10
Năm 2006, tôi trở lại sông Mambili, lần này với nhóm được dẫn đầu bởi William B. (Billy) Karesh, khi đó là giám đốc Chương trình Thú y Thực địa cho Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCS) chi nhánh New York, và tại thời điểm cuốn sách này được viết, đang đảm nhiệm vai trò tương tự ở EcoHealth Alliance. Billy Karesh là một bác sĩ thú y và chuyên gia về bệnh lây truyền từ động vật. Ông lớn lên ở Charleston, South Carolina. Một con người yêu thích thực địa, cả thời ấu thơ được nuôi dưỡng bởi hình ảnh Marlin Perkins, với bộ đồng phục làm việc thường lệ là cái áo phông xanh dương bụi bặm, chiếc mũ lưỡi chai có thể thấy ở bất cứ đâu, và bộ râu quai nón. Ông theo chủ nghĩa kinh nghiệm, chỉ hé miệng vừa đủ, nói năng nhẹ nhàng và tránh những tuyên bố mang tính tuyệt đối. Ông thường mang nụ cười kín đáo, ẩn trong đó sự thích thú với những kỳ quan của thế giới cũng như những khờ dại của con người. Tuy nhiên, chẳng có gì vui vẻ về nhiệm vụ của ông ở Mambili. Ông tới để bắn – không phải đạn mà là phi tiêu gây mê – vào những con khỉ đột. Chúng tôi cần lấy mẫu máu để xét nghiệm tìm kháng thể virus Ebola.Điểm đến của chúng tôi là một nơi được biết đến với cái tên tổ hợp Moba Bai, một vùng đất trống tự nhiên gần bờ đông thượng nguồn sông Mambili, cách thánh địa Lossi không xa. Bai trong tiếng Pháp châu Phi dùng để chỉ vùng đồng cỏ lầy lội, thường có hồ muối và bao quanh bởi rừng, giống hệt như một khu vườn bí mật. Bên cạnh Moba Bai, tên của tổ hợp này, còn có ba hay bốn tổ hợp nữa gần đó. Khỉ đột (và các động vật hoang dã khác) thường xuất hiện ở các bai như vậy, vốn đầy nước và ánh nắng, với những cây cói và cây thúy cúc giàu natri bên dưới bầu trời rộng mở. Chúng tôi đặt chân tới Moba, ngược dòng sông Mambili trên chiếc xuồng độc mộc được đẩy bằng động cơ 40 mã lực.
Con thuyền chở theo 11 người chúng tôi và một lượng lớn đồ đạc. Chúng tôi có một chiếc tủ lạnh chạy bằng xăng, hai tủ đông nitơ lỏng (để bảo quản mẫu vật); ống tiêm, kim tiêm, ống nghiệm và các đồ nghề y tế được đóng gói cẩn thận; găng tay y tế, đồ bảo hộ, lều và bạt; cơm, fufu, cá ngừ đóng hộp, đậu đóng hộp, vài hộp rượu vang đỏ chán ngắt, nước đóng chai, một vài chiếc bàn xếp, và bảy chiếc ghế nhựa được chồng lên nhau. Với số dụng cụ và đồ tiếp tế xa hoa này, chúng tôi dựng một khu trại thực địa phía bên kia sông so với Moba. Đoàn của chúng tôi bao gồm một chuyên gia truy tìm dấu vết tên là Prosper Balo, cùng với các bác sĩ thú y cho động vật hoang dã, những người dẫn đường trong rừng, và một đầu bếp. Prosper đã làm việc ở Lossi trước và trong đợt bùng phát. Dưới sự hướng dẫn của ông, chúng tôi lùng sục khắp các tổ hợp bai, tất cả đều đầy những thảm thực vật ngon lành, trước đây nổi tiếng thu hút hàng chục con khỉ đột tới ăn và nghỉ ngơi hàng ngày.
