Trong chốn quan trường nhiều bon chen, triết lý của tôi là đặt chân được lên thuyền rồi mới tìm kiếm mục tiêu, bởi tìm kiếm mục tiêu thì dễ, đặt được chân lên thuyền mới khó, nếu không như vậy thì chỉ có thể đứng trên bờ nhìn đại dương mà than thở mình quá bé nhỏ. Phải biết rõ lý tưởng đến bờ bên kia ai cũng muốn đạt được, nhưng lý tưởng là gì? Chẳng qua cũng chỉ là Utopia(1) mà thôi. Trực giác cho tôi biết, bờ bên kia cũng ở trên thuyền. Tuy nhiên, điều khiến tôi đau đầu là trên thuyền đã chật ních, mà người muốn lên thuyền vẫn đông như kiến. Thật ra thuyền cũng có rất nhiều, chỉ là số người muốn lên thuyền quá nhiều so với số thuyền. Điều này chứng tỏ gì nhỉ? Chứng tỏ rằng “chỉ có duy nhất một thế giới hiện thực, ngoài ra không có thế giới nào khác.” Đây là đúc kết kinh nghiệm mười năm làm Phó phòng của tôi. Mười năm trên ghế Phó phòng, tôi biết mọi người trong Văn phòng Ủy ban thành phố này đều cười tôi. Tôi không trách việc họ cười tôi, chỉ trách bản thân hiểu ra quá muộn. Cuộc sống chẳng qua chỉ là quá trình lấy ham muốn này thay thế ham muốn khác, một số người nhầm lý tưởng thành hiện thực, rồi mải mê theo đuổi, cuối cùng cũng chỉ có thể đứng trên bờ than thở, nuối tiếc đại dương bao la mà thôi.
Triết lý này, chỉ đến khi Tiểu Minh mời uống rượu tôi mới hiểu ra. Lúc ấy, tôi đã hỏi một vấn đề mà mình bứt rứt bấy lâu nay: Tại sao con đường làm quan càng đi càng hẹp? Có lẽ do Hoàng Tiểu Minh đọc nhiều sách, cộng thêm vấn đề này cũng đang khiến cậu ấy bứt rứt, nên khi vừa mở miệng là cậu ta đã có vẻ bức xúc:
“Phó phòng Hứa, anh biết từ ‘trẫm’ trở thành danh từ riêng từ khi nào không?”
Thú thực, tôi không học chuyên ngành lịch sử, nên chẳng có chút kiến thức nào về vấn đề này. Tôi cũng dám khẳng định trong số những nhân viên ở đây, rất ít người có thể trả lời được câu hỏi ấy, dù có học chuyên ngành lịch sử đi nữa cũng chưa chắc đã biết.
“Tiểu Minh, điều này có liên quan gì với vấn đề thắc mắc của tôi?”
Hoàng Tiểu Minh là người hướng nội, nhưng tôi luôn cho rằng tính cách đó chỉ là vẻ bề ngoài hay nói khác là cậu ấy giả vờ sống nội tâm. Còn việc tại sao cậu ấy làm cho người khác có cảm giác cậu ấy sống nội tâm thì tôi không biết, có thể đây gọi là khôn khéo, nhưng tôi lại coi đó là nhẫn nại. Nói chung, tôi thấy cuộc sống của Hoàng Tiểu Minh rất buồn. Bởi người mà cái gì cũng hiểu nhưng không thể nói ra, nhất định là người sống rất buồn khổ. Mặc dù cậu ta khiến người khác có ấn tượng mình là một người tự tại, cẩn trọng nhưng trực giác cho tôi biết, cậu ta cũng là một người mơ về bờ bên kia, còn bến bờ trong mộng đó là gì thì tôi không biết, và có lẽ chính cậu ta cũng chưa hẳn đã hoàn toàn biết. Hoàng Tiểu Minh tiếp tục xả ra một tràng:
“Lý Bạch viết “Thục đạo nan”, nói đường vào nước Thục còn khó hơn lên trời, thực ra ông ấy muốn nói con đường làm quan rất khó, khó hơn lên trời xanh. Vì sao khó? Chính là vì có liên quan đến chữ ‘trẫm’. Trước thời Tần Thủy Hoàng, ‘trẫm’ là đại từ nhân xưng chỉ ‘tôi’, ai cũng có thể xưng ‘trẫm’. Nhưng bắt đầu từ thời Tần Thủy Hoàng, chỉ vua mới có thể xưng ‘trẫm’, dân thường dùng sẽ bị khép vào tội phạm thượng. Từ năm 221 trước Công nguyên, ‘văn hóa trẫm’ kéo dài suốt hai nghìn hai trăm năm lịch sử, đã trở thành một hình thái ý thức, trở thành hạt nhân trong văn hóa truyền thống, chi phối hành vi tư tưởng cũng như tâm linh của người Trung Quốc. Người phương Tây tin vào Thượng đế, còn thượng đế của người Trung Quốc chính là ‘trẫm’, thần thánh trong tâm niệm của người Trung Quốc cũng là ‘trẫm’. Vừa nãy anh có hỏi em tại sao con đường làm quan càng đi càng hẹp, chính là vì lòng dạ của con người càng ngày càng hẹp hòi. ‘Văn hóa trẫm’ quy định tất cả các con đường, mọi con đường đều có thể vừa bằng phẳng lại vừa thông thoáng, duy chỉ có con đường trong lòng mới biến thành đường nước Thục. Người có ý, khó tránh khỏi có mưu kế, vì thế những người hướng về mưu kế tất nhiên sẽ cảm thán đường vào Thục khó, như lên trời xanh. Trên đường đi hết lần này đến lần khác bị u linh khốn nhiễu, có khi lại bị ánh sáng chói lòa mê hoặc, thậm chí bị sa vào hang sâu tăm tối. Nói thật, Phó phòng Hứa, phòng mình cũng có một ‘trẫm’, lúc nào cũng muốn làm cha thiên hạ, anh em chẳng có chút nhân quyền, không chỉ có anh mà mọi người trong phòng ai mà chẳng tức? Phó phòng Hứa, muốn mưu kế trót lọt chỉ có thể làm một cuộc ‘vận động Ngũ Tứ(2)’ trong nội bộ phòng!”
Nghe Tiểu Minh nói vậy, tôi rất đỗi kinh ngạc, bình thường trông cậu ta thư sinh nho nhã là vậy mà không ngờ trong lòng cũng có tinh thần cách mạng đến thế. Không biết đây có phải rượu nói không, tôi chen ngang: “Tiểu Minh này, câu nào chú nói cũng đều trúng ý anh, muốn làm cách mạng thì ‘vận động Ngũ Tứ’ làm gì, làm hẳn ‘khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng(3)’, anh làm Trần Thắng, chú làm Ngô Quảng, chúng mình có ngày vinh hoa phú quý cũng đừng quên nhau, chú thấy thế nào?”
“Phó phòng Hứa, ý anh là chúng ta làm một cuộc ‘đảo chính’ lật đổ Triệu Trung? Em thì không vấn đề gì, chỉ ngại Bối Bối với Đại Vỹ, không biết có hưởng ứng không?”
Đến lúc này, dường như tôi càng uống càng tỉnh, trên danh nghĩa Hoàng Tiểu Minh mời tôi uống rượu nhưng thật ra là có ý khác: nhân lúc Triệu Trung ra nước ngoài công tác, phát động cuộc “chính biến”. Ở phòng Tổng hợp 2 này, tôi làm Phó phòng đã được mười năm. Khi Tiêu Phúc Nhân làm Trưởng phòng, tôi đã làm Phó phòng, đến nay Tiêu Phúc Nhân được thăng lên Phó thư ký, Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban thành phố, tôi vẫn là Phó phòng. Không dùng đến tôi thì cũng phải tìm người tài đức vẹn toàn chứ, đằng này Lưu Nhất Hạc lại o bế người thân, mang một con lợn cả ngày không làm việc gì, chỉ biết nói này nói nọ. Tôi nghĩ, mình chẳng phải thằng chăn lợn mà suốt ngày phải phục vụ hắn. Triệu Trung cậy mình có hậu thuẫn vững chắc nên không những ngông nghênh ngang ngược, độc đoán chuyên quyền ở phòng Tổng hợp 2, mà đến cả Văn phòng Ủy ban hắn cũng coi trời bằng vung. Thực ra Tiêu Phúc Nhân cũng không ưa gì tên này, nhưng trước kia vì nể mặt Phó Thị trưởng thường vụ Lưu Nhất Hạc, nên không dám động đến mà thôi. Bây giờ, Lưu Nhất Hạc sắp được nhậm chức Phó Chủ tịch tỉnh, nhiều khả năng Bành Quốc Lương sẽ ngồi vào ghế của Lưu Nhất Hạc. Người ta thường nói “vua đời nào quan đời nấy”, thế nên cuộc “chính biến” này là cơ hội tốt mà ông trời ban tặng. Thật lòng tôi đã muốn làm chuyện này từ lâu rồi, có điều chưa biết rõ tâm ý của Hoàng Tiểu Minh ra sao. Chỉ cần cậu ta chịu phối hợp, Bối Bối và Đại Vỹ không thành vấn đề. Nếu thật sự đuổi được con lợn Triệu Trung đi, kiểu gì tôi chẳng ngồi vào ghế “Quyền Trưởng phòng” ít nhất vài hôm, và nếu Bành Quốc Lương chấp nhận, thì chữ “quyền” có thể được xóa đi cũng không biết chừng. Đến lúc đó, ngồi vào ghế Phó phòng đương nhiên là Hoàng Tiểu Minh. Trên quan trường hoàn toàn không có tình bạn, chỉ có đồng minh hợp tác với nhau vì lợi ích mà thôi, điều này tôi rõ hơn ai hết.
“Tiểu Minh này, tôi sẽ lo phần Bối Bối và Đại Vỹ, có điều chúng ta phải vạch sẵn kế hoạch hành động tiếp theo, cậu xem tôi tính thế này có được không: tôi sẽ viết một bức thư nặc danh tố cáo Triệu Trung, cậu thấy thế nào?” Tôi vừa dứt lời, Tiểu Minh phá lên cười sằng sặc.
