Tôi được điều động từ phòng Điều tra nghiên cứu của Ủy ban thành phố tới văn phòng phòng Tổng hợp 2. Mặc dù Lưu Nhất Hạc, đương nhiệm Phó Thị trưởng thường vụ rất hâm mộ tôi, nhưng người làm việc cụ thể lại là Triệu Trung – Trưởng phòng Tổng hợp 2, vì thế trong lòng tôi luôn cảm kích đối với Trưởng phòng Triệu Trung.
Phòng Điều tra nghiên cứu của Ủy ban tuy mang danh nghĩa là đội quân mưu trí của Thị trưởng, nhưng trừ một vài chủ nhiệm ra, những “thành phần mưu trí” cấp phòng trở xuống, chẳng ai có cơ hội được Thị trưởng, Phó Thị trưởng gọi đến gặp mặt; ngay cả cơ duyên muốn gặp thư ký, Phó thư ký Ủy ban cũng không có.
Sau khi học xong nghiên cứu sinh, tôi hiên ngang tiến vào “đại môn” của phòng Nghiên cứu. Ở đây có không ít khẩu hiệu viết về phong cách ứng xử, đối đãi, đại loại “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”. Nhưng ngược lại, thực tế vẫn chẳng gặp được người nào nhiệt tình chào đón, toàn kiểu thái độ “tôi không cần để ý đến anh; anh cần, thì phải chú ý đến tôi”. Tôi mong đợi, tìm kiếm tất cả những gì có thể là cơ hội của tôi, giống như một con dơi trông đợi bóng đêm. Tôi biết bóng đêm là cội nguồn của ánh sáng, mà ánh sáng là một dòng sông tư tưởng, muốn tìm kiếm nguồn gốc ánh sáng, nhất định phải lội ngược dòng mà lên.
Cuối cùng, cơ hội cũng đã đến, đương nhiệm Phó Thị trưởng thường vụ Lưu Nhất Hạc giao cho phòng Điều tra nghiên cứu phải đi thực tế, thực hiện đề tài quan trọng, phải điều tra toàn diện, nắm vững và đầy đủ tình hình “Xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư” toàn thành phố, tổ điều tra do Phó chủ nhiệm phòng nghiên cứu Lý Ngọc Dân phụ trách. Khi ấy phòng nghiên cứu chỉ có hai thạc sĩ hệ chính quy, trong đó có tôi, lại làm đúng ở phòng đầu tư vốn nước ngoài, thế là tôi trở thành chủ bút của đề tài này. Trong quá trình điều tra, tôi phát hiện một số vấn đề rất nghiêm trọng liên quan đến thương hiệu giả, vốn đầu tư nước ngoài giả. Nhưng Lý Ngọc Dân chỉ thị: “Viết những vấn đề đó qua loa nhẹ nhàng, chủ yếu viết về thành tích, vì toàn bộ báo cáo điều tra nghiên cứu sẽ được đăng trên Đông Châu nhật báo!” Tôi rất hiểu tâm tư Lý Ngọc Dân, bởi gần đây có tin Lưu Nhất Hạc vì mến mộ ông ta mà muốn điều lên làm Phó chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban, nếu tin đồn là xác thực, vậy thì kết quả đợt điều tra này có khả năng sẽ quyết định việc đi hay ở của Lý Ngọc Dân.
Từ trước đến nay, làm việc gì tôi cũng đều có chuẩn bị. Tôi đoán: nếu Lưu Nhất Hạc chỉ muốn đăng bài này lên Đông Châu nhật báo nhằm tuyên truyền thành tích nổi bật của mình về công tác Xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư, thì việc viết sẽ quá dễ dàng đối với phòng Tổng hợp 2, nhưng chưa biết chừng ông ta cũng muốn hiểu rõ một số tình hình thực tế để tìm ra biện pháp thích hợp, nhằm mở hướng đi mới cho việc Xúc tiến đầu tư thương mại của thành phố, nên mới yêu cầu phòng điều tra nghiên cứu đi thực tế để viết báo cáo. Vì thế tôi viết hai bản, một bản “báo cáo điều tra nghiên cứu” theo hướng chấp hành chỉ thị của Lý Ngọc Dân, nhưng tôi cũng viết riêng một bản đánh giá trên cơ sở tình hình thực tế mà tôi điều tra được (Phần này tôi viết cô đọng, xác định nguyên nhân, biện pháp khắc phục, đưa ra những kiến giải chính xác, triệt để đối với toàn bộ những mặt còn yếu trong công tác “Xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư của toàn thành phố”). Tôi dự kiến giữ lại bản đánh giá này để làm tư liệu bảo lưu của riêng mình. Đương nhiên bản báo cáo viết theo chỉ thị của Ngọc Dân, tôi cũng viết chỉn chu, từ trong đáy lòng, tôi vẫn mong bản báo cáo của ông ta sẽ được Lưu Nhất Hạc hài lòng đón nhận.
Làm việc ở phòng Điều tra nghiên cứu đã năm năm, cấp bậc cũng đã từ nhân viên chuyên trách leo lên đến nhân viên điều tra nghiên cứu chính thức cấp phòng, nhưng cảm giác của tôi hoàn toàn trống trải, xung quanh chỉ là một bức tường nhìn không thấy, sờ không được, nhuốm thứ ánh sáng mờ ảo, lạnh lẽo. Nhiều khi muốn tôi cũng không thể đập đầu vào tường, dù tường lúc nào cũng ở phía trước. Tôi không muốn trở thành người dưới đất, tôi ghét công thức, ghét biểu bảng, ghét tất cả cái gì có hình vẽ, sơ đồ. Tôi ngầm hạ quyết tâm, nhất định phải “đập đầu vào tường một lần”, nếu không sẽ không biết mình còn sống hay đã chết. Cuối cùng thì “ông Trời cũng không phụ lòng người có tâm”. Sau khi hoàn thành đề tài điều tra nghiên cứu, Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc gọi điện bảo Lý Ngọc Dân dẫn “chủ bút” của bản báo cáo điều tra nghiên cứu cùng lên phòng làm việc của ông ấy để báo cáo tổng kết. Thế là tôi vượt qua cả Phó, Trưởng phòng của phòng Đầu tư vốn nước ngoài, bất ngờ được “đụng đầu vào tường”.
Đây là lần đầu tiên tôi được trực diện với Phó Thị trưởng Lưu, ấn tượng đó là: ông ta là người bình dị, dễ gần, thân thiện. Điều này càng khiến tôi tin tưởng mình đã được “đụng đầu vào tường”. Triệu Trung cũng ở đó, hiền hòa dễ gần như Phó Thị trưởng Lưu, nhưng nét mặt có chút căng thẳng, mặc dù trong phòng bật điều hòa nhưng anh ta vẫn dùng khăn giấy lau mồ hôi liên tục. Chắc có lẽ vì béo quá!
Lý Ngọc Dân trình bày báo cáo với vẻ tự tin, nhưng được nửa chừng, tôi chợt phát hiện nụ cười trên gương mặt của Phó Thị trưởng dần tan biến, tuy vẫn thể hiện vẻ điềm đạm ôn hòa nhưng trong đó có sự nghiêm nghị. Nghe Ngọc Dân đọc báo cáo tổng kết xong, ông ta trầm tư một lúc rồi đưa ra mấy câu hỏi, Ngọc Dân trả lời vô cùng qua quýt. Nghe mấy câu hỏi của Phó Thị trưởng Lưu mà tôi mừng thầm, bởi mấy câu hỏi này xoáy vào những điểm yếu trong công tác “Xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư” của thành phố. Xem ra Phó Thị trưởng Lưu không giao đề tài này cho phòng Tổng hợp 2 – những tay viết kỳ tài “văn chương khoa cử, đẹp lòng người nghe”, mà lại giao cho phòng Điều tra nghiên cứu, chính là muốn hiểu thực chất tình hình, muốn nghe báo cáo về những mặt yếu kém! Nhưng bản báo cáo của Lý Ngọc Dân lại trổ tài ca tụng thành tích, ngợi khen công đức của lãnh đạo trong công tác xúc tiến thương mại, rõ ràng không thể nhận được sự hài lòng của Phó Thị trưởng Lưu. Trong khi đó, các sai phạm, yếu kém, những nguyên nhân, đối sách giải quyết các vấn đề yếu kém thì tôi đã nắm quá chắc và viết sẵn thành tài liệu nghiên cứu riêng, đến nay hầu như đã thuộc lòng.
Lưu Nhất Hạc tuy không tỏ thái độ gì trước bản báo cáo tổng kết của Lý Ngọc Dân, nhưng bất ngờ yêu cầu tôi phát biểu bổ sung, khiến Lý Ngọc Dân lúng túng ra mặt. Trước đây, vì giữ thể diện cho ông ta, tôi phải uốn nắn câu nói theo khẩu khí ông ấy, nhưng giờ đây, tôi đã làm việc năm năm ở phòng Điều tra nghiên cứu của Ủy ban thành phố, lần đầu tiên được thể hiện mình trước mặt Phó Thị trưởng. Tôi là ai chứ, chẳng qua chỉ là một nhân viên cấp phòng! Nhưng có mấy ai trong số công chức được có cơ hội ngồi đối diện Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc để “báo cáo tổng kết” chứ? Không có, tuyệt đối không có! Đây là cơ hội may mắn, giống như chiếc “bánh có nhân”, đặt ngay trước mặt, nên tôi không chỉ muốn ăn hết, mà còn muốn tiêu hóa hết nó vào cơ thể, biến cái “bánh có nhân” này thành chất dinh dưỡng và hấp thụ toàn bộ, đến mức một chút cặn bã cũng không muốn thải ra.
Sau khi tâm trạng ổn định, tôi bắt đầu thao thao bất tuyệt, giải thích cặn kẽ, không những nói thẳng, nói trúng các vấn đề yếu kém một cách cụ thể, chính xác mà còn đưa ra những biện pháp giải quyết một cách triệt để và khéo léo. Sau khi nghe ý kiến phát biểu bổ sung của tôi, Phó Thị trưởng Lưu rất phấn khởi, ông ta bảo tôi soạn lại toàn bộ báo cáo theo quan điểm mà tôi vừa trình bày, sau đó ông ấy còn có một quyết định khiến tôi phải sững sờ: bảo Lý Ngọc Dân và Triệu Trung về trước, còn tôi ở lại.
Tôi bỗng thấy lo lắng, tôi biết lần này đã va được đầu vào bức tường thật sự, nhưng không chừng còn nghiêm trọng hơn thế, biết đâu là va vào một nòng súng. Tôi, một nhân viên cấp phòng, trước đây chưa hề được đối diện trực tiếp với Thị trưởng, chỉ vài lần ngồi trong hội trường nghe Phó Thị trưởng Lưu nói chuyện ở phía bàn Chủ tịch. Cũng có vài lần trong giờ nghỉ trưa các vị lãnh đạo đi ăn cơm ở nhà ăn cao cấp nên tôi cũng loáng thoáng thấy mặt. Những lúc đó, tim tôi đập thình thịch, cảm thấy sợ sệt đến mức không dám cất tiếng chào, cũng chẳng có can đảm nhìn thẳng… Thế mà hôm nay, một mình ngồi đối diện với Phó Thị trưởng ngay trong phòng làm việc của ông ấy, đây không phải va vào nòng súng thì là gì chứ?
