Kiếp Người

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 102 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
47.

❊ ❊ ❊

47.

Trong tháng Ba, người ta nhộn nhịp gửi tranh dự triển lãm. Riêng Clutton chẳng có gì sẵn sàng, anh chàng hết sức khinh miệt tranh vẽ hình hai đầu người của Lawson gửi đi, hiển nhiên đó là công trình của một sinh viên, chân dung thực của người mẫu, nhưng có sức thuyết phục nhất định, Clutton mong muốn sự tuyệt mỹ, không bằng lòng với những cố gắng biểu hiện bằng sự do dự. Anh nhún vai nói với Lawson rằng thật là ngạo mạn đem đi triển lãm cái món lẽ ra không nên xuất xưởng. Thậm chí khi thấy hình vật hai đầu anh cũng không giảm phần khinh bỉ. Flanagan cũng cố thử vận may nhưng tranh của anh bị từ chối. Bà Otter gửi tấm “ Chân dung mẹ tôi” không có khuyết điểm gì; và treo ở một nơi xứng đáng.

Hayward mà Philip không gặp từ khi rời Heidelberg đến Pari vài ngày vào đúng dịp để dự buổi liên hoan do Lawson và Philip tổ chức tại xưởng vẽ để ăn mừng việc Lawson có tranh tham gia triển lãm. Philip háo hức muốn gặp Hayward nhưng rồi khi gặp nhau, anh thất vọng - bề ngoài Hayward có thay đổi một ít, mái tóc đẹp đẽ vàng hoe của anh bị thưa đi và giống như những người tóc vàng thường bị sa sút nhanh chóng, mặt anh lúc này nom nhăn nheo xanh xao. Ðôi mắt xanh thì nhạt hơn và nét mặt như có vẻ gì đấy đờ đẫn. Trái lại, về tinh thần thì anh dường như không thay đổi một chút nào, và nếu trình độ văn hóa của anh đã từng gây ấn tượng sâu sắc cho anh chàng Philip mười tám tuổi thì nay có phần làm cho anh chàng Philip hai mươi mốt tuổi coi thường. Chính bản thân Philip đã thay đổi rất nhiều, anh khinh miệt mọi quan điểm xưa kia của anh về cuộc đời, về văn học nghệ thuật và không chịu được người nào vẫn còn khư khư ôm những quan điểm ấy. Anh không muốn thấy rõ một sự thật là anh muốn khoe khoang. Trước mặt Hayward, khi dẫn anh ta đi quanh các phòng trưng bày tranh Olympia của Manet và nói bằng một giọng rất kịch:

- Tôi đổi tất cả các nghệ sĩ bậc thầy lão luyện, trừ Velasquez, Rembrandt và Vermeer để lấy riêng một bức tranh này.

- Vermeer là ai vậy? Hayward hỏi.

- Ồ anh bạn thân mến, anh không biết Vermeer ư? Anh lạc hậu rồi. Không làm quen với ông ấy thì anh chẳng nên sống thêm nữa làm gì. Ông ấy là một nghệ sĩ lão luyện bậc thầy duy nhất đã vẽ tranh như một người có quan điểm mới.

- Anh lôi Hayward ra khỏi Luxembourg và kéo vội anh ta đến Louvre.

- Nhưng ở đây còn tranh vẽ gì nữa không? Hayward hỏi với tấm lòng hết sức say mê của con nhà du lịch.

- Chẳng còn có gì đáng xem nữa. Cậu có thể đi xem một mình với cuốn sổ tay hướng dẫn của cậu.

Khi họ đến Louvre, Philip đưa bạn xuống phòng Long Gallery

- Mình muốn xem bức tranh La Joconde - Hayward nói.

- Ồ, anh bạn thân mến, đó chỉ là văn học - Philip đáp.

Cuối cùng, Philip dừng lại trong một gian phòng nhỏ, trước bức tranh “Cô gái làm ren” của Vermeer Van Delft.

- Đây, đây là bức tranh đẹp nhất ở Louvre, giống hệt như tranh của Manet.