“Anh Hứa, chỉ cần nhận được thư nặc danh Văn phòng Thành ủy sẽ nghĩ ngay đến phòng của chúng ta. Mà nếu phân tích kỹ phòng mình còn ai có thể viết bức thư này ngoài anh ra. Hơn nữa, em không thích hành động kiểu lén lút, đã làm thì làm một cách quang minh chính đại, có bằng chứng, có căn cứ. Vì thế, theo em anh cứ viết một bức thư công khai gửi lãnh đạo, em nhất định sẽ ký tên, anh làm nốt phần việc với Bối Bối và Đại Vỹ, em nghĩ hai người họ nhất định sẽ nể mặt anh mà ký thôi. Trước đây Triệu Trung còn ỷ lại có Thị trưởng Lưu nâng đỡ, không coi ai ra gì, nhưng giờ Thị trưởng Lưu đã được thăng chức, ai kế nhiệm còn chưa rõ, đây chính là thời điểm tốt nhất để vạch tội ông ta. Vì thế ta phải đem những mâu thuẫn này ra ánh sáng, chỉ cần bật được cái nắp vung, thì cả phòng Tổng hợp 2 này sẽ sôi sùng sục, lãnh đạo sẽ tìm gặp chúng ta để hỏi chuyện, khi đó chúng ta “muôn miệng một lời”, cộng với sức ép từ trên, lo gì Triệu Trung không bị cuốn xéo. Đến khi đó, cấp trên chọn Trưởng phòng kế nhiệm, ngoài anh ra còn ai vào đây nữa. Phó phòng Hứa, đây là cơ hội ngàn năm có một, cơ hội tốt không thể để vuột mất, một khi vuột mất không biết đến bao giờ mới có!”
Những lời Tiểu Minh nói không những rất có lý mà còn rất kích động, tôi nghe xong mà máu nóng sục sôi, chỉ muốn thực hiện ngay. Tôi không kìm lòng nổi, nâng chén nói: “Tiểu Minh, tôi ngồi ở cái ghế Phó phòng đã mười năm, biết bao đời Phó Thị trưởng rồi Thị trưởng đều thăng tiến, bọn họ đều là những người từng đọc ra rả những bài phát biểu do chính tay tôi viết, nhưng thăng chức rồi, họ có còn nhớ tới tôi không? Trong muôn ngàn công nhân viên chức, rốt cuộc tôi cũng chỉ là một hạt cát bé xíu. Nếu tôi cứ giữ cái chức Phó phòng này đến khi về hưu thì cái phòng Tổng hợp này là gì? Mẹ kiếp, chính là nhà lao, tôi sẽ coi lần ‘đảo chính’ này là lần vượt ngục! Nào, anh em, cạn ly chúc cho lần vượt ngục này của chúng ta thành công!”
Phải nói, đây có lẽ là lần uống rượu sảng khoái nhất từ trước tới giờ của tôi. Chúng tôi bắt đầu từ trưa, uống mãi tới tận chiều tối. Khi rời khỏi quán rượu, mặt trời đỏ rực khiến bầu trời như bị ai đó đâm một nhát dao, máu tươi từ vết thương xối ra lênh láng. Tôi lái xe đi qua sông Hắc Thủy, bỗng nhận ra nước sông ngày càng đen hơn.
Về đến nhà, đầu tôi có chút choáng váng, dù uống rất nhiều nhưng vẫn không thể kìm nén được tâm trạng đang rất kích động của bản thân. Tôi loạng choạng đi rót một cốc nước lạnh, uống cạn một hơi, nước lạnh như thanh kiếm sắc bén đâm thẳng vào dạ dày tôi. Đừng tưởng đầu óc tôi không tỉnh táo, suy nghĩ của tôi vẫn rất sáng suốt đấy. Nghĩ lại câu chuyện của Hoàng Tiểu Minh nói về “văn hóa trẫm”, tôi có những ý kiến rất khác về chủ đề này, tôi nghĩ nên đổi lại, gọi là “chủ nghĩa trẫm” thì thích hợp hơn. Và để chứng minh lời tôi nói là có lý, tôi đi đến giá sách tìm quyển Lịch sử Trung Quốc. Có lẽ do uống quá nhiều, tôi rút nhầm quyển sách của Lỗ Tấn, và không ngờ trong lúc tiện tay lật bừa một trang sách, tôi lại đọc được một câu như nói trúng tim đen: đối với người dân Trung Quốc, lịch sử chỉ có “thời đại muốn làm nô lệ mà không được” và “thời đại tạm thời làm nô lệ”, điều này rõ ràng là chứng cứ cho luận điểm “chủ nghĩa trẫm” của tôi.
Rất rõ ràng, lịch sử là do những chuỗi hiện thực tạo nên, chứ không phải do những lý tưởng tạo thành. Không ai cho rằng một hạt cát mang tầm cỡ thế giới, và cũng không ai cho rằng một con kiến cũng là sinh mạng có ý nghĩa cả, thế nhưng “không có ý nghĩa” lại chính là ý nghĩa mang giá trị cao nhất, “không có ý nghĩa” chính là lý do tồn tại của những sự vật này. Nhưng con người, suy cho cùng cũng chẳng phải là hạt cát hay con kiến, đừng mong dựa vào “trẫm” chế ngự được thú tính đang ngủ say trong lòng mọi người. Con mãnh thú đang ngủ say này chỉ trung thành với bất hủ, chứ không phải là một “trẫm” mục nát thối tha. Chúng ta nên biết rằng từ trăm nghìn năm nay, thứ khiến con người chúng ta vượt lên ngự trị động vật không phải là chế độ “trẫm” thối nát, mà chính là nhờ tư tưởng, chỉ có tư tưởng mới là nhà huấn luyện động vật quyền uy nhất. Đừng để lịch sử biến thành một cái lồng giam, vì chung quy lại con người không phải sống trong lịch sử, con người sống nhờ sinh mạng, mà sinh mạng thuộc về thế giới tự nhiên, mãi mãi và không bao giờ thuộc về cái gọi là “trẫm” thối rữa đó.
Nghĩ đến đây, hình như tôi tỉnh táo lại đôi chút. Bước ra hiên nhà, mở cửa sổ, con gà trống nhà hàng xóm cất tiếng gáy. Không hiểu sao cứ đến hoàng hôn là nó lại gáy. Người ta thường nói gà trống gáy báo trời sáng, đằng này con gà kia lại gáy báo trời tối. Trước đây tôi thật sự không sao hiểu nổi, nhưng giờ thì đã hiểu: con gà ấy từ khi mua về suốt ngày bị nhốt trong lồng nên chẳng phân biệt được lúc nào là hoàng hôn lúc nào là bình minh, từ lâu trắng đen đã lẫn lộn hết cả!
Bốn người chúng tôi ủ mưu hai ngày, cuối cùng cũng quyết định gửi thư cho Tiêu Phúc Nhân, tất nhiên tôi trực tiếp gửi. Không ngờ thư vừa gửi đi đã tạo nên một cơn chấn động trong Văn phòng Ủy ban, điều khiến chúng tôi không ngờ là dư luận chủ yếu đứng về phe chúng tôi, xem ra con mắt của quần chúng vẫn rất sáng suốt. Một tuần sau đó là những tâm trạng vô cùng phức tạp, căng thẳng, hào hứng, bất an, lo lắng, chờ đợi, hy vọng của chúng tôi. Cuối cùng vào ngày Triệu Trung về nước, Tiêu Phúc Nhân cùng Trưởng phòng nhân sự đích thân đến nói chuyện riêng với tôi, Tiểu Minh, Bối Bối và Đại Vỹ. Tiêu Phúc Nhân rất ngạc nhiên, khi cả bốn người chúng tôi đều nói những điều giống nhau và đều rất bức xúc trước sự ngông cuồng hống hách của Triệu Trung.
Hôm sau, Triệu Trung vừa đến văn phòng liền lôi một lô ảnh đi công tác ra khoe với chúng tôi. Ông ta vừa bỏ đống ảnh lên bàn làm việc của tôi thì chuông điện thoại nội bộ reo, nghe xong thấy ông ta tất tả rời phòng ngay lập tức. Theo phán đoán chắc hẳn cuộc điện thoại này không bình thường. Quả đúng vậy, Triệu Trung đi liền hai tiếng đồng hồ, khi trở về sắc mặt tệ như vỏ cà tím.
Triệu Trung hậm hực ngồi phịch xuống ghế, hút liền một lúc hai điếu thuốc, sau đó nói: “Vừa hay mọi người đều có mặt, chúng ta họp một lúc. Đây có lẽ là cuộc họp cuối cùng, mọi người không cần căng thẳng, tôi không muốn hỏi tội ai cả vì tôi cũng không có quyền nữa rồi. Tôi chỉ muốn kể cho mọi người một câu chuyện. Câu chuyện này được trích trong tác phẩm Duyệt vi thảo đường bút ký – Cô vọng thính chi nhất của Kỷ Hiểu Lam(4): Một hôm, trong buổi tiệc, có một con cáo già ẩn nấp nói chuyện với mọi người. Đầu tiên mọi người hỏi nó sợ gì, nó trả lời nó sợ cáo. Câu trả lời khiến mọi người phá lên cười, hỏi lại: ‘Người thấy cáo sợ thì còn có lý, cáo là đồng loại của ngươi, ngươi còn sợ gì?’ Cáo cười nói: Trong thiên hạ, đồng loại chính là thứ đáng sợ nhất. Phàm những người tranh chấp tài sản thì ắt là anh em một nhà; phàm tranh sủng ái, ắt là thê thiếp; phàm tranh quyền lực, ắt cùng là quan chức; phàm tranh lợi, ắt cùng phường bán buôn. Đến cáo còn sợ đồng loại, con người đương nhiên càng sợ đồng loại rồi, chỉ cần sơ suất một chút là bị hãm hại. Hứa Trí Thái, chúng ta cùng làm việc với nhau năm năm rồi, thường ngày cậu giả bộ ngoan hiền như con bò già, tôi cũng có lúc gần như quên mất cậu là đồng loại của tôi, cậu tưởng đuổi được tôi đi, cái phòng này sẽ là của cậu sao? Đừng có nằm mơ giữa ban ngày, tôi nói cho cậu biết, Triệu Trung đi rồi còn Vương Trung, Lý Trung, Chu Trung... Cậu làm công chức lâu năm rồi, chẳng lẽ còn không hiểu sao? Chẳng trách, cậu phải dán đít ngồi trên cái ghế đó tận mười năm kể cũng tội nghiệp. Trước khi đi tôi tặng cậu vài lời khuyên: Cậu biết tại sao quan trường được gọi là ‘hoạn hải’ không, là vì quá nhiều người muốn làm quan. Nhưng cũng rất nhiều người lực bất tòng tâm, tại sao ư, là vì họ không hiểu cách làm thế nào mới đặt được chân lên thuyền. Tôi với cậu cùng làm việc năm năm, cậu cũng làm Phó phòng mười năm rồi, tôi thật sự không nỡ thấy cậu lực bất tòng tâm như vậy. Nhớ lấy, Hứa Trí Thái, muốn làm cách mạng dân chủ thì đầu tiên phải hiểu thế nào là dân chủ. Dân chủ là chủ dân, tôi là chủ, anh là dân, không chủ nào thích bạo dân cả. Lúc nào mà trong lòng cậu thích thuận, tự nguyện thuận thì cậu mới bám được mép thuyền, nghịch là dân tính, thuận là quan tính, dân tính không thăng hoa lên quan tính thì cậu mãi mãi vẫn chỉ là một con kiến hôi mà thôi!”
