ ràng muốn qua đó để tăng thêm cảm tình với Bành Quốc Lương, nhìn bộ dạng Hứa Trí Thái thì biết anh ta đã ôm được “gốc đại thụ” Phó Thị trưởng Bành rồi. Còn Dương Hằng Đạt hình như đang ngấm ngầm sắp xếp gì đó, tôi phát hiện ra anh ta và Tống Đạo Minh thư ký của Lưu Nhất Hạc rất thân thiết, hai người như anh em. Có hai lần, khi tôi vào phòng Tổng hợp 2, thấy hai người họ đang thì thầm chuyện gì đó. Tôi nhìn rất rõ, Dương Hằng Đạt đã vì con đường sau này của mình, mà “bỏ tối đến sáng”, tôi phải làm thế nào đây?
“Mèo mun” cho tôi biết, Bành Quốc Lương đang thông qua một phóng viên của Thanh Giang nhật báo tên là Lâm Vĩnh Thanh để nhờ vả Tề Tú Anh. Lâm Vĩnh Thanh là mối tình đầu của Tề Tú Anh thời đại học, nhưng điều tôi khó hiểu là Bành Quốc Lương quen biết Lâm Vĩnh Thanh là do Hứa Trí Thái, nếu thế thì mọi chuyện ngày càng phức tạp hơn rồi, và tôi cảm thấy mình cũng đang phải đóng một vai phụ trong tuồng diễn này. Một vị đường đường là Phó Thị trưởng thường vụ, lại thông qua mối quan hệ kỳ lạ như thế để lấy lòng Bí thư Ban kỷ luật tỉnh, nếu tâm không run sợ thì sao có thể đánh mất thân phận mình như thế. “Mèo mun” bảo tôi tìm hiểu xem Hứa Trí Thái lợi dụng Lâm Vĩnh Thanh như thế nào, mệnh lệnh của người yêu đương nhiên tôi phải chấp hành rồi.
Nhân chủ nhật, tôi lái chiếc BMW tới đón Hứa Trí Thái, mời anh ta tới nhà hàng hải sản tươi sống Đại Tống, đây không phải lần đầu tiên tôi lái xe mời Hứa Trí Thái đi uống rượu, bởi người trong phòng Tổng hợp 2 đều đã từng ngồi xe BMW của tôi rồi mà. Mặc dù vậy, tôi cũng chưa bao giờ lái xe đi làm, mặc dù thấy rất bực mình khi ngày nào cũng phải ngồi xe buýt hoặc đạp xe đạp. Sở thích lớn nhất của Hứa Trí Thái là uống rượu, nhất là rượu Mao Đài. Trong bữa ăn, tôi cố ý chuốc rượu cho Hứa Trí Thái, chỉ cần vài cốc là anh ta mở “máy nói”. Anh ta khoe, Tề Tú Anh khi ở tỉnh K thường xuyên xuống Đông Châu công tác, mỗi lần đến Đông Châu đều gặp Lâm Vĩnh Thanh, lần nào cũng do anh ta lái xe, cùng Lâm Vĩnh Thanh ra sân bay đón bà ta. Tôi thấy điều này có vẻ khoác lác hơi quá, thầm nghĩ: Tề Tú Anh là Thường vụ Tỉnh ủy, đến Đông Châu công tác, tỉnh Thanh Giang cũng phải có cơ quan tương ứng đón tiếp, sao phải dùng đến anh ta “cầm đèn chạy trước ô tô”? Tôi bèn hỏi tỉ mỉ thêm, từ đó phán đoán sở dĩ Tề Tú Anh thường xuyên về Đông Châu công tác cũng là kết hợp việc công và việc tư. Bà ta góa bụa lâu năm, Lâm Vĩnh Thanh cũng góa vợ đã lâu, nếu lời Hứa Trí Thái nói là sự thực, thì hai người chắc vẫn giữ mối duyên xưa, nhưng đây là sự thật sao? Nếu vậy, hai người, một ở tỉnh K, một ở Đông Châu, thì “bách niên hòa hợp” cũng có phần khó khăn, còn bây giờ cả hai đều ở Đông Châu, sao lại không đến với nhau? Chẳng lẽ địa vị là con sông ngăn cách tình cảm? Tôi suy nghĩ trăm nẻo cũng không sao giải thích nổi, chỉ cảm thấy lời nói của Hứa Trí Thái có phần không đáng tin lắm. Tôi mời Hứa Trí Thái uống rượu là vì nhận sự ủy thác của “mèo mun”, muốn tìm lý do thực sự để Bành Quốc Lương kết thân với Lâm Vĩnh Thanh. Tôi cố ý giả bộ nói là mình không tin Bành Quốc Lương là Phó Thị trưởng lại phải tự hạ mình làm quen với Lâm Vĩnh Thanh. Bành Quốc Lương thuộc ban Thường Vụ Thành Ủy, muốn tạo ấn tượng tốt với Tề Tú Anh thì có gì là khó, huống hồ Bành Quốc Lương quan hệ rộng, đang trên con đường thăng tiến, đừng nói gì Thường Vụ trong tỉnh, nếu là Ủy viên Bộ Chính trị, ông ta cũng không muốn nói một lời nịnh bợ. Hứa Trí Thái thấy tôi nghi ngờ, bèn gân cổ đỏ mặt nói:
