Gần đây tôi rất hay nhận được một số báo cáo đặc biệt, không gửi đến cơ quan mà gửi thẳng về nhà tôi, nội dung cũng cực kỳ đặc biệt. Báo cáo được viết tay trên hai ba trang giấy gỡ ra từ cuốn tập. Điều khiến tôi kinh ngạc hơn, đó là bút ký của Lưu Nhất Hạc, mà nội dung cũng viết về Lưu Nhất Hạc, hình như sau khi viết bút ký xong, cố ý gửi cho tôi, nhưng việc này là không thể. Tôi nghi ngờ cuốn bút ký ấy bị lấy trộm, kẻ trộm mỗi lần lấy hai ba trang gửi cho tôi. Nếu nội dung chỉ là bút ký bình thường thì đối với tôi cũng chẳng có ý nghĩa gì, kẻ gửi cũng không đạt được mục đích; bởi dù có gửi cho tôi thì cũng không thể làm chứng cớ, cơ bản cũng chẳng thu hút được sự chú ý của tôi. Vậy mà mỗi lần nhận và mở ra đọc, tôi lại phải tròn mắt đớ miệng, vì nội dung không những khiến người đọc kinh ngạc, mà còn có thể nói là kinh thiên động địa. Cuốn bút ký này nhất định là bí mật mà Lưu Nhất Hạc giấu kín, người trộm có vẻ cực kỳ phẫn nộ nên mới gửi cho tôi. Họ không để lại một dấu vết nào ngoài mấy chữ Bút ký công chức ghi trên mảnh giấy nhỏ dán ở góc trang đầu.
Rõ ràng, người trộm bút ký rất hiểu tình hình của Lưu Nhất Hạc, cũng hiểu rõ hoàn cảnh của tôi. Hình như họ sợ tôi lần ra tung tích, nên không đề tên người gửi, mà mỗi lần gửi lại là ở một bưu cục khác nhau, lúc thì ở bưu điện thành phố Đông Châu, sau chuyển ra ngoại thành, rồi đến huyện, gần đây đổi địa chỉ ở tỉnh ngoài, xa nhất là gửi từ Thâm Quyến.
Lưu Nhất Hạc viết những chuyện quan trọng vào sổ tay, một khi biết cuốn sổ tay bị mất nhất định sẽ cuống cuồng như kiến trong chảo lửa ấy chứ, thế mà giờ đây lại không thấy động tĩnh gì? Chuyện này thật không bình thường chút nào, theo lý mà nói, tôi phải thu thập toàn bộ tài liệu, rồi báo cáo lên Thường Vụ Tỉnh Ủy. Nhưng, một khi làm vậy thì chỉ e “rút dây động rừng”, do đó điều quan trọng trước mắt là phải tìm cho ra người gửi những bài bút ký này. Nhưng làm thế nào để tìm được ra người ấy đây? Theo kinh nghiệm nhiều năm điều tra phá án, tôi đoán chỉ có những người gần gũi Lưu Nhất Hạc, rất có thể là người của văn phòng Ủy ban thành phố. Suy đi tính lại, tôi thấy cách tốt nhất là phái người đến chỗ Lưu Nhất Hạc để nắm tình hình, nhưng cử ai đây? Người được cử đi nhất định không được để lộ tông tích, tức là có thể tiếp cận Lưu Nhất Hạc nhưng không để Lưu Nhất Hạc nhận ra, cân nhắc phải trái mãi, cuối cùng tôi quyết định cử Tiểu Quỳnh làm ở phòng 6 của Ủy ban kỷ luật tỉnh.
Tiểu Quỳnh là công an viên, học Đại học Trinh sát Hình sự, là người rất thông minh, tuy mới ra trường ba năm, nhưng đã tham gia điều tra rất nhiều vụ án lớn. Thư ký hiện nay của tôi là một cô gái từng ở huyện K gần sáu năm, sắp tới tôi đưa xuống huyện để rèn luyện thêm và đưa Tiểu Quỳnh làm thư ký riêng; nhưng trước vụ việc này thì đành phải dừng việc chọn thư ký, để sau khi làm rõ vụ Bút ký công chức này đã rồi tính tiếp. Vấn đề trước mắt là tìm việc gì để bố trí cho Tiểu Quỳnh tiếp cận Lưu Nhất Hạc hợp lý nhất. Tôi suy nghĩ cả tuần lễ mà vẫn chưa nghĩ ra.
