Ngày 7 tháng 6
Hôm qua được thưởng « huy chương cố gắng » – lần đầu mà tôi được hân hạnh ấy – lại được thầy tổ chức cuộc đi cắm trại cuối năm, thật là vui thú quá !
Trời đã sáng rõ. Chúng tôi, đội nào vào đội ấy, đã tập họp đông đủ ở trường. Mọi người đều mặc đồng phục, quần cộc xanh, áo sơ mi trắng. Trên tay mỗi người một chiếc gậy quấn thừng. Vai thì đeo « ba-lô », hoặc túi vải, lủng củng những thức ăn, sổ sách, bát đũa…
Đặc biệt nhất là anh Tý với cái « bình-doong » đầy nước vối, kỷ niệm của cha anh đi lính ngày xưa. Anh Sỹ thì cha anh cũng nhường cho cái mũ « cát-két » để đội cho khỏi nắng. Anh Côn thì vai khoác thêm cái ruột xe bơm căng để phòng sẵn có suối thì tập bơi. Còn cái lều nặng thì anh Pha cứ nhất định đòi mang, khiến anh cứ phải gò người đi mà bước.
Sau khi tập họp để hát bài ca của đoàn, anh Tôn, đoàn trưởng huýt còi ra lệnh khởi hành. Dẫn đầu là lá cờ đoàn, nền xanh, chữ đỏ tua vàng. Đi sau là các đội, xếp hàng đôi, có lá cờ đỏ thêu tên đội, và có đội trưởng dẫn đầu. Trên đường dài, chúng tôi lần lượt mỗi đội hát một bản hùng ca cho thêm phấn khởi.
Ra khỏi thành phố, ánh nắng êm dịu buổi sớm bắt đầu rải rộng trên cánh đồng bát ngát. Từng làn gió phần phật trên ngọn lúa chín, làm gợn những đợt sóng vàng. Chúng tôi thấy khoan khoái, nhẹ nhàng trong bầu không khí khoáng đãng và quang cảnh bao la của thiên nhiên.
Thỉnh thoảng gặp một cây gì lạ mắt, con sâu, chiếc lá, thầy lại giảng cho chúng tôi nghe đến tận nơi tận chốn, để bổ khuyết thêm vào những bài học trong lớp.
Chúng tôi thấy rạng ra, hiểu nhiều, biết rộng hơn lên. Thế mới biết những bài học ở ngoài trời lại còn có phần hơn cả những bài học ở giữa bốn bức tường chật hẹp ở trường.
Anh Sỹ xem chừng khoái lắm ! Cứ thấy anh huýt sáo miệng luôn. Anh Tác câm như hến là thế đã phải nói đùa : « Trời đi vắng đấy, anh em ạ ! »
Anh Tý thì miệng nhai kẹo cao xu mà mặt vẫn rầu rầu. Từ hôm mẹ mất, chưa thấy anh cười bao giờ. Tội nghiệp quá !
Anh Tôn thì nhanh như con vượn, con dao trên tay, luôn gọt đủ thứ bằng cành cây nhặt bên đường.
Anh Sinh thì trầm ngâm như nhà hiền triết. Thấy cái gì lạ mắt cũng hỏi thầy, rồi rút sổ tay biên vội, biên vàng. Đối với anh, đây không những là cuộc đi chơi giải trí mà còn là buổi đi học thực hành.
Anh Phi thì trái lại, gặp cái gì hay hay cũng nhặt lấy bỏ bị, tưởng chừng như sắp đem bán được đến nơi !
Sau hơn một tiếng đồng hồ đi chân, chúng tôi đã tới nơi. Đó là một ngọn đồi nhỏ, có thông reo, suối chảy, có phong cảnh hữu tình. Chúng tôi vui sướng, thoăn thoắt trèo lên đỉnh đồi. Anh đoàn trưởng rít lên một hồi còi dài, báo hiệu nghỉ chân, cắm trại.
Sau 10 phút nghỉ ngơi, chúng tôi bắt tay vào việc. Người nào việc ấy, cứ tăm tắp. Vừa làm vừa hát, chỉ một loáng, lều đã dựng xong. Chúng tôi chia nhau, người đi kiếm củi, kẻ khoét đất làm lò, hay đào hố rác. Riêng anh Ninh, yếu đuối tàn tật, thầy cho miễn những công việc khó nhọc, nhưng anh cứ ấm ức, nhất định đòi làm chung.
Đội tôi nhận công tác đi kiếm củi, do anh Tôn hướng dẫn. Qua rãnh, qua cầu, anh giơ tay đỡ từng người. Thực chưa thấy ai chu đáo và săn sóc bạn như anh ! Anh Tý, tuy kém vui, nhưng cũng làm hết phận sự và có mang vác, nhất định nhận phần hơn.
Chỉ buồn cười anh Sỹ ! Lanh chanh trèo cây kiếm cành thế nào mà soạc ngay ra một mảnh quần tướng. May anh Phi đã sẵn ghim băng trong túi, cài cho, khéo quá, trông xa đố ai biết rách !
Lúc trở về lều, bỗng anh Tý hoảng hốt kêu lên : một chú bò, sừng nhọn hoắt, đang sừng sững giữa đường, như thách chúng tôi đi qua. Chúng tôi sợ hết vía. Nhưng anh Pha và anh Tôn đã sấp lên trước, xua cho nó đi chỗ khác, rồi dắt tay anh Tý đi lên. Đối với bạn được như anh Tôn, anh Pha, thật là hiếm có ! Nhất là anh Pha, xưa kia như thế, mà bây giờ khác hẳn ; có đánh bạn với anh cũng chẳng phải lầm !
