Ngày 15 tháng 9
Bữa chiều qua, chúng tôi đang nghe thầy giáo giảng bài, bỗng có tiếng gõ cửa, rồi ông Hiệu-trưởng tiến vào giữa lớp, theo sau một anh học-trò mới, tóc ngắn húi cao, da ngăm ngăm đen, nét mặt khắc-khổ đăm-chiêu, nhưng vẻ đầy cương quyết. Anh ta đi một đôi giép cao-su trắng và vận một quần ca-ki ngắn cũn cỡn với một chiếc sơ-mi nâu đã bạc màu. Thấy anh cao lớn như ông Hộ-Pháp, chúng tôi khúc khích bấm nhau cười.
Sau khi trao đổi vài lời khe khẽ với thầy giáo tôi, ông Hiệu-trưởng vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, rồi đi ra. Ông đi khỏi rồi, anh học-trò mới quay xuống, cặp mắt đen lay láy nhìn chúng tôi ra chiều bẽn lẽn. Thầy cầm tay anh thân mật dắt lên đứng trên bục, rồi hướng về chúng tôi, thầy nói :
« Các con ơi ! Những câu thầy sắp nói ra đây các con chớ lấy làm thường và mong các con ghi nhớ vào lòng… Bắt đầu từ hôm nay, các con có một người bạn mới, ở xa xôi lắm, tận miền Bắc di-cư vào, tìm tự-do bên chúng ta.
« Người bạn ấy đã bỏ quê cha đất tổ, bỏ những phần mộ tổ tiên, bỏ lại tất cả những gì thân mến trên đời, để vào đây sống một cuộc đời mới, bên cạnh các con. Thầy mong rằng các con xem anh như người ruột thịt, và vui vẻ cùng nhau học tập. Mà có như thế mới phải. Thực-dân phân chia Nam, Bắc, nhưng dù Bắc, Nam có khác, chúng ta cũng cùng một nòi, một gốc.
« Các con ơi ! Anh bạn mới này đây, sinh trưởng tại thủ-đô Hanoi, trung-tâm hoạt-động của bao vị anh-hùng cứu nước, nơi phát sinh ra cả một nền văn-hóa rực rỡ đã hàng bao thế-kỷ làm chói lọi trang sử Việt-Nam. Giờ đây, đất Bắc rên xiết đau thương, anh vào đây với một tấm lòng yêu nước thiết tha, cùng chúng ta sát cánh để một ngày kia xây lại Tự-do đang bị dày xéo.
« Các con đừng xem anh là người xa lạ. Hãy coi anh như người trong thân tộc để cho anh khỏi tủi hờn vì nỗi chia ly và để cho anh hiểu rằng : « đất Việt đâu cũng là nhà, người Việt đâu cũng là anh em ».
Giọng thầy run lên vì cảm-động, còn anh bạn di cư tay mân mê cặp sách mà hai dòng nước mắt cứ chảy đầm đìa trên má.
Nhìn lên bản-đồ Việt-Nam treo cao trên tường ở trước mặt chúng tôi, thầy chỉ vào Bắc-Việt, rồi lớn tiếng gọi to : « Sinh ! Lên thầy bảo ! »
Anh Sinh đứng dậy, bước lên : « Con là học-sinh giỏi nhất lớp. Con hãy thay mặt anh em bắt tay anh bạn miền Bắc để tỏ tình thân ái nào ! »
Trong khi đôi bạn hai miền xiết chặt tay nhau, cuối lớp có tiếng hô lớn : « Nam-Bắc một nhà ! Di-cư là yêu nước ! »
Thế là chúng tôi vỗ tay hoan nghênh rầm rĩ. Thầy giáo nghiêm nét mặt, ra hiệu bảo im : « Thầy vui lòng thấy các con biết Đoàn-Kết. Chỉ có Đoàn-Kết mới diệt được thù trong, giặc ngoài, đem lại tự-do cho dân-tộc. Nhưng làm ầm ỹ trong lớp như thế là phạm kỷ-luật… »
Tuy thầy nói vậy, nhưng trong thâm tâm, xem chừng thầy cũng cảm động vì mối tình nồng-nhiệt của chúng tôi. Riêng anh bạn di-cư, hẳn cũng vui lòng, vì thấy anh nhìn chúng tôi bằng cặp mắt cảm ơn.
Thầy chỉ một chỗ cho anh ngồi xuống, rồi lại nói : « Đất Bắc với những núi non hùng-vĩ, thắng cảnh danh lam, phản ánh sự sống còn của dân tộc ; người Bắc với tinh-thần bất-khuất, tượng-trưng cho sự đấu tranh của chính-nghĩa. Tám mươi nhăm vạn người Bắc di-cư, cùng với mười triệu người Nam vùng lên, sẽ đem lại ngày mai huy hoàng cho đất nước. Các con hãy coi nhau như anh em một nhà. Kẻ nào nhạo báng anh là di-cư thế nọ, di-cư thế kia, là vô tình mắc bẫy tuyên-truyền của địch. Kẻ ấy không xứng đáng là con Rồng, cháu Tiên, và sẽ tủi hổ trước lá quốc-kỳ ».
Anh bạn di-cư vừa ngồi xuống ghế, các bạn đã xúm nhau lại tặng anh nhiều vật : bút, thước, bi ve… Một anh ở cuối lớp cũng góp vào phần ấy một tập ảnh ô-mai để làm kỷ-niệm.
Không hiểu tại sao, lòng tôi thấy thương anh, rồi phục, rồi mến anh quá. Tôi bỗng có cảm-tưởng gần người bạn đau-khổ nhưng hiên ngang ấy rồi đây sẽ học được lắm điều hay !