Ngày 19 tháng 10
Mới có từ đầu tháng mà anh Sỹ để đến 10 lần bị ăn « trứng thối ». Mà tôi cũng chẳng thấy ai to gan như anh ! Bữa trước thầy đã dặn đi dặn lại, hôm nay phải trình bản-đồ « Việt-Nam sông ngòi » để thầy chấm.
Cả lớp ai cũng có. Riêng mình anh không. Chẳng những bản-đồ anh không có, mà đến bài anh cũng chẳng thuộc được quá hai câu. Anh « ư, a, ư, ơ » được mấy tiếng, rồi đứng đực ra như tượng gỗ mặt đỏ bừng lên như gấc chín, nước mắt ứa ra dòng dòng.
Thầy đập bàn : « Anh không biết xấu hổ, còn khóc hay sao ? Dễ đến một tháng nay, ta để ý xem ra anh chán nản sự học, không bài nào anh học, không bài nào anh làm. Ta hết lời khuyên bảo, anh chẳng thèm nghe, anh khinh nhờn ta quá lắm !… »
Anh Sỹ cứ gằm mặt xuống mà thút thít.
Thầy đang cơn giận, hầm hầm nói tiếp : « Không biết xấu ! Không biết nhục ! Đi học mà không chịu học thì còn cắp sách đến trường làm gì cho tốn cơm cha mẹ ? »
Đến đây, anh Sỹ bật khóc thành tiếng, phải đưa vạt áo lên miệng cắn, mà vẫn cứ nức nở không thôi. Còn thầy thì thở hổn hển, rút mùi xoa trong túi ra lau mồ hôi lấm tấm trên trán, rồi gập mạnh sách vào, dằn từng tiếng : « Hừ ! Lười biếng ! Hư thân ! học không học ! làm không làm ! Ngữ ấy rồi sau này ăn cậy, sống nhờ, chứ còn trông mong gì được nữa ? Thế mà ta cứ ngỡ anh khá… »
Chúng tôi lấm lét nhìn nhau, ngồi im chẳng ai dám động đậy. Một lát sau, thầy quay lại nhìn anh, khẽ lắc đầu, giọng chán chường, mệt nhọc : « Ta hết lòng răn dạy anh, nhưng xem ra anh không cần học, ta không biết làm thế nào bây giờ ?… Ta làm nghề dạy học chỉ mong có cái vui thấy các anh chăm chỉ, vậy mà… »
Anh Sỹ sụt sịt nói : « Xin… thầy… thầy tha cho con… lần nầy… »
- Ta đã tha cho anh nhiều lần. Rồi ngày mai, rồi ngày kia, anh vẫn chứng nào tật ấy, làm gương xấu cho anh em, làm khổ tâm cho ta, làm nhục lây cho trường, cho lớp. Sỹ ơi ! nếu con không thương ta thì con cũng thương cha, thương mẹ con mà sửa đổi đi mới phải… Người ta mỗi ngày một khá một hay, còn con mỗi ngày một hư, một đốn. Mà trước kia con có thế đâu !
Anh Sỹ, nhích lại gần bàn thầy, nghẹn ngào nói qua nước mắt : « Bận sau… con… con xin chừa… »
Thầy lại chợt nổi nóng lên : « Đã nhiều lần anh nói với ta câu ấy, khiến ta quen tai quá rồi, nghe mà thêm bực. Thôi ! Anh về chỗ, kẻo anh đứng đấy ta trông thấy mà đau lòng xót ruột ».
Anh Sỹ lập cập cầm lấy sách, nước mắt, nước mũi chan hòa, lủi thủi về chỗ. Thầy nhìn theo chép miệng thở dài : « Chẳng may có học-trò thế ấy ta cũng đành mang cái tiếng với đời ».
Chúng tôi ai cũng nửa thương, nửa giận. Thương vì nỗi thấy anh hiền lành, giận vì nỗi anh không chịu học, lời thầy khuyên, anh dường như bỏ ngoài tai. Từ ít lâu nay anh bỗng đổi tính, đổi nết, trước kia chăm bao nhiêu thì bây giờ lười bấy nhiêu. Đến nỗi, cứ thấy gọi đến tên anh là chúng tôi đã bấm nhau, chờ xem anh ăn « trứng thối ».