Lúc này đây, tôi hận không thể biến ngay thành con chuột để đào cái hang mà chui vào, bởi bốn bên đều là tường vây quanh, lấy gì cho tôi ẩn nấp chứ, bây giờ dù có duy nhất một cái bẫy chuột, tôi cũng không chút do dự mà lập tức nhảy vào… nhưng đây là văn phòng làm việc, tôi có thể chui vào đâu được chứ? Tôi chợt nghĩ, thực ra mình đã sớm chui vào miệng mèo rồi, muốn sống, chỉ có một cách duy nhất là nhổ ngay cái răng của nó. Dù sao tôi cũng không thể để tuột mất cơ hội chỉnh sửa bản tài liệu riêng thành báo cáo đưa cho Phó Thị trưởng Lưu. Sợ Phó Thị trưởng nghi ngờ, tôi liền giải thích một loạt lý do cho hợp lý, muốn để ông ấy tin rằng bản báo cáo này chẳng qua cũng chỉ là tôi thêm ý kiến phát biểu bổ sung và sửa từ bản báo cáo chính của Lý Ngọc Dân. Nhưng giải thích xong tôi vẫn thấy chột dạ, có nhiều phần tôi “giấu đầu lại hở đuôi”.
Phó Thị trưởng Lưu có vẻ như không để ý tới “tiểu xảo” của tôi, càng đọc mắt ông ta càng sáng lên, cuối cùng đập bàn phấn khởi nói: “Đồng chí Hoàng Tiểu Minh, trận này đồng chí đánh mai phục rất tốt, đây mới chính là bản báo cáo điều tra mà tôi cần, không chỉ thực sự hiểu được tình hình mà còn đưa ra được những phương án cải thiện. Tiểu Minh, đồng chí biết vì sao tôi yêu cầu một mình đồng chí ở lại đây không?”
Ôi! Đây mới là “việc đời khó lường”, không ngờ va vào nòng súng lại may hơn va vào tường. Nếu va vào tường, cùng lắm cũng chỉ u đầu chảy máu, còn khi va vào họng súng thì không có cơ hội sống sót. Xem ra tôi không chỉ gặp vận may sống sót, mà còn “gặp họa thành phúc”. Khi mới vào phòng nghiên cứu, tuy không dám tự so sánh là “ngọa long” nhưng cũng có thể nói là “ngọa hổ”. Phòng Nghiên cứu được mệnh danh là “chiếc túi trí tuệ” của Thị trưởng, nghe vậy cũng khiến người ta hứng khởi, không hiểu sao năm năm trong vỏ ốc, nay vũng nước bỗng biến thành “đồi ngọa long”, mỗi ngày đều như “ngày xuân đẹp, giấc xuân tươi”. Biết bao lần lời của Lưu Huyền Đức khuyên Gia Cát Khổng Minh văng vẳng bên tai: “Nam tử hán, sao có thể chỉ đợi chết già nơi rừng núi, mà không phát huy tài trí hữu dụng?” Chẳng lẽ Lưu Nhất Hạc học theo cách của Lưu Bị tìm Khổng Minh? “Trên gối biết ai vua, ai giặc, bỗng trang hoàng tộc viếng lều con. Ai hay chỉ một giờ tâm sự, được cả giang sơn năm chục năm tròn.” Lẽ nào cuối cùng mình cũng được “hoàng tộc ghé lều con” rồi!
Vẫn chưa biết trong “hồ lô” của Lưu Nhất Hạc chứa “thuốc” gì, tôi không dám mở miệng, chỉ thận trọng lắc đầu. Ông ta cười khà khà nói: “Tiểu Minh à, hiện nay trong số hơn 700 người của Ủy ban, không ít thạc sĩ giả từ các ‘cửa sau’ chen vào, những ai văn bằng thế nào, tôi đều biết rất rõ, tôi đang cần một tú tài thật sự, có tài năng thật sự ở cạnh tôi.”
Tôi bẽn lẽn nói: “Phó Thị trưởng Lưu, trong phòng Tổng hợp 2, ai chẳng là cây bút cừ khôi, họ là những tú tài thật thì tất nhiên cũng có tài năng thật mà!”
Phó Thị trưởng Lưu nói vẻ trịnh trọng: “Đúng vậy, nếu viết theo kiểu văn chương khoa cử thì ai trong phòng Tổng hợp 2 cũng là cây bút cừ khôi, nhưng không có tư tưởng. Tư tưởng tôi nói ở đây không phải là đạo đức giáo điều, mà là sự sáng tạo. Bản báo cáo tổng kết vừa rồi của Lý Ngọc Dân chính là theo kiểu văn chương khoa cử, còn bản báo cáo của cậu đưa cho tôi mới là có tính sáng tạo, tôi biết cả hai bản báo cáo này đều chính tay cậu viết, xem ra tham vọng của cậu khá lớn đấy, thế nào, cậu có muốn chuyển đến phòng Tổng hợp 2 không?”
Nói thực, từ ngày cải cách mở cửa đến nay, tai tôi luôn phải nghe những lời hô hào giải phóng tư tưởng. Ở phòng điều tra nghiên cứu của Ủy ban cũng đã năm năm, nghe thấy, nhìn thấy không ít, rõ ràng tư tưởng vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn, vẫn cứ trói buộc chúng ta, văn chương theo kiểu khẩu hiệu của một vị Phó Thị trưởng cũng là điều không có gì lạ, tất cả các lãnh đạo đều nói bốn chữ “giải phóng tư tưởng”, nhưng Phó Thị trưởng Lưu không chỉ nói tới “tư tưởng” theo kiểu thói quen, mà nói tư tưởng đi cùng với sự “sáng tạo”, điều này khiến tôi kính phục. Tôi vẫn luôn cho rằng Trung Quốc chưa có triết học, chỉ có chủ nghĩa kinh nghiệm chưa hình thành hệ thống, đó chính là nguyên nhân chúng ta chỉ ý thức được kinh tế trong sự phát triển quốc gia mà chưa ý thức về mặt chính trị, văn hóa, xã hội trong sự phát triển ấy. Chủ thể của “tư tưởng” là quyền uy chính trị, thì nói gì đến sáng tạo?
Giờ đây, hai tiếng “sáng tạo” được nói ra từ miệng của Phó Thị trưởng Lưu, khiến tôi vô cùng xúc động: “Không ngờ anh là một chính trị gia mà lại thấu đáo đến vậy, đúng là phúc của nhân dân Đông Châu ta!”
Đó là lời tâng bốc tự đáy lòng của tôi. Con người sống trên đời phân nửa cũng vì hai chữ “tôn trọng”, nếu không thế, người ta theo đuổi thành công làm gì? Tôi chịu đựng gian khổ ở Ủy ban thành phố đã năm năm, không hiểu có phước để làm “phượng hoàng bay lượn giữa trời cao” không nữa. Tuy nói vĩ đại xuất phát từ chịu đựng gian khổ, nhưng mấy ai chỉ dựa vào chịu đựng mà trở nên vĩ đại? Người bình thường có thể xem đó là cuộc sống bình thường, còn người có chí hướng và tài năng, nếu phải chịu đựng chắc sẽ chết! Bởi chỉ ngồi lâu một chỗ đã khiến lòng chán nản, hai mắt tối sầm, huống hồ cả đời? Số phận con người không thể xây dựng trên chân lý như “hai nhân hai là bốn” được, người ta sống chỉ cần có tia sáng hy vọng mà thôi. Không ngờ tôi va vào bức tường mà hóa gặp vận may!
Tôi và Lý Ngọc Dân, người trước kẻ sau được điều đến Văn phòng Tổng hợp của Ủy ban, tuy chỉ là điều động bình thường, nhưng nhân viên của Văn phòng Ủy ban không giống nhân viên bình thường, sẽ có nhiều chỗ dựa hơn. Do được Triệu Trung quan tâm, nên sau khi về phòng Tổng hợp 2, tôi làm việc tích cực đến quên mình, lúc nào cũng đứng trên lập trường của anh ta, toàn tâm toàn lực bảo vệ lợi ích của anh ta.
Nhưng dần dần tôi phát hiện phòng Tổng hợp 2 dưới sự lãnh đạo của Triệu Trung, không những không phải là thánh địa của tư tưởng sáng tạo, mà còn là “đại bản doanh quân quyền tuyệt đối, thực thi chiến lược nuôi ong”. Hằng ngày, ngồi trong văn phòng, tôi cảm thấy giống như chui vào thùng nuôi ong vậy. Thảm thương nhất, Triệu Trung cho rằng việc tôi được điều về phòng Tổng hợp 2 là do công sức của hắn ta, nên nghiễm nhiên tự phong cho mình là ân nhân của tôi, biến một đại tú tài trong con mắt Phó Thị trưởng Lưu như tôi, trở thành một thư ký quèn của hắn ta, thậm chí còn coi tôi như thằng đầy tớ chỉ để sai vặt, suốt ngày bị quát chỗ này, hét chỗ kia, ngày ngày phải ngậm đắng nuốt cay, không chỉ mất đi vẻ thanh nhàn khi làm việc ở phòng Điều tra nghiên cứu, hơn thế còn bị đàn áp, lăng nhục làm mất đi lòng tự trọng.
Triệu Trung còn sử dụng thủ đoạn chuyên chế nhất đối với tôi, không cho tôi cơ hội tiếp xúc với Phó Thị trưởng Lưu, nhưng những bài phát biểu của Phó Thị trưởng lại thuộc “bản quyền” của tôi. Rõ ràng Triệu Trung đang đề phòng tôi, mặc dù tôi tự kiềm chế, cẩn thận từng ly từng tí nhưng hắn ta luôn hiểu rằng, nếu có cơ hội tiếp xúc với Phó Thị trưởng Lưu, cả phòng chỉ mình tôi là có khả năng thay thế hắn ta nhất. Dù tôi là nhân viên cấp phòng, nhưng một khi muốn, Phó Thị trưởng Lưu đổi ba chữ “nghiên cứu viên” thành một chữ “trưởng” quả là dễ như trở bàn tay.
Vậy mà, từ sau khi vào làm việc ở phòng Tổng hợp 2, Phó Thị trưởng Lưu hình như lại hoàn toàn quên mất tôi. Toàn bộ báo cáo tôi viết, đều phải thông qua Triệu Trung trước, sau đó hắn ta chẳng nói năng gì, tự cầm những báo cáo tôi phải vất vả viết ra ấy đem trình bày với cấp trên. Theo trực giác của tôi, trong lòng Phó Thị trưởng Lưu ít nhiều có điều trắc ẩn, nhưng tại sao không bao giờ gọi gặp tôi nữa? Tôi suy nghĩ nát óc cũng chẳng thể hiểu nổi, nhưng có một việc khiến tôi chú ý là khi mới đến phòng Tổng hợp 2, Hứa Trí Thái, Âu Bối Bối và Chu Đại Vỹ đều rất lạnh nhạt với tôi, tôi nghi ngờ là họ ganh tỵ vì văn bằng, cấp bậc của tôi cao hơn, sẽ cản trở con đường tiến thân của họ. Sau một thời gian khá lâu, tôi mới phát hiện ra bản chất sự việc không phải như vậy, mấy người đó hững hờ với tôi bởi họ cho rằng Triệu Trung đưa tôi về phòng này, nên tôi là người của Triệu Trung.
