Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
73

❊ ❊ ❊

73

Câu trả lời thuyết phục là điều tốt nhưng thời gian dành cho thực địa thì quan trọng hơn. Tôi và Jon Epstein đã rời Dhaka vào sáng hôm sau, đi theo hướng tây về phía con sông sẽ đưa chúng tôi đến vùng đất thấp thuộc miền tây nam Bangladesh.

Epstein là một nhà sinh thái học chuyên về bệnh trên thú, sống ở New York. Vào thời điểm đó, anh làm việc cho một tổ chức có tên là Wildlife Trust, thuộc Hiệp hội Y học Bảo tồn (cùng tổ chức với Aleksei Chmura, sau này được đổi tên thành Eco-Health Alliance). Ngoài bằng bác sĩ thú y, Epstein còn có bằng thạc sỹ y tế công cộng và nhiều kinh nghiệm làm việc với những con dơi lớn châu Á. Anh ấy đã làm việc với Paul Chua ở Malaysia, bắt cáo bay giữa rừng ngập mặn ven biển, đôi khi làm việc dưới mực nước biển ngập sâu đến ngực. Anh dẫn đầu nhóm nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về virus Nipah trong số những con cáo bay ở Ấn Độ sau đợt bùng phát đầu tiên ở đó, và là một thành viên của nhóm nghiên cứu đa quốc gia xác định được dơi là ổ chứa virus SARS ở Trung Quốc. Anh ấy là người cao lớn, rắn rỏi, tóc cắt húi cua và đeo cặp kính hình thoi, trông giống một cựu tiền vệ trung học đã trưởng thành ở tuổi 40 và rất nghiêm túc. Đây không phải lần đầu anh ấy đến Bangladesh, lần này anh đến đây để thu thập dữ liệu nhằm tìm hiểu khi nào, ở đâu và bằng cách nào mà cáo bay Ấn Độ đã mang và lan truyền virus Nipah.

Anh ta dẫn theo Jim Desmond, một bác sĩ thú y người Mỹ khác, mới được tuyển dụng vào tổ chức, người mà Epstein sẽ huấn luyện các kỹ năng đặc biệt để tìm kiếm virus Nipah ở những con dơi to bằng quạ. Thành viên thứ tư của nhóm chúng tôi là Arif Islam, cũng là một bác sĩ thú y, một trong số rất ít người ở Bangladesh làm việc với các bệnh trên động vật hoang dã và bệnh lây truyền từ động vật sang người, và là thành viên duy nhất của nhóm có thể nói thông thạo tiếng Bangla. Arif rất quan trọng vì anh ấy có thể lấy máu từ động mạch cánh dơi, thương lượng với các quan chức địa phương và gọi món cà ri cá cho chúng tôi tại một nhà hàng địa phương.

Đã gần 9 giờ sáng vào thời điểm chúng tôi thông xe ở Dhaka, nơi những chiếc xe buýt cọ vào nhau như những con voi thân thiết và những chiếc xe ôm màu xanh lá cây lách qua những khoảng trống, dường như lúc nào cũng có nguy cơ bị chèn ép. Cuối cùng thì con đường cũng mở ra. Chúng tôi chạy theo hướng tây về phía sông, cảm thấy nhẹ nhõm khi đã đi được xa. Phía sau chúng tôi, mặt trời thấp chiếu yếu ớt qua làn sương khói của thành phố, màu cam giống lòng đỏ trứng đẫm máu.

Chúng tôi lên chuyến phà băng qua huyện Faridpur — vì là mùa khô nên mực nước sông Padma thấp — và đi trên con đường hai làn giữa cánh đồng lúa. Chúng tôi dừng lại ở thành phố Faridpur để đón thêm nhân viên, một cặp trợ lý thực địa tên là Pitu và Gofur, với những kỹ năng đặc biệt. Cả hai đều là những người đàn ông nhỏ con, thanh thoát và nhanh nhẹn như những tay đua ngựa, chuyên gia leo núi và bắt dơi, họ đã làm việc liên tục với Epstein trong nhiều năm. Chuyên môn bắt dơi của họ xuất phát từ nghề săn bắt trộm trước đó, nhưng giờ họ chỉ làm việc đúng đắn. Sau khi đón được họ, chúng tôi đi về hướng nam, ăn vặt với cam và bánh quy cay trên đường đi. Chúng tôi giảm tốc độ khi đi qua các thị trấn nhỏ tắc nghẽn xe kéo, xe buýt, và xe máy; tôi nhận thấy khu vực phía tây nam này có ít xe hơi cá nhân. Một cộng đồng dường như chuyên khai thác đá, đóng bao và vận chuyển cát, một nguồn tài nguyên rất dồi dào. Đang là thời điểm cấy lúa vụ mới, và chúng tôi có thể thấy những người đàn ông và phụ nữ cặm cụi nhổ đám mạ non xanh thẫm từ khoảnh vườn ươm dày đặc dọc theo đáy sông, bó lại, chuyển đi, cấy lại cẩn thận trên ruộng ngập nước. Trên mặt đất khô hơn, họ trồng các loại cây khác — ngô, đậu, ngũ cốc — và thỉnh thoảng là những cụm cây chuối hoặc dừa. Tuy nhiên, mặt bằng khô ráo dần trở nên khan hiếm khi chúng tôi tiến xa hơn về phía nam. Đi thẳng về phía trước là đầm lầy Sundarbans, nơi đồng bằng sông Hằng tan biến thành các hòn đảo ngập mặn và các kênh nước đan xen, có cá sấu và hổ chân ướt, nhưng chúng tôi sẽ không đi xa đến vậy.