Bằng ngón tay cái diễn đạt một cách hùng hồn, Philip nói tràng giang đại hải về tác phẩm mỹ lệ này.

- Tôi không thấy được gì phi thường như vậy trong bức tranh này. - Hayward nói.

- Dĩ nhiên đây là tác phẩm của một họa sĩ. - Philip nói - Tôi hoàn toàn tin rằng người ngoại đạo không hiểu gì nhiều trong bức tranh.

- Người gì? Hayward hỏi.

- Người ngoại đạo.

Như phần đông những người quan tâm đến nghệ thuật, Hayward hết sức mong rằng mình có lý. Anh độc đoán với những ai không dám diễn đạt ý kiến của mình, nhưng với những ai diễn đạt hùng hồn thì anh lại rất khiêm tốn. Anh lấy làm cảm kích thái độ tự tin của Philip và ngoan ngoãn tiếp thu ý kiến của bạn ngụ ý rằng luận điệu ngạo mạn của chàng họa sĩ này muốn trở thành một kẻ am hiểu hội họa duy nhất, không vô lý tí nào, nhằm làm cho người ta có cảm tưởng tốt về bức tranh.

Một vài ngày sau, Philip và Lawson tổ chức buổi tiệc. Cronshaw cũng đặc biệt vui lòng nhận lời mời đến ăn cơm với họ. Cô Chalice xung phong đến nấu nướng cho họ và khước từ ý kiến muốn mời thêm các cô gái khác đến cho có bạn với cô. Clutton, Flanagan, Potter và hai người nữa đến dự tiệc. Đồ đạc trong nhà thiếu thốn, phải dùng bục đứng của người làm mẫu làm bàn ăn, còn khách khứa muốn ngồi trên hòm xiểng hay trên sàn nhà tùy ý. Bữa tiệc gồm có món thịt bò hầm rau do Chalice nấu, món chân giò cừu nướng đều, nóng thơm ngon được đưa mời khắp lượt quanh bàn ăn (cô Chalice nấu món khoai tây, xưởng vẽ thơm nức mùi cà rốt rán, là món ăn chuyên môn của cô); tiếp theo là món lê nướng bằng rượu mạnh do Cronshaw tự tay làm lấy. Bữa ăn sẽ kết thúc với món pho mát khổng lồ vùng Brie để gần cửa sổ làm tăng thêm mùi thơm phưng phức cho mọi món thức ăn khác đầy ắp trong xưởng vẽ. Cronshaw ngồi ở ghế danh dự trên một cái túi du lịch xứ Gladstone, hai chân xếp như một vị tổng trấn Thổ Nhĩ Kỳ, tươi cười hiền hậu với đám thanh niên vây quanh. Do thói quen, dù xưởng vẽ nhỏ bé, với cái lò sưởi nóng rực khiến không khí hầm hập, ông vẫn mặc áo choàng dựng cổ lên và đội mũ quả dưa; ông hài lòng nhìn bốn chai fiaschi of Chianti sắp thành hàng trước mặt, với một chai uýt-ki; đứng lên vào giữa, ông nói rằng cảnh đó làm ông nhớ tới một cô gái Nga mảnh khảnh tóc vàng hoe do bốn tên hoạn quan to béo bảo vệ. Để cho các người khác được thoải mái, Hayward chỉ mặc áo quần vải tuýt, đeo cà vạt Trinity Hall. Cái chất Ăng lê trong người anh lộ rõ một cách hài hước. Mọi người tỏ ra hết sức chú trọng lịch sự với anh. Trong khi dùng món súp, họ bàn về thời tiết và tình hình chính trị. Trong khi chờ đợi món chân cừu, họ ngừng nói chuyện, còn cô Chalice thì châm thêm một điếu thuốc lá.

- Rampunzel, Rampunzel, thả tóc xuống - bất thình lình cô nói.

Bằng một cử chỉ thanh nhã, cô cởi nút dải cho bím tóc xõa xuống hai vai, rồi cô lắc đầu.

- Để tóc xõa xuống thế này bao giờ tôi cũng thấy thoải mái hơn.