Tôi nghĩ bụng, Phó Thị trưởng Lưu phát hiện ra năng lực của tôi, lão béo Triệu Trung này có liên quan gì chứ? Hắn ta ký vào giấy tiếp nhận, chẳng phải là theo lệnh của Phó Thị trưởng Lưu sao? Thực ra về mặt thủ tục, hắn ta cũng không hề tốn công tốn sức gì, những việc cụ thể đều do phòng nhân sự làm, tôi tôn trọng chỉ vì hắn ta là Trưởng phòng Tổng hợp 2, vậy mà hắn ta lại cứ tự cho mình là ân nhân của người khác, cả ngày nắm đầu tôi như nô bộc để sai khiến. Bị mọi người cô lập, tôi đành ngả về phe Hứa Trí Thái, Âu Bối Bối và Chu Đại Vỹ. Khổ một nỗi, họ đâu có muốn đón nhận tình cảm của tôi, tôi biết họ không tin tôi vì thế tôi cũng phải vài lần nói xiên xỏ, làm Triệu Trung sượng mặt trước mọi người, đến lúc đó ba người họ mới dần tiếp nhận tôi.
Nhưng như vậy nghĩa là tôi đã đắc tội với Triệu Trung. Đừng tưởng vẻ ngoài hắn ta béo như con lợn, thực ra bụng dạ lại quá nhỏ nhen. Tôi biết Triệu Trung chỉ chờ cơ hội “túm tóc” tôi, nên tôi làm việc càng chăm chỉ, thận trọng hơn để không cho hắn ta cơ hội ấy. Nhưng người nào đã bị để ý rồi thì cũng khó tránh, uống nước lạnh nhất định sẽ bị ê răng mà! Thư ký của Thành uỷ đến dự buổi Hội nghị điều tra nghiên cứu về vấn đề “Xúc tiến thương mại” của thành phố do Phó Thị trưởng Lưu chủ trì, hội nghị này tôi không tham gia, chỉ có Triệu Trung và Chu Đại Vỹ đi dự. Thư ký Thành ủy phát biểu đưa ra nhiều vấn đề quan trọng, Triệu Trung ghi âm lại, đương nhiên Phó Thị trưởng Lưu cũng phát biểu, bài phát biểu của ông ta là do tôi viết. Triệu Trung họp về, đưa cho tôi cây bút ghi âm, bảo tôi ngay đêm hôm đó phải soạn lại hai bài phát biểu.
Tôi thầm nghĩ, ông đem Chu Đại Vỹ đi cùng thì giao cho cậu ta làm, sao lại giao cho tôi? Nghĩ vậy nên tôi nói: “Bài nói chuyện của Phó Thị trưởng Lưu là do tôi viết, hiện đã thành văn bản, còn sửa gì nữa?”
Triệu Trung cười không mấy thiện ý: “Phó Thị trưởng Lưu không phát biểu theo bài cậu viết, mà trình bày theo ý riêng của ông ấy.”
Tôi không nói gì được nữa, đành phải nhận cây bút ghi âm để vào cặp tài liệu. Cây bút này do Triệu Trung vừa xin Cục Tài chính cho thanh toán mua, giá một nghìn rưỡi nhân dân tệ, sử dụng chưa đầy một tháng, còn mới cứng. Hết giờ làm, tôi buộc cặp tài liệu vào gác-ba- ga xe đạp. Trên đường về nhà, tôi ghé vào chợ mua mấy mớ rau theo lời dặn từ sáng của bà xã. Tôi dựng xe, cúi xuống mua rau, trả tiền xong, đặt rau vào giỏ xe phía trước, quay lại nhìn bỗng không thấy cặp công văn đâu nữa.
Tôi không biết bị người ta lấy trộm hay là rơi dọc đường, ngẩn người trong giây lát, hộc tốc đạp xe quay lại, vừa đi vừa nhớ ra mọi ngày đều buộc cặp tài liệu vào sau xe rất cẩn thận, từ trước đến nay không hề bị rơi, nhất định bị lấy trộm trong lúc mua rau rồi. Nếu bị trộm thì sao tìm lại được chứ, cặp tài liệu không quý, quan trọng là mất cái bút ghi âm, đây đúng là tôi chủ động đưa đầu cho Triệu Trung nắm tóc rồi.
Tôi buồn bã trở về nhà, kể đầu đuôi sự việc cho bà xã nghe. Bà xã rất thấu lý đạt tình, không hề trách mắng câu nào, lẳng lặng mở tủ lấy một nghìn rưỡi tệ đưa cho tôi, thời gian này mẹ vợ tôi đang nằm viện, đây là số tiền để dành trả tiền thuốc men viện phí. Tôi để tiền lại tay bà xã, bà xã nói: “Mất bút ghi âm, mình không đền người ta mà xong được sao?” Tôi cúi đầu buồn bã nói: “Đâu có đơn giản như thế, Phó Thị trưởng Lưu quản lý mấy chục cơ quan cấp dưới, phòng Tổng hợp 2 không thể mở miệng nói làm mất bút ghi âm bài nói chuyện được.” Bà xã an ủi: “Việc xảy ra rồi biết làm thế nào, anh cứ gọi điện nói thật, xin lãnh đạo bỏ qua, có lẽ cũng không đến nỗi nghiêm trọng.” Tôi chán nản: “Thực ra mất bài nói chuyện của lãnh đạo cũng không lo, kiểu gì chẳng có người ghi âm lại, chỉ là bấy lâu nay Triệu Trung vẫn đang muốn nắm thóp anh, không hiểu từ chuyện này, hắn ta xé to thành chuyện gì nữa.”
Bà xã tỏ ra lo lắng, khuyên tôi đi tìm Lý Ngọc Dân. Tôi sực tỉnh, đúng rồi, tôi và anh ta cùng từ phòng Điều tra nghiên cứu chuyển về đây. Hồi ở đó, tôi từng là cánh tay đắc lực của anh ta, hiện nay anh ta là Phó chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban, chẳng nhẽ lại khoanh tay đứng nhìn, thấy chết mà không cứu? Tôi bỏ cả cơm chiều, đánh xe đến nhà Lý Ngọc Dân.
Lúc đến, vợ anh ta ra mở cửa. Mấy năm làm cùng nhau, năm nào tôi cũng đến chúc tết nên vợ anh ta cũng quen tôi, vui vẻ mời tôi vào phòng khách. Lý Ngọc Dân đang vừa ăn vừa xem tivi, thấy tôi bước vào, cũng chẳng thèm nhích mông, chỉ hất hàm ý bảo tôi ngồi. Tâm trạng tôi đang rối bời, cũng chẳng dám ngồi, chỉ ghé nửa mông xuống thành trường kỷ, buồn bã lo lắng nói chuyện mất cặp tài liệu. Lý Ngọc Dân vừa gặm đùi gà vừa hỏi: “Đã báo cáo với Triệu Trung chưa?” Tôi không coi anh ta là người ngoài nên chỉ nói dạo này ít quan hệ gần gũi với Triệu Trung. Lý Ngọc Dân cũng không tỏ thái độ gì, chỉ buông đúng một câu: “Phải báo cáo với Triệu Trung trước.” Rồi như không để ý gì đến tôi nữa.
Tôi ngượng ngùng ngồi lại một lúc, nghĩ bụng: Lý Ngọc Dân, mày cũng chỉ như con c*... của người ta mà thôi! Thấy bộ dạng quyết phủi tay làm ngơ của anh ta, tôi tức quá đứng dậy cáo từ, dù sao tôi cũng không tin mình không thể vượt qua được ngọn núi lửa này. Vợ Lý Ngọc Dân thấy chồng mình có phần quá đáng, vừa trách chồng vừa tiễn tôi ra cổng.
Ra khỏi nhà Lý Ngọc Dân, ngước nhìn lên trời cao, bất ngờ thấy một ngôi sao băng xẹt ngang, làm màn đêm vỡ toác, tôi bỗng tỉnh ngộ, nếu ngôi sao này không xé rách màn đêm, ai biết đã từng có sự tồn tại của nó? Xem ra nó cũng chỉ là lấy cái tồn tại đổi lấy tồn tại, tôi cần phải học ngôi sao này, một khi đã xuất phát thì không hỏi chặng đường về, thực ra con người không phải đã đi là đi vĩnh viễn không thể quay đầu. Đánh kẻ chạy đi, ai nỡ đánh kẻ chạy lại. Nghĩ tới đây, tôi liền lấy điện thoại gọi tới nhà Triệu Trung.
Triệu Trung uể oải nhận điện thoại, hắn ta nghe tôi báo cáo xong, mãi sau vẫn chẳng thấy nói gì, tôi gọi mấy lần “Trưởng phòng Triệu”, lúc đó hắn ta mới rặn ra từng tiếng: “Tiểu Minh, việc này rất nghiêm trọng đấy, ngày mai tôi báo cáo với Văn phòng Đảng ủy rồi tính sau nhé.” Nói xong dập máy “cộp” một cái, gác máy luôn.
Tôi đứng chết điếng hồi lâu, thế là Triệu Trung có cơ hội làm khó tôi rồi! Từ khẩu khí trong điện thoại, tôi biết hắn ta không chỉ đem chuyện mất bút ghi âm nâng lên thành “sai lầm chính trị”, mà còn hoài nghi tôi cố ý lưu giữ bút ghi âm, lúc này tôi chẳng còn cách nào khác, đành phải cầu cứu đến Vương Triều Quyền – chồng của Âu Bối Bối. Vương Triều Quyền làm ở Cục xúc tiến thương mại, lại phụ trách làm báo cáo, phần ghi âm bài nói chuyện của thư ký Thành ủy và Phó Thị trưởng Lưu nhất định có trong tay cậu ta.
Quả nhiên, lúc tôi gọi điện thoại, cậu ấy vừa lúc chỉnh lý thu âm xong. Trong mắt tôi, Vương Triều Quyền không những là người chính trực mà còn rất tài hoa, chỉ là không hiểu chính trị nên mãi không thăng tiến được. Tôi phóng xe đến ngay văn phòng Cục xúc tiến thương mại.
Tôi bước vào khi cậu ta đang phô tô tài liệu, thấy tôi cậu ta nhiệt tình nói: “Đúng lúc em vừa làm xong, vẫn còn sớm, chúng mình tìm nơi nào đó uống vài cốc, thế nào?”
Tôi cười đau khổ: “Thứ lỗi cho tôi nhé, lăn lộn chốn quan trường bao năm, cậu vẫn chưa hiểu rõ câu: ‘không sợ việc chưa tốt, chỉ sợ người chưa tốt’ hay sao? Mai báo cáo giao ban, tôi sẽ là con thiêu thân, người ta đang đợi tôi tự bay vào lửa đấy!”
Vương Triều Quyền thấy tôi quá lo lắng, vỗ vai tôi, nói vẻ thông cảm: “Tiểu Minh, xe đến trước núi ắt có đường, kiểu gì chẳng vượt qua được!”
Chúng tôi chia tay, tôi phóng xe nhanh về nhà, ruột gan nóng như lửa đốt. Sáng sớm mai tôi nhất định phải hoàn thành hai việc: Thứ nhất, chỉnh lý xong tài liệu ghi âm và in ra; thứ hai phải mang theo một nghìn rưỡi tệ của vợ đưa cho. Tôi sẽ đem cả hai thứ này giao cho Triệu Trung ngay trước mặt mọi người, thằng béo chết tiệt, tao thử xem mày giở được trò gì?
Nhưng sáng hôm sau, Triệu Trung lại không xuất hiện, Bối Bối thấy tôi lầm lì lật mấy trang báo, bèn đến nói tôi biết hắn ta đã đến phòng làm việc của Tiêu Phúc Nhân, rất có thể để báo cáo chuyện của tôi. Tôi bực bội đặt tài liệu ghi âm và một nghìn rưỡi tiền lên bàn làm việc của Triệu Trung. Hứa Trí Thái và Chu Đại Vỹ thấy tôi có vẻ khác thường, không hiểu đã xảy ra chuyện gì, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau. Chắc Vương Triều Quyền đã nói cho Bối Bối đã biết tình trạng của tôi, nên cô ấy đã nói sơ qua với Hứa Trí Thái và Chu Đại Vỹ.