Đất đã quá phẳng và thấp, mực nước ngầm quá cao, những vũng nước đọng bao quanh khắp mọi ngôi làng và thị trấn mà chúng tôi đi qua.

Ở đây, chúng tôi bắt đầu thấy nhiều cây chà là hơn, thân nhẵn có sẹo với các vết cắt cho thấy nơi gachi đã rạch để lấy nhựa cây trong nhiều năm trước. Bây giờ đã là giữa tháng một và mùa thu hoạch nhựa cây đang diễn ra, thời điểm hoàn hảo nếu chúng tôi muốn lấy mẫu đầy cốc. Chúng tôi đã không làm như vậy. Người Bangladesh gọi thứ đó là kajul, tôi học được từ Arif. Họ tin rằng đó là một loại nước giải khát ngon, tiêu diệt ký sinh trùng trong ruột. Nhưng bạn phải uống nó lúc còn tươi, Arif nói. Đun sôi nhựa cây không chỉ làm hỏng hương vị mà còn làm mất tác dụng chữa bệnh của nó. Đúng là hồi còn nhỏ, Arif chắc chắn đã uống nhựa cây chà là – nhưng giờ thì không, không đời nào, kể từ khi anh ấy nghiên cứu về Nipah.

Vào buổi tối, chúng tôi đến một thành phố tên là Khulna, tìm phòng trong một khách sạn có dịch vụ tốt, và ngày hôm sau đi ra ngoài tìm kiếm những tổ dơi mà Arif đã thám thính trong chuyến đi trước đó. Phía tây thành phố, đất có vẻ thấp hơn và nước dồi dào – nước trong ruộng, trong các đầm lầy, trong đầm phá, trong các ao nuôi tôm. Người dân trong làng và gia súc của họ sống trên những mảng đất nhão có lối mòn đi bộ dẫn vào, và con đường chạy dọc theo bờ kè, vật liệu làm đường có lẽ đã mượn từ những cái hố bây giờ là những vũng nước màu xanh lục và hơi nâu nằm bên cạnh. Nếu bạn muốn có đất cao ở đây, bạn phải tự xây lên. Ở đây có nhiều cây nhưng không được gọi là rừng, chỉ lác đác vài cây dừa, chuối, đu đủ, me, một vài cây gỗ cứng, và nhiều cây chà là, trong số đó, tôi thấy có một gachi đang leo lên một cây chà là. Anh ấy đi chân trần, dùng tay và chân cộng với dây bảo hộ đeo quanh thắt lưng để leo lên, giống người thợ đang kéo dây điện ở Wichita. Anh ta mặc một chiếc lungi (một chiếc xà rông, thắt ở eo), đeo khăn xếp, và khoác trên vai một chiếc túi dệt, trong đó có hai con dao dài và cong. Gần đó, một cậu bé bên vệ đường mang theo bốn cái niêu đất màu đỏ, trống rỗng và sẵn sàng sắp xếp để hứng nhựa đêm nay.

Những con dơi cũng đã sẵn sàng. Trong khi đó, chúng đang ngủ. Cáo bay không giống dơi ăn côn trùng và dơi ăn quả, chúng không trú ngụ trong các hang động, hầm mỏ hay các tòa nhà cũ. Chúng thích cây cối hơn, treo ngược trên cành cây, cụp cánh bao lấy thân, giống như loại trái cây nhiệt đới kỳ lạ nhất. Chúng tôi đã ghé thăm bốn hoặc năm điểm khác nhau. Chúng tôi quan sát các ngọn cây để xem tập hợp những con dơi đang ngủ, trò chuyện với người dân địa phương và kiểm tra lớp đất bên dưới tổ dơi, nhưng không có mẫu nào đáp ứng các tiêu chuẩn chính xác của Epstein. Có thể là số lượng dơi quá ít (một trăm con ở đây, một trăm con ở con kia), cây cối gần đó chưa đủ để dựng lưới, hoặc mặt đất ở đó có vấn đề. Ở một ngôi làng nọ, vài trăm con dơi đang đậu trên một số cây họ đậu, một cảnh tượng hấp dẫn, ngoại trừ việc chúng treo lơ lửng ngay trên một vũng nước xanh lớn dường như là bể thoát nước thải của cả ngôi làng. Epstein đoán trước rằng, việc hạ tấm lưới xuống sau khi bắt dơi sẽ khiến chúng rơi vào vũng nước đó, khiến anh sẽ phải lao vào gỡ rối cho chúng trước khi chúng chết đuối. Không, anh ấy thì thầm. Tôi muốn tận dụng cơ hội của mình với Nipah hơn là với bất cứ thứ gì trong vũng nước đó.

