Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 167 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
26.

❊ ❊ ❊

26.

Philip ở Heidelberg được ba tháng thì một buổi sáng giáo sư Erlin cho chàng biết một người Anh tên là Hayward đến trọ và ngay trong bữa ăn tối hôm đó, chàng đã trông thấy một khuôn mặt mới. Từ mấy hôm nay, cả nhà sống trong một trạng thái rất phấn khích. Trước hết là do kết quả của một mưu đồ nào có trời biết được, do cầu nguyện khiêm nhường hoặc những lời đe dọa kín đáo, mà cha mẹ chàng thanh niên hứa hôn với Thekla đã mời nàng sang Anh thăm họ, và nàng lên đường với tập tranh màu nước để phô trương nàng là người tài năng như thế nào, và một bọc thư từ để chứng tỏ chàng trai đã yêu sâu sắc đến đâu.

Một tuần sau thì Hedwig tươi cười báo tin chàng trung úy rất mực mến thương của nàng sẽ cùng cha mẹ đến Heidelberg. Mệt mỏi vì con trai van nài, xúc động vì của hồi môn của cha Hedwig đưa ra, cha mẹ chàng trung úy đồng ý đến Heidelberg để làm quen với cô gái. Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp và Hedwig lấy làm vui mừng giới thiệu người yêu với cả nhà bà giáo sư Erlin tại vườn hoa thành phố.

Khi Hedwig tuyên bố nàng phải về nhà ngay để làm lễ đính hôn chính thức, thì bà giáo sư không ngại tốn kém, tuyên bố bà vui lòng biếu một chai Malbowle. Mấy bà già ít nói ngồi ở đầu bàn gần bà giáo sư, có vẻ lúng túng. Giáo sư Erlin lấy làm tự hào về tài pha chế món rượu nhẹ này của mình, thế là sau bữa ăn, một bát to đầy rượu vang trắng Ðức, với nước xôđa, lềnh bềnh lá thơm và quả dâu rừng được long trọng mang ra, đặt trên bàn tròn trong phòng khách. Anna chồng ghẹo Philip về chuyến đi của người bạn tình của chàng, chàng thấy rất lúng túng và hơi buồn. Hedwig hát nhiều bài. Anna chơi khúc “Hành khúc đám cưới” và giáo sư thì hát bài “Die Wacht am Rheim”[1]

Giữa cuộc vui, Philip không chú ý mấy đến người khách mời. Trong bữa ăn họ ngồi đối diện nhau, nhưng Philip bận chuyện trò với Hedwig, mà khách lại không biết tiếng Ðức nên anh ta chỉ yên lặng ngồi ăn. Philip nhận thấy anh ta thắt cà vạt màu xanh nhạt và bỗng nhiên chàng thấy không ưa anh ta. Anh ta hai mươi sáu tuổi, rất đẹp trai, luôn luôn đưa tay vuốt mớ tóc dài lượn sóng bằng một cử chỉ hờ hững. Mắt anh to và xanh; nhưng là màu xanh phơn phớt, trông có vẻ mệt mỏi. Mặt anh ta cạo nhẵn, miệng xinh có duyên mặc dù môi mỏng. Anna rất say mê môn xem tướng mạo, nên nàng lưu ý ngay Philip rằng xương sọ anh ta dáng đẹp, còn nửa phần mặt phía dưới thì có vẻ yếu đuối. Ðầu anh ta là đầu của một nhà tư tưởng, nàng nhận xét, nhưng cái cằm thì lại biểu hiện sự thiếu nghị lực. Với cặp gò má cao mũi to xấu xí, Anna đã được tiên đoán là suốt đời sẽ ế chồng, nên nàng hay nói nhiều đến nghị lực. Trong khi người ta bàn tán về anh, thì anh ta ngồi một mình trầm tĩnh nhìn buổi họp mặt huyên náo, nhưng thái độ có vẻ hơi kiêu. Anh ta cao dong dỏng, cố tạo ra một dáng điệu bộ. Weeks, một trong số sinh viên Mỹ, thấy anh ta có một mình bèn đến bắt chuyện. Cặp này tương phản nhau một cách kỳ quặc: anh chàng người Mỹ thì gầy gò khô khan, rất mực trang nhã và giản dị trong bộ quần áo đen, thái độ cử chỉ có cái gì đó trầm tĩnh của con nhà tu hành, còn anh chàng người Anh thì điệu bộ chậm chạp, chân tay lòng thòng trong bộ quần áo vải tuýt rộng thùng thình.

