Gần đây tôi nghe thấy rất nhiều tin đồn về Lưu Nhất Hạc, là Âu Bối Bối nói cho tôi biết. Tôi hỏi cô ấy nghe tin đồn từ đâu, cô ấy bảo do Hồ Chiếm Phát nói. Khi tôi làm Trưởng phòng tổng hợp 2, Hồ Chiếm Phát nhiều lần ngấm ngầm nói xấu sau lưng Thị trưởng Lưu, thằng cha này chẳng qua chỉ là con chó của Bành Quốc Lương mà thôi. Tôi đoán, nếu không có ý của chủ, nó sẽ chẳng dám to gan cắn người khác. Sự thật vốn mất lòng, những người thẳng thắn vô tư như Lưu Nhất Hạc nhất định không bao giờ dùng quyền lực, làm việc giao dịch sau hậu trường mà tất cả đều đem ra trước khán đài, bắt đối thủ đứng trước mặt nói công khai, nhưng bắt kẻ thù đứng trước mặt để nói, đâu có dễ dàng. Một số kẻ đố kỵ, có nhiều tâm kế, mãi mãi núp sau hậu đài, không bao giờ có gan đứng trước mặt đối thủ. Tôi không chỉ khuyên Thị trưởng Lưu cẩn thận khi đối phó với kẻ tiểu nhân chuyên đứng trong bóng tối, đối phó với kẻ đặt chuyện đồn nhảm như Bành Quốc Lương, cần “lấy độc trị độc”. Nhưng mỗi lần như vậy, Thị trưởng Lưu đều nghiêm mặt nói: “Triệu Trung, thảo nào người trong văn phòng Ủy ban đều gọi cậu là ‘hòa thượng giả’, cậu tuy có ‘duyên Phật’ nhưng chưa có ‘tâm Phật’ đâu! Người như tôi rất thích đối thủ, có đối thủ làm việc mới thú vị, nhưng tôi rất ghét những việc làm tốn công vô ích. Tôi là Thị trưởng muốn làm việc vì dân, chẳng cần âm mưu quỷ kế, tôi luôn tin vào tấm lòng vô tư rộng lượng, những kẻ chết vì đố kỵ nhiều hơn so với những kẻ chết vì bệnh ung thư. Làm chính trị đương nhiên sẽ xuất hiện khó khăn, cải cách mở cửa ba mươi năm, có bước nào mà không đi lên từ hiểm nghèo, có bao giờ hiểm cảnh biến thành phong cảnh đâu, phong cảnh đẹp độc đáo, vì sao? Trong Tiêu dao du của Trang Tử có câu: Năm tháng qua rồi, ngọn đuốc không tắt, tôi có câu: Sông biển rộng mở, mà đầm nước vẫn sâu.” Lúc nói hai câu ấy, mắt anh ta sáng lên, nói xong miệng nở nụ cười am hiểu thế sự, hai mắt trầm tĩnh như nước.
Dù Thị trưởng Lưu nhiều lần dặn tôi cứ làm tốt công việc của mình, đừng thọc tay vào chính trị, nhưng lúc nào tôi cũng cho rằng mình phải có trách nhiệm giúp anh ấy một tay. Lúc tôi còn đương chức Trưởng phòng Tổng hợp 2, mọi người còn nhìn tôi bằng con mắt coi trọng, là bởi tôi dựa lưng vào gốc cây lớn Lưu Nhất Hạc; giờ tôi buôn bán “xuôi chèo mát mái”, tuy không dựa vào sức mạnh của Lưu Nhất Hạc, nhưng tôi hiểu rất rõ, sở dĩ tôi buôn bán thuận buồm xuôi gió, là do họ biết quan hệ giữa tôi và Thị trưởng Lưu. Quan hệ giữa tôi và Lưu Nhất Hạc không chỉ đơn giản là tình anh em từ đời cha đến đời con, mà có thể nói một cách đơn giản nhất là Lưu Nhất Hạc chính là biểu tượng cho sự tôn nghiêm của tôi.