Những lời Triệu Trung nói khiến tôi sôi máu. Tôi đang định đáp trả bằng vài câu chối tai, nhưng hắn đã lập tức đứng lên, đóng sầm cửa đi ra ngoài. Bốn người chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, không chút động đậy. Tiểu Minh đang giả vờ lật lật quyển sách, Bối Bối dán mắt vào tạp chí thời trang, Đại Vỹ cũng như đang chuyên tâm đọc báo, bề ngoài có vẻ như một cuộc họp bình thường, nhưng tôi hiểu ai cũng rõ, cuộc “chính biến” lần này tuy thành công, nhưng thứ tự của phòng sẽ không có gì thay đổi, vậy nên mọi người chẳng có cảm giác thắng lợi, ngược lại còn cảm thấy như mình đã làm sai việc gì đó. Tôi bỗng thấy lòng mình trống rỗng.
Một lát sau, Bối Bối phủi mông đứng dậy đi ra ngoài, tiếp đó là Đại Vỹ, trong phòng chỉ còn tôi với Tiểu Minh.
Tôi buồn bã: “Nếu biết trước thế này thì lúc đầu đã không làm.”
Tiểu Minh yên lặng không nói, một lúc sau mới bảo: “Anh Hứa, em muốn tặng anh một câu thơ của Tagore: Nếu bạn đang ở trong bóng tối, không thấy đường dưới chân, hãy bẻ một cái xương sườn đốt lên thành ngọn đuốc, soi sáng con đường bạn đi.” Nói xong, cậu ta tiến đến vỗ vỗ vai tôi, lắc đầu rồi đi ra.
Văn phòng chỉ còn lại mình tôi. Khốn nạn thật, cứ như cuộc đảo chính này do một mình tôi gây ra vậy. Nhìn sang chỗ ngồi của Triệu Trung, tôi nghĩ, nếu mình ngồi vào chiếc ghế ấy, liệu có khác gì so với hắn ta không? Những kẻ theo đuổi quyền lực, liệu có ai vượt ra khỏi tù ngục trong lòng? Đối với quyền lực, kẻ được thì mừng thầm, kẻ mất thì đau thương, tự hỏi lòng, mình cũng như thế sao? Lỗ Tấn nói: “Thử hỏi từ xưa đến nay mấy ai được như vậy.” Nghĩ đến đây tôi bỗng thấy có chút thông cảm với Triệu Trung, trước giờ tôi luôn nhìn nhận vị trí Trưởng phòng dưới góc độ của một Phó phòng chứ chưa từng đứng vào vị trí của Trưởng phòng để quan sát mọi thứ. Nếu là Trưởng phòng liệu tôi có thể điều hành một cách dân chủ không? Tôi không biết, chỉ biết nếu tôi là Trưởng phòng thì việc thực thi dân chủ sẽ vô cùng thoải mái và dễ chịu, vì chỉ có vậy mới có thể đảm bảo quyền lợi của tôi được tối đa hóa. Ai mà chẳng muốn quyền lợi của mình được tối đa hóa chứ! Cũng như một số kẻ giả danh chính nhân quân tử cao giọng mắng nhiếc những điều thối nát, thực ra đều là trâu buộc ghét trâu ăn cả, nếu họ có quyền lực xem, chỉ có tồi tệ hơn mà thôi! Nói mười làm một, tất cả đều vì lợi ích của chính bản thân mình hết!
Thời gian sau đó, phòng Tổng hợp 2 cũng đi vào thời kỳ dân chủ thực sự, vì sau khi Triệu Trung bị điều đi làm thư ký tại Trung tâm phục vụ mới được thành lập của Cục hậu cần, tôi tạm thời nhậm chức “Quyền Trưởng phòng”. Tôi dự tính thời gian này sẽ làm chút việc gì đó có ích, nhưng lại chẳng biết làm gì, thậm chí cả ngày cũng chẳng hiểu nổi bản thân đang làm gì, bận gì, chỉ cảm thấy tinh thần bất ổn, vừa như muốn báo cáo công việc với ai đấy nhưng lại không biết báo cáo với ai, báo cáo cái gì. Hóa ra dù là “quyền Trưởng phòng” tôi cũng cần phải có lãnh đạo, tôi bệnh thật rồi, làm Phó phòng mười năm đã thành thói quen, giờ chỉ dựa vào chữ “quyền” mà thay đổi thói quen đó có vẻ quá khó. Thậm chí tôi bắt đầu thấy nhớ Triệu Trung, nhớ cái ghế Phó phòng của mình, chí ít như vậy tôi còn biết báo cáo tình hình công việc với ai. Cái chức “quyền Trưởng phòng” chẳng đem lại cho tôi cảm giác mới mẻ nào, ngược lại còn khiến tôi khó chịu giống như phải khoác một bộ quần áo cũ mèm, nặng trịch lên người vậy.
Đương nhiên, tôi cũng nhanh chóng lấy lại được cảm giác, đó là: Nếu bên trên không có ai chăm sóc thì bên dưới cũng sẽ chẳng có ai đeo đuổi bạn, cô đơn trơ trọi một mình, vừa không có kết quả vừa không thể thực hiện hoài bão của mình. Vậy phải làm sao? Kinh nghiệm mách bảo tôi rằng, muốn đi được một quãng đường thật xa thì phải dùng thuyền, nếu không sẽ chỉ đứng mãi trên bờ chần chừ lưỡng lự. Đời người ngắn ngủi, tôi không thể chần chừ thêm được nữa, bố mất từ khi tôi còn bé, một mình mẹ vất vả lam lũ nuôi tôi khôn lớn, bà ấy chỉ có một ước nguyện duy nhất đó là mong ước tôi trở thành một trang nam nhi có thể bay cao, bay xa.
Thế nhưng, tôi đã làm mẹ phải thất vọng, đừng nói bay xa, sau khi bị điều từ tòa soạn báo Thanh Giang về đây, tôi như mọc rễ vậy, thấy mình hệt con gà trống nhà hàng xóm. Gần đây tôi phát hiện nó không chỉ gáy lúc chập tối, mà lúc nào cũng gáy, ban ngày hay có lúc canh ba nửa đêm. Tôi cứ thắc mắc không hiểu sao con gà đó cứ gáy lung tung như thế, cho đến khi ngồi lên ghế “quyền Trưởng phòng” mới vỡ lẽ. Hóa ra không phải nó gáy mà đang kêu cứu, gào thét: “Cứu tôi với, thả tôi ra, tôi muốn tự do!” Văn phòng này đối với tôi giờ chẳng khác gì cái chuồng gà, hoàn cảnh của tôi cũng có khác gì nó đâu. Nghĩ đến đây thấy số phận thật không công bằng với tôi.
Quãng thời gian học đại học tôi luôn hướng đến tự do. Trước khi thi đại học, chuyên ngành mà tôi muốn nghiên cứu là “tự do”, nhưng tiếc là tất cả các trường đại học trên đất nước này đều không có. Không nghiên cứu tự do thì con người sao có thể phân biệt rạch ròi “kiểu tự do thứ nhất” và “kiểu tự do thứ hai” của Adam? Kinh Phúc âm Gioan có viết: “Hãy làm quen với chân lý, chân lý sẽ mang đến tự do.” Sau đó khi kinh nghiệm làm chính trị dày dạn hơn, tôi mới dần hiểu ra, câu đó vốn có nghĩa là: “Hãy làm quen với quyền lực, quyền lực sẽ mang đến tự do.” Quyền lực không những mang đến tự do, nó còn có thể giúp ta chọn lựa mọi thứ một cách đầy lý tính. Nhưng đây không phải là bí mật của tự do, bản chất của tự do là phi lý tính, vì bất cứ lý tính nào cũng đều là ép buộc bản thân. Cần lý tính hay cần phi lý tính? Đây là một câu hỏi. Cần hạnh phúc hay cần tự do? Đây lại là câu hỏi trong câu hỏi. Tôi đã không còn thời gian để đau đầu về những vấn đề này nữa rồi, bởi tôi có bản năng và tham vọng, không thể đánh mất bản năng và tham vọng chỉ vì cái tự do chết tiệt ấy được, vì bản năng và tham vọng của tôi là hạnh phúc, vì hạnh phúc tôi tình nguyện làm nô lệ cho thế giới xung quanh, thậm chí cho chính bản thân tôi. Nếu mọi người đã không muốn biết thứ gì cao hơn con người thì hà cớ gì tôi phải mạo hiểm. Không, ai biết “cột nhà lộ ra ngoài thì bị mục trước”, ai biết “chim đầu đàn hay bị trúng đạn”. Cuộc “đảo chính ” lần này, tôi biến thành cái cột nhà lộ ra ngoài ấy, tuy là vẫn chưa mục nhưng đang xuất hiện nguy cơ, phải làm sao đây? Tôi không thể để mình mục nát đi. Tôi phải biến cái cột này thành chiếc bè có thể di chuyển.
