Mỗi người đều thuộc về một cái bóng, tôi cũng vậy. Chúng ta là sản phẩm của cái bóng, đó chính là tồn tại. Thực ra mỗi người tồn tại từ trước khi cái bóng tạo ra, nó là con rắn trong vườn địa đàng, không phải rắn dụ dỗ con người, mà nó là đại diện của trí tuệ vĩ đại. Ngày nay con rắn đó nằm ngang trên mảnh đất Đông Châu, uốn khúc ngoằn ngoèo hướng tới phương xa. Nhưng lại như câu nói của Friedrich Wilhelm Nietzsche:(1) “Nhân loại là một con sông vẩn đục.” Ngày nay con sông ấy có màu đen, nằm vắt ngang trên mảnh đất trù phú Đông Châu, nó chính là “sông Hắc Thủy”. Sông Hắc Thủy mỗi ngày một đổi mới hơn, dù thế nó vẫn mang màu đen, bởi nó không chảy qua vùng hoàng thổ, bạch thổ, mà chảy qua vùng hắc thổ.
Thực ra, sông Hắc Thủy thuần nhất một màu, nó có thể hòa tan tất cả. Mỗi khi buồn, nghĩ lung tung, tôi hay tìm tòi ý nghĩa màu đen của sông Hắc Thủy, thực ra sinh mệnh đầu tiên đen tối, lại quay về với đen tối mà thôi. Phải nói rằng sông Hắc Thủy là mạch máu của hắc thổ. Khi nhận ra điểm này, tôi mới cảm thấy màu đen chính là tồn tại, mà mọi người cũng nên biết rằng chúng ta dùng con mắt để quan sát thế giới, mà con mắt là cửa sổ của tâm hồn, dù bên trong có thắp đèn sáng trưng, cửa sổ này vẫn màu đen. Đúng là ánh sáng đèn khiến tôi nhìn thấy rõ, đi từ bờ này sang bờ kia là nguy hiểm, đi lại giữa hai bên là nguy hiểm, ngoái cổ nhìn lại là nguy hiểm, run sợ là nguy hiểm, chần chừ do dự không tiến là nguy hiểm. Nguy hiểm là màu đen, thầm kín là màu đen, nguy hiểm đến từ sự thầm kín của màu đen.
Aristoteles nói: con người là động vật có tính chính trị, mà động vật thì đại bộ phận không nhìn thấy nguy hiểm, vì sao, vì bản năng, mà bản năng tồn tại là cơ bản nhất. Tôi không phải là người theo chủ nghĩa Aristoteles, nhưng tôi đồng ý người là “người chính trị”, nếu nói ranh giới của đạo đức là thiện và ác, lằn ranh của mỹ học là xấu và đẹp, phân giới của kinh tế là lãi và lỗ, vậy thì phân giới của quyền lực là “vòng trong” và “vòng ngoài”.
Theo lý mà nói, tôi thuộc vòng trong của Lưu Nhất Hạc, vì tôi được sự “hâm mộ” của ông ấy nên mới được chuyển từ Phòng nghiên cứu sang văn phòng Ủy ban thành phố. Khi đó ông ấy đương nhiệm Phó Thị trưởng, tuy tôi chỉ là Phó chủ nhiệm nhưng cảm thấy từ “vòng ngoài” được vào “vòng trong” đúng là mang một ý nghĩa phi thường, là mơ ước của nhiều người. Sở dĩ tôi nói được sự “hâm mộ” của Lưu Nhất Hạc, là cũng tương tự như câu: “Trên đời không sợ việc khó, chỉ sợ lòng người.” Khi tôi còn là Trưởng phòng Nghiên cứu, một lần Lưu Nhất Hạc giao cho tôi nhiệm vụ nghiên cứu một đề tài, nhiệm vụ không thuộc phạm vi của phòng tôi, sau khi hoàn thành, chủ nhiệm Ban nghiên cứu dẫn tôi cùng đến phòng làm việc của Lưu Nhất Hạc để báo cáo. Từ lâu tôi đã nghe Lưu Nhất Hạc rất hay đọc sách, quả thật hôm đó nhìn thấy tủ sách khiến tôi vô cùng kinh ngạc, hầu hết đều là sách kinh điển nổi tiếng về chính trị, kinh tế, trên bàn còn một cuốn Lịch sử Hy Lạp cổ đại đang đọc một nửa, mà bên cạnh còn một cuốn “Bút ký đọc sách” ghi dày đặc những dòng chữ. Hôm đó họp xong, tôi liền đến thư viện thành phố mượn cuốn sách Lịch sử Hy Lạp cổ đại để đọc. Ngày nào cũng thắp đèn đọc thâu đêm. Khi học đại học, tôi học lịch sử Trung Quốc, không nghiên cứu sâu về lịch sử phương Tây, cho nên đến khi đọc xong bộ sách này tôi không thể không rung động trước nền văn minh Hy Lạp cổ, nó phồn vinh về kinh tế, dân chủ về chính trị, triết học của nó tự nhiên, lại có nền văn hóa nghệ thuật xán lạn, nó không ngăn cản được cảm xúc trong tôi, hình như tình cảm xúc động đã thúc đẩy tôi so sánh nền văn minh Hy Lạp cổ với nền văn minh cổ đại Trung Quốc, và đem sự so sánh ấy viết thành “Bút ký đọc sử”.