Billy Karesh đã tới thăm khu vực này hai lần, trước khi Ebola tấn công, nhằm tìm kiếm dữ liệu cơ sở về sức khỏe của khỉ đột. Trong một chuyến đi năm 1999, ông có thể quan sát được 62 con khỉ đột đến đây trong một ngày. Vào năm 2000, ông trở lại để lấy mẫu trên một vài cá thể. “Hàng ngày, mỗi bai đều có ít nhất một gia đình khỉ.” Không muốn gây ra động tĩnh quá lớn, ông chỉ gây mê bốn con vật, cân và khám những bệnh dễ thấy (như bệnh ghẻ, một bệnh ngoài da do vi khuẩn gây nên), và lấy mẫu máu. Cả bốn con khỉ đột đều được xét nghiệm âm tính với kháng thể Ebola. Lần này mọi thứ không như vậy. Ông muốn lấy mẫu máu của những con vật sống sót qua đợt chết hàng loạt năm 2002. Và thế là chúng tôi bắt đầu với kỳ vọng lớn. Nhiều ngày trôi qua, và theo những gì chúng tôi có thể thấy, chẳng hề có con vật nào sống sót.
Số cá thể hiếm hoi còn lại không đủ để cung cấp lượng dữ liệu hữu ích từ việc gây mê khỉ đột (vốn là một hoạt động nguy hiểm, đầy rủi ro cho cả người bắn tiêu và con vật bị bắn.) Cuộc khảo sát âm thầm của chúng tôi kéo dài hơn một tuần. Mỗi sáng sớm, chúng tôi đi qua sông, lặng lẽ đi bộ đến một bai nào đó, ẩn mình nơi rìa của thảm thực vật rậm rạp và kiên nhẫn chờ đợi khỉ đột xuất hiện. Nhưng chẳng một con nào xuất hiện. Chúng tôi thường xuyên phải ngồi xổm dưới cơn mưa.
Khi trời nắng, tôi thường đọc một cuốn sách dày hay nằm ra đất ngủ. Karesh luôn sẵn sàng với khẩu súng hơi và phi tiêu chứa đầy tiletamine và zolazepam, những thuốc đặc hiệu để gây mê khỉ đột. Nếu không, chúng tôi sẽ băng qua rừng, theo sát phía sau Prosper Balo trong nỗ lực, dù có phần vô ích, tìm kiếm dấu vết khỉ đột.
Vào buổi sáng của ngày thứ hai, dọc theo một lối mòn lầy lội tới các bai, chúng tôi thấy dấu vết của báo, voi, trâu và tinh tinh, nhưng không có dấu hiệu nào của khỉ đột. Ngày thứ ba cũng vậy, vẫn chẳng có con khỉ đột nào. Karesh nói: “Tôi nghĩ chúng chết hết rồi. Ebola đã đi qua đây.” Ông đoán chỉ có một vài cá thể may mắn, không mắc bệnh hoặc đủ sức kháng lại và qua khỏi, còn sống sốt. Cho dù vậy, ông cũng nói, “đó là những con mà chúng ta cần,” bởi nếu tồn tại, chúng có thể mang kháng thể. Đến ngày thứ tư, sau khi tách khỏi những người còn lại, Karesh và Balo phát hiện một con khỉ đột đực, nhờ tiếng vỗ ngực và gào thét của nó, đang ở cách ông khoảng 10 mét trong bụi rậm. Con vật đột nhiên đứng dậy và chỉ lộ ra cái đầu trước mặt họ. Karesh kể lại: “Tôi đã có thể giết nó. Cho nó xuống lỗ.” Ý ông là một viên đạn thẳng vào giữa hai mắt con vật, chứ không phải phát súng an toàn vào mạng sườn để khiến nó bất động. Vì lẽ đó, Karesh đã không nổ súng. Con khỉ gầm lên một tiếng nữa rồi bỏ chạy.
Ghi chú của tôi từ ngày thứ 6 bao gồm: “Không không không một con khỉ đột nào.” Vào cơ hội cuối cùng của chúng tôi, ngày thứ 7, Balo và Karesh theo dấu một vài con vật khác trong nhiều giờ qua khu rừng lầy lội mà không tìm được gì. Khỉ đột đã trở nên hiếm hoi vô cùng, quanh Moba Bai, và những con còn sót lại thì quá sợ sệt. Trong khi đó trời tiếp tục đổ mưa, khu lều trại trở nên bùn lầy, và nước sông dâng lên.