Trước mắt, chỉ có một con thuyền có thể cho tôi leo lên, đó là Bành Quốc Lương. Tôi rất hy vọng được như Triệu Trung, đặt chân lên con thuyền lớn Lưu Nhất Hạc, nhưng tôi có cảm giác rằng mình không phải là thuyền viên mà Bành Quốc Lương muốn tìm cho thuyền của mình. Tôi biết, dù Triệu Trung có rời khỏi phòng Tổng hợp 2 này đến đâu làm việc đi chăng nữa hay từ chức về hưu, tuy không theo Lưu Nhất Hạc nhưng rốt cuộc vẫn đứng vững trên thuyền của ông ta. Tôi vô cùng hy vọng mình trở thành một thủy thủ đắc lực trên thuyền của Bành Quốc Lương, nhưng rõ hơn ai hết tôi biết mình không phải là trợ thủ lý tưởng trong mắt ông ấy. Tuy nhiên nếu đã là một thủy thủ thì nên vượt ngàn đại dương phiêu bạt, dù có chết trong phong ba bão táp cũng còn hơn là đứng trên bờ mà lực bất tòng tâm. Đương nhiên nếu cứ đàng hoàng lên thuyền thì chắc chắn không được, có lẽ tôi phải hao tâm tổn trí thể hiện cho Bành Quốc Lương thấy bản lĩnh của mình, hy vọng ông ấy sẽ cho mình một cơ hội.
Thế nhưng, tất cả đều trở về vị trí ban đầu. Bành Quốc Lương nhậm chức Phó Thị trưởng được một tháng thì đích thân đi tuyển chọn vị trí Trưởng phòng cho phòng Tổng hợp 2, chữ “quyền” của tôi lại trở về chữ “phó”. Trưởng phòng mới tên là Dương Hằng Đạt, đã làm thư ký cho lãnh đạo cũ năm năm, ngoại hình không sáng sủa cho lắm, hiền lành nhu mì, nhưng vị lãnh đạo cũ kia là ai? Đó chính là cán bộ chủ chốt của thành phố Đông Châu, thậm chí là của cả tỉnh Thanh Giang, năm năm làm thư ký cho một vị lãnh đạo như vậy thì thật sự không phải là người thường.
Quả nhiên, Dương Hằng Đạt nhậm chức không lâu, tôi phát hiện phòng Tổng hợp 2 bước vào “thời kỳ hậu trẫm”. Từ khi cùng Hoàng Tiểu Minh thảo luận về văn hóa trẫm, tôi chia lịch sử phát triển của phòng Tổng hợp 2 thành ba thời kỳ: thời kỳ tiền trẫm, thời kỳ trẫm và thời kỳ hậu trẫm; Tiêu Phúc Nhân chính là thời kỳ tiền trẫm, Triệu Trung là thời kỳ trẫm và thời kỳ hậu trẫm chính là thời kỳ của Dương Hằng Đạt. Về bản chất đương nhiên không có gì thay đổi, vẫn là “văn hóa trẫm”, tính chất công việc cũng không thay đổi, vẫn là “thánh nhân nói đúng, phi thánh nhân không được phép mở lời”. Đối với phòng Tổng hợp 2 thì thánh nhân chính là Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương.
Sau khi nhậm chức, những nước cờ của Dương Hằng Đạt luôn trước tôi một bước, anh ta vận dụng mọi khả năng và sức lực lập ra một kho tư tưởng cho Bành Quốc Lương, trong đó tinh hoa nhất phải kể đến cuốn Bành Quốc Lương ngữ lục(5), và đương nhiên nhận được rất nhiều lời tán thưởng của ông ta. Nói thực, sau khi đọc xong tôi mới vỡ lẽ, sở dĩ làm Phó phòng đến mười năm mà không được cấp trên trọng dụng, bởi lẽ tôi không hiểu thế nào gọi là phục vụ lãnh đạo, không hiểu được cấp trên đang nghĩ gì, không lo lắng những điều cấp trên lo mà chỉ chăm chăm thể hiện suy nghĩ của bản thân; không thể hiện tài năng bản lĩnh của mình với lãnh đạo, không biến suy nghĩ của mình thành suy nghĩ của lãnh đạo, không biến tài năng của mình thành tài năng của lãnh đạo, lúc nào cũng muốn thể hiện mình sáng suốt hơn lãnh đạo… Sao có thể sáng suốt hơn, tài hoa hơn lãnh đạo chứ? Lãnh đạo mà không bằng anh thì sao làm được lãnh đạo? Chỉ tiếc tôi ngộ ra điều này hơi muộn.
Không có cơ hội làm thư ký cho vị lãnh đạo như Thái Sơn Bắc Đẩu thật là đáng tiếc, tôi nghe nói vị lãnh đạo này rất tâm đắc với việc dưỡng sinh, luôn giới thiệu những phương pháp chữa bệnh bằng nước tiểu. Tôi còn nghe nói phương pháp đó đã dấy lên thành phong trào, mà tài liệu chủ yếu là cuốn Cảm nhận triết học về niệu liệu pháp. Tác phẩm triết học kinh điển này do chính Dương Hằng Đạt chỉnh lý. Để có thể cảm nhận sâu sắc những triết lý này, nghe nóingày nào anh ta cũng học theo sếp uống một cốc nước tiểu vào sáng sớm và với tinh thần lấy thân mình làm thực nghiệm ấy đã khiến người khác vô cùng cảm động. Khó trách Hằng Đạt được sếp quý mến đến vậy.
Từ sau khi nghe được giai thoại giữa Dương Hằng Đạt và cấp trên của anh ta, tôi không kìm nén nổi tâm trạng vô cùng kích động của mình, liền đem chuyện này kể cho mẹ. Nghe xong, bà hỏi tôi: “Nếu sếp cậu ta tâm đắc với phương pháp chữa bệnh bằng phân, liệu cậu ta có dám thử không?” Câu hỏi ấy khiến tôi cứng họng. Vì tò mò, tôi đến thư viện thành phố tìm tài liệu, quả thực tìm thấy có ghi chép về phương pháp chữa bệnh bằng phân. Theo sách, phương pháp này bắt nguồn từ việc “thử phân lo lắng” trong “hai mươi tư đạo hiếu”. Đây là câu chuyện cảm động về người con có hiếu thử phân của cha, đại ý như sau: Sưu Kiềm Lâu là cao sĩ Nam Tề, được làm quan huyện lệnh Sàm Lăng. Đến nhậm chức chưa được mười ngày, bỗng thấy trong lòng kinh sợ lạ thường, dự cảm trong nhà đã xảy ra chuyện gì, ông lập tức từ quan về nhà. Về đến nhà, biết cha đã mắc trọng bệnh hai ngày nay. Lương y nói rằng: Nếu muốn biết bệnh tốt xấu thì nếm thử phân, nếu vị đắng thì tốt, có thể chữa khỏi. Thế là Kiềm Lâu liền nếm thử phân của cha nhận ra có vị ngọt, trong lòng vô cùng lo lắng, đêm xuống quỳ lạy sao Bắc Đẩu, thỉnh cầu được chết thay cha. Vài ngày sau cha ông mất, Kiềm Lâu an táng cho cha và để tang ba năm. Câu chuyện này khiến nhiều người con cảm động, bọn họ đều bắt chước Kiềm Lâu thử phân của cha mẹ. Một số người trong mình mang bệnh, sau khi thử phân cha mẹ lại bỗng dưng hết bệnh, họ vô cùng cảm ơn cha mẹ đã cứu sống họ và ngộ ra rằng phân cũng là một loại thuốc chữa bệnh, phương pháp chữa bệnh bằng phân ra đời từ đó. Câu chuyện này tác động mạnh đến tôi, việc phục vụ cấp trên, nếu có đủ dũng khí thử phân thì còn lo gì mà không đặt được chân lên được thuyền. Dương Hằng Đạt có có thể thử nước tiểu, thì tôi - Hứa Trí Thái này cũng có thể thử phân, tôi không tin là không thể đặt chân lên được thuyền của Bành Quốc Lương.
Cơ hội cuối cùng cũng đến, khi Triệu Trung còn làm Trưởng phòng, hắn ta độc chiếm mọi cơ hội đi nước ngoài công tác, sau khi Hằng Đạt nhậm chức, để mua chuộc lòng người anh ta nhường cơ hội đi công tác nước ngoài đầu tiên cho tôi, lại còn là đi Mỹ nữa. Chiêu này của anh ta phải nói rất hiệu quả. Hoàng Tiểu Minh, Âu Bối Bối và Chu Đại Vỹ thấy có hy vọng liền tìm cách tiếp cận Dương Hằng Đạt. Tôi những tưởng với vị trí của mình trong lòng ba người đó có thể cô lập được Hằng Đạt, không ngờ anh ta dùng chiêu cho tôi đi Mỹ để hóa giải nguy cơ, thậm chí cả tôi cũng thấy cảm kích. Lần này không chỉ là đi Mỹ công tác, mà nhiệm vụ chính là đi tháp tùng Phó Thị trưởng Bành, cùng đi lần này chỉ có Hồ Chiếm Phát, Ôn Hoa Kiên và Trần Thực.
Đến Los Angeles, Phó Thị trưởng Bành đột nhiên đổ bệnh, miệng nôn trôn tháo, chắc do chưa thích nghi với môi trường bên này. May Hồ Chiếm Phát có mang theo thuốc, kịp thời dứt được bệnh. Các triệu chứng tuy hết nhưng lại chuyển sang sốt cao, tôi và Hồ Chiếm Phát chỉ biết luân phiên túc trực bên Bành Quốc Lương. Tôi tỏ ra hiếu thuận như đối với mẹ ruột mình, không những bưng nước, đút thuốc mà còn giặt cả chiếc quần trong dính đầy phân của ông ta. Hết cơn sốt, Bành Quốc Lương tìm riêng tôi nói chuyện, đại ý: Mong tôi và Dương Hằng Đạt phối hợp tốt với nhau, đi theo Hằng Đạt cũng sẽ trở thành người của ông ấy, những người theo ông ta đều không phí công vô ích, sau này chắc chắn có báo đáp. Cuộc nói chuyện tuy chỉ vẻn vẹn hai mươi phút, nhưng khiến tôi thao thức suốt đêm. Chính miệng ông ấy nói tôi là người của mình, điều này là sao nhỉ? Điều ấy chứng tỏ ông ấy đã cho phép tôi đặt chân lên thuyền của ông ấy, tôi có thể không vui được sao?