Với cặp mắt to màu nâu, vẻ mặt gầy gò khổ hạnh, nước da xanh xao, vầng trán rộng, cô như vừa bước ra từ bức tranh vẽ Burne - Jones. Cô có đôi bàn tay dài đẹp, ngón tay ám đậm ni - cô - tin. Cô mặc một bộ đồ len quét sát đất, màu hoa cà và màu xanh. Cô có dáng điệu lãng mạn của High Street ở Kensington. Tuy cô xinh đẹp và có vẻ phóng đãng nhưng lại là con người rất tốt, ân cần, tử tế và điệu bộ kiểu cách chỉ là bề ngoài mà thôi. Có tiếng gõ cửa, thế là cả bọn hò hét hân hoan. Chalice đứng lên đi mở cửa. Cô cầm cái chân cừu giơ lên cao như cái đầu của John the Baptist trên cái dĩa gỗ, và miệng vẫn ngậm điếu thuốc lá, cô trịnh trọng bước tới như thầy tu.

- Xin chào người con gái của Herodias - Cronshaw nói to.

Cả bọn thích thú chén món thịt cừu, và ấm lòng nhìn người đàn bà xanh xao này ăn uống rất ngon lành. Cluton và Poter mỗi người một bên cô và không ai thấy cô quá bẽn lẽn. Chỉ sáu tuần lễ mà cô đã chán ngán hầu hết mọi người, nhưng sau đó, cô biết rõ phải đối xử thế nào với những chàng trai đã hết lòng yêu cô. Cô không có ác ý với họ, mặc dù đã yêu họ, cô cũng thôi và đối xử với họ như bầu bạn nhưng không suồng sã. Chốc chốc cô nhìn Lawson với cặp mắt u buồn. Món lê nướng là một thành công lớn, phần do rượu mạnh, phần vì Chalice nài ép mọi người phải ăn với pho mát.

- Tôi không biết là nó ngon tuyệt trần hay là tôi sắp phải nôn - cô nói - sau khi hết sức cố thử cái món pha trộn này.

Tiếp đến là cà phê và rượu cô nhắc với tốc độ vừa phải để ngăn ngừa hậu quả không hay, rồi họ ngồi thoải mái hút thuốc lá. Ruth Chalice không làm điều gì mà không tính toán một cách nghệ thuật, cô đặt mình duyên dáng ngồi bên cạnh Cronshaw và ngả cái đầu thanh tú lên vai ông. Cô đăm chiêu nhìn vào cái vực sâu tăm tối của thời gian, và chốc chốc cô thở dài não ruột trầm tư ngắm nhìn Lawson.

Rồi mùa hè đến, đám thánh niên náo nức hoạt động. Bầu trời xanh lôi cuốn họ đi ra biển, và ngọn gió nồm dễ chịu rì rào qua cành lá ngô đồng trên đại lộ quyến rũ, hướng họ về đồng quê. Mọi người vạch kế hoạch rời khỏi Pari; họ bàn cãi nên mang theo vải vẽ kích thước thế nào cho thích hợp nhất; họ dự trữ pa nô cho việc vẽ phác thảo; họ cãi lý, cãi lẽ về giá trị của nhiều địa điểm ở Anh. Flanagan và Poter đi Concarneau; bà Ottor và mẹ, vốn quen sống giản dị, thì đi Pont Aven; Philip và Lawson quyết định đi đến khu rừng Fontainebleau, và Chalice biết rõ một khách sạn rất tốt ở Moret, ở đấy có nhiều thứ để vẽ; nơi này gần Pari và cả Philip và Lawson không ai quan tâm đến chuyện tiền tàu xe. Ruth Chalice sẽ đến đó, và Lawson có ý định vẽ chân dung cô ta ngoài trời. Đúng là lúc bấy giờ khu triển lãm tranh ở Pari đầy những bức chân dung trong các công viên, dưới nắng, với những cặp mắt nhấp nháy, những khuôn mặt phản chiếu màu xanh lá cây chan hòa ánh nắng. Bọn họ mời Clutton cùng đi với họ, nhưng anh muốn đi nghỉ hè một mình. Anh vừa phát hiện ra Cezanne và háo hức muốn đến Provence. Anh muốn có những bầu trời phủ đầy mây mà màu xanh chói lọi kia như tan ra nhỏ giọt như mồ hôi. Những con đường rộng rãi rải trắng bụi, những mái nhà xanh xám bạc màu vì nắng cháy và những cây ô-li-vơ rầu rĩ vì nóng lửa.