Khi chúng tôi không ở trong rừng, tôi dành thời gian ở trại nói chuyện với Karesh và ba bác sĩ thú y của WCS làm việc ở châu Phi trong đoàn của ông. Một người là Alain Ondzie, một người Congo gầy gò và rụt rè, được đào tạo ở Cuba, thành thạo tiếng Tây Ban Nha cũng như tiếng Pháp và một vài ngôn ngữ Trung Phi, với một thói quen dễ mến là gục đầu cười khúc khích một cách vui vẻ khi bị trêu hay thấy thích thú. Công việc chính của Ondzie là đáp lại những báo cáo về những ca tử vong của tinh tinh hay khỉ đột ở bất kỳ đâu trong nước, tới địa điểm càng nhanh càng tốt và lấy mẫu tế bào để xét nghiệm virus Ebola. Anh ấy mô tả cho tôi những dụng cụ và quy trình thực hiện tác vụ đó, với thi thể luôn ở trạng thái thối rữa khi anh tới và luôn được giả định (cho tới tinh được chứng minh ngược lại) là nó có chứa virus Ebola. Bộ đồ làm việc của anh ấy là một bộ bảo hộ với mũ thông khí, giày cao su, một cái tạp dề chống bắn, và ba đôi găng tay, được dán băng keo ở cổ tay. Việc thực hiện vết mổ đầu tiên luôn rất khó lường bởi thi thể có thể trương đầy khí ga, nó có thể phát nổ. Dù bất kỳ trường hợp nào con vượn chết thường bị bao quanh bởi những con côn trùng ăn xác thối – kiến, những con ruồi tí hon, thậm chí là ong. Ondzie kể cho tôi về một lần ba con ong từ một cái xác bò dọc lên cánh tay của anh, bên dưới bộ đồ bảo hộ, ngay trên người anh, và đốt anh ấy khi anh đang lấy mẫu. Virus Ebola có truyền qua vết đốt của một con ong không? Không ai biết.
“Công việc này có khiến anh sợ không?” Tôi hỏi Ondzie. “Không còn nữa,” anh ấy nói. “Vi sao anh lại làm công việc này?” Tôi hỏi. “Vì sao anh lại yêu thích nó?” (bởi rõ ràng là anh ấy yêu thích nó). “Chà, đó là một câu hỏi hay đấy,” anh ấy nói, với cái gật đầu và khúc khích đặc trưng. Rồi anh nói thêm, một cách tỉnh táo hơn: “Bởi nó cho phép tôi áp dụng những thứ tôi đã học, và học hỏi thêm, và nó có thể cứu sống một vài mạng người.”
Một thành viên khác của đoàn là Patricia (Trish) Reed, người đã tới châu Phi làm việc như một nhà sinh học mười lăm năm trước, đã nghiên cứu sốt Lassa và rồi AIDS, được CIRMF ở Franceville thuê, có chút kinh nghiệm thực địa ở Ethiopia, và sau đó nhận một tấm bằng Bác sĩ Thú Y từ trường thú y ở đại học Tufts ở Boston.
Cô ấy đang ở CIRMF, làm nghiên cứu về một virus ở khỉ, khi mà một bác sĩ thú y thực địa của WCS làm việc ở đây qua đời trong một vụ rơi máy bay khi hạ cánh xuống một đường băng ở vùng hoang dã Gabon. Karesh đã thuê Reed để thay thế cho vị bác sĩ đã chết.