Hứa Trí Thái tỏ vẻ bất bình: “Chuyện cỏn con vậy mà phải làm toáng lên thế sao? Tiểu Minh, theo tôi số tiền kia cậu cứ chia đều cho các bộ phận bên dưới, mỗi nơi một ít. Nói cho cậu hay, trước đây Triệu Trung cũng làm mất bút ghi âm một lần rồi.”
Đang nói, thấy bộ mặt lợn của Triệu Trung gượng gạo đi vào, vừa đến cửa hắn liền nói: “Đúng lúc mọi người có mặt đầy đủ, chúng ta họp phòng luôn.” Ai cũng biết Triệu Trung muốn “mượn gió bẻ măng”. Quả nhiên vừa mở miệng hắn lập tức nâng vấn đề lên thành mức độ chính trị, nói rằng tôi làm mất bút ghi âm là một sự kiện lớn nhất trong lịch sử của phòng Tổng hợp 2, lại còn nói đã báo cáo Văn phòng tổ chức Đảng, lãnh đạo rất bất ngờ và lo lắng về việc này, cấp trên trách móc và yêu cầu tôi phải viết kiểm điểm nêu rõ quá trình xảy ra sự việc, Văn phòng tổ chức Đảng sẽ cử người xuống kiểm tra.
Mấy ngày sau đó, tôi chẳng có tâm trạng nào mà làm việc, hai lần viết bản kiểm điểm và tường trình mà Triệu Trung đều không thông qua, xem ra thằng béo chết tiệt này không muốn để yên, hòng buộc tôi phải chịu hình phạt nào đó đây mà. Vẫn chưa thấy tổ chức Đảng cử người xuống điều tra xử lý, cứ kéo dài thế này tôi sẽ phát điên lên mất, tôi đánh liều đến phòng làm việc của Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc.
Phó Thị trưởng tiếp tôi rất nhiệt tình, hình như ông ấy chưa biết chuyện mất bút ghi âm, tôi cả gan nói hết mọi chuyện, nghe xong, ông ấy cau mày một lúc rồi nhấc điện thoại gọi Tiêu Phúc Nhân: “Phúc Nhân, việc Hoàng Tiểu Minh làm mất bút ghi âm, Triệu Trung nói với cậu thế nào?”
Rõ ràng ngữ khí của Phó Thị trưởng có ý bảo lãnh cho tôi. Tôi không biết Tiêu Phúc Nhân giải thích trong điện thoại thế nào, mấy phút sau Phó Thị trưởng Lưu chỉ nói một câu: “Làm ăn bừa bãi”, rồi gác máy. Sau đó ông ấy nhã nhặn nói với tôi: “Tiểu Minh, sau khi cậu đến phòng Tổng hợp 2, tôi ít quan tâm nhưng vẫn để ý đến tình hình của cậu, tôi biết tất cả tài liệu đều do cậu viết, còn Triệu Trung lên báo cáo nhưng anh ta không giành nổi công của cậu đâu, bởi trong lòng tôi hiểu rõ tất cả, chọn người, dùng người, quan trọng là phải hiểu người, phòng Tổng hợp 2 là văn phòng của tôi, việc lớn và phương châm do tôi quyết nhưng đều từ tập hợp tâm huyết của các cậu, đừng thấy tôi bận bù đầu mà tưởng tôi không để ý đến các cậu, thực ra tình hình của mỗi người đều nằm trong đầu tôi đấy. Tiểu Minh, việc mất bút ghi âm cũng đừng bận tâm nữa, mỗi lần ngã là một lần bớt dại, chủ nhiệm Tiêu nói với tôi, Triệu Trung có báo cáo với ông ấy, còn muốn đưa lên mạng, cố ý phóng đại, yêu cầu tổ chức Đảng về kiểm tra, nhưng chủ nhiệm Tiêu không đồng ý. Tiểu Minh, bản lĩnh của cậu quá lớn, khó tránh khỏi Triệu Trung muốn làm Chu Du, nhưng đã đi theo con đường tòng chính, không chịu nổi uất ức là không được. Thôi, bây giờ tôi phải lên tỉnh họp, hôm khác mình gặp lại, tôi sẽ tranh thủ thời gian gặp Triệu Trung nói chuyện. Tiểu Minh, cậu bỏ bớt gánh nặng tâm lý, làm việc tốt nhé!”
Ra khỏi phòng làm việc của Phó Thị trưởng Lưu, lòng tôi xốn xang. Việc ông ấy có thể chân thành cởi mở với một điều tra viên nhỏ bé như tôi là điều tôi không dám ngờ tới. Hình tượng Phó Thị trưởng Lưu trong lòng tôi lại lần nữa hiện lên thật vĩ đại. Lần đầu là khi tôi và Lý Ngọc Dân đến phòng làm việc của ông ấy để báo cáo tổng kết đợt điều tra nghiên cứu, lần đó tôi đã thấy Phó Thị trưởng Lưu là một vị thần vĩ đại. Lần này, ông ấy đã trở thành một vĩ nhân trong lòng tôi. Đến bây giờ, ấn tượng của tôi về Phó Thị trưởng Lưu Nhất Hạc là một con người có máu, có thịt, có tình, có nghĩa, có lý, có lẽ.
Nhưng về tới phòng Tổng hợp 2, đối diện với thành hoàng Triệu Trung, tâm trạng tôi bỗng ảm đạm vô cùng, dù tôi không là dã thú nhưng lại phải xộc vào chuồng thú hỗn độn. Tôi ngồi ngây người trước bàn làm việc, hệt pho tượng đá. Trở nên thối nát hay trở thành con vi khuẩn trên sự thối nát? Đây là một câu hỏi. Dù sinh mệnh là một cuốn sách, nhưng giờ ai còn hứng thú đọc sách nữa đây? Người ta chỉ muốn theo đuổi cái gọi là hư vinh, bởi không có cái gì sống mãi bằng hư vinh cả. Thực lòng tôi muốn biến thành một tảng cao su, có thể làm thành lốp xe hoặc một quả bóng, nói tóm lại thành vật gì hình tròn, có tính đàn hồi. Khi đó, tôi muốn dùng tính đàn hồi để đào khoét, cho dù chỉ là hư vô, tôi cũng không ngừng lại, bởi tôi không thể không theo đuổi điều gì đó. Trước đây tôi ấu trĩ, non nớt như trẻ con, cho rằng ai cho mình một cục kẹo thì người đó nhất định là người tốt. Thực ra đối diện với hư vinh, có ai không là kẻ ăn mày? Không được, không thể để thời gian trôi đi một cách vô nghĩa như vậy, dù cuộc đời này vô nghĩa, tôi cũng phải sáng tạo ra ý nghĩa của riêng mình.
Hiện nay ở phòng Tổng hợp 2, việc có ý nghĩa nhất chính là đấu tranh với “ông thành hoàng” Triệu Trung. “Đuổi hắn đi, đuổi hắn như đuổi một con chó!” Giọng nói này như giọng của âm hồn, giục giã trong lòng tôi. Tôi nhớ câu: “Chỉ một mình tôi, nhưng giống như một đội quân tiên tiến đánh hạ thành trì.” Không được, tôi không thể chiến đấu một mình, nếu “đơn thương độc mã” sẽ rất dễ sa vào tình trạng “trước mặt, sau lưng đều có địch”, tôi phải đấu tranh ngầm, thần tốc thành lập một chiến tuyến thống nhất. Tôi dùng Hứa Trí Thái, Âu Bối Bối và Chu Đại Vỹ để thực hiện kế “giương đông kích tây”. Hiện tại, Hứa Trí Thái giữ trạng thái “im hơi lặng tiếng” trong phòng, nhưng tôi biết từ lâu anh ta vẫn canh cánh trong lòng muốn lật đổ “thành hoàng” nhất. Không nghi ngờ gì nữa, Hứa Trí Thái là bó đuốc lý tưởng nhất, giờ chỉ cần một cây diêm để anh ta thắp đuốc, và cây diêm đó chính là tôi. Chỉ cần “bó đuốc Hứa Trí Thái” được châm lên, lo gì Bối Bối và Đại Vỹ lại không đổ thêm dầu.
Nhưng thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều quan trọng như nhau, không thể thiếu mặt nào, vì thế ai cũng “nằm gai nếm mật” chờ đợi thời cơ. Nghĩ đến đó, tự dưng tôi thèm hút thuốc, liền cầm ngay cây bút đưa vào miệng rít một hơi, mực trôi tuột vào miệng, nhưng tôi không nhổ ra mà nuốt luôn không chút do dự. Cũng chính vì tôi muốn nhuộm trái tim mình thành màu xanh, giống như bầu trời xanh biếc kia, tôi đang cần màu xanh thẳm để gột rửa tư tưởng mình. Tôi thở một hơi dài nhẹ nhõm.
Ngày lại ngày trôi đi, thấm thoắt đã một năm, cuối cùng thời cơ cũng đến. Phó Thị trưởng Lưu bất ngờ được điều lên giữ chức Phó Tỉnh trưởng tỉnh Thanh Giang. Cùng lúc đó Triệu Trung đang công tác ở nước ngoài, Phó Thị trưởng thường vụ khả năng sẽ là Bành Quốc Lương, nhưng vẫn chỉ là thông tin chưa chính xác, đây có thể là cơ hội ngàn năm khó gặp. Trải qua thời gian chờ đợi lâu dài, Hứa Trí Thái càng mong cơ hội đến sớm.
Sau giờ làm việc, tôi mượn cớ mời Hứa Trí Thái uống rượu. Đúng là rượu mạnh thôi thúc máu anh hùng, chỉ vài cốc những lời từ tâm can cậu ta đều tuôn ra hết. Chúng tôi nói từ thành Hy Lạp tớivăn hóa sử quan Trung Quốc; từ Jehovah của Do Thái giáo đến Thượng đế của Cơ Đốc giáo; từ văn nghệ Phục hưng tới tư tưởng giải phóng trong cải cách mở cửa. Cuối cùng chúng tôi đều nhận thấy: Đối với chính khách hoặc những nhà âm mưu, chính trị là dục vọng và theo đuổi quyền lực là mưu kế và ngón trò khống chế con người. Đối với chính trị gia, chính trị là con đường mưu cầu cuộc sống có ý nghĩa, là con đường bảo vệ và phục vụ con người. Điểm đầu của chính trị là con người có cá tính, là thức tỉnh lương tri con người. Nhưng từ thời Machiavelli(1) trở lại đây, chính trị học phương Tây vẫn định nghĩa: “Chính trị là trò chơi quyền lực”, tôi lại cho rằng điểm xuất phát và điểm quy tụ của chính trị là đạo đức và lương tri. Hứa Trí Thái đưa ra một vấn đề khiến tôi không thể không chú ý, đó là: “Tây phương đã định nghĩa chính trị là trò chơi quyền lực, vậy làm thế nào để trở thành một Bậc thầy trò chơi?” Nói cụ thể, mỗi một công chức đều muốn nắm được đạo quan trường, nhưng “đạo” là gì? Chúng tôi tranh luận mãi, nhưng chẳng ai thuyết phục được ai, rốt cuộc cũng đạt tới thỏa hiệp “đạo” trước mắt chính là đuổi Triệu Trung đi!