Chỉ còn một ngày nữa là đến phiên họp Thường vụ Ủy ban kỉ luật tỉnh rồi, tôi lái xe đến cơ quan từ sáng sớm để giải quyết một vài việc, vừa bước vào cửa, liền thấy cô nhân viên trong tổ phục vụ đang quyét dọn phòng làm việc, mắt tôi bỗng sáng lên, trong lòng mừng rỡ, lóe lên một ý tưởng: phái Thượng Tiểu Quỳnh về đội nhân viên tạp vụ phục vụ tại văn phòng Ủy ban thành phố Đông Châu, phụ trách quét dọn phòng làm việc của Lưu Nhất Hạc, như vậy sẽ dễ tiếp cận Lưu Nhất Hạc, vừa không gây chú ý của Lưu Nhất Hạc, lại thêm sự linh hoạt của cô ấy, sẽ nắm được tình hình, vừa có thể tìm ra đầu mối tung tích của người gửi, một mũi tên nhắm hai mục tiêu.
Mới sáng sớm tôi cho gọi Đặng Hoằng Xương – Chủ nhiệm phòng 6 đến phòng làm việc của tôi cùng bàn bạc chuyện nhận được Bút ký công chức và yêu cầu anh ta bí mật bố trí Tiểu Quỳnh đến làm tại đội tạp vụ, “nằm vùng” trong văn phòng Ủy ban thành phố Đông Châu. Đặng Hoằng Xương là tay cán bộ lão luyện, không những sùng bái Đảng mãnh liệt mà kinh nghiệm chuyên môn cũng vô cùng phong phú. Phàm bất cứ việc nhỏ nào cũng làm rất cặn kẽ. Nghe tôi trao đổi bàn bạc, anh ta cũng cho rằng đây không phải việc nhỏ, nếu không làm tốt coi chừng sẽ có những án tiêu cực lớn. Sau khi nhất trí với tôi xong, Đặng Hoằng Xương gọi Thượng Tiểu Quỳnh đến và giao nhiệm vụ ngay trước mặt tôi. Tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc, và nhắc nhở cả hai người phải tuyệt đối giữ bí mật. Tiểu Quỳnh nhận nhiệm vụ theo đúng nghi thức của thực tập sinh an ninh.
Thượng Tiểu Quỳnh “nằm vùng” đã gần một tháng mà chẳng thu được kết quả gì. Trong khi đó tôi vẫn tiếp tục nhận được ba bài viết trong Bút ký công chức nữa, đọc xong không phải là kinh ngạc, mà nó khiến tôi như ngồi trên thảm đinh, đại khái nội dung thế này:
“Dục vọng có thể dùng tiền để đo lường, đây là điều tôi không ngờ tới, tôi luôn cho rằng mình là người nhìn tiền bạc như nhìn cặn bã rác rưởi, làm Thị trưởng tôi cần rất nhiều thứ, danh dự, địa vị, uy tín, ủng hộ, tôn kính, quyền lực, ái tình và cả tiếng vỗ tay... nhưng chính vì không cần tiền nên tôi cho rằng mình là người sắt, bất cứ khó khăn nào, vấn đề gì tôi cũng không sợ, trong lòng chỉ ôm một ước mơ, làm cho nhân dân Đông Châu kiêu hãnh vì tôi, tự hào vì tôi. Vậy mà tiền bạc như hơi nước trong không khí, lan tỏa khắp mọi nơi, không sao chống lại được. Nó giống như bệnh dịch xâm nhập vào cơ thể lúc nào không biết, đến người sắt như tôi cũng bị han gỉ. Thế nào là han gỉ? Tiền bạc là phong tục, là lễ thượng đã mấy nghìn năm, ai cản được? Đem lễ thượng ‘có đi có lại mới toại lòng nhau’ đánh dấu ‘bằng’ với hủ bại, há chẳng phải toàn xã hội đều hủ bại rồi sao? Vậy mà nhoáng một cái, từ Phó Thị trưởng đến Phó Thị trưởng thường vụ, rồi lên Phó Tỉnh trưởng, đến cả như bây giờ làm Thị trưởng