Mới đầu còn thấy hay hay, nhưng rồi sau thấy anh vẫn chứng nào tật ấy thì chúng tôi đâm ra ác cảm, bảo nhau tẩy chay anh là đằng khác.
Chẳng mấy chốc giờ tan học đã hết. Chúng tôi thu gọn sách vở, ra xếp hàng ngoài hiên. Anh Sỹ một mình đứng ở đằng cuối, vì chẳng ai chịu đứng với anh. Mặt anh tái mét. Nước mắt chưa ráo, anh cứ cúi gầm xuống không dám ngẩng lên. Tôi trông anh mà ái ngại.
Chờ cho mấy lớp dưới ra trước, thầy vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi đi, rồi bước vào văn-phòng ông hiệu-trưởng.
Vừa ra đến cổng trường, bỗng có thấy tiếng đàn bà chu chéo đằng sau : « Thằng trời đánh thánh vật kia, về mà xem nồi cá ! Mày bỏ mày đi học để cá của tao cháy vụn thành than ! Mày hại tao ! Mày giết tao, mày có biết không ? »
Chúng tôi ngoảnh lại thấy một người đàn bà to lớn, bộ lông mày chổi xể, đôi mắt sắc như dao, đang nhẩy chồm lên mà sỉa sói vào mặt anh Sỹ : « Rồi tao về tao bảo mẹ mày ! Tao có nhờ mày không đâu ? Chẳng qua mẹ mày nợ tao, cho mày sang làm trừ nợ. Tưởng mày đỡ đần tao, quét dọn, cơm nước cho tao, ai ngờ mày thiết việc học của mày cơ ? Mày thiết làm ông trạng cơ, để đến mỗi tam tứ phen cơm sống, cá khê… Tao cần mày làm, chứ tao có cần mày học đâu. Mặt mũi thế kia có đáng cắp sách đến trường không, hử ? hử… »
Rồi bà ta cứ chồm lên, túm lấy ngực anh mà lôi như con nhái bén. Khốn nạn thân anh ! Cứ run lên cầm cập, mặt tái mét, chẳng còn hạt máu. Anh rên rỉ : « Bà tha cho cháu… Cháu chót lỡ… Cháu van bà… »
Nhưng bà ta không hề cảm động, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau ken két, rít lên những tiếng ghê người : « Tha gì ? Lạy gì ? Thôi ở nhà đóng vai đứa ở mà trừ nợ cho xong, còn sĩ-diện cắp sách đi học làm gì không biết nhục ? »
Rồi bà ta túm lấy tóc anh định tát. Nhưng một người sấn vào, gỡ tay bà ra. Đó là thầy giáo. Cặp mắt xót xa thương cảm, Thầy cúi xuống bảo anh : « Nín đi con ! Yên chí chớ hãi… Từ ngày mai con lại có đủ thời-giờ để học bài như chúng bạn… »
Rồi thầy nghiêm khắc quay lại bảo bà kia : « Còn bà bớt nóng, theo tôi về nhà, rồi công nợ thế nào, đâu có đó, phân minh… »
Bà ta cứ há hốc mồm ra, chẳng nói được câu nào, rồi trước cái vẻ nghiêm nghị của thầy giáo, bà ta cúi mặt xuống, lùi lũi đi theo…
Chúng tôi đã hiểu đầu đuôi, nhìn nhau cảm động. Anh Tôn, anh Tý xúm vào, đưa anh Sỹ về nhà…
Lúc đi đường, mẹ tôi ngậm ngùi bảo : « Con có trông thấy anh Sỹ đấy không ? Nghèo mà thiết học. Còn con, nhờ trời cái ăn cái mặc sẵn sàng, chỉ có một việc học thôi mà lắm lúc chẳng chịu học cho, vẫn lấy sự học làm khổ. Dũng con ơi ! con theo gương anh Sỹ đấy mà chịu thương, chịu khó học hành cho ba mợ vui lòng… »
Nghe mẹ nói, tôi cúi đầu ngẫm nghĩ, vừa thương bạn, vừa tự nhủ thầm phải cố gắng hơn lên.