Nhưng tôi vẫn phải tỉnh táo, ông ta nói tôi đã là người của mình, đây là cất nhắc tôi, thể hiện sự gần gũi của ông ấy thôi, chứ chưa hẳn là chấp nhận tôi là người của ông ấy? Trở thành một linh kiện để lắp ghép trên con thuyền ấy là tôi đã mãn nguyện lắm rồi, giờ ông ấy nói vậy liệu có phải chứng tỏ tôi cũng đã trở thành một mắt xích trong sợi dây xích ấy rồi không? Thật ra, tôi hiểu hơn ai hết hành trình của con thuyền này, ông ta không phải muốn cập bến mà muốn tìm một con thuyền lớn hơn, nếu tìm thấy, ông ấy sẵn sàng rời bỏ thuyền này để nhảy sang làm một mắt xích trong sợi dây xích của con thuyền mới. Chính trị là vậy, nó cần các mắt xích chuyển động bình thường và liên tục.
Hóa ra lên thuyền không khó, chỉ cần xem bản thân như một mắt xích là được, chẳng cần tính toán gì chỉ cần phục tùng. Sai lầm lớn trong quá khứ của tôi là xem mình như một con người, chuyện gì cũng cố nghĩ phương pháp giải quyết, chưa bao giờ biến mình thành một mắt xích cả. Tôi phải từ bỏ thói quen này, may mà tôi hiểu ra đạo lý này chưa quá muộn.
Sau khi về nước, cứ tưởng Phó Thị trưởng sẽ giao cho tôi một vài trọng trách, nhưng hóa ra không phải vậy. Ban đầu rất nhiều công việc của Phó Thị trưởng, Hồ Chiếm Phát đều giao tôi làm nhưng Dương Hằng Đạt nhanh chóng phát hiện ra tôi được sự tín nhiệm của Phó Thị trưởng, vì vậy cứ hễ có việc là điều Hoàng Tiểu Minh ra nhận việc trước. Hoàng Tiểu Minh đã quen với những công việc liên quan đến giấy tờ và Phó Thị trưởng nhanh chóng phụ thuộc vào cậu ta. Dương Hằng Đạt tương kế tựu kế, mọi chuyến công tác nước ngoài đều cắt cử tôi đi, lúc đầu Tiểu Minh, Bối Bối, Đại Vỹ thấy Hằng Đạt vừa nhậm chức đã cử tôi đi công tác nước ngoài, ai nấy đều hy vọng sẽ có ngày tới lượt mình, nhưng không, tất cả cơ hội đều là của tôi cả. Tôi trở thành người chuyên đi công tác nước ngoài của phòng Tổng hợp 2. Lúc đầu, tôi còn cảm kích, nhưng sau vài lần tôi phát hiện có điều gì đó bất ổn, trước đây, Tiểu Minh, Bối Bối, Đại Vỹ vốn đứng về phe tôi, nay họ lại dần xa lánh. Thưởng cuối năm, Hằng Đạt cũng phát cho tôi trước, tôi bỗng chốc trở thành cái gai trong mắt ba người bọn họ. Lúc này tôi mới nhận ra kế ly gián của Dương Hằng Đạt, thật không ngờ anh ta lại cao thủ đến vậy, mới vài chiêu đã khiến tôi phục sát đất.
Mười năm làm Phó phòng, lần đầu tiên tôi lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan như này. Tôi vừa mong được Phó Thị trưởng công nhận, nhưng cũng không thể để Hằng Đạt nghi ngờ, lại càng không thể làm cho Tiểu Minh, Bối Bối và Đại Vỹ ghen tỵ. Đặc biệt là Tiểu Minh, cậu ta đang dần có được sự tín nhiệm và khen ngợi của Phó Thị trưởng Bành, nghe nói luận văn thạc sĩ mà cậu ta viết cho Phó Thị trưởng được giảng viên hướng dẫn hết lời khen ngợi, xem ra cậu ta rất có khả năng sẽ thay thế vị trí của Hồ Chiếm Phát.
Hồ Chiếm Phát đã làm thư ký cho Phó Thị trưởng được năm năm, thế cũng được coi là lão thành. Tôi đoán, cũng có ngày cậu ta sẽ được đề bạt lên vị trí lãnh đạo cấp phó, đó là điều chắc như đinh đóng cột, chỉ là không biết cậu ta có thể rời ra không? Tôi biết Hồ Chiếm Phát muốn ở lại. Thật ra, ai cũng có thể nhìn thấu suy nghĩ của Hồ Chiếm Phát, cậu ta không muốn dễ dàng rời xa cây cao bóng cả Bành Quốc Lương, thậm chí còn muốn phò tá thiên tử để sai khiến chư hầu. Vì vậy việc chọn ai làm người kế nhiệm vị trí của anh ta là việc vô cùng quan trọng. Nhìn bề ngoài có vẻ Hồ Chiếm Phát nghiêng về chọn Đại Vỹ vì cậu ta tố chất thông minh, tuy nhiên sự thông minh ấy vừa nhìn là có thể nhận ra ngay, còn sự thông minh của Tiểu Minh lại được ẩn giấu bên trong. Nếu Tiểu Minh ngoan ngoãn nghe lời sẽ được Chiếm Phát chọn làm người kế nhiệm, còn không thì thôi.
Tuy Chiếm Phát vẫn luôn để ý cả Tiểu Minh và Đại Vỹ, nhưng theo trực giác của tôi thì Phó Thị trưởng Bành sẽ chọn Tiểu Minh, bởi đứng từ góc độ chính trị thì Phó Thị trưởng Bành không cần thư ký mà cần người biết “biết ứng phó”. Mặc dù Đại Vỹ hiểu trên chốn quan trường nên làm gì, không nên làm gì, nên nói gì, không nên nói gì, việc gì nên tuyên truyền rộng rãi, việc gì cần giữ bí mật, việc nào cần công khai, việc nào cần ngấm ngầm... Những hiểu biết ấy dường như cậu ta còn nắm vững hơn cả kinh nghiệm mười năm làm Phó phòng của tôi, điều này có liên quan đến sự giáo dục của gia đình, nhưng Đại Vỹ và Chiếm Phát như nhau, cả hai người đều thiếu cảm giác mới mẻ đối với Phó Thị trưởng Bành.
Đương nhiên đây cũng chỉ là trực giác của tôi mà thôi, nỗi khổ của tôi hiện nay là sự tâng bốc thái quá của Hằng Đạt khiến tôi đang mất hết “lòng dân” trong phòng Tổng hợp 2, và cũng lần đầu tiên hiểu được lợi hại của “nụ cười giấu dao”. Nhìn lại ba đời Trưởng phòng Tổng hợp 2, khi cộng tác với Trưởng phòng Tiêu Phúc Nhân, tôi hy vọng và phục tùng; với Triệu Trung, vì phản kháng mà phục tùng; với Hằng Đạt thì tôi phục tùng vì phục tùng. Sự cao tay của Hằng Đạt ở chỗ nghĩ thay bạn tất cả. Anh ta tỏ vẻ quan tâm đến bạn; lấy xuất phát điểm là tất cả vì bạn, đến mức bạn cảm thấy bản thân phải trả giá cũng là lẽ đương nhiên, vì thế không thể nói vào đâu được. Hằng Đạt sử dụng thủ đoạn này để tách từng cá nhân ra dễ bề khống chế, vì thế chỉ trong thời gian ngắn, anh ta đã hoàn toàn khuất phục phòng Tổng hợp 2.
Để thoát khỏi sự khống chế này, tôi chỉ có một con đường duy nhất: nhờ vào sức mạnh của Bành Quốc Lương, rời khỏi phòng Tổng hợp 2, nhậm chức Trưởng phòng bộ phận khác do ông ta chủ quản. Để có thể thực hiện mục tiêu này, tôi không tiếc công sức tìm kiếm cơ hội, giống như con chuột sục sạo tìm kiếm thức ăn. Ông trời không phụ lòng người có tâm, cơ hội cũng đến từ một lần chuyện phiếm giữa tôi và Hồ Chiếm Phát.
Hôm ấy tôi phải về muộn vì cần làm gấp một số báo cáo, bỗng Hồ Chiếm Phát bước đến, cười tít mắt cho tôi biết một tin bất ngờ. Anh ta nói, tối qua đi ăn cơm với một người bạn, gặp Triệu Trung, rồi còn hỏi tôi đoán xem ai ăn cơm cùng Triệu Trung? Vừa nghe thấy cái tên “Triệu Trung” tôi chợt thấy kinh tởm, với tôi, Triệu Trung là một con lợn. Điều khiến tôi không hiểu nổi là tại sao con lợn ấy khi xuống biển lại biến được thành cá, mà còn là cá mập nữa chứ. Năm nay, đến cả lợn xuống biển cũng phát tài, chứng tỏ cái thế giới này không chỉ có “hoạn hải” mà còn cả một số “gì gì hải” nữa, nếu lợn xuống biển cũng có thể như cá gặp nước, thì những “gì gì hải” nhất định có thể là “nạn hải”. Người ta đều nói: Người trên giang hồ thân không thuộc về mình, tôi vẫn không hiểu vì sao, té ra lợn ở giang hồ cũng vẫy vùng như cá gặp nước vậy.
Trong lòng thì tức tối vậy, nhưng ngoài mặt tôi vẫn cười lắc đầu. Hồ Chiếm Phát than thở nói: “Là Âu Bối Bối, không ngờ phải không. Âu Bối Bối ngọc ngà trong trắng mà ăn cơm với Triệu Trung, hai người trông thân thiết lắm, người biết thì bảo đồng nghiệp cũ, người không biết sẽ bảo đấy là bà hai của đại gia đấy.”
Đây đúng là một tin rúng động lòng người, ai mà không biết Bối Bối thường ngày cao ngạo như ni cô, nhất là lúc Triệu Trung còn làm Trưởng phòng, dù hắn ta có lúng liếng con mắt lợn đến thế nào đi nữa, cô ta cũng vẫn lạnh tanh. Không ngờ giờ Triệu Trung lắc mình một cái, biến thành hòa thượng giả, nhờ bao thầu chùa miếu kiếm bộn đồng tiền thối tha, lại có thể ngồi ăn cơm cùng Bối Bối. À mà cũng khó trách, hòa thượng với ni cô đều là tín đồ của Phật cả.
Trong mắt tôi, Bối Bối có nét giống Diệu Ngọc(6) cửa Thúy am, một trên quan trường, một thì ở chùa, nhưng tự cổ chí kim, quan trường vẫn được gọi là miếu đường. Diệu Ngọc miệng ăn chay, trong ruột lại toàn chất tanh, mà vì ăn chay, khát vọng tanh tưởi trong lòng mới càng mãnh liệt, điểm này Bối Bối và Diệu Ngọc cực kỳ giống nhau.