Cuối cùng chúng tôi nói vào chủ đề chính, vì phải kiềm chế quá lâu, nên vừa nói đến Triệu Trung, Hứa Trí Thái liền nổi xung, mở miệng là “thằng đầu lợn này”, ngậm miệng cũng “thằng đầu lợn kia”, có thể thấy rõ anh ta khát khao mong chờ đến ngày đuổi Triệu Trung đi. Hứa Trí Thái làm Phó phòng Tổng hợp 2 đã mười năm, mơ ước lớn nhất của anh ta hiện nay là được ngồi vào cái ghế Trưởng phòng.
Tôi cho rằng Hứa Trí Thái lăn lộn lâu như thế, mà vẫn “giậm chân tại chỗ” là vì anh ta không hiểu chính trị. Tôi nghĩ từ cuộc “chính biến” lần này, nếu đuổi được Triệu Trung đi, vị trí Trưởng phòng chưa hẳn đã thuộc về Hứa Trí Thái, hoặc có thể khẳng định chắc chắn không phải của Hứa Trí Thái, mà sợ rằng kết cục chưa chắc sẽ tốt lành như bây giờ. Bởi nguyên tắc cơ bản nhất của chính trị là phục tùng, mà phục tùng lại lấy quyền lực lớn hay nhỏ làm căn cứ, quyền lực lớn thống trị quyền lực nhỏ; quyền lực nhỏ phục tùng quyền lực lớn, đây vốn là nguyên tắc thép. Nay anh muốn phá vỡ nguyên tắc thép ấy, bất luận là công khai hay ngầm, đều không cho phép anh làm ẩu, không có quy củ thì không thể trọn vẹn, ai cũng không tuân thủ luật thì sao chơi được trò chơi? Giống Hứa Trí Thái, chỉ vài cốc “nước đái mèo” mà đã vui buồn ra mặt, đây là điều tối kỵ nhất của quan trường.
Nhưng với tôi, Hứa Trí Thái là cây súng tốt nhất, kiểu gì cũng phải dùng cây súng này để đuổi Triệu Trung đi rồi mới tính tiếp, cách mạng là phải có người dẫn đầu, dân chủ không phải là mục đích, thông qua hy sinh để đổi lấy tiến bộ mới là mục đích. Đương nhiên Hứa Trí Thái cho rằng tôi tham gia “chính biến” là để lên làm phó phòng, đây chính là sự thiển cận của anh ta, đúng là chim sẻ làm sao hiểu được chí của chim hồng chim hạc cơ chứ. Kỳ thực tôi rất sợ Hứa Trí Thái không nhận thức như vậy, anh ta khờ khạo cho rằng đồng minh chính là đồng loại, đây cũng là điều khẳng định anh ta không hiểu chút gì về chính trị. Thực ra mục đích chính của tôi là muốn thông qua cuộc “chính biến” để mở toang cánh cửa phòng Tổng hợp 2. Hồi còn nhỏ, tôi rất thích đọc thơ Tagore, có câu: “Nếu bạn đi trong đêm tối, không nhìn thấy đường dưới chân, hãy bẻ một cái xương sườn làm bó đuốc, chiếu sáng cho bạn tiến về phía trước!” Lúc đó, câu thơ ấy đã khiến tâm hồn trẻ thơ của tôi rung động mãnh liệt, tôi thầm hạ quyết tâm suốt đời làm người như thế. Nhưng từ trước tới nay, tôi chưa từng đủ can đảm bẻ gãy xương sườn của mình. Bây giờ có muốn trở thành người dũng cảm bẻ gãy xương sườn, tôi cũng chỉ có thể giúp anh ta đạt được mục đích, thay anh ta quẹt một que diêm mà thôi.
Hành động có thể nói rất thuận lợi, kết quả khá lý tưởng, tất cả đều như tôi tính toán, Triệu Trung đã bị điều đến trung tâm phục vụ hậu cần, sau đó từ chức ra ngoài làm ăn. Sau khi Triệu Trung đi, Hứa Trí Thái mãn nguyện chưa được nửa tháng thì tân Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương đích thân tuyển chọn một vị tên là Dương Hằng Đạt về làm Trưởng phòng Tổng hợp 2. Người này không hề tầm thường, từng làm thư ký cho lãnh đạo cũ năm năm, mà phải biết rằng: lãnh đạo cũ là Thái Sơn Bắc Đẩu của thành phố Đông Châu này.
Trước đây tôi từng nghe nói, năm đó vì tranh chức Phó Thị trưởng thường vụ mà Bành Quốc Lương và Lưu Nhất Hạc đã ngầm “huých” nhau, quan hệ giữa hai người trước nay vẫn luôn rất căng thẳng. Bây giờ Bành Quốc Lương đã toại nguyện, còn Lưu Nhất Hạc lên làm Phó tỉnh trưởng, không còn ngang hàng với nhau nữa. Tôi nghĩ, chắc hẳn Bành Quốc Lương sẽ cảm thấy bất ổn, ông ta chọn thư ký của lãnh đạo cũ về làm Chủ nhiệm văn phòng, nhất định có thâm ý khác.
Lưu Nhất Hạc chuyển đi, mộng tưởng “muốn dang đôi cánh chim hồng” của tôi cũng hóa thành mây khói, nhưng tôi hiểu rõ một điều rằng trên quan trường, nếu không có người dìu dắt thì dù anh tài giỏi bằng trời cũng vô tác dụng, đã muốn có tiền đồ lại muốn được tự do, đó mới là giấc mộng “Nam Kha truyền kỳ(2)”. Một người càng gần quyền lực, sẽ càng xa tự do, vì thế người ta mới bỏ tự do để chạy theo quyền lực sao? Rất đơn giản, bản chất của quyền lực là thần tính, bản chất của tự do là nhân tính, mà hàng nghìn năm nay, đảnh lễ phụng thờ thần là thiên tính của con người. Có ai không muốn trở thành thần thánh? Không trở thành thần thánh được thì làm thế nào? Đành phải trở thành kẻ quỳ bái. Tôi muốn bắt được cả cá và tay gấu, và đó cũng là nguyên nhân khiến tôi không thể tiến thân trên con đường làm quan. Không được phép mắc sai lầm như thế nữa, sang năm tôi đã 35 tuổi rồi, cuộc sống ngắn ngủi, nếu không nắm lấy cơ hội thì rất có thể uổng công lăn lộn cả đời trên quan trường. Làm thế nào đây?
Tân Phó Thị trưởng Bành Quốc Lương lúc 29 tuổi đã là thư ký Thường vụ Thành Đoàn thành phố Đông Châu, tức là đã ở cấp cục chính thức, nếu cứ tính theo cách đó thì dù về hưu chưa chắc tôi đã leo đến cấp cục. Trước đây tiếp xúc với Bành Quốc Lương không nhiều, tôi chỉ nghe nói ông ấy đối xử với cấp dưới rất nghĩa khí, tính cách cũng phóng khoáng bộc trực, mọi người thường bảo “lầu đài gần nước được ngắm trăng trước, hướng dương nở dễ thành xuân”. Làm việc ở phòng Tổng hợp Ủy ban cũng hay, cả ngày chỉ xoay quanh những chỉ đạo của Thị trưởng. Ngày trước Triệu Trung luôn cản trở cơ hội để tôi tiếp xúc với Lưu Nhất Hạc, mọi cơ duyên giữa tôi và ông ấy đều bị hắn ta phá tan. Tuy chưa hiểu tân trưởng phòng Dương Hằng Đạt lắm, nhưng lần trước có cơ hội đi Mỹ công tác với Phó Thị trưởng Bành, anh ta nhường cho Hứa Trí Thái, như thế cũng thể hiện anh ta cũng thuộc dạng có tấm lòng. Dáng vẻ anh ta cũng rất mực thước, không hổ danh người từng làm thư ký cho lãnh đạo cũ, nhất định không phải hạng tầm thường. Rõ ràng đối với tôi “tự do” chỉ là đám mây trôi, phải từ bỏ tự do để mưu cầu tiền đồ, dù bụng dạ Dương Hằng Đạt là giả bộ hay thực lòng, cũng xin đừng cắt đứt cơ duyên của tôi với Phó Thị trưởng Bành. Bởi đối với phòng Tổng hợp 2, Phó Thị trưởng Bành là cơ duyên của tất cả mọi người.
Cho tới nay Hồ Chiếm Phát đã làm thư ký cho Phó Thị trưởng Bành được năm năm, nhìn dáng vẻ xun xoe của Chu Đại Vỹ mỗi lần gặp Hồ Chiếm Phát, sẽ thấy cậu ta đã “chấm” vị trí của Hồ Chiếm Phát. Vốn dĩ trước đây tôi chưa từng nghĩ đến chuyện làm thư ký cho Thị trưởng, ngay cả Trưởng phòng hay Phó phòng của phòng Tổng hợp 2, tôi cũng chẳng hề màng tới. Nhưng giờ đây, làm thư ký Thị trưởng là tia hy vọng đang bày ra trước mắt, so với Chu Đại Vỹ hiện nay, xét trên mọi phương diện tôi đều chiếm ưu thế, những người còn lại, hầu như không có cơ hội giành được sự ngưỡng mộ của Phó Thị trưởng Bành.
Hiển nhiên, thông qua “đường cong cứu quốc” Hồ Chiếm Phát, Đại Vỹ coi như “dạm ngõ” trước, quan hệ giữa Hồ Chiếm Phát và Phó Thị trưởng Bành khá thân thiết, là “tiếng nói sát tai” vô cùng quan trọng của Phó Thị trưởng. Không chút nghi ngờ gì nữa, Đại Vỹ muốn thay Hồ Chiếm Phát làm thư ký Thị trưởng để được dưới một người, trên vạn người. Còn tôi rất tự tin, bởi Bành Quốc Lương rất hâm mộ tài viết của tôi, chẳng bao lâu nữa, nó cũng sẽ có cơ hội được tỏa sáng.
Hôm đó, khi sắp tan giờ làm, Phó Thị trưởng Bành trực tiếp gọi tôi lên phòng làm việc của ông ấy. Tôi dự cảm Phó Thị trưởng nhất định sẽ giao cho tôi nhiệm vụ quan trọng nào đó, Hồ Chiếm Phát lại không có ở đây, rõ ràng nhiệm vụ này ông ấy không muốn cho người khác biết. Tôi hồi hộp theo chân Phó Thị trưởng bước vào phòng làm việc, quan sát từ sắc mặt tới lời nói để nghiền ngẫm về lần hội kiến bí mật này. Phó Thị trưởng Bành bảo tôi ngồi xuống ghế, vui vẻ nói rằng gần đây tôi khiến ông ấy khá hài lòng bởi đã hiểu được suy nghĩ của ông ấy và yên tâm khi giao việc này cho tôi. Tôi khiêm tốn ngồi nghe và đợi vào chủ đề chính.
Rất nhanh, Phó Thị trưởng Bành hỏi suy nghĩ của tôi về vấn đề “mở cửa”. Bốn chữ “cải cách mở cửa” từ trước đến giờ luôn đi liền nhau, tôi không hiểu sao Phó Thị trưởng lại tách nó ra? Tôi nêu thắc mắc của mình, ông ấy cũng trả lời không chút tránh né: “Cải cách” đã chìm vào vũng nước sâu, do chịu nhiều trói buộc về mặt tư tưởng, “mở cửa” không giống vậy, trước sự ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu, trái đất không tròn nữa mà biến thành mặt phẳng, xét trên khía cạnh nào đó, không có mở cửa thì không có cải cách, vì thế ông ấy muốn viết một bài về phương diện “mở cửa”, còn bảo bài này do một vị phó tổng biên tập báo Nhân dân mời ông ấy chấp bút.