Trước ngày họ khởi hành, sau buổi học sáng, trong lúc thu xếp dụng cụ, Philip tươi cười nói với Fanny Price:

- Ngày mai tôi đi rồi.

- Đi đâu? Cô hỏi nhanh - Anh không đi xa chứ? Mặt cô xịu xuống.

- Tôi đi nghỉ hè. Chị không đi à?

- Không, tôi vẫn ở Pari. Tôi nghĩ rằng anh cũng sẽ ở lại. Tôi vẫn hằng mong.

Cô im bặt và nhún vai.

- Nhưng ở đây nóng kinh khủng, chị sẽ rất khó chịu.

- Thời tiết khó chịu đối với tôi thì ảnh hưởng gì đến anh. Còn anh sẽ đi đâu?

- Đi Moret.

- Chalice cũng đến đấy, anh không đi cùng với cô ấy đấy chứ?

- Lawson và tôi cùng đi. Cả cố ấy cũng đến đó. Tôi không biết là chúng tôi lại cùng đi với nhau.

Gương mặt to của Price sa sầm lại đỏ bừng, cô hỏi trong họng giọng buồn rầu:

- Thật là bẩn thỉu! Tôi cứ nghĩ rằng anh là người bạn tốt, có lẽ là người bạn tốt duy nhất ở đây. Con ấy ăn nằm với Clutton, Foinet, vì vậy mà lão rất chịu khó với nó. Và giờ đến hai anh nữa, anh và Lawson. Điều đó làm cho tôi buồn nôn.

- Ồ vô lý quá. Cô ấy là hạng người thực sự đứng đắn. Mọi người đối xử với cô ấy đúng như với bạn trai.

- Chà, đừng có nói với tôi, đừng có nói với tôi!

- Nhưng việc đó quan trọng gì với chị? - Philip hỏi. Tôi nghỉ hè ở đâu thực sự chẳng phải là việc của chị.

- Tôi đã mừng vui chờ đón nghỉ hè biết bao nhiêu. - Cô thở gấp rồi nói như nói với chính mình, - tôi cứ nghĩ là anh không có tiền để đi xa, mà ở đây thì chẳng còn ai, chúng ta có thể cùng nhau cộng sự và sẽ được cùng nhau đi xem nhiều thứ. - Rồi cô bỗng nghĩ đến Ruth Chalice - cái con bẩn thỉu ấy - cô kêu lên - con ấy không đáng nhắc tới.

Philip nhìn cô mà lòng nao nao. Anh không phải là người nghĩ rằng bọn con gái có thể đem lòng yêu thương mình; anh biết quá rõ tật nguyền của mình, anh cũng thấy vụng về lúng túng trước mặt phụ nữ nên anh không sao hiểu được ý nghĩa của cơn giận dỗi này. Fanny Price đang đứng trước mặt anh, trong bộ áo váy nâu bẩn thỉu, mái tóc ẩm ướt không chải, xõa xuống mặt, và nước mắt tức giận ròng ròng trên má. Nom cô thật gớm ghiếc, Philip liếc nhìn ra cửa, bất giác hy vọng có người bước vào, để kết thúc cái cảnh giận dỗi này.

- Tôi vô cùng ân hận - anh nói.

- Anh cũng giống như tất cả bọn họ. Anh tiếp nhận đủ mọi thứ mà anh lấy được, và anh không cảm ơn được một lời. Những điều anh biết hôm nay là nhờ có tôi dạy bảo, không một kẻ nào chịu giúp anh. Lão Foinet nó có bao giờ lo lắng cho anh và tôi có thể nói với anh điều này - dù anh có làm việc ở đây đến một nghìn năm, anh cũng chẳng làm nên trò trống gì. Anh chẳng có tài cán gì. Anh chẳng có cái gì độc đáo. Mà không phải chỉ mình tôi đâu mà cả bọn đều nói như thế. Dù anh có sống lâu bao nhiêu, anh cũng không bao giờ trở thành họa sĩ.