Vì sự tôn nghiêm này, mà bản thân có chút âm mưu cũng không có gì là quá đáng. Lưu Nhất Hạc quân tử vô tư thẳng thắn, không thèm đưa mắt nhìn xuống hậu trường, còn tôi, tự thấy mình không phải là quân tử, không chỉ muốn nhìn từ hậu trường, mà còn muốn nhìn kẻ tiểu nhân núp sau hậu trường rốt cuộc là ai. Khi là Trưởng phòng Tổng hợp 2, tôi là “trẫm” trong phòng, nói một là một, hai là hai, đến nỗi cả phòng rủa tôi chuyên chế, độc đoán, thậm chí là bá đạo, đến mức Hứa Trí Thái, Hoàng Tiểu Minh, liên kết mọi người đẩy tôi đi. Dựa vào thực lực của tôi hiện tại để chơi xỏ, thậm chí hủy hoại cả tiền đồ của họ là chuyện đơn giản, nhưng nếu như không có họ làm cuộc “chính biến” trước đây thì tôi đâu có được phát tài như ngày nay, cho nên đứng từ một góc độ khác, tôi phải cảm ơn họ, huống hồ bọn Hứa Trí Thái giờ cũng trắng tay rồi. Giờ cả Hứa Trí Thái và Hoàng Tiểu Minh đều leo lên thuyền cướp của Bành Quốc Lương, e rằng “lên thuyền giặc thì dễ, xuống thuyền mới khó”.
Hiện nay việc buôn bán của tôi là phổ độ chúng sinh, từ “trẫm” biến thành “Phật”, từ khi tôi “kết duyên” với Phật, tôi cho rằng mọi hy vọng của con người đều đến từ bờ bên kia, tất cả thất vọng của con người cũng đến từ bờ bên kia, ai cũng mong được cứu rỗi, mà chỉ có bờ bên kia mới cứu rỗi được chúng ta, nhưng chúng ta lại thường xuyên tự hủy bờ bên kia, đây được gọi là một lý luận ngược. Bờ bên kia có thể cứu rỗi linh hồn, cũng có thể giam cầm linh hồn. Chính bởi có tồn tại cái chết, nên người ta mới hiểu thế nào là hạnh phúc, mới biết hướng theo bờ bên kia thì sinh mệnh hạnh phúc vì không chết, đương nhiên cũng chẳng còn phiền não, nhưng đó không phải bờ bên kia, mà là Thiên đường. Đây cũng là nguyên nhân mọi người hướng đến sùng bái thần. Vậy bờ bên kia là ở đâu? Đây là câu chuyện muôn thuở của nhân loại. Có phải là quyền lực không? Tuyệt đối không! Quyền lực chính là cội nguồn của đau khổ, chỉ gây ra sự kìm hãm tư tưởng và trì trệ của lịch sử. Sinh mạng cuối cùng sẽ đi đến tử vong, nhưng lại không biết ngưng trệ, chỉ có người đang sống mới có sinh mạng, nếu không thì chỉ gọi là thây xác, mà thây xác sẽ thối rữa và tiêu tan. Vì thế, bờ bên kia chỉ có thể tồn tại trong sinh mạng, bờ bên kia là hy vọng muôn đời bất diệt của nhân loại, còn quyền lực chỉ có thể hô hào đắp tường, xây lô cốt, vây xung quanh con người, vô tình kìm hãm hy vọng của con người đến nghẹt thở. Bờ bên kia cũng không hề tồn tại trong bất kỳ môn khoa học xã hội nào, vì thế, bất cứ môn khoa học nào cũng có bức tường vây quanh của mình, có lô cốt của mình, có hệ thống của mình, bộ mặt của mình. Vì thế nhân loại chỉ có thể dựa vào tôn giáo để an ủi linh hồn mình. Tôn giáo là con thuyền cứu hộ mà nhân loại tìm thấy trong quá trình đi tìm bờ bên kia. Đối với tôi, thuyền cứu hộ không phải là thuyền, mà là miếu, chùa. Phạm Trọng Yêm(1) từng nói: “Ở nơi miếu đường cao cao, lo lắng cho dân; mãi tận giang hồ xa thẳm, nghĩ đến vận nước.” Nay tôi ở xa giang hồ mà lại đứng trên miếu đường, đây đúng là số mệnh, là Phật duyên.