Sở dĩ tôi hiểu Bối Bối như vậy vì tôi là bạn thân của chồng cô ấy – Vương Triều Quyền. Cậu ta là nhân tài tiêu biểu, là bạn cùng lớp hồi đại học của Bối Bối. Theo Triều Quyền kể thì hồi đại học cậu ấy rất giỏi, thành tích luôn đứng đầu toàn trường, lại còn làm thơ rất hay, vì thế lọt vào mắt xanh của Bối Bối. Hai người yêu nhau, tốt nghiệp một thời gian ngắn thì kết hôn. Nhưng cưới nhau chưa được bao lâu thì thấy không thể hòa hợp, chủ yếu do hai nguyên nhân: một là do Vương Triều Quyền từ khi vào làm ở Cục xúc tiến thương mại, quan lộ mãi không khởi sắc, vẫn chỉ là chuyên viên chuyên ngành. Hai là kết hôn năm, sáu năm mà vẫn chưa có con. Vì nắm chủ chốt việc báo cáo liên tiếp hai đời Phó Thị trưởng, nên Cục xúc tiến thương mại và phòng Tổng hợp 2 phải làm việc với nhau khá nhiều, vì thế rất quen thuộc với Tiểu Minh và Đại Vỹ, nhưng chỉ có tôi và Triều Quyền hợp tính tình, lâu ngày trở thành bạn thân, không giấu nhau bất cứ chuyện gì. Chiếm Phát nói gặp Bối Bối đi ăn cơm với Triệu Trung, tôi chịu không nổi, giận thay cho Triều Quyền mà cũng toát mồ hôi hột. Đàn ông không có thực lực, lấy vợ đẹp làm gì chỉ thêm đau đầu nhức óc, không sớm thì muộn cũng chia tay.
Chuyện phiếm với Chiếm Phát cũng rất có lợi, nghe được rất nhiều thông tin mà mọi người chưa biết. Quả nhiên, cậu ta nói Ủy ban kỷ luật mới điều một nữ Bí thư có tên là Tề Tú Anh, biệt hiệu “Nữ Bao Công”, từng kiểm tra khá nhiều cao quan quyền quý giờ từ tỉnh K về trao đổi kinh nghiệm. Chiếm Phát còn nói một loạt tên các vụ án và tên những quan chức bị Tề Tú Anh kiểm tra và đưa ra kỷ luật… Nghe thấy cái tên “Tề Tú Anh”, tôi thấy ngờ ngợ trong lòng, đây có phải là người tình của nhà báo Lâm Vĩnh Thanh, cùng làm việc tại Thanh Giang nhật báo hồi tôi còn ở đó hay không? Năm đó bà ta chỉ là Chủ nhiệm một ban nhỏ, từng về Đông Châu công tác mấy lần, lần nào tôi cũng lái xe đưa Lâm Vĩnh Thanh đi đón, còn cùng ăn cơm, không ngờ giờ đã lên làm Bí thư Ủy ban kỷ luật tỉnh Thanh Giang, thông tin này cực kỳ quan trọng với tôi, đây có thể là cỗ thuyền lớn hơn so với thuyền của Bành Quốc Lương.
Từ Chiếm Phát, tôi biết Bành Quốc Lương có ý làm quen với vị “Nữ Bao Công” này nhưng chưa tìm được cách thích hợp, để tăng giá trị của mình, tôi liền giới thiệu mối quan hệ giữa Lâm Vĩnh Thanh và Tề Tú Anh, đương nhiên cũng giới thiệu tình bạn giữa tôi với Lâm Vĩnh Thanh. Nghe xong Chiếm Phát hình như cũng bị kích thích, không nói gì chỉ vội vàng đứng dậy đi liền.
Chiếm Phát đi rồi, nghĩ lại những chuyện vừa nói, trong lòng tôi có chút hối hận. Trên chốn quan trường, nhiều lời ắt thất bại, Bành Quốc Lương từng nói tôi sẽ là người của ông ấy, điểm này Hồ Chiếm Phát rõ nhất, vừa rồi lại khoe chuyện quen biết Tề Tú Anh, rõ ràng là có ý “đứng núi này trông núi nọ”, một khi Chiếm Phát nói lại với Bành Quốc Lương, ông ấy sẽ nghĩ thế nào? Hơn nữa việc báo ấy là chắc chắn. Tôi vừa nghĩ vừa hối hận, lúc đi vào văn phòngỦy ban, nhận ra chiều đã ngả bóng, ráng chiều rơi xuống hồng ửng như mai con cua khổng lồ mới bị hấp chín, tuy giơ càng múa vuốt, mà lại hết cơ hội sống.
Cựu Thị trưởng đã có tuổi, cuối năm thay đổi nhiệm kỳ, ông cụ về Hội đồng nhân dân thành phố làm Chủ tịch là chuyện chắc như đinh đóng cột. Còn việc ai thay chức Thị trưởng, vẫn có nhiều dự đoán khác nhau, nhưng dư luận tập trung vào hai người: Bành Quốc Lương và Lưu Nhất Hạc đã hai năm làm Phó Tỉnh trưởng. Tôi đương nhiên mong muốn là Bành Quốc Lương, nước dâng thì thuyền lên mà. Nhưng từ trước đến nay Phó tỉnh trưởng tiếp nhiệm vị trí Thị trưởng, trong lịch sử Đông Châu, chưa từng có ai là Phó Thị trưởng trực tiếp lên làm Thị trưởng cả. Càng cuối năm tôi càng cảm thấy Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương không có cơ, điều này khiến tôi khá buồn và lo lắng.
Hai hôm trước, tôi gặp con lợn Triệu Trung trong sân của Ủy ban thành phố, thằng cha chết tiệt chui từ trong xe ra, hiện nguyên hình bộ mặt giả hòa thượng. Hắn ta béo hơn so với khi đang làm Trưởng phòng phòng Tổng hợp 2. Tôi không hiểu tại sao Triệu Trung luôn gặp vận may hơn tôi, ở phòng Tổng hợp 2 cũng là ngồi trên đè đầu tôi, rời khỏi Văn phòng Ủy ban cũng gặp số con lợn ăn no rồi nằm, bao thầu chùa mà cũng phát tài, giờ Lưu Nhất Hạc sắp quay về, Triệu Trung càng như “vó ngựa đường xuân”. Tôi không muốn đếm xỉa đến cái mặt lợn ấy, liền bước nhanh, giả vờ không trông thấy, nhưng hắn vội đuổi theo, vồn vã hỏi thăm. Nói thật, tôi rất sợ Lưu Nhất Hạc quay lại, một khi ông ta nhậm chức Thị trưởng, chỉ cần Triệu Trung gièm pha vài câu là tôi vĩnh viễn đứng trên bờ nhìn đại dương mênh mông mà than thở. Bởi cuộc “chính biến” lần đó đã khiến Triệu Trung trở tay không kịp, xét từ mọi góc độ cũng là do tôi đã đánh bật hắn ta khỏi Ủy ban, tôi phải là người mà Triệu Trung hận nhất. Không ngờ lão giả hòa thượng này gặp tôi với bộ mặt giả từ bi, nói rằng, trên đời này hắn cảm kích nhất hai người, một là Lưu Nhất Hạc, còn người thứ hai là tôi. Nếu tôi không đuổi hắn ra khỏi văn phòng Ủy ban thì hắn không có công đức như ngày nay. Tôi biết nếu trong chùa không thắp hương, thì thứ lượn lờ quyện quanh lư hương không phải là khói hương, mà toàn là dục vọng hôi thối của những kẻ khẩn cầu.
Tôi không hiểu vì sao Triệu Trung lại phải giả tình giả nghĩa, tỏ vẻ tốt như vậy, bèn mỉa mai: “Triệu Trung, hòa thượng không chỉ ăn chay, mà còn không ăn bữa chiều, anh béo phì thế này nhìn là biết ngay hòa thượng giả không giữ chay tịnh rồi.”
Triệu Trung vẫn điềm đạm nói: “Đừng coi tôi chỉ là cư sĩ, chuyện trai giới tôi vẫn tuân thủ nghiêm khắc, ai nói qua giờ ngọ không ăn, chẳng lẽ anh chưa từng nghe nói dược thực(7) sao?”
Tôi bật cười ha hả, châm chọc nói: “Tôi thấy không nên gọi là dược thực, mà nên gọi là thực dược, trước đây trên quan trường, bây giờ xoay sang về Phật giáo.”
Triệu Trung thản nhiên nói: “Nếu không thì sao lại gọi quan trường là miếu đường chứ!”
Quả nhiên Lưu Nhất Hạc quay về với ngôi vị Thị trưởng thành phố Đông Châu, vừa nhậm chức liền giương cờ nổi trống tổ chức Hội nghị triển khai công tác “Xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư” toàn thành phố. Sau hội nghị, Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương trở thành Phó Thị trưởng bận rộn nhất. Để hoàn thành chỉ tiêu thu hút đầu tư, ông ta liên tục đi nước ngoài, nhưng nhiều nhất là đi Hồng Kông, kế là Ma Cao.
Tôi chưa từng được đi cùng ông ấy đến Hồng Kông và Ma Cao, nhưng may được một lần tới Hàn Quốc. Lúc trên máy bay ông ấy bất ngờ nói với tôi về Lâm Vĩnh Thanh khiến tôi vừa mừng vừa lo; mà càng khiến tôi kinh ngạc hơn là ông ấy bảo khi nào về nước, tôi liên hệ và mời Lâm Vĩnh Thanh cùng ăn cơm, đây là việc tôi hoàn toàn không thể ngờ tới. Bởi tôi đã công tác ở Văn phòng Ủy ban này hơn mười năm, từ trước đến nay chưa hề có vị lãnh đạo nào tín nhiệm tôi như thế. Nói thực, tôi cũng nhiều năm không liên hệ với Lâm Vĩnh Thanh, xét về tuổi tác, có thể cậu ta đã nghỉ hưu, nhưng cuộc sống là vậy, chưa biết ai là quý nhân của ai.