Mãi đến hôm sau Philip cũng chưa chuyện trò với khách mới đến. Trước bữa ăn, lúc hai người đứng một mình trên ban công phòng khách, Hayward hỏi Philip:

- Có phải cậu là người Anh không?

- Phải.

- Bữa nào thức ăn cũng dở như tối hôm qua phải không?

- Gần như lúc nào cũng thế.

- Chán nhỉ!

- Đúng thế.

Thực ra Philip thấy không có gì đáng chê và trên thức tế chàng đã ăn nhiều, ngon lành và thích thú, nhưng không muốn tỏ ra mình là người có óc suy xét tầm thường đến nỗi bữa ăn người ta chê dở, mình lại khen ngon.

Thekla đi Anh nên cô em phải đảm đương công việc nhà nhiều hơn, vì vậy không thể thường đi chơi lâu được. Cacilie có bím tóc vàng hoe, mặt nhỏ, mũi tẹt và hếch, gần đây có vẻ không thích giao du. Hedwig đã ra đi và Weeks, anh chàng người Mỹ thường thường vẫn dạo chơi với họ, giờ đã lên đường đi một vòng miền Nam nước Ðức. Thế là Philip luôn luôn ở nhà một mình. Hayward tìm tới làm quen với chàng. Nhưng Philip có một điểm đáng tiếc là: do bản tính nhút nhát, hoặc do trong người còn mang dòng máu di truyền từ thời kỳ ở hang ở hốc nên chàng thường không ưa người mình mới gặp, thậm chí cho đến khi quen biết nhau rồi không phải chàng đã vứt bỏ được cái cảm giác đầu tiên đó. Ðiều này làm cho mọi người khó gần gũi. Chàng vô cùng rụt rè tiếp nhận sự cầu thân của Hayward và tới khi Hayward mời đi chơi, chàng nhận lời chỉ vì không nghĩ ra được cách nào từ chối cho lịch sự. Chàng đưa ra lời xin lỗi quen thuộc, mặt đỏ bừng giận mình đã không tự chủ được, chàng chỉ cố gượng cười.

- Tôi sợ không thể đi nhanh quá được.

- Trời ơi, nào tôi có đi để ăn cá ăn cược đâu. Tôi thích đi dạo, thế thôi. Cậu không nhớ trong Marius có chương Pater nói việc đi tản bộ nhẹ nhàng là phương pháp tốt nhất kích thích trò chuyện hay sao?

Philip là người biết nghe chuyện. Chàng thường nhớ được nhiều điều hay, song lại hiếm khi nói ra, thành thử chàng đã bỏ lỡ nhiều cơ hội. Còn Hayward lại thích trò chuyện. Bất cứ ai từng trải hơn Philip ắt phải thấy rằng anh chàng này thích được nghe mình nói. Thái độ kiệu kỳ của anh gây ấn tượng với Philip. Chàng không thể không thán phục, thậm chí còn e sợ, con người có vẻ xem thường mọi điều mà chàng coi gần như thiêng liêng. Anh ta vứt bỏ sự sùng bái rèn luyện thân thể, khinh miệt “những kẻ đi săn giải”, lên án mọi người sốt sắng tham gia các hình thức thể dục khác nhau, và Philip không nhận ra rằng anh đã chỉ dựng lên một sự tôn sùng khác để thay thế: sự sùng bái văn hóa.