Sau mấy tháng khổ công, mong ước duy nhất của tôi là nhận được sự tán thưởng của Lưu Nhất Hạc, mặc dù tôi không hiểu rõ về ông ấy, nhưng tôi biết Lưu Nhất Hạc mến mộ người tài. Nếu đúng là yêu và hiểu người tài, thì sau khi đọc “Bút ký đọc sử” của tôi, nhất định ông ấy sẽ gọi tôi lên gặp mặt. Tôi hồi hộp lo lắng tìm cách gửi cuốn “Bút ký đọc sử” cho thư ký của ông ấy, đợi ngày ông ấy gọi lên gặp, những ngày chờ đợi quả là một ngày dài hơn thế kỷ.
Một tháng sau, bỗng tôi nhận được điện thoại của Tống Đạo Minh, bảo rằng Thị trưởng Lưu cho gọi. Lần gặp mặt này đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc. Lưu Nhất Hạc không những bình dị dễ gần mà còn cởi mở thân thiện. Chúng tôi cùng bàn luận, tìm hiểu về đỉnh cao của chế độ dân chủ thành bang. Cuối cùng ông ấy cảm khái: “Làm chính trị mà không hiểu biết về lịch sử phương Tây thì không thể so sánh hiện thực của lịch sử, lại càng không thể có năng lực để quan sát phân biệt chân lý, nói gì đến giải phóng tư tưởng?” Sau lần nói chuyện đó không lâu, tôi được đề bạt lên làm Phó chủ nhiệm phòng Điều tra nghiên cứu. Phải nói đây là lần đầu tiên tôi thành công, mà còn là thành công đáng tự hào.
Sau khi được thăng cấp lên Phó phòng Điều tra nghiên cứu, tôi càng có cơ hội tiếp xúc với Thị trưởng Lưu. Tôi luôn để ý xem ông ta đọc loại sách nào, tôi cố tìm đọc sách nấy, sau đó viết cảm nhận gửi cho ông ấy xem, kiên trì trong vòng nửa năm, cuối cùng tôi được điều lên văn phòng Ủy ban. Tôi tự cho rằng như vậy tôi đã từ “vòng ngoài” vào được “vòng trong” của Lưu Nhất Hạc một cách thành công. Sau đó chưa đợi tôi đứng ổn định hai chân trong vòng thì Lưu Nhất Hạc đã được thăng chức Phó Tỉnh trưởng.
Tôi vẫn cho rằng, làm quan là một môn khoa học có sự đan xen giữa chính trị và triết học. Triết học làm quan của tôi là: “Kề cận với cái khát thì không muốn xa nước, ở xung quanh có cỏ, thì quyết không để thỏ nhảy ra ngoài núi.” Không chút nghi ngờ gì nữa, Lưu Nhất Hạc đã mất giá trị với tôi rồi, tôi nhất thiết phải chọn để vào một cái “vòng” khác.