Tôi biết Phó Thị trưởng Bành là Thường vụ Thành ủy trẻ nhất của Đông Châu, là người ôm hoài bão chính trị to lớn, vị Phó tổng biên tập báo Nhân dân kia cũng hiểu mời ông ấy chấp bút chưa hẳn sẽ do ông ấy viết, mà nhờ cấp dưới giúp đỡ để đăng lên báo. Như vậy đây là cơ hội tốt trời cho, bởi cứ nhìn hơn bảy trăm người của Ủy ban, ngoài tôi ra còn ai có thể thành thạo và hoàn thành tốt bài viết thuần chính trị như thế. Tôi tận dụng cơ hội trình bày quan điểm về “mở cửa”, khi vừa nói “mở cửa cũng là lực lượng sản xuất”, mắt Phó Thị trưởng bỗng sáng lên, vỗ đùi đánh “đét”, cắt ngang lời tôi: “Tiểu Minh, lấy tựa bài này là Mở cửa chính là lực lượng sản xuất”.
Xem ra Phó Thị trưởng Bành rất coi trọng bài viết này, luôn miệng dặn tôi cố gắng viết thật tốt. Rời khỏi phòng làm việc của Phó Thị trưởng, bên ngoài không còn ai, yên tĩnh đến mức chỉ nghe thấy tiếng đập thình thịch của con tim.
Dương Hằng Đạt thực sự khiến cho Hứa Trí Thái cảm động, anh ta dường như đã trở thành người chuyên xuất ngoại nhưng tôi lại càng lúc càng cảm thấy đây là một thủ đoạn ngầm, mục đích chính của Dương Hằng Đạt là cô lập Hứa Trí Thái, phá vỡ uy tín trước đây của anh ta với Âu Bối Bối, Chu Đại Vỹ. Không những thế, tôi còn phát hiện, gần đây mọi người đều về phe Dương Hằng Đạt, đến cả tôi cũng cảm thấy lạnh nhạt với Hứa Trí Thái.
Nhưng hình như Hứa Trí Thái lại không nhận ra, bởi anh ta đã toàn tâm toàn ý vào Phó Thị trưởng Bành. Cũng khó trách, cả văn phòng này, có mấy ai không để tâm tư vào Phó Thị trưởng chứ, ngày ngày dựa lưng vào đại thụ, không ai cam tâm ở dưới bóng mát, mọi người đều muốn bám vào cây để leo lên. Tôi biết Hứa Trí Thái tận dụng cơ hội cùng đi nước ngoài, tạo tình cảm nhằm lấy lòng Phó Thị trưởng Bành. Dương Hằng Đạt đương nhiên hiểu rõ, nhưng hình như lại không mấy để bụng. Tất nhiên Dương Hằng Đạt có lãnh đạo cũ che chở, không lo có chuyện soán ngôi. Anh ta còn lợi dụng kinh nghiệm viết cho lãnh đạo cũ cuốn Suy ngẫm triết học về niệu liệu pháp, rồi hao tổn biết bao tâm huyết để viết cho Phó Thị trưởng Bành một bộ tuyển tập tư tưởng, rất được ông ấy ca ngợi.
Gần đây Chu Đại Vỹ cũng lập “chiến công hiển hách” với Hồ Chiếm Phát. Ông ta đang học thạc sĩ tại chức, môn ngoại ngữ khiến ông ta đau đầu nhất, Chu Đại Vỹ không những đã thi hộ mà còn đem về thành tích 87.
Âu Bối Bối cũng vậy, thời gian gần đây cô ta luôn nhìn Phó Thị trưởng bằng cặp mắt mê đắm, càng khiến tôi cảm thấy có vấn đề. Tối hôm trước, khi đã hết giờ làm, mọi người đã về hết, chỉ còn tôi và Âu Bối Bối, cô ta đột nhiên hỏi: “Tiểu Minh, viết luận chắc anh đứng đầu phòng mình, tôi hỏi anh, Adam và Eva có yêu nhau không?”
Bối Bối luôn tạo cho tôi ấn tượng mình là người hám danh lợi, nên rất coi thường chồng – một chàng nhân viên quèn của Cục xúc tiến thương mại thành phố. Tôi từng nghe người của Cục này dị nghị về chuyện cô ta cãi nhau đòi ly hôn với Vương Triều Quyền. Bối Bối nói tiếng Anh rất lưu loát, nhưng viết văn lại chẳng hay. Lúc mới đến nhậm chức, Dương Hằng Đạt nghĩ Bối Bối trước nay luôn chăm chỉ làm việc, muốn tạo điều kiện cho cô ta cơ hội rèn luyện tay bút, vì người của phòng Tổng hợp 2 mà không viết nổi báo cáo thì không thể được dự họp. Bối Bối rất tự tin nhưng cuối cùng vẫn không viết nổi, trong lòng canh cánh nỗi lo. Dương Hằng Đạt lại muốn giúp đỡ, liền đưa cho cô ta bài Tổng kết sáu tháng đầu năm công tác loại hình kinh tế đối ngoại của thành phố Đông Châu – Phương hướng phát triển sáu tháng cuối năm. Bối Bối vô cùng quý trọng cơ hội luyện bút lần này, muốn “trổ tài” trước mặt mọi người, nhưng khi nộp cho Dương Hằng Đạt, anh ta vừa đọc xong liền phá lên cười, còn dẫn ra câu: “Loại hình kinh tế hướng ngoại thành phố Đông Châu phát triển như mãnh hổ xuống núi, thế mạnh như chẻ tre.” Tôi và Chu Đại Vỹ cũng không nhịn được cười. Bối Bối biết mình trở thành trò cười cho mọi người, thẹn quá hóa giận, hầm hầm bước tới giật bài viết trong tay Hằng Đạt xé tan tành. Nhưng Bối Bối có sở thích hễ mở miệng là nói tiếng Anh, vì thế mấy vị Phó Thị trưởng thường đưa cô ta cùng đi tiếp khách nước ngoài, điều này khiến Chủ nhiệm văn phòng đối ngoại phải kháng nghị lên Phó chủ nhiệm văn phòng Ủy ban Tiêu Phúc Nhân. Từ khi Bành Quốc Lương lên Phó Thị trưởng, mỗi lần tiếp khách nước ngoài đều đem Bối Bối theo phiên dịch, vì thế cô ta nghiễm nhiên trở thành đặc phái viên phiên dịch của Phó Thị trưởng Bành, và cũng vì thế mà trở thành một người hoàn toàn khác vậy, nhất là cặp mắt lúc nào cũng lúng liếng khi nhìn ông ta, do vậy mà sinh ra nhiều lời bàn tán.
Hôm nay Bối Bối đột nhiên hỏi một câu không ai tưởng tượng nổi, tôi cho rằng không có lửa làm sao có khói, đằng sau câu hỏi chắc hẳn phải có ẩn tình gì đó. Trầm tư giây lát cô ta nói: “Adam và Eva có tình yêu hay không chỉ có con rắn biết”, sau đó nói tiếp vẻ bất mãn: “Tiểu Minh, vậy anh có biết rắn biểu trưng cho cái gì không?”
Tôi lắc đầu để xem cô ta có ý gì, quả nhiên cô ta nói huỵch toẹt: “Cho anh biết nhé, rất đơn giản, rắn chính là cơ quan sinh dục của nam giới.”
Tôi cũng hứng chí tiếp luôn: “Lần đầu tôi nghe nói thế đấy, còn trong Kinh Cựu Ước nói con rắn đã xúi Adam và Eva ăn trái cấm trong vườn địa đàng, lúc hai người hiểu ra thì cơ thể đã lõa lồ... Đây là một đoạn trong truyền thuyết, gọi là ‘tội lỗi’ của con người, nếu rắn là bộ phận ấy của nam giới, vậy tội lỗi là gì?”
Bối Bối đáp ngay mà không cần suy nghĩ: “Đương nhiên là giao cấu, trên thực tế, Adam và Eva có giao cấu rồi sinh con, chính vì thế, mỗi người sinh ra mới mang tội. Vì con người có tội nên Thượng đế trừng phạt đời đời kiếp kiếp người nam phải đổ mồ hôi để kiếm bánh mỳ, còn người nữ chịu đau đớn khi sinh nở.”
Tôi từng nghe vô vàn kiểu giải thích khác nhau, nhưng đây là lần đầu tiên nghe thấy kiểu giải thích này, liền pha trò: “Bối Bối, theo logic của cô, sau khi quan hệ Adam và Eva mới biết thiện ác, vậy lần đầu tiên họ quan hệ chắc hẳn không có tình yêu, chỉ có tính dục. Đây mới là căn nguyên của tội lỗi. Bởi thế những thứ nhân loại đời đời truyền dạy không có gì đáng sợ, mà thứ đáng sợ chính là tính dục, nó khiến linh hồn con người trụy lạc. Cô nói xem có đúng không?”
Hình như câu nói của tôi làm chạnh lòng Bối Bối, cô ta có vẻ suy tư: “Đã đành giữa Adam và Eva không có tình yêu, nhưng anh nói xem trên đời này có tình yêu không?”
Tôi thấy Bối Bối có vẻ bắt đầu đắm chìm vào chủ đề ái tình, đoán chắc cô ta hẳn phải có tâm sự. Tôi luôn cho rằng một nhân viên quèn như Vương Triều Quyền mà lấy một người vợ như Bối Bối là một sai lầm. Kiểu phụ nữ này sinh ra là để làm bà lớn, chỉ tiếc từ xưa đã có câu “hồng nhan bạc phận”. Tôi đùa: “Bối Bối, Adam do Thượng đế dùng đất nặn ra, Eva là do xương sườn và thịt của Adam nặn mà thành, họ không phải do phụ nữ sinh ra, bẩm sinh đã không có rốn, nhân loại sau khi có lỗ rốn rồi mới có ái tình.”
Bối Bối nghe xong cười nắc nẻ, lúc này trông cô ta đẹp mê hồn, Rồi cô ta chuyển đề tài, thông báo một tin khiến tôi “sốc”: tối qua Triệu Trung mời cô ta đi ăn, còn nói giờ anh ta đã trở thành hòa thượng giả, lưng quấn tiền triệu, nghe nói do bao thầu chùa miếu mà phát tài. Nghe Bối Bối nói, thì ra ông chủ của chùa Từ Ân không phải hòa thượng mà là Triệu Trung, thần thoại về Tây Sơn Phật Mẫu cũng do hắn ta hư cấu cả.“Mấy hôm trước thằng cháu trai tôi thi đỗ cấp ba, anh trai và chị dâu đưa nó đến chùa Từ Ân để dâng hương Tây Sơn Phật Mẫu, nghe nói linh lắm. Anh trai tôi bảo, người dâng hương xếp hàng dài tít tắp. Không ngờ anh trai tôi vốn sáng suốt như thế, là phóng viên lâu năm của Thanh Giang nhật báo, lại là nhà văn nổi tiếng, mà cũng không phát hiện được thần thoại Tây Sơn Phật Mẫu. Thực ra đâu chỉ có riêng anh ấy, gần đây không ít cán bộ nhân viên ‘làng nhàng’ mãi không được thăng chức, cũng lúi húi gia nhập đội ngũ dâng hương. Anh trai tôi còn nói, hôm đó hình như thấy cả Hứa Trí Thái.”
Nói chuyện phiếm với Bối Bối hơn tiếng đồng hồ mới về. Ra khỏi tòa nhà ủy ban, bất chợt tôi nhớ đến câu: “Nếu tự do, người ta sẽ không bước đi trong gông cùm.”
Tôi không hiểu sao mọi người đều bị số kiếp của mình kìm kẹp, lòng tôi luôn hướng tới bờ bên kia, và cho rằng số phận của mình chính là ở đó.