- Điều đó chẳng phải là việc của chị, phải không nào? - Philip nói mặt đỏ bừng.

- Này, anh tưởng đó chỉ là tính khí của tôi thôi à? Anh hãy hỏi Clutton, hỏi Lawson, hỏi Chalice mà xem. Không, không, không. Anh không có được cái đó.

Philip nhún vai, bước ra. Cô hét to sau lưng anh:

- Không, không, không nghìn lần không.

Thời đó Moret là một thành phố cũ kỹ trên con đường ven rừng Fontainebleau, và khách sạn Ecud’or là một khách sạn còn giữ được cái dáng dấp suy tàn của thời xưa cũ. Khách sạn trông ra dòng sông Loing uốn khúc. Chalice ở một buồng có sân thượng nhìn xuống sông, trông ra phong cảnh chiếc cầu cũ kỹ duyên dáng với cái cổng đi vào vững chắc. Cứ tối tối, sau khi cơm nước xong, họ ra ngồi đó, uống cà phê, hút thuốc lá và đàm luận hội họa. Xa xa một con kênh chảy vào dòng sông, hai bên bờ trồng toàn bạch dương, sau ngày làm việc, họ thường lang thang đi dạo ở đây. Cả ngày họ chỉ vẽ. Như phần đông lớp người ở thế hệ họ, tâm trí họ bị ám ảnh bởi nỗi lo sợ cái đẹp, họ quay lưng lại với cái đẹp hiển nhiên của thành phố để tìm những đề tài không hề có được cái đẹp mà họ đã coi thường. Sisley và Monet đã vẽ con kênh với hàng bạch dương, họ muốn thử tay nghề của mình, vẽ cái góc tiêu biểu này của nước Pháp, nhưng họ lại sợ hãi cái vẻ đẹp ước lệ của nó nên họ quyết tâm lẩn tránh nó. Còn Chalice, cô Chalice khéo tay, đã gây ấn tượng với Lawson mặc dù anh ta coi thường tài hội họa của nữ giới, đã bắt đầu một bức tranh, trong đó cô thử làm một việc độc đáo là bỏ qua không vẽ những ngọn cây; và Lawson liền có sáng kiến vẽ thêm ở cận cảnh một tờ quảng cáo to xanh về món sô-cô-la Menier, để làm nổi bật sự ghét cay ghét đắng của anh đối với sô-cô-la hộp.

Philip bây giờ bắt đầu vẽ tranh sơn dầu. Lòng anh vui thích rộn ràng khi lần đầu tiên anh dùng chất liệu dễ chịu này. Sáng sớm anh ra ngoài với Lawson với cái hộp nhỏ của mình và ngồi gần Lawson vẽ một bức tranh; việc này làm cho anh hài lòng đến nỗi không nhận thấy rằng mình chả làm gì hơn là sao chép lại. Anh chịu ảnh hưởng của bạn nhiều đến nỗi anh chỉ nhìn bằng cặp mắt của bạn. Lawson dùng các sắc độ quá tối, cả hai cho là màu cỏ xanh lục như màu nhung sẫm, trong khi đó, bầu trời tươi sáng thì họ vẽ thành một màu xanh biếc. Suốt cả tháng bảy, họ hưởng những ngày đẹp trời; trời rất nóng, và cái nóng bức làm cho trái tim Philip khô héo, làm cho tâm hồn anh suy nhược, anh không thể làm việc, trăm mối suy nghĩ canh cánh bên lòng. Sáng sáng anh thường cắp sách đến bờ kênh, dưới bóng hàng cây bạch dương đọc một vài dòng rồi mơ màng hàng nửa giờ. Thỉnh thoảng, anh thuê một chiếc xe đạp ọp ẹp đạp dọc theo con đường bụi bặm dẫn đến khu rừng rồi nằm dưới một khoảng rừng thưa. Đầu óc anh tràn đầy những tưởng tượng lãng mạn. Dường như những phụ nữ thượng lưu trong tranh của Watteau đang đi thơ thẩn giữa chàng kỵ sĩ của họ giữa những cây cổ thụ, say mê thì thầm với nhau những chuyện không đâu, nhưng lòng vẫn canh cánh một mối lo không yên. Họ ở một mình trong khách sạn, không kể đến một người đàn bà Pháp to béo đứng tuổi, khuôn mặt như nhân vật Rabelais, với tiếng cười thô lỗ, dâm đãng. Cả ngày bà ta ở bờ sông câu cá kiêu ngạo nhưng không bao giờ được con nào; thỉnh thoảng Philip đến chuyện trò với bà. Anh khám phá ra xưa kia bà thuộc lớp đào kép mà người nổi tiếng nhất đại diện cho thế hệ chúng ta là bà Warren và bây giờ đây đã đủ sung túc, bà sống cuộc đời yên ổn của một mụ tư sản. Bà kể với Philip những chuyện dâm ô, tục tĩu.