Về nước không lâu, Phó Thị trưởng Bành giao cho tôi và Chiếm Phát sắp xếp đặt tiệc tại “Nhà hàng Thế giới”, nhà hàng sang trọng nhất thành phố để mời Lâm Vĩnh Thanh. Trong buổi tiệc, Phó Thị trưởng Bành tỏ ra quý trọng hiền tài, bình dị dễ gần, không ngại khách sáo hỏi Lâm Vĩnh Thanh có khó khăn gì không. Lâm Vĩnh Thanh dường như nhìn thấu ý đồ hỏi han ân cần của Phó Thị trưởng Bành, cũng không hề khách sáo, nói thẳng nguyện vọng được cải thiện nhà ở trước khi về hưu. Phó Thị trưởng Bành lập tức chỉ thị Chiếm Phát toàn quyền lo chu đáo việc này, sau đó đưa cho Lâm Vĩnh Thanh một cuốn Bành Quốc Lương ngữ lục trong tuyển tập Kho tư tưởng do Dương Hằng Đạt biên tập, phiền Lâm Vĩnh Thanh chuyển tới đồng chí Bí thư Ủy ban kỷ luật tỉnh Tề Tú Anh.
Cuốn ngữ lục ấy, tôi quá rành, gần như thuộc lòng, toàn là những bài tập của Bành Quốc Lương trong các đợt học tập nghiệp vụ tại trường Đảng tỉnh hoặc trường Lý luận chính trị Trung ương, một số bài do tôi viết, một số do Hồ Chiếm Phát viết, đương nhiên hầu hết đều từ tay bút của Tiểu Minh mà ra, trong đó quan trọng nhất là luận văn thạc sĩ của Phó Thị trưởng Bành, đủ năm vạn chữ, cũng vẫn chính tay Tiểu Minh múa bút. Sau đó cái “tinh hoa” văn chương này được đăng trên mục Lý luận của Thanh Giang nhật báo, được cán bộ cấp cao của Tỉnh ủy khen ngợi.
Tôi rất khâm phục tài năng và trình độ của Hằng Đạt, người ta là Trưởng phòng đương nhiên nhìn xa trông rộng, bộ sách “học tập và nhận thức” mang sắc thái lý luận này, một khi tới tay Tề Tú Anh, nhất định sẽ tạo cho “Nữ Bao Công” một ấn tượng tốt. Bây giờ càng ngày càng ít cán bộ lãnh đạo chịu đi học, mà người tự tay viết ra nhận thức của mình khi học tập thế này thì hiếm như lông phượng sừng lân. Nhưng tôi không rõ Tề Tú Anh là Bí thư Ủy ban kỷ luật tỉnh sẽ có tác dụng gì đối với con đường làm quan của Bành Quốc Lương mà ông ta lại phải tổn sức hao tâm lấy lòng vị “Nữ Bao Công” như thế? Tôi suy nghĩ mãi mà cũng không thể giải thích nổi. Phàm những việc trên quan trường, đều không thể tách rời chữ “ngộ”, nhưng ý đồ đằng sau việc Phó Thị trưởng Bành mời Lâm Vĩnh Thanh là một thực tế bí ẩn, tôi từ đầu chí cuối vẫn “ngộ” không ra.
Nếu hỏi tôi theo kiểu “phỏng vấn tin tức” rằng: “Thưa ông Hứa Trí Thái, ông nghĩ gì về sự đau khổ?”
Tôi sẽ trả lời không chút do dự: “Có đau khổ mới chứng tỏ mình còn sống, đau khổ là minh chứng của sinh mạng.”
Nếu tiếp tục phỏng vấn sâu hơn: “Đau khổ lớn nhất nơi sâu thẳm trong lòng ông là gì?”
Tôi sẽ trả lời rất nhanh: “Dung hòa với cuộc sống.”
Nếu tiếp tục hỏi: “Cuộc sống phải phong phú đa sắc màu, tại sao lại là dung hòa? Dung hòa với cuộc sống rốt cuộc là gì?”
Tôi đau khổ trả lời: “Đây là cách sống leo lên trên, trong lòng tôi chỉ có một mục tiêu, bò lên, giống như con rắn bò lên vậy.”
Nếu người phỏng vấn tiếp tục chất vấn câu trả lời của tôi, hỏi: “Tại sao phải bò hướng lên trên mà không bước về phía trước?”
Tôi sẽ càng đau khổ trả lời: “Bởi tôi có cảm giác mình đang bị hầm nhừ trong nồi lẩu của lò luyện ngục, chỉ có leo lên để thoát ra thì còn có hy vọng sống.”
Nếu phóng viên không hiểu cảm giác tôi vừa nói ra, lại tiếp tục chất vấn: “Vậy trong mắt ông, con người là gì?”
Tôi sẽ kiên định trả lời: “Trong suy nghĩ của tôi, không có người, chỉ có nhân dân, tôi không phải là người, tôi là công chức. Trong mắt tôi, công chức là pho tượng điêu khắc, thực ra ở thành phố Đông Châu này toàn là tượng gỗ công chức. Vì tôi sống trong thế giới của tượng, cho nên trong mắt tôi chỉ có hai loại người: công bộc và nhân dân.”
Tôi biết dù trả lời thế nào thì phóng viên cũng vẫn sẽ không thấy thỏa mãn, nhưng đây là cảm giác chân thật nhất của tôi. Ngày nào tôi cũng ôm ấp khát vọng phải nắm được vật gì đó, nhưng từ trước tới giờ tôi chẳng nắm được gì cả, không hiểu sao vận khí của tôi lại kém thế, không bằng Tiêu Phúc Nhân, không bằng Triệu Trung, giờ lại không bằng cả Dương Hằng Đạt giỏi uống nước tiểu, thậm chí không bằng cả âm hồn không tiếng động Hoàng Tiểu Minh, nghiễm nhiên trở thành thư ký Phó Thị trưởng Bành.
Vận may của Tiểu Minh gợi cho tôi một ý rất quan trọng, vận may của con người không thể cứ thế mà ngồi chờ nó đến, mà phải tự đi tìm. Tôi phát hiện ra một điểm vì sao Hằng Đạt chiếm được địa vị đáng lẽ là của tôi, đó là: nghe nói từ sau khi đến phòng Tổng hợp 2, anh ta rất nhiệt tình với Triệu Trung, rõ ràng đây là cách phát hiện vận may tốt nhất, ai chẳng biết mối quan hệ giữa Triệu Trung và Lưu Nhất Hạc? Hằng Đạt làm như vậy khác gì “ngày tu góc núi, tối độ Trần Thương”, ai muốn treo cổ trên cùng một cái cây chứ? Tính toán để xoạc chân chữ bát bước lên hai thuyền thì được gì?
Sau khi biết vậy, tôi thường xuyên theo dõi, phát hiện Dương Hằng Đạt đặt chân lên cả hai thuyền là có nguyên nhân. Anh ta rất trung thành với lãnh đạo cũ, không phải là người dễ dàng quay lưng với chủ, huống hồ Bành Quốc Lương rất coi trọng, lại có ân có nghĩa với anh ta, dù theo Bành Quốc Lương hay Lưu Nhất Hạc thì tiền đồ của anh ta đều xán lạn. Sở dĩ anh ta làm vậy là vì xuất hiện một số tin đồn nhảm về Phó Thị trưởng Bành, tôi không tin vào mấy tin đồn nhảm đó lắm, cũng có thể nói là không muốn tin. Dựa vào vào mối quan hệ giữa Triệu Trung và Lưu Nhất Hạc, dù thế nào tôi cũng không có cơ để dựa vào cây đại thụ Lưu Nhất Hạc, nên chỉ có thể dựa vào Bành Quốc Lương. Vì không muốn phải chết treo trên cây này, do đó tôi rất lo cây này biến thành cây khô, rồi héo chết, vì thế tôi phải dốc sức tưới nước, bón phân, xới đất.
Mười giờ sáng Chủ nhật, tôi và vợ đang “mây mưa” trên giường, điện thoại bất ngờ đổ chuông. Tôi với điện thoại hỏi: “Alô, ai đó?” Hóa ra là tay Triều Quyền chết tiệt. Tôi nghĩ, khó khăn lắm mớiđược bên bà xã ngày chủ nhật, sớm không gọi, tối không gọi mà lại vào đúng lúc quan trọng lại gọi, chả trách thằng cha này sản xuất không nổi đứa con! Nghe giọng điệu đau khổ muốn mời tôi ăn trưa là hiểu, ăn cơm là giả, bị vợ đạp khỏi giường là thật, không chừng vợ không trên giường cũng nên. Chủ nhật Âu Bối Bối không ngủ chung với Triều Quyền, chẳng lẽ ở... Tôi không dám nghĩ xa hơn nữa. Bị cuộc điện thoại làm mất hứng thú, “cuộc chiến” đành tàn cuộc sớm.
Triều Quyền thường mời tôi ăn cơm ở quán rượu nhỏ ven đường, thằng cha này chui đầu vào Cục xúc tiến thương mại cũng lâu rồi, chẳng leo nổi lên chức Phó phòng, mà cứ giẫm chân ở chức phụ trách nghiệp vụ. Cũng khó trách bị Bối Bối coi thường, cấp bậc thì thấp hơn vợ, lại là vợ đẹp, tóc không đổi màu mới là lạ! Bà vợ nào chẳng muốn “chồng phú quý, vợ vinh hạnh.”
Triều Quyền buồn bã gọi hai chai rượu, vừa uống vừa kể chuyện cho tôi nghe. Phải hết nửa chầu tôi mới hiểu cậu ta đau khổ là vì hình như vợ chạy theo người khác, mà nghiêm trọng hơn là cô ta đã có thai.
Tôi khó hiểu: “Triều Quyền, vợ cậu có thai là chuyện vui mà, sao cậu lại ủ rũ thế.”
Triều Quyền khó chịu như nuốt phải cục đắng, đau khổ cực độ nói: “Anh hai, em đã đi xét nghiệm ở bệnh viện, em không thể có con.”
Vừa nghe thấy câu đó, đang ngà ngà say mà tôi lập tức tỉnh táo, tức là cái thai trong bụng Bối Bối không phải của Triều Quyền? Tôi nghĩ ngay đến một người, chính là thằng cha hòa thượng giả Triệu Trung. Thằng béo chết tiệt ấy khi làm Trưởng phòng phòng Tổng hợp 2, không ít lần cố ý ve vãn Bối Bối, không ngờ cuối cùng lại được thỏa nguyện như thế. Tôi thấy Triều Quyền vô cùng đau khổ, bất bình thay cho cậu ta. Tôi đập bàn, to tiếng chửi Triệu Trung. Không ngờ Triều Quyền nước mắt lưng tròng, một hơi nốc cạn cốcrượu, nuốt hận nói: “Anh hai, đứa con không phải của Triệu Trung.”