Tôi muốn trở thành “Chiến đấu Phật”, để xem Bành Quốc Lương lái con thuyền trộm cướp đi về hướng nào. Sau khi đã xác định chủ ý, tôi quyết viết tiểu thuyết trên “sòng bài” chữ nghĩa. Từ lâu tôi đã nghe nói Bành Quốc Lương mê đánh bạc, thường xuyên cùng Trần Thực và Ôn Hoa Kiên ra ngoài chơi, chỉ có điều không biết tiền đánh bạc lấy đâu ra, tôi tin chắc nó không từ tham ô thì cũng từ hối lộ mà ra, chứ không thể từ con đường chân chính. Chỉ cần lần theo dây mò gốc, nhất định tìm ra gốc tích. Quả thực nếu nắm được thóp tham ô hủ hóa của Bành Quốc Lương, không những trừ khử cho quốc gia một con sâu mọt, quan trọng hơn là loại bỏ được mối hiểm họa trên con đường chính trị của Lưu Nhất Hạc. Trải qua thăm dò tìm hiểu và xây dựng kế hoạch chặt chẽ, cẩn mật, khi Bành Quốc Lương lấy danh nghĩa đi “Xúc tiến đầu tư thương mại” ở Hồng Kông và Ma Cao, tôi quyết định theo gót.
Mấy hôm trước, tôi mời Chu Văn Vũ – cha của Chu Đại Vỹ ăn cơm, sở dĩ vậy là vì tôi phát hiện ra Bành Quốc Lương rất thân Robert bên cảng thương, mà Robert là đại diện tập đoàn Vạn Thông Hồng Kông đang hợp tác với Chu Văn Vũ khai phá khu bờ sông, xây dựng công trình Hoa viên Hà Cảng. Hoa viên Hà Cảng thuộc bãi đất Ngũ Gia trang bên bờ sông Hắc Thủy, diện tích hàng trăm mẫu đất, đầu tư hàng nghìn tỷ, đây là hạng mục lớn nhất do Chu Văn Vũ làm từ trước đến nay, Robert chẳng qua là đại biểu của tập đoàn Vạn Thông bên Hồng Kông mà thôi. Hạng mục này do cựu thị trưởng dẫn đoàn đến Xúc tiến hợp tác với Hồng Kông. Chu Văn Vũ mượn cơ hội tiếp xúc với Chủ tịch hội đồng quản trị của tập đoàn Vạn Thông, trăm khó nghìn khổ tiếp xúc, giao dịch, cuối cùng mới đàm phán thành công hợp đồng hạng mục này.
Từ sau khi Thị trưởng Lưu nhậm chức, công trình Hoa viên Hà Cảng càng được coi trọng, vì từ hạng mục này, hai bên bờ sông Hắc Thủy sẽ có thể trở thành “dải bạc” của thành phố Đông Châu. Chính vì thế công ty nhà đất của tôi đang chuẩn bị tiến công vào “dải bạc” này. Tôi mời Chu Văn Vũ ăn cơm, một mặt muốn thỉnh giáo ông ấy về kinh nghiệm hợp tác với thương cảng, mặt khác muốn thăm dò tại sao Bành Quốc Lương lại thân cận với Robert như thế.
Trong bữa tiệc, Chu Văn Vũ rất trân trọng mối quan hệ giữa tôi và Lưu Nhất Hạc, mong muốn tôi giới thiệu Chu Đại Vỹ – con trai ông ấy với Thị trưởng Lưu. Khi tôi làm Trưởng phòng Tổng hợp 2, tôi biết Chu Đại Vỹ rất thích làm thư ký Thị trưởng, nhưng khổ nỗi không có chỗ bây giờ Chu Văn Vũ nghe nói Tống Đạo Minh sắp hết nhiệm kỳ, nên ra sức ca ngợi con trai mình tài đức kiêm toàn, tôi bèn thừa cơ thăm dò quan hệ giữa Bành Quốc Lương và Robert. Chu Văn Vũ cũng không hề giấu giếm, kể hết cho tôi nghe. Robert là con nghiện cờ bạc bẩm sinh, thường xuyên đưa Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên, Trần Thực lên con tàu hào hoa nhất của Hồng Kông để đánh bạc. Ông ta còn cho tôi biết, sòng bạc mà Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên và Trần Thực thích đến nhất, đó là “chuồng gà lớn” ở Ma Cao. Tất nhiên, Chu Văn Vũ vì con đường tiến thân của con trai mà mở hết gan ruột nói cho tôi biết những thông tin này, và cũng nhờ chính những tin tức này củng cố niềm tin vững chắc cho tôi hạ quyết tâm bám theo Bành Quốc Lương. Tôi muốn trở thành thiên nhãn của Thiên Nga đen, thu thập được đầu mối một cách “Thần không biết, quỷ không hay”.