Đúng hôm bài Mở cửa chính là lực lượng sản xuất được đăng báo, Phó Thị trưởng Bành lại gọi tôi lên phòng làm việc, vẫn không có Hồ Chiếm Phát ở đấy. Ông ấy vỗ vai tôi thân mật nói: “Tiểu Minh, vất vả cho cậu rồi, bài Mở cửa chính là lực lượng sản xuất được đánh giá rất cao, còn tôi có đề xuất riêng dành cho cậu, cậu biết đó là gì không?”
Tôi thận trọng lắc đầu, nghĩ bụng, chắc không phải sẽ đưa tôi thay thế Dương Hằng Đạt, trừ phi anh ta được cất nhắc lên vị trí cao hơn, nhưng hiện tại chẳng thấy có dấu hiệu gì.
Phó Thị trưởng Bành thân thiết nói: “Chiếm Phát làm với tôi đã lâu, cũng không nên để cậu ấy lỡ mất cơ hội tiến thân, khi cậu ấy đi rồi, cậu làm thư ký cho tôi, thế nào?”
Nói thực, tôi đã đoán được kết quả này, nếu Phó Thị trưởng Bành tuyển thư ký, người đó nhất định sẽ là tôi, bởi Chu Đại Vỹ thể hiện mình thông minh thái quá, không phải mẫu ông ấy thích. Có điều không ngờ mọi việc lại nhanh đến vậy. Tôi ngỡ ngàng nhìn Phó Thị trưởng Bành như đứa bé nhìn người cho bánh.
Phó Thị trưởng Bành chân thành nói: “Tiểu Minh, nhiệm kỳ mới cuối năm này Thị trưởng sẽ lên Quốc hội, ai thay thế vị trí ấy vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng ngoài tôi là ứng cử viên sáng giá ra, còn một đối thủ cạnh tranh rất mạnh nữa, cậu biết đó là ai không?”
Tôi biết ông ấy đang thử tính nhạy bén chính trị của tôi, liền trả lời ngay: “Lưu Nhất Hạc ư?”
“Chà,” Phó Thị trưởng Bành gật gật đầu tỏ ý khen ngợi: “Xem ra tôi không nhìn lầm người, làm thư ký cho tôi cần phải có năng lực phán đoán và quan sát chính xác như vậy. Lưu Nhất Hạc là đối thủ của tôi, Tiểu Minh, cậu cảm thấy nhiệm kỳ này ai sẽ bị ngả tay?”
Lại là câu hỏi thử khả năng chính trị của tôi! Với tôi, Lưu Nhất Hạc vẫn là một Thị trưởng hết lòng vì công việc, chắc chắn sẽ là một Thị trưởng tốt, nếu ông ấy lại làm Thị trưởng thì đó là phúc của người dân Đông Châu. Nhưng tôi mong muốn là Bành Quốc Lương hơn, bởi Phó Thị trưởng Bành một khi trở thành Thị trưởng, tôi thực sự trở thành “dưới một người, trên vạn người”, lo gì tiền đồ không tươi sáng.
Tôi hiểu rất rõ thực lực của Lưu Nhất Hạc, nếu thêm một lần tranh chức Thị trưởng Đông Châu nữa, sợ kết quả khó có thể đoán được. Vì mong được như ý, tôi nói khéo: “Thị trưởng Bành, Lưu Nhất Hạc đã đi hai năm, anh cũng làm bao nhiêu việc tốt, được lòng nhân dân lắm, tôi nghĩ anh đã là Thị trưởng trong lòng người dân Đông Châu rồi.”
Bành Quốc Lương nghe xong cười ha hả.
Rời khỏi phòng làm việc của Bành Quốc Lương, tôi vội vã đến quảng trường gọi điện thoại cho anh trai báo tin Phó Thị trưởng Bành muốn nhận tôi làm thư ký. Vừa nói xong, anh ấy cũng thông báo cuốn tiểu thuyết Bãi cát Bắc mà anh đã dốc hết tâm huyết đã được xuất bản, coi như lập được một tấm bia cho quê hương, và tối nay muốn mời tôi ăn cơm chúc mừng.
Tin anh có tiểu thuyết được xuất bản và việc tôi được làm thư ký Thị trưởng đều xúc động như nhau. Đó là cuốn sách mài trước lúc ra đi bố tôi vẫn chưa kịp hoàn thành, ông ấy muốn dùng hình thức một cuốn tiểu thuyết để lập tấm bia tặng quê hương. Năm ấy trên đường đi sưu tầm ca dao, bố tôi bị tai nạn giao thông, để lại cho anh tôi một tập tài liệu rất dày về quê hương và những bút ký tản mát ông chưa tập hợp hết được. Năm ông mất, tôi mới học năm cuối nghiên cứu sinh. Thời gian đó, anh tôi cũng xuất bản được mấy cuốn tiểu thuyết có tầm ảnh hưởng nhất định trong nước, nhưng viết cuốn Bãi cát Bắc để hoàn thành tâm nguyện của cha vẫn là mộng ước thiết tha của anh ấy, cuối cùng giờ đã thực hiện được, hai anh em sao không thỏa lòng chứ.
Tan làm, tôi vội lái xe đến khách sạn Tiêu Giang Nam, đối diện Thanh Giang nhật báo. Mới đến sảnh đã thấy anh tôi ngồi bên cửa sổ vẫy tay.
Chưa kịp ngồi xuống tôi đã háo hức: “Anh cho em xem tác phẩm trước đã.”
Anh tôi trịnh trọng đưa cho tôi cuốn Bãi cát Bắc còn thơm mùi giấy mới, tôi nhận sách mà nước mắt ứa ra, xúc động nói: “Anh ơi, bố có thể ngậm cười nơi chín suối rồi.”
Anh cũng ngậm ngùi: “Tiểu Minh, lúc nào rảnh rỗi anh em mình về Sơn Đông một chuyến, đắp mộ ông bà nội và mộ cha, cũng để báo cáo với bố một tiếng!”
Để chúc mừng, anh em tôi gọi một bình rượu ngũ cốc 25 độ rưỡi, tôi rót đầy ly rồi nói: “Anh! Chúc mừng Bãi cát Bắc, em kính anh một ly!”
Hai anh em cạn một hơi. Anh đặt ly xuống, nghiêm túc nói: “Tiểu Minh, không phải anh dội nước lạnh vào chú, vốn làm thư ký Thị trưởng thì rất tốt, anh mừng cho chú, nhưng nên chọn bia miệng, chọn Thị trưởng đáng tin cậy. Nếu làm thư ký cho Bành Quốc Lương, anh khuyên chú cần phải suy nghĩ thận trọng.”
Tôi cứ ngỡ anh cạn ly vì mừng tôi được làm Thư ký Thị trưởng, ai ngờ lại dội cho mình gáo nước lạnh như thế. Tôi không hiểu, liền hỏi: “Tại sao vậy?”
Anh nói chân thành: “Tiểu Minh, anh cũng là phóng viên lâu năm của tòa soạn Thanh Giang nhật báo, lại là nhà văn danh tiếng, nghe thông tin từ trên xuống dưới nhiều hơn chú. Thị trưởng, Phó Thị trưởng Đông Châu cũng đã trải qua nhiều đời, nhưng tai tiếng của Bành Quốc Lương nhiều nhất, nói ông ta háo sắc cũng có, cờ bạc cũng có. Tiểu Minh, không có lửa làm sao có khói, nếu những lời đồn đại là có thật, chú đi theo ông ta liệu anh có thể yên tâm được không?”
Bị kiềm chế bao năm trên quan trường, khó khăn lắm mới có được cơ hội tốt như vậy, nhưng anh lại khuyên từ bỏ, tôi liền phản bác: “Anh là phóng viên kỳ cựu, những tin vịt thế anh cũng tin sao? Em ngày nào cũng làm việc với Phó Thị trưởng Bành, em hiểu ông ấy hơn anh, những lời tung tin bịa đặt chẳng qua là những lời ác ý của đối thủ nhằm làm xúc phạm, hạ bệ uy tín của ông ấy mà thôi. Mà thực ra lãnh đạo nào chả vậy, có điều nhiều hay ít mà thôi. Ở địa vị như Phó Thị trưởng Bành, có người ganh tị, ác ý là chuyện thường, không có mới là chuyện lạ.”
Anh vẫn bảo tôi ngụy biện, cố khuyên bảo mãi mà tôi không nghe. Còn tôi nghĩ: Anh là anh cả, phóng viên lâu năm, lại là nhà văn có tên tuổi, giờ lại xuất bản được cuốn tiểu thuyết Bãi cát Bắc theo tâm nguyện của cha, tổ tiên vinh dự vì anh, còn tôi thì sao, một tay nhân viên điều tra tầm thường, làm gì có thời gian về thắp hương đắp mộ ông bà tổ tiên, với thành tích hiện nay tôi mặt mũi nào trở về quê chứ?
Không muốn nghe anh càm ràm thêm nữa, lại muốn nhanh về nhà để thưởng thức cuốn tiểu thuyết mới nên bình rượu chưa uống hết đã dẹp ly. Lúc chia tay, anh tôi còn dặn đi dặn lại bảo tôi suy nghĩ kỹ những điều anh ấy nói, tôi ậm à ậm ừ rồi lái xe về luôn.
Tối nay bà xã phải trực đêm, tôi tắm rửa xong liền lên giường để thưởng thức Bãi cát Bắc – tác phẩm của anh tôi. Ở bìa lót có đề bốn chữ: “Kính dâng tặng cha”. Bốn chữ ấy khiến tôi vô cùng xúc động, sâu thẳm trong tôi ngân vang một nỗi buồn, tôi thổn thức: “Bố, anh trai có Bãi cát Bắc, con lấy gì để dâng tặng bố đây?” Bốn bề yên tĩnh, tia sáng từ ngọn đèn rọi vào mắt, soi thấu tâm hồn tôi, mỗi chữ trong cuốn tiểu thuyết như ánh mắt cha xoáy vào tâm khảm. Bãi cát Bắc chẳng phải đâu xa lạ, chính là xứ sở của tổ tiên gia tộc tôi. Tôi gấp sách, nhắm mắt lại, dòng sông Tiểu Thanh trong như ánh trăng chiếu vào tâm trí tôi, dưới sông là lũ trẻ đang bơi, rõ ràng có cả bố tôi, đương nhiên có cả anh em tôi. Dần dần, nước sông bỗng trở lên đục ngầu như sông Hoàng Hà, đục đến mức giống như một ông già đang sức cùng lực kiệt, đóng quánh lại như hắc ín, hình ảnh của bố, của anh và của tôi thời niên thiếu như bị đọng lại giữa dòng sông, trở thành ba pho tượng để mông trần.
Tôi bỗng hiểu ra lý do tại sao bố tôi lại cố ý dùng tiểu thuyết để lập tấm bia cho quê hương, đó là bởi ông ấy sợ quên đi hồi ức. Với ông ấy, sông Tiểu Thanh là miệng vết thương chảy máu, là vết thương của thời đại, là vết thương của hiện thực, càng là vết thương của lịch sử, vì thế tôi không biết nên ca tụng hay nguyền rủa nó. Sống và chết đều không hy vọng, vậy chúng ta hy vọng điều gì? Tôi nhớ một nhà thơ nước ngoài từng nói: “Mọi ngọn lửa đều gắn liền với tình cảm mãnh liệt, chỉ có hào quang là cô độc.” Điều này chứng tỏ hy vọng không phải là lửa, mà là hào quang. Bố tôi vì hy vọng, đến chết cũng là nhà văn. Anh tôi cũng vì hy vọng, đến chết có lẽ cũng là nhà báo, hoặc nhà văn. Hy vọng của họ không thuộc về tôi, bởi tôi quyết tâm, đến chết cũng vẫn là một công chức.