thành phố Đông Châu, khoảng mười năm ấy, tiền tôi thu được vì lễ thượng ‘có đi có lại’ cũng khoảng tám chữ số, đây là điều khi làm Phó thị trưởng tôi không hề nghĩ tới. Làm Thị trưởng, tôi cần nhiều tiền như thế để làm gì? Nhân dân chọn tôi làm Thị trưởng, tôi làm Thị trưởng vì nhân dân, đây mới đúng là nguyện ước ban đầu của tôi. Cho dù âm thanh của nguyện ước ban đầu này rất mãnh liệt trong lòng, nhưng lại không chống được trước sức mạnh của bên ngoài. Dục vọng của xã hội sẽ lớn hơn rất nhiều dục vọng của cá nhân. Đây cũng giống như loài người rất sợ chết, nhưng không thể thoát khỏi vực thẳm của sự chết chóc. Tôi càng muốn liêm khiết thì lại càng bị đẩy vào hủ bại. Cũng giống như Oedipus(1), càng cố sức trốn tránh và phản kháng số phận bất hạnh đã định sẵn là phải giết cha rồi lấy mẹ, thì lại càng sa vào vòng quay của vận mệnh. Nguyên nhân nào khiến cao thượng biến thành đê tiện, liêm khiết trở thành hủ bại? Tôi nghĩ trăm đường vẫn không lý giải được! Tối qua Triệu Trung đến tặng quà sinh nhật, đó là chiếc đồng hồ Juvenia cho con gái tôi. Tôi với Triệu Trung quan hệ từ đời cha đến đời con nên đành phải nhận. Trong lúc nói chuyện phiếm, tôi hỏi con người hiện nay cần cái gì nhất? Anh ta trả lời ngay: ‘Cần cứu rỗi linh hồn!’ Tôi hỏi vì sao? Anh ta nói: ‘Sự đau khổ lớn nhất của con người hiện nay là không có cách giải thoát, tìm không thấy phương hướng bến bờ.’ Tôi thấy Triệu Trung nói có lý, chả trách anh ta bao thầu chùa miếu mà phát tài, vì đã nắm được nhu cầu lớn nhất của con người hiện nay chính là hư không. Tôi hỏi anh ta: ‘Giải thoát thế nào?’ Anh ta nói: ‘Tin vào cái gì đó.’ Câu nói vô tình của Triệu Trung chợt làm tôi hiểu ra nguyên nhân vì sao càng muốn liêm khiết càng sa vào hủ bại. Triệu Trung về rồi, tôi lại nghĩ về bản thân, nghĩ mãi mà vẫn không biết mình tin vào cái gì.”
Nếu hai trang nhật ký này quả thật chính tay Lưu Nhất Hạc viết thì anh ta đúng là một phần tử hủ bại nhất của tỉnh Thanh Giang. Một khi điều tra đúng sự thật, nhất định tôi sẽ cho anh ta vào còng sắt. Liệu có phải có người cố tình hại Lưu Nhất Hạc không? Tôi thường xuyên phải đi điều tra nghiên cứu các cơ sở, tận tai nghe cấp dưới nói nhiều điều về Lưu Nhất Hạc, mọi người đều cho rằng thời gian Lưu Nhất Hạc làm Phó Tỉnh trưởng không những rất mẫn cán mà còn chính thiện, người như vậy còn không liêm chính sao?
Thời kỳ làm Bí thư Ban kỷ luật tỉnh K, tôi chuyên điều tra án mà cũng bị nhiều hiểu lầm, chửi bới, vu khống đặt chuyện, phỉ báng, thậm chí còn gài bẫy con tôi thay tôi nhận hối lộ, lợi dụng chức quyền và địa vị để buôn bán thu nhập bất hợp pháp. Hiện nay cải cách mở cửa đang phát triển sâu rộng, các loại mâu thuẫn lợi ích bất ngờ xuất hiện, có thể Lưu Nhất Hạc cũng bị kẻ đối lập, thậm chí là bị thế lực hủ bại vu cáo và phỉ báng?