Họ thơ thẩn đến lâu dài và lên ngồi trên sân thượng trông xuống thành phố. Heidelberg náu mình ấm cúng trong thung lũng dọc sông Neckar êm đềm. Khói từ các ống khói lơ lửng trên thành phố như một màn sương mờ xanh nhạt. Những mái nhà cao, những chóp tháp của các nhà thờ đem lại cho Heidelberg cái dáng dấp êm đềm của thành phố thời trung cổ và quang cảnh bình dị ở dây sưởi ấm lòng người. Hayward nói về Richard Feverel và bà Bôvary, về Verlaine, Dante và Matthew Arnold. Hồi ấy, chỉ một số người vào loại ưu tú là biết đến bản dịch của Eitzgerald về Omar Khyam. Hayward đã nhắc lại bản dịch với chang. Anh rất thích ngâm thơ, kể cả thơ của mình và của người khác, anh ngâm bằng một giọng đều đều buồn tẻ. Lúc về đến nhà thì sự ngờ vực của Philip đối với Hayward đã trở thành lòng ngưỡng mộ nhiệt thành.

Thế là thành thói quen, chiều nao hai người cũng cùng nhau đi dạo và chẳng mấy chốc Philip đã biết được đôi điều về hoàn cảnh của Hayward. Anh ta là con trai một vị thẩm phán tỉnh lẻ mới qua đời cách đây không lâu, để lại cho anh một khoảng lợi tức đồng niên là ba trăm bảng. Anh học tập ở Charterhouse xuất sắc đến nỗi khi đến trường đại học Trinity Hall ở Cambridge, anh được thầy hiệu trưởng hoan nghênh bằng những lời lẽ vượt hẳn lệ thường. Anh chuẩn bị cho mình bước vào một sự nghiệp lừng danh. Anh hoạt động trong các giới trí thức nhất, say sưa đọc Browning, và coi thường Tennyson. Anh hiểu cặn kẽ từng chi tiết những chuyên luận của Shelley về Harriet. Anh học cả lịch sử nghệ thuật. (Trên tường phòng anh có treo các bức phiên bản tranh của GF. Watts, Burne - Jones và Botticelli) và anh làm, không phải là không có tài, những câu thơ bi quan. Bè bạn anh thường nói với nhau rằng anh là con người tài năng lỗi lạc và anh sẵn lòng nghe họ tiên đoán tương lai xán lạn của mình. Trong quãng thời gian đó, anh trở nên một người có uy tín về văn học nghệ thuật. Anh chịu ảnh hưởng cuốn Apologia của Newman. Đức tin đẹp tuyệt vời của giáo hội La Mã kích thích những cảm xúc thẩm mỹ ở anh, và chỉ vì sợ cha tức giận (một người cha chất phác, thẳng thắn, tư tưởng hẹp hòi đã từng đọc Macaulay), anh mới không chạy sang phía bên kia. Việc anh tốt nghiệp đại học chỉ được xếp vào hàng thứ làm bạn bè ngạc nhiên nhưng anh nhún vai nói bóng gió một cách tế nhị rằng anh không mắc mưu ban giám khảo đâu. Anh làm người ta có cảm giác là đỗ đầu cũng tầm thường thôi, chẳng có gì đáng kế. Hóm hỉnh độ lượng, anh tả lại hình dáng một vị giáo sư, một lão nào đó có cổ áo kỳ quặc đang hỏi anh về môn lôgic. Ðây là một môn tẻ nhạt vô cùng, bỗng nhiên anh nhận ra ông ta mang giày cao cổ có cánh chim thật lố bịch và buồn cười, thế là bỗng đãng trí nghĩ tới vẻ đẹp gôtích của nhà thờ Trường Hoàng gia. Nhưng ở Cambridge anh đã sống một số ngày thú vị, đã thết những bữa tiệc thịnh soạn hơn hẳn bất kỳ người nào anh quen biết và những buổi chuyện trò trong phòng anh luôn là điều đáng ghi nhớ. Anh trích đẫn cho Philip một câu thơ trào lộng tế nhị:

- Người ta nói với tôi, hỡi Heraclite, người ta nói với tôi rằng ngươi đã chết.

Giờ đây khi thuật lại mẩu giai thoại sinh động về ông thầy chấm thi và đôi giày của ông ta, anh phì cười nói.

- Dĩ nhiên đó là việc rồ dại, những việc rồ dại có chứa đựng một cái gì đó tế nhị.

Philip thấy vui vui, cho câu chuyện này thật hay.