- Cậu phải đi Seville - bà nói tiếng Anh còn ít và sai. - Phụ nữ ở đây đẹp nhất thế giới. - bà lẳng lơ liếc Philip, đầu gật gù. Cái cằm ba ngấn, cái bụng phệ rung lên khi bà cố ghìm tiếng cười.

Thời tiết càng ngày càng nóng bức đến nỗi ban đêm hầu như không thể ngủ được. Cái nóng bức như một vật hữu hình, nấn ná dưới chòm cây. Bọn họ không muốn bỏ qua những cảnh trời đêm đầy sao, và ba người thương ngồi yên lặng hàng giờ trên gác thượng buồng Ruth Chalice, quá mệt nhọc không còn chuyện trò được gì, nhưng cả ba đều đê mê tận hưởng sự tĩnh mịch. Họ nghe tiếng rì rào con sông, chuông nhà thờ điểm một giờ rồi hai, có khi đến ba tiếng họ mới đi ngủ. Bỗng một ngày Philip nhận thấy Ruth Chalice và Lawson yêu nhau. Anh đoán ra điều này cứ vào cách cô gái nhìn anh chàng họa sĩ trẻ tuổi này và cái dáng vẻ anh chàng coi nàng như sở hữu riêng của mình. Khi Philip ngồi cùng với hai người anh cảm thấy một bầu không khí nặng nề kỳ lạ vây quanh họ. Sự khám phá này làm cho Philip choáng váng. Xưa nay anh vẫn coi Chalice như một người bạn tốt, anh thích trò chuyện với cô nhưng dường như anh không thể đi vào mối quan hệ thân thiết hơn. Một ngày chủ nhật, cả ba người họ cùng vào rừng đem theo cái giỏ chè, và khi đến một khoang rừng thưa lý tưởng, Chalice, trước cảnh bình dị nên thơ, khăng khăng đòi cởi giày và bít tất. Nếu hai bàn chân cô không hơi thô và ngón cái thứ ba đừng cộm và chai, thì nom hết sức duyên dáng. Do vậy Philip thấy hành động ấy hơi buồn cười. Nhưng giờ đây anh nhìn cô hoàn toàn khác; có cái gì đó yểu điệu dịu dàng trong đôi mắt to, trong nước da màu ô-liu của cô; anh cảm thấy mình ngu xuẩn trước đây không nhận thấy cái vẻ quyến rũ ấy. Anh nghĩ rằng anh cảm nhận một thoáng khinh thường trong cô, vì anh đã thông minh để hiểu rằng đã có thời gian cô nằm trong tầm tay anh, còn Lawson thì anh thấy một vẻ gì đó kẻ cả. Anh thèm muốn như Lawson, anh ghen tị với Lawson, không phải vì chuyện cá nhân mà vì tình yêu của anh ta. Anh mong muốn ở vào địa vị của anh ta, cảm xúc bằng trái tim của anh ta. Trong cơn xao động, anh lo sợ, tình yêu sẽ thoát qua bên anh không bao giờ dừng lại. Anh muốn được đắm mình trong tình yêu si mê, anh muốn bị cướp mất hai chân, chịu bất lực trong cuộc tấn công phi thường mà anh không cần biết đến đâu. Anh cảm thấy Chalice và Lawson hoàn toàn khác trước và họ vẫn cứ bền bỉ có mặt bên anh làm cho anh bức bối. Anh bất mãn với mình. Cuộc đời không đem lại cho anh điều mong ước, anh cảm thấy bực bội là mình đang bỏ phí thời gian.