Vừa nghe cậu ta nói vậy, tôi cụt hứng, há mồm trợn mắt: “Không phải Triệu Trung, vậy của ai?” Triều Quyền chấm ngón trỏ vào cốc rượu, viết lên bàn một chữ “Bành”, tôi vừa đưa miếng thịt bò dầm tương vào miệng, nhìn thấy chữ ấy lập tức bị nghẹn, miếng thịt bò mắc ngang cuống họng.
Tôi chống mạnh đũa lên mặt bàn, hỏi: “Triều Quyền, chắc chú uống nhiều, say rồi, sao có thể như vậy được?”
Triều Quyền đột nhiên gầm lên: “Sao không thể? Nó là loại cầm thú đội lốt người, chuyện gì nó không thể làm chứ?”
Nhìn ánh mắt đằng đằng sát khí của Triều Quyền, miệng tôi câm như hến. Từ trước đến giờ chưa bao giờ thấy cậu ta như thế này cả, ánh mắt ấy khiến người ta không sốt rét mà phải phát run. Im lặng hồi lâu, Triều Quyền lạnh lùng nói: “Anh hai, chỉ với anh em mới nói hết những điều trong lòng mình, giả sử Khổng Tử có sống đến ngày hôm nay, nhất định ông ấy cũng sẽ gọi đây là ‘thập kỷ của sự băng hoại lễ nghĩa’. Giờ nhắc đến hai chữ ‘chạy quan’ dân chúng ai mà chẳng khinh ghét, cho rằng chỉ có bọn lương tâm ám muội mới ‘chạy quan’, bất chấp tất cả để leo lên trên, đó là hành vi bỉ ổi xấu xa của lũ ruồi nhặng, họ có biết đâu thủy tổ của việc ‘chạy quan’ lại chính là Khổng thánh nhân? Trên quan trường, một số kẻ muốn leo cao mà không thương thân mình lùn, thậm chí mất hết khả năng phán đoán giá trị, đối với những kẻ này, tầm thường đã trở thành phương thức sống của họ. Tầm thường là một loại tội ác, Hannah Arendt(8) đã nói: “Sự tầm thường có thể hủy hoại cả thế giới”. Mấy năm gần đây, Bối Bối coi thường em, cho rằng cuộc sống em tầm thường, anh biết đấy, hồi đại học, em là sinh viên ưu tú nhất, giờ em vẫn ưu tú, chưa bao giờ tầm thường, em vẫn đang phấn đấu vì lý tưởng và niềm tin. Nhưng Bối Bối đã thay đổi, thay đổi đến mức trong mắt chỉ có quyền thế. Giờ cô ấy bắt em phải ly hôn, em cũng đã ký. Anh, sứ mệnh của em ở Cục xúc tiến thương mại cũng kết thúc rồi! Vì lý tưởng và niềm tin, em quyết định đi Thâm Quyến để rèn giũa, em đã gửi đơn xin từ chức rồi. Bữa rượu hôm nay, trước tiên là dốc hết nỗi lòng đau khổ của em cho anh hiểu, nhưng chủ yếu là từ biệt anh!”
Triều Quyền đã nói là làm, có khuyên cũng vô ích, rõ ràng cậu ta muốn thay đổi cách sống. Nói thực, nghe cậu ta nói đến niềm tin và lý tưởng, tôi thấy hơi nực cười, nhưng nếu tôi còn trẻ như cậu ta, chắc hẳn tôi cũng kiên quyết thay đổi cách sống. Hiện nay số phận chỉ cho tôi một con đường, chỉ có thể leo lên phía trên mà thôi. Theo cách nói của Triều Quyền, đó là chỉ có thể sống một cách tầm thường. Tôi không biết cái gì tạo nên sự tầm thường của tôi ngày hôm nay? Ngẫm nghĩ, tôi cũng thấy mình đã đồng hóa từ trong thể chế rồi.
“Triều Quyền,” tôi vỗ vai an ủi: “Thật lòng mà nói, trước đây anh đã đánh giá thấp chú, anh đúng có mắt như mù, chú mới chính là người lòng dạ sáng suốt. Trong Kinh Thánh có câu: Mọi thứ đang qua đi. Anh xin tặng chú một câu: Tất cả đang bắt đầu.”
Triều Quyền nghe tôi nói vậy, xúc động nói: “Anh hai, ý nghĩa của cuộc sống vốn không phải oanh liệt, hoành tráng. Biểu hiện của nó rất bình thản, nếu một dân tộc chỉ chăm chăm theo đuổi cái ý nghĩa oanh liệt hoành tráng ấy, vậy thì dân tộc đó nhất định sẽ phát điên mất.” Nói tới đây cậu ta lặng đi một lúc, sau đó nghiêm túc nói: “Anh, em đã nhận làm việc cho một công ty thương mại ở Thâm Quyến, trước khi đi, em chỉ muốn nhắn nhủ anh vài câu, anh không nên quá gần gũi với Bành Quốc Lương, hắn trọng dụng kẻ cờ bạc Ôn Hoa Kiên, nhất định không phải là thứ tốt lành gì. Trong Cục xúc tiến thương mại bọn em, ai chẳng biết Ôn Hoa Kiên là tên mê cờ bạc quên cả bản thân, nhiều người nói đã nhìn thấy bộ ba: Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên, Trần Thực vào ‘chuồng gà lớn’ ở Ma Cao. Ba người họ cùng một giuộc như ‘cáo chung hang’, nhất định không được vì leo lên trên mà bám vào cái thuyền trộm cướp đó.”
Lúc chia tay, tôi phát hiện hình như Triều Quyền đã trút được gánh nặng, còn tôi lại cảm thấy tâm tư càng thêm nặng trĩu. Con thuyền lớn Bành Quốc Lương là tàu trộm cướp sao? Tôi buồn bã,bước đi lững thững, cảm thấy mình như một tiêu bản thí nghiệm, những khuôn mặt trên đường kia cũng đều như những tiêu bản, hình như đều ở trên thuyền, có cái đi trên thuyền, có cái ngồi trong thuyền, có cái dựa vào mũi thuyền… thuyền cũng đủ hình dạng đủ kích thước, thế giới vốn do những con thuyền hợp thành. Có thể do uống quá nhiều rượu, mọi cảnh tượng hiện ra trước mắt tôi đều giống thuyền cả.
Tôi bước đi vô định, không hiểu sao bước chân lại đi về hướng Ủy ban thành phố. Lúc đầu tôi muốn về nhà, nhưng từ lâu tôi đã coi văn phòng làm việc là nhà. Đến cổng, tôi thấy xe của Lưu Nhất Hạc từ trong Ủy ban phóng ra, chuẩn bị rẽ về hướng sông Hắc Thủy. Bên tai văng vẳng tiếng dặn dò của Vương Triều Quyền, lòng tôi như mặt hồ lạnh ngắt. Tôi nhớ lại một câu nói trong bộ phim “Dersu Uzala” của đạo diễn Nhật bản Akira Kurosawa: “Mặt hồ lạnh ngắt, yên lặng, trong yên lặng ẩn giấu nguy cơ.” Nhưng nguy cơ là gì? Tôi cố ngoái nhìn về phía sông Hắc Thủy, nhưng không thấy bóng dáng chiếc xe của Lưu Nhất Hạc đâu cả. Cũng lúc đó trong đầu tôi hiện lên nét mặt tươi cười của ông ta, có lẽ nguy cơ cũng ẩn giấu dưới vẻ mặt tươi cười ấy, tôi cảm thấy nguy cơ đó không phải của riêng tôi, nhưng cũng không chỉ của riêng Bành Quốc Lương.
Từ khi Lưu Nhất Hạc nhậm chức Thị trưởng thành phố Đông Châu, quan hệ giữa Bành Quốc Lương và ông ta rất tế nhị. Quan hệ tế nhị là một cách ứng đối cực kỳ cao siêu, giữa tôi và Dương Hằng Đạt cũng là ứng đối, nhưng không phải cách ứng đối cao siêu đó, tuy vậy quan hệ giữa tôi và Dương Hằng Đạt ngày càng giống quan hệ giữa Bành Quốc Lương với Lưu Nhất Hạc. Tôi nhận thấy, sở dĩ tôi gần gũi Bành Quốc Lương hơn không chỉ vì chính miệng ông ta nói rằng tôi là người của ông ấy mà chủ yếu là vì chúng tôi có một điểm chung, đó là đều ngồi ghế cấp phó. Tay làm phó giỏi đố kỵ lắm, nói không được, lại giữ không được vị trí của mình. Muốn tự bảo vệ thì nhất thiết phải thủ lưỡi dao ngầm, tuyệt đối không được để người khác nắm đằng chuôi. Xem ra Bành Quốc Lương đã để người khác nắm đằng chuôi rồi, nhưng vì thế mà nói người ta là thuyền trộm cướp sao, như vậy quá phiến diện. Từ xưa tới nay, người lên “thuyền trộm cướp” quá nhiều, như vậy có thể nói họ cũng đều là trộm cướp sao? Nói thật, bất kể thuyền của ông ta là gì, cứ miễn là có thể đưa tôi đến những nơi mà tôi muốn là được. Hình như cách nghĩ của tôi quá thực tế, mà kỳ thực không phải cách nghĩ của tôi thực tế, chính vì tôi cũng được sáng tạo ra như vậy, đúng, tôi như nắm đất sét trong tay người nặn tượng, tôi đang sống nhưng quên thở, để tìm kiếm hơi thở, tôi phải sống một cách bạt mạng, hơi thở là gì? Chính là thở không ra hơi, nhưng tôi lại biến nó thành một loại thói quen, đây có phải là bệnh không? Tôi không biết, dù sao thì ai cũng sống như thế, còn nói đó là thực tế. Thực tế là cái gì? Chính là cái hư vô chết tiệt. Chính là con thuyền của bọn trộm cắp. Đó đều do quá khứ tạo thành. Bởi hiện thực cũng là con thuyền chết tiệt của bọn trộm cắp, người ngồi trên mép thuyền ấy ròng rã đi tìm kiếm hiện thực, kết quả hiện thực vẫn là hư vô.