Sau đó Hayward đi Luân Đôn theo học khoa luật. Anh có một căn nhà xinh xắn ở Clement Inn, tường có ghép ván. Và anh cố gắng sắp đặt cho giống căn nhà cũ ở Hall. Anh nuôi những tham vọng chính trị mơ hồ, tự xưng là đảng viên đảng Whig (đảng tiền thân của Đảng Tự Do ở Anh). Anh tham gia một câu lạc bộ của Ðảng Tự Do nhưng có hơi hướng của tầng lớp thượng lưu quý phái. Ý anh muốn làm luật sư (anh chọn Tòa đại pháp cho ít gay go hơn) và sẽ kiếm một khu cử tri cho thật dễ chịu ngay sau khi những lời hứa giúp anh được thực hiện. Trong khi chờ đợi, anh hay đi xem kịch và làm quen với một số phụ nữ xinh đẹp, những cô nàng khen ngợi hết thảy những gì anh khen ngợi. Anh tham gia một câu lạc bộ mà phương châm hành động là: vì cái Toàn vẹn, vì cái Thiện, vì cái Mỹ. Anh kết bạn lý tưởng với một thiếu phụ lớn hơn anh mấy tuổi ở quảng trường Kensington. Hầu như chiều nào, dưới ánh sáng ngọn nến có chao, anh cũng cùng nàng uống trà, đàm đạo về George, Meredith và Walter Pater. Thiên hạ ai cũng biết rằng bất cứ thằng dốt nào cũng đỗ được luật khoa nên anh học hành bê trễ. Khi bị đánh hỏng trong kỳ thi tốt nghiệp anh coi đó là một sự lăng mạ bản thân. Cùng lúc ấy, người thiếu phụ ở quảng trường Kensington báo cho anh là chồng nàng từ Ấn Độ về nghỉ phép, và dù đáng trọng về mọi mặt, chồng nàng là người đầu óc tầm thường, chắc hẳn không thông cảm sự lui tới thường xuyên của một chàng trai trẻ. Hayward thấy cảnh đời đầy rẫy xấu xa, anh thấy ghê tởm nghĩ mình lại phải đương đầu với sự trắng trợn của ban giám khảo, và anh cho rằng đá được quả bóng nằm dưới chân mình ra ngoài thì cũng có cái hay. Anh cũng mang công mắc nợ. Sống ở Luân Ðôn như một kẻ thượng lưu với 300 bảng một năm thì thật khó. Anh mơ ước Venise và Florence mà John Ruskin đã mô tả thật tuyệt điệu. Anh thấy mình không hợp với công việc bận rộn tầm thường nghề luật, anh chợt phát hiện rằng không phải cứ treo tên mình lên cửa là đã có khách hàng và hoạt động chính trị hiện đại dường như đã mất đi tính chất cao quý. Anh cảm thấy mình là nhà thơ. Anh bán các căn phòng ở Clement Inn và đi Ý. Anh sống qua một mùa đông ở Florence và một mùa đông ở Rome, và bây giờ anh sống mùa hè thứ hai ở Ðức để có thể đọc Geothe bằng nguyên bản.

Hayward có một năng khiếu rất quý, anh thực sự yêu văn chương và có thể truyền đạt tình cảm nồng nàn của mình một cách linh hoạt đáng khâm phục. Anh có thể đi sâu vào tình cảm của một nhà văn, hiểu thấu đáo mọi điều tốt đẹp nhất của họ, và lúc ấy anh có thể trình bày về họ một cách thông minh.

Philip đọc nhiều nhưng chàng đọc bất kỳ thứ gì tình cờ bắt gặp mà không có lựa chọn, vì vậy nếu như gặp được ai đó có thể hướng dẫn thị hiếu cho chàng là điều rất tốt. Chàng mượn sách ở một thư viện nhỏ của thành phố, bắt đầu đọc mọi điều kỳ diệu mà Hayward thường nói đến, không phải lúc nào chàng cũng đọc thích thú say sưa nhưng rất mực kiên trì. Chàng hăng hái tự trau giồi. Chàng thấy mình còn quá dốt nát, quá tầm thường. Cho đến cuối tháng Tám, khi Weeks từ miền Nam nước Đúc trở về, thì Philip hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Hayward. Hayward không ưa Weeks, không thích áo choàng đen, cái quần lấm chấm đen trắng của anh chàng người Mỹ này nói và khi nói về tâm tính người Mỹ, thì anh ta nhún vai khinh bỉ. Philip sốt sắng nghe anh ta nói xấu một con người mà chàng thấy tử tế với mình, nhưng đến lượt Weeks đưa ra những nhận xét khó chịu về Hayward thì Philip lại nổi nóng.

