13
Sự lan truyền của ebolavirus kéo dài xuyên suốt những năm 90 của thế kỷ XX và sang thế kỷ XXI, đủ lẻ tẻ và rải rác để khiến việc nghiên cứu ở thực địa trở nên khó khăn, đủ thường xuyên để khiến một vài nhà khoa học phải chú ý đến và một vài quan chức y tế phải lo ngại. Vào năm 1995, không lâu sau sự kiện ở Bờ Biển Ngà, là virus Ebola ở Kikwit, mà bạn đã đọc ở trên. Sáu tháng sau đợt bùng phát đó, cũng theo trí nhớ của bạn, một đợt mới bắt đầu ở Mayibout 2. Điều mà tôi chưa nhắc tới về Mayibout 2 là rằng, tuy ngôi làng nằm ở Gabon, loại virus xuất hiện ở đây là loại Ebola xuất phát từ Zaire, là loại có vẻ được phát tán rộng rãi nhất trong nhóm virus này. Ở trại gỗ gần Booué, Gabon, thì là virus Ebola.Cũng trong năm đó, năm 1996, virus Reston quay trở lại Mỹ theo một chuyến tàu vận chuyển những con khỉ nhiệt đới từ Philippines. Gửi đi vẫn từ chính nhà xuất khẩu gần Manila mà đã gửi những con khỉ bị bệnh đầu tiên tới Reston, Virginia, những con này được đưa tới cơ sở cách ly thương mại ở Alice, Texas, gần Corpus Christi. Một con vật tử vong và, sau khi được xét nghiệm dương tính với virus Reston, 49 con khác được nuôi trong cùng căn phòng bị cho an tử để đề phòng. (Phần lớn trong số đó, sau khi xét nghiệm tử thi, cho kết quả âm tính.) Mười nhân viên đã giúp bốc dỡ và mang vác lũ khi cũng được khám, và họ cũng có kết quả âm tính, nhưng không ai bị cho an tử.
Uganda trở thành ổ virus tiếp theo ở châu Phi, với một đợt bùng phát virus Sudan bắt đầu ở gần thị trấn Gulu ở miền bắc vào tháng 8/2000. Miền bắc Uganda có biên giới khi đó với miền bắc Sudan, và không ngạc nhiên khi virus Sudan có thể vượt qua hay rải ở cả hai bên của ranh giới này. Vượt qua thế nào? Rải thế nào? Bằng những di chuyển của từng các thể hay sự phân bố chung của một loài vật chủ chứa đựng, chưa được xác định. Đây là một ví dụ điển hình vì sao việc giải đáp câu hỏi bí ẩn về vật chủ chứa đựng này có vai trò quan trọng: Nếu bạn biết loài vật nào chứa một loại virus nhất định và nơi loài vật này sống – hay ngược lại, nơi nó không sống – bạn biết virus có thể lan truyền ở đâu tiếp theo, và nơi nào thì không. Điều này đem lại một vài cơ sở để tập trung sự cảnh giác của bạn. Nếu vật chủ là một loài gặm nhấm sống trong những khu rừng ở miền tây nam Sudan nhưng không phải ở vùng sa mạc Niger, nhưng người chăn cừu ở Niger có thể thở phào. Họ có những thứ khác cần phải lo.
Ở Uganda, không may, đợt lan truyền năm 2000 dẫn tới một đại dịch virus Sudan lan rộng từ làng này qua làng khác, từ bệnh viện này qua bệnh viện khác, từ miền bắc đất nước cho tới miền tây nam, giết chết 224 người.
Tỷ lệ tử vong một lần nữa “chỉ” là 53%, đúng bằng với đợt bùng phát đầu tiên ở Sudan, hồi năm 1976. Sự chính xác tình cờ này dường như phản ánh sự khác biệt rõ rệt về độc lực giữa virus Sudan và virus Ebola. Sự khác biệt của chúng, theo đó, có thể phản ánh những sự thay đổi khi tiến hóa ở người với tư cách một loài vật chủ thứ hai (tuy sự ngẫu nhiên cũng có thể là lời giải đáp). Có nhiều yếu tố đóng góp vào tỷ lệ tử vong cao trong một đợt bùng phát, bao gồm chế độ ăn, tình hình kinh tế, sức khỏe công cộng nói chung, và khả năng chăm sóc y tế sẵn có ở nơi đợt bùng phát xảy ra. Rất khó để tách biệt sự hung hãn vốn có của một loại virus khỏi những yếu tố bối cảnh đó. Tuy vậy, có thể cho rằng virus Ebola dường như là loại nguy hiểm nhất trong số bốn biến thể ebolavirus mà bạn đã nghe nói tới, theo tác động của nó lên quần thể loài người. Virus rừng Taï không thể được xếp vào hạng mục này, chưa thể – do chưa đủ bằng chứng. Với việc chỉ lây nhiễm lên một người đã biết (hoặc có thể là hai, nếu tính một trường hợp chưa xác định sau này) và không gây tử vong, virus rừng Taï có thể ít lan truyền hơn. Nó có thể ít gây tử vong hơn hoặc không; một trường hợp, như một lần gieo xúc xắc, không chứng minh được gì về việc chuyện gì sẽ xảy ra khi số lượng ca mắc tăng lên. Dù vậy, virus rừng Taï cũng có thể lan thường xuyên hơn nhưng ít gây hậu quả hơn – lây nhiễm lên người nhưng không gây bệnh đáng kể. Chưa ai sàng lọc cư dân của Bờ Biển Ngà để loại loại bỏ khả năng đó.