Người đàn bà Pháp béo mập nọ chẳng mấy chốc đoán ra mối quan hệ giữa hai người kia và đem nói chuyện này với Philip, hết sức bộc trực.

- Còn anh - mụ nói với nụ cười khoan dung của một người béo ra nhờ tính dâm đãng của những kẻ theo đuổi mình - anh đã có tình nhân chưa?

- Chưa. - Philip đỏ mặt, trả lời.

- Sao lại chưa? Đó là chuyện đúng lứa tuổi của anh.

Anh nhún vai. Anh đang cầm trong tay tập thơ của Verlaine và anh đi thơ thẩn. Anh thử đọc nhưng cơn xúc động quá mạnh. Anh nhớ tới những cuộc tình duyên ngẫu nhiên mà Flanagan đã giới thiệu với anh, những chuyện lén lút đến những căn nhà trong một phố cụt, có cái phòng khách lót thảm nhung Utrecht và những vẻ đẹp duyên dáng, vụ lợi của bọn đàn bà mặt bự phấn son. Anh rùng mình. Anh ngã mình trên thảm cỏ, duỗi tay chân, như con thú non tơ vừa ngủ dậy; dòng nước chảy róc rách, những cây bạch dương nhẹ nhàng run rẩy trước cơn gió thoảng qua, bầu trời xanh, tất cả gần như quá sức chịu đựng của anh. Anh mong mỏi yêu đương. Anh tưởng tượng một đôi môi nồng nàn đặt trên môi anh, một đôi cánh tay mềm mại quàng qua cổ. Anh hình dung mình ở trong vòng tay của Ruth Chalice, anh nghĩ đến cặp mắt đen láy, nước da kỳ diệu của cô. Anh bực dọc đã để một chuyện tình kỳ diệu như vậy tuột khỏi tay mình. Và nếu Lawson làm được việc đó thì tại sao anh không làm được. Nhưng đó chỉ là lúc anh không gặp cô, những đêm thao thức hoặc mơ màng vơ vẩn bên bờ kênh, còn khi anh gặp cô, anh bỗng cảm thấy mình khác hẳn, anh không còn muốn ôm cô vào lòng, cũng không thể nào hình dung anh hôn cô. Thật hết sức lạ lùng. Khi ở xa cô, thì anh cho cô là xinh đẹp, chỉ nhớ đến cặp mắt tuyệt vời, gương mặt xanh xao mịn màng của cô; nhưng khi ở gần cô anh chỉ thấy ngực cô lép kẹp, răng hôi sâu, anh cũng không thể quên mấy ngón chân chai cứng của cô. Anh không hiểu nổi chính mình. Hẳn là anh chỉ luôn yêu đương lúc người ta vắng mặt, và bị ngăn cản, không hưởng thụ được bất cứ điều gì khi gặp dịp, do sự biến dạng kia của ảo ảnh dường như đã phóng đại sự ghê tởm lên chăng?

Anh không buồn khi thời tiết đổi thay, báo hiệu một mùa hè dài lâu rõ ràng là đã hết, đưa tất cả bọn họ trở lại Pari.

ì hại đâu. - Ồ, thế cùng được. Bà Carey vào phòng làm việc. Sưu tầm sách là niềm say mê duy nhất của ông Carrey; bao giờ đến Tercanbury ông cũng mất vài giờ đồng hồ để đi xem các cửa hiệu sách cũ và lần nào ông cũng trở về với mấy quyển sác
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.