- Ông bạn mới của cậu cứ như là thi sĩ ấy - Weeks nói và khẽ nhếch mép, chua chát.

- Anh ấy là thi sĩ.

- Anh ta nói với cậu thế à? Ở bên Mỹ chúng tôi gọi anh ta là một mẫu người bỏ đi khá đẹp.

- Thế nhưng chúng tôi không sống ở Mỹ. - Philip trả lời lạnh nhạt.

- Anh ta bao nhiêu tuổi, hai mươi lăm chăng?

- Anh ta không làm gì khác ngoài việc ở trọ và làm thơ sao?

- Anh không hiểu anh ta đâu. - Philip gay gắt trả lời.

- Ồ vâng, tôi không hiểu đâu. Tôi đã gặp một trăm bốn mươi bảy người như vậy.

Mắt Weeks nháy nháy, nhưng Philip không hiểu cách khôi hài của người Mỹ. Chàng mím môi ra vẻ nghiêm nghị. Ðối với Philip, Weeks dường như ở lứa tuổi trung niên, nhưng thực ra anh chưa quá ba mươi. Dáng dấp thư sinh, lưng gù, đầu to xấu xí, tóc hoe thưa thớt, nước da nhợt nhạt, cặp môi mỏng, mũi dài, thanh, cũng cái trán rất dô tạo cho khuôn mặt anh một vẻ kỳ quái, cử chỉ lạnh lùng, chính xác, anh là một con người thờ ơ, không có tình cảm đam mê, nhưng lại có một đặc tính nhẹ dạ lạ lùng làm lúng túng những người đứng đắn, những người mà bản năng tự nhiên trong anh thúc đẩy anh tìm đến. Heidelberg anh theo học khoa thần học. Những sinh viên khác cùng khoa, cũng quốc tịch với anh thì nhìn anh bằng con mắt ngờ vực. Anh chẳng có vẻ gì là người chính giáo khiến họ hoảng sợ và họ cũng không tán thành tính khí thất thường của anh.

- Làm thế nào mà anh biết được một trăm bốn mươi bảy người như anh ấy? - Philip nghiêm nghị hỏi.

- Tôi gặp họ ở khu la tinh ở Pari, tại các nhà trọ ở Beclanh, và Munich. Họ sống trong các khách sạn nhỏ bé ở Perugia và Assisi. Florence bọn họ đứng hàng tá trước những bức tranh của Botticelli, ngồi đầy trên các ghế dài nhà thổ Sistine ở Rome. Ở Ý họ uống có phần quá nhiều vang, nhưng ở Đức thì họ nốc bia thực sự quá nhiều. Họ luôn luôn ngưỡng mộ điều phải ngưỡng mộ, bất chấp điều đó như thế nào, và rồi sẽ một ngày họ viết một tác phẩm vĩ đại. Hãy nghĩ đến điều đó, đã có một trăm bốn mươi bảy tác phẩm vĩ đại trong lòng một trăm bốn mươi bảy con người vĩ đại nhưng điều bi thảm là trong số một trăm bốn mươi bảy tác phẩm vĩ đại đó không bao giờ và không một cuốn nào sẽ được viết ra, ấy vậy mà cuộc đời tiếp tục trôi qua.

Weeks nói một cách nghiêm trang, nhưng khi kết thúc lời phát biểu dài dòng, cặp mắt xám của anh nháy máy. Philip đỏ bừng mặt, nhận ra anh chàng người Mỹ này nhạo mình, chàng càu nhàu:

- Anh toàn nói chuyện vớ vẩn thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Việc canh gác ở sông Rhine

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.