Cựu Thị trưởng chuẩn bị lên Chủ tịch hội đồng nhân dân, cây cổ thụ có thể ôm được nhất đó là tân Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương. Tôi nghĩ ra cách diễn lại trò cũ, nhưng thử mấy lần mà chẳng thấy ông ta có phản ứng gì. Tôi lập tức thay đổi sách lược, cũng khó trách, Bành Quốc Lương là đối thủ chính trị của Lưu Nhất Hạc, ghét nhất phe của Lưu Nhất Hạc. Qua một thời gian kiên trì quan sát, tôi phát hiện Bành Quốc Lương không phải không thích đọc sách, mà chỉ là đọc khác loại với Lưu Nhất Hạc mà thôi. Lưu Nhất Hạc toàn đọc sách kinh điển chính trị, lịch sử, thì Bành Quốc Lương thích đọc “Hậu hắc học”, “Quyền thuật học”: “Trời sinh ra người, chúng ta có khuôn mặt, sâu bên trong có một trái tim. Nhìn bên ngoài, nó vừa to vừa rộng, ôm cả hai tay không xuể, hình như không thiếu những điều kỳ dị. Nếu quan sát một cách tinh tế, liền biết độ sâu của nó là vô hạn, nó đen không gì bì nổi. Phàm công danh phú quý, cung thất thê thiếp, gấm vóc ngựa xe, đều từ đó mà ra...” Các quan viên thích loại văn chương như thế, đại đa số là người giỏi dựa thế người khác để mưu lợi, thích được thuộc hạ vây quanh nịnh nọt.
Trên quan trường, phương pháp nịnh bợ tốt nhất, là nắm hành vi nịnh bợ của người khác, thế là tôi ngấm ngầm thu thập thông tin từ những người có quan hệ đối với Thị trưởng Bành, sau đó ghi vào tờ giấy, sáng sớm nhân lúc tạp vụ dọn phòng làm việc của lãnh đạo, tôi lẻn vào đặt thư lên bàn làm việc của Bành Quốc Lương, làm vậy thì Thần không biết, Quỷ không hay. Chiêu này quả thực rất linh nghiệm, chỉ ít lâu sau, tôi đã được sự tín nhiệm của ông ấy, việc lớn việc nhỏ gì cũng tìm tôi bàn bạc. Tôi nghiễm nhiên trở thành Phó thư ký của ông ấy, điều này khiến Tiêu Phúc Nhân đố kỵ, vì theo phân công thì Tiêu Phúc Nhân mới là Phó thư ký phục vụ Phó Thị trưởng Bành. Nói thực, mục tiêu của tôi đến Ủy ban làm việc cũng chính là để giành lấy vị trí của Tiêu Phúc Nhân. Hình như Tiêu Phúc Nhân nhận ra điều đó nên cũng có không ít việc gây hấn sau lưng tôi, kết quả Bành Quốc Lương sau một thời gian ngắn “rực lửa nhiệt tình” với tôi, từ từ bỗng nguội lạnh hẳn đi. Tôi suy nghĩ mãi mà cũng không lý giải nổi.
Trong lúc tôi đang buồn bực, đầu óc mụ mị, bỗng hào quang bừng sáng, tôi nằm mơ cũng không ngờ tới, Lưu Nhất Hạc từ tỉnh quay về nhậm chức Thị trưởng Đông Châu, đây đúng là “núi không dời, nước chuyển dòng”.
Sau khi nhậm chức Thị trưởng, Lưu Nhất Hạc vẫn coi trọng cả tôi và Tiêu Phúc Nhân. Phải nói Tiêu Phúc Nhân cũng do Lưu thị trưởng đề bạt, tôi cũng được Lưu thị trưởng cất nhắc. Trước mặt Lưu thị trưởng thì tôi và Tiêu Phúc Nhân cũng là “kẻ tám lạng, người nửa cân”; nhưng Tiêu Phúc Nhân là kẻ “già mưu sâu tính”, không đánh đổ được ông ta thì tôi tuyệt đối không còn cơ hội nào. Trên chính trường, thường nói “biết mình biết người”, Lưu Nhất Hạc cũng không ngoại lệ, tôi nghĩ ông ta quan tâm nhất, đó là mưu của Bành Quốc Lương, thế là tôi chọn phương pháp “một mũi tên trúng hai chim ưng”. Tôi viết thư báo chuyện Tiêu Phúc Nhân nịnh bợ Bành Quốc Lương cho Lưu thị trưởng. Tôi cho rằng khi nắm được những thông tin này Tiêu Phúc Nhân sẽ “thất sủng” trước mặt Thị trưởng Lưu, vậy mà không ngờ, kẻ thất sủng không phải Tiêu Phúc Nhân mà lại chính là tôi. Tôi không hiểu sao, rất nhiều việc Thị trưởng Lưu không giao cho tôi mà đều ủy thác cho Tiêu Phúc Nhân. Trong khi tôi suy mọi nẻo, thấy mọi sai lầm đều thuộc về Tiêu Phúc Nhân.