Phạm vi nghiên cứu của cô ấy, theo lời Reed, bao gồm một loại các bệnh truyền nhiễm đe dọa đến sức khỏe của khỉ đột, trong đó Ebola là căn bệnh ngoại lai nhất. Những căn bệnh khác hầu hết là những bệnh thường gặp hơn ở người, mà khỉ đột dễ mắc do chúng có cấu trúc gien gần giống với chúng ta: bệnh lao, bại liệt, sởi, viêm phổi, cúm gia cầm,vv… Khỉ đột có thể mắc những căn bệnh này ở bất kỳ nơi nào những người ốm đi lại, ho, hắt hơi, và đi đại tiện trong rừng. Bất kỳ sự lan truyền nào ở chiều ngược lại như vậy – từ người sang các loài không phải người – được biết đến như một bệnh lây truyền từ người sang động vật. Đơn cử như loài khỉ đột núi nổi tiếng, đã và đang bị đe dọa bởi các bệnh lây truyền từ người như bệnh sởi, truyền từ những khách du lịch sinh thái tới đây để chiêm ngưỡng chúng. (Khỉ đột núi bao gồm nhiều phân loài khỉ đột phương đông đang bị đe dọa, chỉ sống ở vùng đồi dốc của rặng núi lửa Virunga ở Rwanda và vùng xung quanh. Khỉ đột phương tây ở vùng rừng rậm Trung Phi, một loài vật hoàn toàn sống ở vùng đất thấp, có số lượng lớn hơn nhưng cũng không được an toàn hơn là bao.) Cùng với môi trường sống bị phá hoại bởi hoạt động chặt cây lấy gỗ, và việc săn bắn lấy thịt bởi dân địa phương hoặc để bán ra thị trường, những căn bệnh truyền nhiễm có thể đẩy loài khỉ đột phương tây từ số lượng tương đối dồi dào hiện nay (có lẽ tổng cộng vài trăm nghìn cá thể) tới tình trạng chỉ còn một vài quần thể nhỏ, biệt lập sống manh mún, giống như khỉ đột núi hoặc tuyệt chủng cục bộ.
Nhưng những khu rừng của Trung Phi vẫn tương đối rộng lớn, so với vùng đồi núi Virunga nhỏ mà khỉ đột núi sinh sống; và khỉ đột phương tây không tiếp xúc với khách du lịch sinh thái nhiều trong nơi ở tự nhiên, gần như không thể xâm phạm của chúng. Do đó bệnh sởi hay bệnh lao không phải vấn đề lớn nhất của nó. “Tôi có thể nói rằng, không còn nghi ngờ gì, Ebola là mối nguy lớn nhất” cho loài khỉ đột phương tây, Reed nói.
“Điều khiến cho virus Ebola giữa những con khỉ đột trở nên khó kiểm soát đến thế,” cô ấy giải thích, “không chỉ nằm ở sự hung tợn của nó mà còn ở việc thiếu dữ liệu.” “Chúng ta không biết liệu nó có ở đây trước đó không. Chúng ta không biết liệu chúng có qua khỏi không. Nhưng chúng ta cần biết chúng lây lan như thế nào qua các nhóm sinh vật. Chúng ta cần biết nó ở đâu.” Và câu hỏi về ở đâu có hai lớp nghĩa. Virus Ebola đã phát tán rộng tới đâu ở vùng Trung Phi? Nó lẩn khuất trong những loài vật chủ chứa đựng nào?
Vào ngày thứ 8, chúng tôi dọn đồ, chất lên những chiếc thuyền, và đi xuôi dòng trên con sông Mambili, không mang về được mẫu máu nào để thêm vào cơ sở dữ liệu. Nhiệm vụ của chúng tôi đã bị phá hỏng bởi chính nhân tố khiến cho nó được lập ra: sự biến mất trông thấy được của những con khỉ đột. Đây lại là một trường hợp con chó vào ban đêm khác. Billy Karesh đã thấy một con khỉ đột ở tầm gần như rồi không thể bắn tiêu vào nó, và đã theo dấu hai con khác với sự giúp đỡ từ đôi mắt theo dấu tinh tường của Prosper Balo. Số còn lại, nhiều tá cá thể từng thường xuyên qua lại những vùng bai này, đã hoặc biến mất tới những vùng không ai biết hoặc… đã chết? Dù sao đi nữa, khỉ đột từng rất dồi dào ở khu vực này, và giờ thì không còn nữa.
Loài virus dường như cũng biến mất. Nhưng chúng tôi biết nó chỉ đang trốn.