Về đến lều thì đồng hồ chỉ 9 giờ. Thầy giáo bắt đầu tập họp cho chép chương trình và kể cho nghe một vài mẩu chuyện lịch sử trong vùng rất lý thú, cả chuyện Lưu Bình, Dương Lễ mà chúng tôi nghe ai cũng lấy làm cảm động. Sau đến anh Tôn, đoàn trưởng, dậy nút rồi cùng nhau ôn lại những bài hát mới.
Sau đấy, chúng tôi bắt đầu sửa soạn bữa cơm trưa. Anh thì đi múc nước, anh vo gạo, người nhặt rau, kẻ róm bếp, cứ tíu tít lên. Anh Ninh cũng lăng xăng đi lại giúp chúng tôi những việc nhẹ. Thế rồi chẳng mấy chốc, dưới những bóng cây râm mát, hay trên ô đất phẳng, từng làn khói cuồn cuộn bốc cao.
11 giờ đúng, chúng tôi bắt đầu dọn cơm, Thầy cũng ngồi vào cùng ăn với chúng tôi. Sau vài bài hát vui nữa, chúng tôi cầm đũa.
Bữa cơm tập đoàn ăn mới ngon miệng làm sao, tuy chỉ có muối vừng rang chưa kỹ, trứng tráng hơi cháy, rau muống luộc chưa rừ. Anh Bích xem chừng quen thói ăn ngon, nên thấy mở hộp ruốc ra, vui vẻ mời chúng tôi. Thấy anh thành thực, chẳng ai làm khách, vét cho đến tận đáy. Được cái cơm rẻo, bụng đói, thầy trò vui vẻ chuyện ran, nên chỉ một loáng, nồi nào cũng hết veo.
Ăn cơm rửa bát xong, chúng tôi được tự do, mỗi người một nơi để nói chuyện, đánh cờ, lội suối hay nằm nghỉ. Một số người xúm quanh anh Pha để nghe chuyện cổ tích. Anh thuộc nhiều chuyện hay đáo để, lại kể chuyện có duyên, nghe mãi không chán, chả bù với trước kia, đi đâu cũng như chó cúp tai, chẳng ai thèm chơi với.
Đến 2 giờ, theo hiệu còi của anh đoàn trưởng, chúng tôi hội họp, rồi đứng thành vòng tròn, trên một bãi cỏ rộng và phẳng.
Các trò chơi bắt đầu. Thoạt tiên là trò vui luyện trí khôn, rồi đến các trò chơi thể thao, luyện mắt cho tinh, tay bắt cho khéo, chân chạy cho nhanh.
Sau cùng là một trò chơi lớn, có tính cách hoạt động, mạo hiểm, để áp dụng những điều thực hành về dấu hiệu đi đường, dấu « moóc », đã được học trong những buổi họp đoàn.
Đến 4 giờ rưỡi, chúng tôi hội họp nhau lại để kiểm điểm công tác. Thầy giáo lấy làm hài lòng và chúng tôi ai cũng vui vẻ.
Ngồi gần tôi, thầy bảo : « Nghỉ hè sắp tới, các con sắp phải chia tay. Giờ còn được anh anh em em xum họp vui chơi thế này, mai đây, mỗi người một ngả, các con phải nhớ lấy những kỷ niệm này mới được ! Như anh Sinh, anh Dũng… sau này nhờ ơn cha mẹ được học đến nơi đến chốn, rồi ra đời làm nên ông nọ ông kia, trông thấy các bạn cũ buôn bán lầm than, hay thợ thuyền lam lũ, chẳng biết có thân yêu nhau như bây giờ không, hay lại xem nhẹ tình bằng hữu ? »
Anh Sinh vội thưa : « Thưa thầy ! Thầy cứ dạy thế làm con tủi thẹn. Nghề nào cũng quý, cứ có ích là đáng quý, đáng trọng, như lời thầy dạy trong lớp, mà chúng con chẳng bao giờ quên. Vả lại, đối với con, anh Tôn bao giờ cũng là anh Tôn, anh Tý bao giờ cũng vẫn là anh Tý. Cả các anh khá cũng vậy, dù sau này có làm nên đến gì chăng nữa, thì con cũng xin thề để tình bạn hữu lên trên ! Chúng con đã hiểu ý thầy răn dạy khi đem chuyện Lưu, Dương mà kể cho nghe. Thưa thầy, có tiền thì cái gì cũng có, nhưng còn tình bạn, thì mua được làm sao ? »
Chúng tôi vỗ tay đôm đốp. Thầy nói : « Các anh nghe anh Sinh nói đấy ! Hoan hô học đường ! (chúng tôi lại hoan hô rầm lên) Chỉ có HỌC ĐƯỜNG mới gây cho ta được cái tình thân ái cao đẹp, thắm thiết như thế. Vậy các con cứ nhớ đến hôm nay mà đừng quên nhau nhé ! Mà cũng nên nhớ đến lời anh Sinh, đừng có nghĩ rằng đi học là chỉ mong đỗ cao để sau này vợ đẹp con khôn, chẳng nghĩ gì đến việc giúp nước, ích dân ».
Thầy đứng dậy, rút đồng hồ ra xem : 5 giờ đúng ! Mặt trời xế bóng, nhuộm đỏ cả dãy núi đàng xa. Chúng tôi sửa soạn ra về, để lại trên ngọn đồi những lỗ hố sâu, những đám cỏ bị dẫm nát nhừ, những mẩu củi cháy đen…
Về đến trường, anh em chia tay, cùng cảm thấy bùi ngùi luyến tiếc những phút vui đẹp trong buổi chung sống vừa qua.