Mỗi lần đến văn phòng Ủy ban tôi đều ghé qua phòng Tổng hợp 2 ngồi một chút. Kể cũng khéo, hôm ấy tôi vừa bước vào phòng, liền thấy Hoàng Tiểu Minh đang gọi điện nhờ vợ đặt vé máy bay, tôi hỏi Dương Hằng Đạt, Tiểu Minh đặt vé máy bay cho ai? Hằng Đạt nói, Phó Thị trưởng Bành ngày mai đi Hồng Kông! Tôi bỗng cảnh giác, vợ Hoàng Tiểu Minh bán vé của công ty hàng không, vì thế mỗi lần Bành Quốc Lương đi công tác, Hồ Chiếm Phát đều nhờ Hoàng Tiểu Minh đặt vé. Tôi và Dương Hằng Đạt, Hoàng Tiểu Minh ngồi nói chuyện phiếm một lúc, thăm dò được chuyến bay của Bành Quốc Lương, thế là tôi lẳng lặng rời khỏi phòng Tổng hợp 2.
Tôi vội vàng đến đại lý bán vé máy bay, mua vé đi Hồng Kông ngay chiều hôm đó, sở dĩ như vậy vì tôi sợ ngày mai đi cùng chuyến bay thì Bành Quốc Lương sẽ nhận ra. Tôi bay thẳng đến Hồng Kông, nghỉ tại một khách sạn của sân bay để “ôm cây đợi thỏ”. Quả nhiên hôm sau, Bành Quốc Lương, Trần Thực và Ôn Hoa Kiên cùng đến trong chuyến bay hai giờ chiều. Đón họ là một phụ nữ tôi không quen, tuổi trung niên nhưng trông cách trưng diện thì vẫn rất trẻ trung, lái chiếc Mercedes. Sau khi chào hỏi, mấy người xếp hành lý vào cốp rồi cùng chui vào xe, rời khỏi sân bay. Tôi gọi một chiếc taxi bám theo đến khách sạn Lệ Cảng, thấy họ làm thủ tục xong, người cười, người nói vui vẻ cùng vào thang máy. Tôi ngồi ở đại sảnh khách sạn lật mấy tờ báo, vừa đọc vừa đợi. Tôi cho rằng Robert sẽ xuất hiện ngay, bởi vì trước khi xuất phát tôi gọi điện cho Chu Văn Vũ với giọng phấn khởi vờ hẹn ông ấy mời Robert đánh mạt chược để thăm dò hướng đi của ông ta, nhưng Chu Văn Vũ nói vẻ bực tức: “Robert đi Hồng Kông lãnh thưởng rồi!” Tôi cố giữ giọng bình tĩnh nói đùa: “Robert đi Hồng Kông lãnh thưởng gì vậy? Lẽ nào trúng số độc đắc?” Chu Văn Vũ tức khí, chửi: “Mẹ kiếp! Hoa viên Hà Cảng rõ rành rành là hạng mục của ông nội nó đây xúc tiến đàm phán. Khen thưởng người có công xúc tiến hợp tác kêu gọi đầu tư phải thưởng cho lão đây mới đúng chứ, Robert có quan hệ con mẹ gì, Bành Quốc Lương làm Thị trưởng chủ quản, không chỉ ‘bứt râu ông nọ cắm cằm bà kia’, mà còn vội đi Hồng Kông để gặp mặt nhau. Triệu Trung, tại sao không có người vạch bộ mặt mèo ăn vụng ấy ra chứ?” Nói chuyện với Chu Văn Vũ xong, tôi biết chuyến đi Hồng Kông này của mình là thu hoạch lớn.
Sự việc ngoài ý của tôi, Robert không xuất hiện, tôi ngồi ở sảnh khách sạn nửa tiếng thì họ vẫn ba nam một nữ cùng nhau từ trên xuống, ra khỏi thang máy, lên xe đi thẳng. Tôi vội vã leo lên taxi bám theo, xe của họ dừng ở bến cảng Hồng Kông. Tôi cho rằng bốn người lên thuyền đánh bạc nhưng còn rất sớm, tàu đánh bạc ở Hồng Kông thường bảy giờ tối mới bắt đầu rời bến, bảy giờ sáng hôm sau mới quay về. Không ngờ Bành Quốc Lương, Trần Thực, Ôn Hoa Kiên ra khỏi xe, người phụ nữ lái xe trở lại, còn ba người xuống tàu cánh ngầm cao tốc đi Ma Cao. Lúc đó tôi biết rõ mục đích đi Ma Cao của họ, tôi mừng thầm trong bụng, nhưng vì không thể đi cùng chuyến tàu với họ nên đành đi chuyến sau, giờ tôi đã biết chắc chắn ba người đó sẽ đến “chuồng gà lớn”, nên không sợ mất dấu tích của họ.