Vai trò của sự tiến hóa trong việc khiến virus rừng Taï (hay bất kỳ loại virus nào) trở nên ít độc hại hơn với con người là một vấn đề phúc tạp, không dễ để suy luận từ những so sánh đơn giản về tỷ lệ tử vong. Khả năng gây tử vong đơn thuần có thể không liên quan gì đến sự sinh sôi thành công và sự sống sót lâu dài của virus, các yếu tố khiến sự tiến hóa liên tục diễn ra. Nên nhớ, cơ thể người không phải nơi sống chính của ebolavirus. Mà là vật chủ chứa đựng.
Cũng giống như các loại virus lây truyền từ động vật khác, ebolavirus có lẽ đã thích nghi với việc sống ôn hòa trong vật chủ chứa đựng của chúng (hay các loài vật chủ), sinh sôi đều đặn nhưng không quá dồi dào và ít hoặc không gây rắc rối. Lan tới con người, chúng bắt gặp một môi trường mới, một điều kiện mới, thường xuyên gây nên sự phá hoại chết người. Và một người có thể lây nhiễm sang một người khác, qua tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể hay các nguồn chứa virus khác. Nhưng dây chuyền lây nhiễm của ebolavirus, ít nhất là cho tới nay, chưa từng tiếp diễn qua nhiều ca bệnh liên tiếp, qua khoảng cách địa lý lớn, hay trong một quãng thời gian dài. Một vài nhà khoa học sử dụng thuật ngữ “vật chủ ngõ cụt,” để tách biệt với “vật chủ chứa đựng,” để mô tả vai trò của loài người trong sự sống và cuộc phiêu lưu của ebolavirus. Cụm từ này ám chỉ rằng: Các đợt bùng phát đã bị kìm hãm và chấm dứt; trong mỗi trường hợp virus đều đi tới một ngõ cụt, không để lại hậu duệ. Không phải là toàn bộ chủng virus này, tất nhiên, mà là dòng dõi virus đó, dòng virus mà đã lan truyền sang, đặt cược tất cả vào canh bạc này – nó đã biến mất, vô dụng. Đó là một sự thất bại của tiến hóa. Nó chưa đủ khả năng trở thành một căn bệnh đại dịch giữa quần thể loài người. Nó chưa gây nên một dịch bệnh lớn. Ebolavirus, theo những gì đã xảy ra tới thời điểm này, thuộc về mô hình này. Các quy trình y tế cẩn trọng (như chăm sóc trong điều kiện ngăn cách ở các khu cách ly, sử dụng găng tay cao su, áo bảo hộ, khẩu trang, kim tiêm và ống nghiệm dùng một lần) thường chặn được chúng. Đôi khi các phương pháp đơn giản hơn cũng có thể khiến các đợt lan truyền đi vào ngõ cụt. Điều này có lẽ đã xảy ra nhiều lần hơn chúng ta biết. Lời khuyên: nếu chồng bạn mắc ebolavirus, hãy cho anh ấy đồ ăn và thức uống và tình yêu và có lẽ là những lời cầu nguyện nhưng hãy giữ khoảng cách, kiên nhẫn chờ đợi, hi vọng điều tốt đẹp nhất – và, nếu anh ấy chết, đừng dọn phân của anh ấy bằng tay. Tốt hơn là nên lùi lại, hôn gió, và đốt cái chòi đi.
Chuyện về những vật chủ ngõ cụt này là một kiến thức thông thường. Nó áp dụng cho các sự kiện diễn ra theo chiều hướng thông thường. Nhưng có một phương diện khác cần được xem xét. Các bệnh lây truyền từ động vật về bản chất bao gồm các sự kiện bất thường, và phạm vi gây hại cũng có thể rất phi thường. Mỗi đợt lan truyền giống như một tấm vé rút thăm trúng thưởng, do mầm bệnh mua, với giải thưởng là một sự hiện diện mới và hoành tráng hơn. Nó là một cơ hội mong manh để có thể vượt qua ngõ cụt. Để tới được nơi nó chưa từng đến và trở thành thứ nó chưa từng trở thành. Đôi khi con bạc thắng lớn. Hãy nghĩ tới HIV.