Quả nhiên không ngoài dự đoán của tôi, Lưu Nhất Hạc trở thành Thị trưởng thành phố Đông Châu, mà còn đạt số phiếu cao trong hai kỳ đại hội. Qua những cuộc nói chuyện giữa tôi với Bành Quốc Lương, tôi hiểu nỗi khổ trong lòng ông ấy chính là: “Trời đã sinh Du sao còn sinh Lượng”, đương nhiên những nhân vật tầm cỡ thường vui buồn không biểu lộ ra mặt, điều này càng khiến nỗi đau khổ thêm nặng nề. Quan hệ tế nhị giữa Lưu Nhất Hạc với Bành Quốc Lương khiến tôi thực sự lo lắng cái ghế Phó Thị trưởng thường vụ của họ Bành.
Chẳng mấy chốc, Hồ Chiếm Phát vinh dự thăng chức Phó trưởng khu Cổ Kiều, tôi cũng mãn nguyện trở thành thư ký Thị trưởng, việc này khiến Chu Đại Vỹ vô cùng thất vọng. Cậu ta không hề nịnh bợ tôi như nịnh Hồ Chiếm Phát, bởi cậu ta biết nếu có ngày tôi rời vị trí thư ký Phó Thị trưởng, thì Bành Quốc Lương cũng không chọn mình. Chu Đại Vỹ cực kỳ thông minh, cậu ta không màng đến cái chức thư ký Thị trưởng nữa, mà chuyển sang tấn công Tiêu Phúc Nhân. Xem ra cậu ta muốn giải quyết Phó phòng cấp điều tra viên đây mà, cuối cùng cậu ta cũng trở nên thực tế hơn rồi đấy.
Gần đây anh trai cũng cho tôi biết một tin kỳ bất ngờ: hai đồng nghiệp cũ của anh ấy là Lâm Vĩnh Thanh và Hồ Chiếm Phát được Hứa Trí Thái bắc cầu giờ qua lại gần gũi lắm, Phó Thị trưởng Bành còn mời Lâm Vĩnh Thanh ăn tiệc. Tôi biết đằng sau việc này nhất định có âm mưu gì đó, vì thế mới dặn dò anh trai thử thăm dò Lâm Vĩnh Thanh. Anh tôi mời Lâm Vĩnh Thanh uống rượu, ông ta cứ rượu vào là lôi hết ruột gan ra tâm sự. Hóa ra Lâm Vĩnh Thanh và Bí thư Ủy ban kỷ luật Tề Tú Anh là mối tình đầu từ khi còn đại học, hai người hiện vẫn giữ mối quan hệ bạn bè. Tôi thấy lạ, với thân phận Bành Quốc Lương mà phải thông qua Hứa Trí Thái mời Lâm Vĩnh Thanh ăn cơm, hẳn là một uẩn khúc, chắc muốn thông qua Vĩnh Thanh để lấy lòng Tề Tú Anh. Có ai không biết Tề Tú Anh là “Nữ Bao Công” nổi tiếng cả nước, một vị Phó Thị trưởng thông qua người tình đầu tiên của Nữ Bao Công để lấy lòng bà ta, như vậy là thế nào? Tôi không dám nghĩ nhiều hơn về chuyện này nữa. Nhưng có điều, nhìn qua thái độ của Hứa Trí Thái, tôi cũng gián tiếp chứng minh được việc ấy.
Hứa Trí Thái khác hẳn Chu Đại Vỹ, từ khi tôi làm thư ký Thị trưởng đến nay, anh ta tỏ ra cung kính tôi hơn đối với Hồ Chiếm Phát trước đây. Dương Hằng Đạt vẫn quỷ quyệt như thế, đáng lẽ sau khi tôi lên làm thư ký cho Phó Thị trưởng thì công việc chỉ gói gọn của một thư ký, nhưng anh ta luôn nói rằng, tôi sẽ làm công việc của Phó phòng tổng hợp 1, mà phòng Tổng hợp 2 cũng không tách rời, và còn phải làm việc cho Phó Thị trưởng Bành. Dương Hằng Đạt muốn tôi làm thư ký Thị trưởng, kiêm Phó phòng Tổng hợp 2, thì Phó Thị trưởng không đồng ý, vì như vậy làm cho Trưởng phòng Tổng hợp 1 sẽ cảm thấy mất mặt.
Âu Bối Bối đối xử với tôi vừa phải, không quá nhạt cũng chẳng quá nhiệt tình. Điều khiến tôi không hiểu là, mỗi lần vào phòng Phó Thị trưởng Bành, cô ta không bao giờ gõ cửa. Dần dần tôi cũng hiểu, không lâu sau, cô ta phá thai, rồi đòi ly hôn với Vương Triều Quyền, người ngoài bàn tán cho rằng nguyên nhân ly hôn là vì Triệu Trung, cái thai trong bụng “tám phần mười” là của thằng mặt lợn ấy. Từ khi Triệu Trung biến thành hòa thượng giả, lưng giắt bạc triệu, Bối Bối tỏ ra khá thân thiết và tận tình với hắn ta, nhưng đứa bé trong bụng ấy tuyệt không phải là của Triệu Trung, việc này chỉ mình tôi biết. Thường có câu, trong mắt người ở không có vĩ nhân. Lúc đầu anh trai tôi khuyên đừng làm thư ký Thị trưởng, tôi không nghe, thời gian trôi qua, bây giờ tôi mới bắt đầu thấy lo lắng về sự lựa chọn của mình.
Sau khi nhậm chức Thị trưởng, Lưu Nhất Hạc bắt tay ngay vào công tác Xúc tiến thương mại thu hút đầu tư của thành phố, không chỉ mở các cuộc đại hội động viên, mà còn chủ trì hội nghị Thường Vụ Thành Ủy, đặt ra quy chế và biện pháp khen thưởng, khích lệ những đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động này. Bành Quốc Lương là chủ quản công tác Xúc tiến thương mại và thu hút đầu tư, nên Thị trưởng Lưu Nhất Hạc tỏ ra khá tôn trọng và tin tưởng. Theo tôi thấy, Thị trưởng Lưu là người độ lượng, công tâm, việc gì cũng xuất phát từ công việc, nhưng Phó Thị trưởng Bành lại không nhìn ra điều đó, ông ta cho rằng đó là tư thế của một màn đấu trí, đấu dũng để Lưu Nhất Hạc lợi dụng những thành tích có sẵn của ông ta.
Sau Đại hội động viên Xúc tiến thương mại thu hút đầu tư, tôi cùng Phó Thị trưởng Bành đi Thâm Quyến, không ngờ trước giờ lên máy bay tôi mới biết còn có Trần Thực, Ôn Hoa Kiên và một phụ nữ trung niên xinh đẹp mà tôi không quen. Qua sự giới thiệu của Phó Thị trưởng Bành, tôi biết người này họ Ngưu, Trần Thực và Ôn Hoa Kiên đều gọi là cô Ngưu.
Theo kế hoạch, chuyến công tác này sẽ đến Thâm Quyến mở hội nghị tổng kết khen thưởng công tác Xúc tiến đầu tư thương mại cho một đơn vị thương cảng, tôi cho rằng lễ khen thưởng tiến hành tổ chức tại Thâm Quyến, nhưng hóa ra không phải. Chúng tôi ở khách sạn “Cảnh Biển”, bốn người họ ở một phòng sang trọng nhất của khách sạn bàn bạc chuyện gì đó đến quá nửa đêm, ngày hôm sau chỉ còn mình tôi ở lại Thâm Quyến, bốn người lên xe Mercedes của cô Ngưu đi Hồng Kông.
Từ đó về sau, Bành Quốc Lương liên tiếp bay đi Thâm Quyến, mỗi lần ông ta đến đó cô Ngưu đều đến đón, rồi cùng đi Hồng Kông, vẫn cứ bỏ tôi một mình ở Thâm Quyến. Đến khi cô Ngưu đưa Bành Quốc Lương trở lại thì lần nào cũng có Trần Thực, Ôn Hoa Kiên từ Hồng Kông về cùng. Dần dần, qua những câu chuyện họ nói với nhau, tôi cũng hiểu ra một vài điều, những điều ấy khiến tôi vô cùng hoảng sợ, tôi biết thực sự mình đã lên nhầm thuyền.
Người ta thường nói, “đùa với lửa có ngày bị bỏng”, mấy người này không đùa với lửa mà họ đùa với số mạng! Một thời gian dài, trong đầu tôi chỉ có một chữ: “Trốn!” Trước đây tôi từng xác định chức thư ký Thị trưởng là nơi đã đến mà không có đường về, vĩnh viễn nắm chắc tay lái vận mệnh cuộc sống, không hiểu sao cửa vận mệnh lại là cửa địa ngục.
Đó là một buổi sáng ấm áp, lúc tôi và tài xế đến đón Bành Quốc Lương đi làm, thấy vẻ mặt ông ta buồn bã. Dọc đường cũng chẳng nói chẳng rằng, vừa đến phòng làm việc ông ta bèn gọi điện cho Tiêu Phúc Nhân nói rằng phòng ông đang thiếu một máy nghiền giấy vụn, hôm nay phải mang đến ngay. Chưa đầy hai tiếng sau, nhân viên đã mang máy đến và lắp đặt xong xuôi. Bành Quốc Lương ngồi lỳ trong phòng làm việc phê duyệt, sửa soạn văn kiện và giấy tờ, xong đâu đấy ông ta cầm từng tập nhét vào máy nghiền giấy. Hơn hai tiếng đồng hồ, giấy nghiền vụn trong thùng đã cao tới một mét, còn ông ta quên cả cơm trưa, tôi đành dặn nhà bếp đem một bát mỳ lên phòng, nhưng Bành Quốc Lương cũng chẳng động đũa...
Xong việc, ông ấy hút một điếu thuốc, trầm tư đến nỗi chỉ dư đầu lọc. Chưa bao giờ như thế, bởi trước đây Bành Quốc Lương chỉ hút nửa điếu là vứt, có khi chỉ rít vài hơi rồi vứt ngay, sở dĩ hôm nay ông ta như vậy là vì hình như ông ta muốn cáo biệt văn phòng của mình. Lúc ấy chuông điện thoại di động bất ngờ đổ chuông, ông ta nghe máy, chỉ thấy ừ ừ vài tiếng rồi tắt máy, sau đó nói muốn về nhà. Tôi nghĩ ông ấy bị bệnh, hỏi có cần đi bệnh viện không, ông ấy chỉ lắc đầu. Một lúc sau, ông ấy mở tủ sắt, lấy ra một bọc ni lông, quấn dây rất kỹ đưa cho tôi, dặn dò: “Tiểu Minh, đây là số tiền riêng của tôi, tôi không muốn cho bà xã biết, trước mắt tôi gửi chú, đừng để ở văn phòng, đem về cất ở nhà, khi nào tôi cần dùng thì sẽ lấy. Ngoài ra chú gọi điện cho Trần Thực và Ôn Hoa Kiên, bảo họ đến nhà tôi ngay.”
Tôi cũng chẳng muốn để mãi gói này trong túi công văn của mình. Bành Quốc Lương nhìn văn phòng một lượt, như vẫn không nỡ rời xa, sau đó bước đi dứt khoát. Tôi có nằm mơ cũng không ngờ rằng mình và Bành Quốc Lương lại chia tay nhau trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng thế này.