Cũng là cơ hội trời cho, hai hôm trước trong lễ hội mừng xuân, Tiêu Phúc Nhân chủ trì nghi thức khai mạc, anh ta cao giọng nói: “Kính mời Thị trưởng Lưu xuống đài khai mạc”, lúc đó tôi đứng bên Tiêu Phúc Nhân, nhìn bộ mặt củ cải của anh ta chẳng đỏ cũng chẳng trắng, không hề nhận ra là mình đã nói sai, mọi người trong hội trường hầu như cũng không ai nghe thấy, vẫn cứ vui mừng vỗ tay từng tràng. Tôi cho rằng Lưu Thị trưởng nhất định nghe rõ, chỉ có điều không biểu lộ ra mặt mà thôi, Tiêu Phúc Nhân nói như vậy là quá nghịch đạo, sau khi khai mạc xong nhất định có kịch hay để coi! Nhưng kết quả lại ngoài ý của tôi, kết thúc lễ hội cũng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Chẳng lẽ Lưu Thị trưởng không nghe rõ thật sao? Cũng có thể lúc đó còn đang ồn ào, nhầm lẫn một chữ “lên”, với chữ “xuống” chắc là Lưu thị trưởng không nghe thấy rõ. Ngoài ra, trước cán bộ các cấp mà nói Thị trưởng “xuống đài” có phải là rắp tâm nguyền rủa không? Tôi tức tốc viết thư tố cáo ngay sai phạm này, sáng sớm hôm sau đem đến, lẻn vào phòng đặt lên bàn làm việc của Thị trưởng Lưu. Kết quả là, buổi trưa tôi gặp Tống Đạo Minh ở nhà vệ sinh, anh ta vỗ vai tôi nói: “Ngọc Dân, thư anh viết cho Thị trưởng Lưu biên thành tập được rồi đấy, tên sách tôi đặt giúp anh là ‘Hậu hắc học II’ nhé!” Nói xong anh ta cười ha hả rồi bỏ đi.
Nhìn theo bóng lưng của Tống Đạo Minh xa dần, tôi mới tỉnh ngộ, thì ra mọi chuyện đều ở Tống Đạo Minh, những thứ tôi viết cho Thị trưởng đều do Tống Đạo Minh cất giữ. Bình thường anh ta và Tiêu Phúc Nhân như cùng thở chung một mũi, lẽ nào hắn khoanh tay nhìn tôi chơi xỏ Tiêu Phúc Nhân? Thế nào gọi là “hắc”? Chính là đây! Trầm luân mãi còn không gọi là hắc, tôi không thèm là “hậu hắc”, tôi trời sinh là “bạc trắng”, nhưng màu đen là cái gương sáng nhất. Chỉ có thấu qua màu đen mới nhìn rõ thế giới, mới nhìn rõ nhân tính. Tường phía tây của phòng họp ban Thường Vụ Tỉnh ủy, treo một tấm ảnh cực to mang khí thế hào hùng, tấm ảnh con sông Hắc Thủy - sông mẹ của thành phố Đông Châu. Mỗi khi tôi suy nghĩ lung tung, tôi thường đứng trầm ngâm trước nó, hình như nó dùng tiếng sóng để nói cho tôi biết: “Người thường đi về hướng cao, nước chảy theo hướng thấp”, đó là chân lý bất biến từ xưa đến nay! Theo đuổi chân lý có gì là sai? Lời nói, việc làm lớn nhất của nhân loại chính là nhận thức chân lý. Nhìn những con sóng lớn của sông Hắc Thủy gầm gào như dã tâm của bất cứ người nào, ai dám nói rằng mình theo con đường chính trị sẽ không có dã tâm? Tiếng sóng của sông Hắc Thủy chính là một minh chứng.