Mùng 3 tháng 6
Tấm lịch trên tường cứ vơi dần trong khi tiếng ve đã bắt đầu kêu rộn rã. Dưới nắng hè, hoa phượng đỏ rực trên cành, lốm đốm rải xuống mặt đường như những vệt lửa. Nắng từ trên xuống dưới, từ dưới hắt lên, từ sáng đến chiều. Nắng khô cổ, nắng cháy da. Giếng không còn một giọt nước ! Chó nằm dài dưới đất, lưỡi lè ra, hồng hộc thở. Người và vật đều uể oải, mệt mỏi.
Trong lớp, anh nào cũng nhoài người ra vì nóng ! Nhất là anh Tôn, chưa quen với cái nóng miền Nam, lúc nào cũng kêu khát cháy cổ, lắm lúc ngồi thừ dưới bóng cây mà thở hổn hển. Lại còn anh Ninh ! Tàn tật ốm yếu như anh, chịu sao nổi cái nóng hè như thiêu, như đốt, có khi ngủ gục ngay trên bàn, đầu kê lên sách.
Anh Sỹ thì khôn ngoan đặt dựng quyển sách trên bàn để dấu cặp mắt lờ đờ thèm ngủ.
Anh nào cũng thẫn thờ dưới nắng mới, kém vẻ nhanh nhẹn mọi ngày.
Gần đến kỳ thi lại nóng bức thế này, chúng tôi học làm sao ? Tôi nhìn qua cửa sổ : bóng lá xanh rờn, vài cánh mây bay lờ lững trên trời cao, gợi cho tôi bao cảnh vui thú trong kỳ nghỉ hè sắp đến. Tôi đâm ra chán nản thẫn thờ.
Mẹ tôi biết ý, luôn hỏi tôi : « Con có mệt lắm không ? Cố lên con ạ ! Mẹ mua thuốc bổ con uống nhé ! »
Sáng sáng mẹ tôi đánh thức tôi dậy sớm mà bảo : « Dậy sớm mà học cho mát con ạ. Đỗ rồi tha hồ mà chơi ! Còn có một tháng nữa thôi mà ! »
Để khỏi nản chí, tôi luôn luôn nhớ đến lời cha khuyên, mẹ dạy để quyết chống chọi với cái nhọc mệt của mùa nắng mới vừa sang.
Phải rồi, nghe mẹ nói, tôi mới nghĩ ra rằng tôi còn sung sướng hơn chán vạn kẻ khác. Trong lúc rỗi được ngồi nhà cao cửa rộng mà học thì có bao nhiêu trẻ đang cặm cụi ngoài đồng, dưới mặt trời nắng cháy, trong xưởng thợ chật hẹp ồn ào, hay trên mặt đường nóng bỏng. Những trẻ ấy làm việc từ sáng sớm tinh sương cho đến khi trời đổ tối, làm gì được no đủ như tôi, làm gì có nghỉ hè như tôi !
Ta phải can đảm lên, lấy Anh Sinh làm gương mới được. Anh vẫn như cái máy, chẳng chịu lùi một bước. Anh Tác cũng chẳng chịu kém. Để khỏi ngủ gật trong lớp, anh đã có cách thần tình : tay thì véo đùi thật mạnh, còn răng thì nghiến chặt, mở mắt trừng trừng như dán lên bảng đen.
Anh Phi cũng chẳng chịu bỏ lỡ cơ hội. Anh cứ chờ lúc rỗi làm quạt giấy, không phải để bán như mọi khi, mà để tặng cho các bạn làm kỷ niệm.
Người đáng phục nhất là anh Tý. Tội nghiệp anh ! Từ ngày mất mẹ, anh lại càng vất vả. Anh dậy từ tờ mờ sáng, khuân vác củi đỡ cha. Đến lớp mắt cứ đờ ra, đầu nặng chĩu như muốn gập xuống ngực. Những lúc ấy, anh phải xin phép ra máy rúng đầu vào nước lạnh, hoặc nhờ bạn cấu mạnh vào đùi.
Sáng nay, sau một hồi gắng gượng, anh gục đầu xuống bàn, đánh một giấc say sưa. Chúng tôi bấm thế nào cũng không tỉnh.
Thầy trông thấy, gọi to lên : « Tý ! »
Anh vẫn ngáy đều. Thầy lại hét lên tiếng nữa : « Tý ! »
Một anh bạn ở gần nhà anh đứng lên thưa : « Thưa thầy, sáng nào anh ấy cũng dậy vác củi cho cha anh từ 5 giờ đấy ạ ».
Mọi người chờ thầy mắng Tý. Nhưng chỉ thấy thầy khẽ thở dài, quay mặt đi tiếp tục giảng bài, mặc cho anh ngủ.
Nửa giờ sau, dạy hết bài, thầy đi xuống sẽ lay anh dậy. Mở mắt ra, trông thấy thầy, anh giật bắn mình, khép nép đứng lên.
Nhưng thầy âu yếm nhìn anh, ngọt ngào nói : « Không ! Thầy không nỡ mắng con ! Thầy biết con đã làm việc nhiều trước khi đến lớp. Giấc ngủ của con không phải là giấc ngủ của kẻ biếng lười. Thầy tha cho ».