Tàu cao tốc cứ nửa tiếng đồng hồ có một chuyến, chạy khoảng một tiếng là đến Ma Cao. Sau khi lên bờ, có rất nhiều xe miễn phí đưa khách đến các sòng bạc. Tôi cứ thế bước lên chiếc xe mui trần nhỏ, chạy thẳng đến sòng bạc Bồ Kinh.
Chiếc xe vừa đỗ, tôi liền nhìn thấy chiếc xe Mercedes đen, bóng loáng đang đậu phía trước, hai bên cửa xe có vệ sĩ cao to, cung kính mở cửa, từ trong xe bước ra một người đàn ông, tóc bóng mướt, mặc com lê, đi giày da, đeo kính đen, gọng viền kim tuyến vàng, dáng bệ vệ như một “hắc đại ca”. Nhưng càng nhìn tôi càng thấy giống Vương Triều Quyền – chồng của Âu Bối Bối. Tôi nghĩ mình hoa mắt, bèn lấy tay dụi, nhưng quả là không nhầm, đúng là Vương Triều Quyền, thằng cha “bất lực” này lắc mình một cái đã biến thành ông chủ, ngồi xe hơi, lại còn có hai vệ sĩ đi hai bên, tôi vội vàng xuống xe để nhìn cho rõ.
Do cửa chính của sòng bạc Bồ Kinh giống như con hổ đang há cái miệng máu, nên mọi người không muốn đi thẳng mà rẽ sang cửa bên trái. “Chuồng gà lớn” kiểm tra rất nghiêm ngặt, không khác gì trước khi lên máy bay, đến cả điện thoại, máy chụp hình cũng không được đem vào sòng bạc. Điều khiến tôi ngạc nhiên đến bàng hoàng là Vương Triều Quyền rất bình thản tiến tới chốt kiểm tra mà còn vừa đi vừa nghe điện thoại nữa.
Trong lúc đang kiểm tra, tôi đột nhiên gọi: “Triều Quyền!” Vừa dứt lời, anh ta liền quay đầu lại, tôi nhìn rõ ràng là Vương Triều Quyền, nhưng rất nhanh, anh ta quay ngoắt cùng hai vệ sĩ bước đi luôn.
Tôi kiểm tra xong tính đuổi theo Vương Triều Quyền, nhưng anh ta như hơi nước bốc lên tan vào không khí, không biết đi hướng nào. Tôi ngẩn người một lúc, bỗng sực nhớ mục đích chuyến đi của mình, nên vội bước vào thang máy.
Chuồng gà lớn có hai mươi sáu phòng khách VIP, tôi từng nghe Chu Văn Vũ nói Bành Quốc Lương rất thích phòng Hoàng Kim, phòng Phỉ Thúy, và phòng Cẩm Thạch. Tôi đi một vòng từng phòng, từng phòng một, mà vẫn không tìm thấy Bành Quốc Lương, Ôn Hoa Kiên và Trần Thực đâu cả.
Sợ bảo vệ nghi ngờ, gây ra những phiền phức không đáng có, tôi bèn trà trộn vào đám người như “đàn nhặng” đang chao qua liệng lại các dãy sòng bạc trong khu Hoàng kim. Vừa dạo tôi vừa nghĩ: Ma Cao chỉ có mấy khu nhà sòng: Kim Sa, Lão Pháp Vương, Hoàng Cung, Kim Bích là khu chơi vui nhất của nội thành, chẳng lẽ Bành Quốc Lương đến một nơi khác nữa? Nghĩ đến đây nỗi buồn lo trỗi dậy trong lòng, không kìm được nôn nóng, tôi bèn rời khỏi “chuồng gà lớn”.
Đêm đến, nhìn về “chuồng gà lớn” rực rỡ huy hoàng, tôi chợt nhớ đến một Lão đại vương nào đó của sòng bài đã truyền lại cho người đời một câu nói rất chí lý: “Không chơi bạc tức là thắng.” Tôi mỉm cười, nếu như thế, Bành Quốc Lương thua bạc là cái chắc rồi!