“Lăn lộn trên quan trường nhiều năm, ai chẳng có những điều khó nói, tôi là Phó phòng, rất hiểu sự khó xử của chữ ‘Phó’, thực ra diễn viên chính của ‘cánh tay vịn thứ hai’ này không dễ. Họ phải thuần phục dưới uy quyền của ‘cánh tay vịn thứ nhất’, tài năng của mình mà bộc lộ sẽ hay gặp đố kỵ, không có tiếng nói sẽ không giữ nổi vị trí của mình, phải biết rằng những người muốn lật đổ để thay thế đếm không xuể, cái vị trí khó xử này gặp không ít người oán trách, gièm pha với cấp trên, nhưng bản thân mình lại khó có thể ra mặt giải thích. Lại nói Tề Tú Anh tự cho là ‘Nữ Bao Công’ cũng không thể thích cán bộ tự biểu dương hoặc biểu dương với mình, trước tình hình như vậy, phải tìm một người tỉ tê bên tai, nói xa nói gần với bà ta mới có tác dụng tốt”. Hứa Trí Thái nói cũng có lý, nhưng tôi nghĩ sự việc không đơn giản như thế, thế gian thường nói: không làm sự khuất tâm, chẳng sợ quỷ gõ cửa. Vấn đề là: Một người làm chuyện khuất tâm, lại sợ quỷ gõ cửa thì phải làm thế nào? Chỉ có một biện pháp là phải tìm muôn nghìn phương kế để lấy lòng quỷ, khiến quỷ có ấn tượng tốt với mình mà không đến gõ cửa nữa. Tôi nghĩ đây chính là mục đích thực sự của việc Bành Quốc Lương hạ mình làm thân với Lâm Vĩnh Thanh. Với Bành Quốc Lương, Tề Tú Anh chính là “quỷ” có thể đến gõ cửa bất cứ lúc nào. Vì để tránh quỷ gõ cửa, trước hết phải mua được quan hệ tốt với quỷ. Hứa Trí Thái còn khoe Bành Quốc Lương là bậc đại trượng, vừa gặp mặt là giải quyết ngay cho Lâm Vĩnh Thanh vấn đề nhà ở. Điều này càng chứng tỏ phán đoán của tôi là chính xác. Sau khi biết được chân tướng này, tôi vô cùng vui mừng, bởi cuối cùng tôi đã có chút “vốn liếng” để tiếp cận Lưu Nhất Hạc.
Về đến nhà, tôi liền “báo cáo” tình hình với cha tôi, ông nói: “Anh ta tự đào hố chôn mình” rồi bảo tôi báo ngay tình hình với Lưu Nhất Hạc. Nói thực, bốn năm học đại học chính trị, lại lăn lộn trên quan trường đã năm sáu năm, giờ phút này tôi mới thấm thía ý nghĩa của chính trị là hàm chứa hương vị nghệ thuật, kỳ thực phàm là nghệ thuật thì đều là bản năng.
Trong cuốn Bờ kia Thiện Ác, Friedrich Wilhelm Nietzsche đã nói: “Con người là một loại động vật phức tạp, thích nói dối, giảo hoạt không thể bàn cãi, khiến các loại động vật khác cảm thấy sợ hãi trước sự xảo trá và thông huệ chứ không phải sức mạnh của họ. Người phát minh ra loại tư tưởng ‘vấn tâm không hổ thẹn’, cuối cùng biến linh hồn thành một dạng thức chỉ để hưởng thụ, vì thế toàn bộ đạo đức là một hoạt động giả tạo, một quá trình vô liêm sỉ lâu dài, nhờ thế mới có thể thấy được linh hồn lúc linh hồn được hưởng thụ. Từ quan điểm này có thể thấy khái niệm ‘giảo hoạt’ bao hàm rất nhiều thứ mà chúng ta cho là nó tầm thường.” Đoạn này có thể khái quát trong một câu thế này: “giảo hoạt” là nghệ thuật trong nghệ thuật, nghệ thuật trong nghệ thuật chính là Chính trị.
Hôm đó tôi gọi điện thoại cho Tống Đạo Minh – thư ký của Thị trưởng Lưu, hỏi thăm buổi tối mấy giờ Thị trưởng mới về nhà. Tống Đạo Minh nói hôm nay ông ấy có tiệc tiếp khách, khoảng mười một giờ mới về. Tôi đến sớm, đợi trước nhà ông ấy, đó là một căn biệt thự nhỏ. Khoảng một tiếng đồng hồ sau Thị trưởng Lưu về, khi ông ấy bước xuống xe, tôi liền cung kính chào: “Thị trưởng Lưu!” Lưu Nhất Hạc vừa thấy tôi, liền cười nói: “Đại Vỹ, làm gì mà lén la lén lút như chuột thế, đã đến cửa tại sao không vào nhà, hả?” Sự thân mật ấy khiến bao nhiêu sự hồi hộp căng thẳng trong tôi liền tan biến, tôi mạnh dạn nói mình có việc muốn báo cáo, ông ấy vỗ vai tôi: “Vào nhà rồi nói!” Lúc ấy tôi như một thư ký thực thụ cun cút theo sau ông ấy đi vào căn biệt thự nhỏ. Giờ phút đó, tôi vô cùng kích động, bởi tôi dự cảm được rằng một khi tôi bước vào nhà của Lưu Nhất Hạc, cuộc sống của tôi sẽ có cơ hội thay đổi.