Ngày 2 tháng 12
Nghĩ lại lời mẹ tôi khuyên bữa qua mà tôi hãy còn hổ thẹn vì sự lãnh đạm của mình trước người nghèo khó. Bỗng tôi nghe ngoài cửa có tiếng quát tháo. Tôi tất tả chạy ra, thấy em Huyền tôi đang phồng má trợn mắt, hoa chân múa tay trước một bọn người lạ mặt, ngồi xẹp dưới đất. Thấy tôi ra, một bà cụ già trong bọn đứng lên phân trần : « Cậu xem ! Chúng tôi đâu có phải hạng người bậy bạ ?… »
Chưa hết câu, em tôi định sấn sổ toan nói. Tôi mắng cho em im, rồi đưa mắt nhìn bọn người trước mặt. Ngoài bà cụ già, da mặt dăn deo như quả táo khô, mình gầy như hạc, còn bốn người nữa : một người đàn ông, xanh như tàu lá, khoác chiếc áo tây vàng ; tuy ốm yếu như vậy mà trông ông ta cũng không kém vẻ ngang tàng khí phách. Đàng sau, một thiếu phụ, mắt quầng thâm, vẻ cương quyết hiền hậu, đang ngồi cho con bú. Đứa trẻ, mắt dương thao láo, cố nhay cái vú đã hầu cạn sữa. Bên cạnh, một em lớn hơn, vẻ nhanh nhẹn thông minh, đang cầm bắp ngô mà gặm.
Nhìn đến đồ hành lý mới thảm hại làm sao ! Một cái rương đã mọt, mấy cái bị đựng quần áo cũ, một cái bồ lổng chổng mâm nồi, bát đĩa… giang sơn chỉ còn có vậy !
Tôi còn đang ngơ ngác thì Huyền đã kéo áo tôi mà bảo : « Nhà người ta đi vắng cả, cứ đến ngồi trước cửa là nghĩa làm sao ? »
Tôi gạt em đi, rồi ôn tồn lễ phép hỏi : « Thưa cụ, xin cụ tha lỗi cho, chắc các cụ mới di cư vào Nam ? Mời cụ quá bộ vào trong nhà cháu nghỉ chân, sơi nước… »
- Thôi cám ơn cậu, chúng tôi ngồi đây cũng được… Chúng tôi quê mãi tận Thái Bình cơ đấy, cậu ạ. Vì loạn lạc, tôi đem gia đình chạy lên Việt Bắc, bẩy tám năm trời, đói khổ lắm ; hai thằng con trai lớn đi dân công chết bỏ xác trong rừng. Còn lại thằng thứ ba ngồi kia, thì ngã nước, quặt quẹo đến hơn một năm nay ! Nay được Chính Phủ giúp đỡ di cư vào đây, chúng tôi vui mừng hết sức, nhất định gạt nước mắt rồi bỏ quê hương làng nước đi lập cuộc đời mới, chờ ngày Bắc tiến hồi hương. Nhân đi tìm người thân thích qua đây chưa thấy, chúng tôi ngồi chờ dưới mái hiên…
Có lẽ nhắc lại tình cảnh đau khổ của mình, bà cụ động lòng sụt sịt, đưa tay lên quệt ngang nước mắt. Tôi mủi lòng, quay lại bảo em : « Đây là những đồng bào di cư đấy em ạ. Có lẽ em không biết chăng ? »
Huyền vênh mặt lên đáp : « Nhưng em trông họ có vẻ gian lắm cơ ! »
- Em lầm rồi ! Vì em còn bé dại dột nên các cụ không chấp. Chớ có nói càn, Ba Mợ biết thì lại chết đòn.
Đây là những người cùng nòi, cùng giống, cùng một ông Tổ với ta. Chỉ vì không may mà bị điêu linh khổ ải suốt mấy năm trời nay rồi. Em không động tâm hay sao ?
Huyền nghe ra, cúi đầu nói : « Thật quả là em tàn tệ ! »
Em đứng suy nghĩ một giây, rồi hớn hở bảo khẽ vào tai tôi : « Anh ạ, hôm nọ mợ cho em hai chục để mua « cúp bê ». Em biếu bà cụ một nửa nhé ! Anh nhé ! »
Tôi cảm động, xoa đầu em mà bảo : « Em biết thương người đồng loại như thế thì ngoan lắm ; nhân tiện anh còn tám đồng để trong ô kéo chưa tiêu đến. Em cầm cả ra đây ! »
Huyền sung sướng chạy ù vào. Chỉ một thoáng đã đem tiền ra cho tôi. Tôi hai tay cầm đưa bà cụ, thì bà cảm động bảo tôi : « Cám ơn cậu, chúng tôi vào đây đã có chính phủ giúp đỡ ; chỉ ngồi nhờ tránh nắng một lát rồi đi. Cô cậu để tiền mua sách, chịu khó học. Tổ quốc trông chờ ở các cô, các cậu nhiều lắm đấy ! »
Chiều về, thuật chuyện lại với Ba Mợ tôi, thì mợ tôi bảo : « Mợ khen các con lắm. Thế mới là lá lành đùm lá rách ».
Còn cha tôi thì ngậm ngùi nói : « Các con ạ ! đó mới thật là những anh hùng áo vải đã treo cao gương tranh đấu cho nền tự do. Chúng ta thêm được nhưng đồng bào ấy lo gì một ngày kia không thống nhất được giang san, xứ sở ? »
Tôi tuy không hiểu rõ cha tôi muốn nói gì, nhưng trông vẻ mặt người, rồi lại nhớ đến lời bà cụ nói, tôi bỗng cảm thấy có một cái gì nghiêm trọng, thiêng liêng, mà nghe như chúng tôi cũng có dự phần thì phải…