Thời gian Lưu Nhất Hạc làm Phó Tỉnh trưởng, tôi cũng thường dự hội nghị chung, tuy không hiểu anh ta nhiều, nhưng nghe ngôn từ, ngữ khí khi phát biểu, tôi có thể cảm nhận được anh ta là người có tâm với sự nghiệp, dám làm dám chịu, đồng thời là một người có sao nói vậy, đã nói là làm. Tôi nghe nói Lưu Nhất Hạc tuy là Thường vụ Phó Tỉnh trưởng, nhưng trong các hoạt động tại hội nghị anh ta thể hiện phong thái vượt qua cả Bí thư, con người như thế sao có thể nói năng theo kiểu “coi trời bằng vung” vậy? Toàn nói là quyền lực tuyệt đối sản sinh ra hủ bại tuyệt đối, yếu kém lớn nhất của thể chế hiện hành là thiếu chế ước và giám sát đốc thúc đối với một “cánh tay vịn”. Quyền lực là con dao hai lưỡi... Một Thị trưởng mẫn cán, tài năng, mà lại có hai mặt “hồng” và “đen” như vậy sao?
Những bài viết này nói lên một điều rằng, tiền bạc có thể dùng để đo lường dục vọng. Không thể phủ nhận, ở xã hội kinh tế thị trường, có thể dùng số lượng chiếm hữu tư bản để đo giá trị một con người là sự thực. Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến lý tưởng và niềm tin của một số người trong đội ngũ công nhân viên chức bị dao động và phát sinh thay đổi về thế giới quan. Từ nội dung bút ký có thể thấy rõ Lưu Nhất Hạc đang trải qua nỗi thống khổ của tâm linh, đây là sự thực trong lòng Lưu Nhất Hạc sao?
Tôi rất thích một đoạn trong Phúc Âm 10, Tân ước của Kinh thánh: “Ta thực lòng nói cho các ngươi biết, người vào chuồng dê, không đi vào từ cửa, mà trèo từ chỗ khác vào, người đó chính là trộm, chính là bọn cướp. Người đi từ cửa vào mới thực sự là người chăn dê.” Lưu Nhất Hạc chính xác là người đi từ cửa chuồng dê vào một cách đường hoàng, nhưng như vậy liệu có chắc chắn là người chăn dê thật không? Ai dám đảm bảo rằng kẻ trộm dê sẽ không đi từ cửa chuồng dê? Một số cán bộ hủ bại bị kỷ luật, có người nào mà không đi vào chuồng dê từ cửa chính? Vì sao sau đó đều trở thành sói trong chuồng dê? Tôi khẳng định: cùng với thành tích thu được trong đấu tranh chống tiêu cực, còn phải xem xét độ sâu của nó, theo đà cải cách mở cửa, sự sa đọa cũng thâm nhập ngầm dưới đáy nước sâu, gây cho tình hình trở nên phức tạp. Điều tra ra những án lớn, án quan trọng cũng chỉ là một góc của tảng băng trôi, còn rất nhiều vấn đề chưa bị lộ ra. Phát triển là một đạo lý vững chắc, chống sự sa đọa càng là đạo lý vững chắc trong đạo lý vững chắc! Nhân dân gọi tôi là “Nữ Bao Công”, nói thực tôi rất ghét kiểu xưng hô ấy, bởi chống sự sa đọa mà dựa vào Bao Công thì chẳng có ích gì cho công việc, chỉ có thể dựa vào chế độ, mà thể chế cũ là một cái lô cốt, nếu chỉ dựa vào sức mạnh cá nhân thì chẳng khác gì câu cá trong bồn tắm, đúng như câu cảnh tỉnh của Soren Aabye Kierkegaard(2): “Chúng ta đập nát hy vọng của nhân gian, mới có thể tự cứu hy vọng chân chính.”