Vì vậy, chúng tôi quay trở lại một địa điểm đã nhắm được khi đi qua con đường vào Khulna: một cái kho bỏ hoang nằm trong khu đất có tường bao quanh rất rộng, thuộc sở hữu của chính phủ và từng được sử dụng làm kho chứa vật liệu làm đường. Trên sân cỏ ở đó, giữa các nhà kho mọc lên một số cây karoi khổng lồ có bốn hoặc năm nghìn con dơi đang treo lủng lẳng. Rõ ràng đây là điểm làm tổ đặc biệt ưa thích của dơi, bởi vì cây cối rậm rạp, khu nhà có tường bao quanh bảo vệ chúng khỏi sự huyên náo của ngôi làng và lũ trẻ dùng súng cao su, và vào mỗi buổi tối lúc chạng vạng, chúng có thể thả mình ra khỏi cành cây, bay vòng quanh sông Rupsha (một nhánh khác của châu thổ sông Hằng) tạo nên cảnh tượng hùng vĩ, và đi kiếm ăn qua đêm giữa những ngôi làng xung quanh Khulna.

Được rồi, Epstein quyết định, chính là nơi này.

Trong vòng một ngày, sau cuộc họp với chính quyền địa phương, Epstein và Arif đã thuyết phục được họ cho phép chúng tôi đi khám phá kho hàng cũ này vào lúc nửa đêm. Đó là lý do tại sao tôi thích làm việc ở Bangladesh, Epstein nói. Yêu cầu đơn giản, con người hợp tác, hành động nhanh chóng. Hãy đi đến một số quốc gia châu Á khác với kỳ vọng tương tự và bạn sẽ thấy sự khác biệt.

Tuy nhiên, trước khi bắt đầu bắt dơi, chúng tôi phải thực hiện một số công việc cơ bản vào ban ngày. Chúng tôi leo lên một cái thang tre dài ọp ẹp để lên mái bằng của một nhà kho bỏ hoang, ngay bên cạnh những cây karoi, và từ mái nhà đó, Gofur và Pitu tiếp tục nhiệm vụ. Họ đã leo lên một cây cao, nhanh nhẹn như những thủy thủ đi đến tổ quạ, và buộc một cột tre vào vị trí sao cho nó thẳng đứng và cao vượt qua ngọn cây trên cùng. Trên đỉnh cột tre đó là một ròng rọc tự chế đơn giản. Họ cũng làm như vậy ở một cái cây khác, gần phía xa của nhà kho, rồi khi trèo lên và buộc cột xong, họ có thể nâng và hạ một tấm lưới sương mù khổng lồ đặt giữa hai cây.

Tất nhiên, sự xâm nhập của họ vào một cây mà dơi đang làm tổ đã đánh động bầy dơi. Hàng trăm con dơi cựa quậy, thức dậy, bay lượn, vòng qua sông, rồi quay lại, rồi lại bay ra ngoài, giống như những mảnh vụn trôi lênh đênh trên một luồng không khí lớn. Chúng trông to lớn như những con ngỗng trên bầu trời ban ngày, dễ dàng bay vút lên vượt cả sức nóng hoặc vỗ theo nhịp chậm. Khi chúng lướt qua chúng tôi, bay xuống thấp, các đặc điểm dần hiện rõ — bộ lông màu nâu vàng trên cơ thể, đôi cánh lớn màu xám gần như trong suốt, và chiếc mũi nhọn. Mặc dù không thích bị đánh thức nhưng chúng không có dấu hiệu hoảng sợ. Chúng thật lộng lẫy. Tôi đã từng thấy những con dơi ăn quả ở châu Á trước đây, nhưng chưa bao giờ thấy nhiều dơi di chuyển lại gần như vậy. Tôi hẳn đã trố mắt nhìn như một kẻ ngốc vì Epstein đã nhẹ nhàng khuyên, «Hãy ngậm miệng lại khi nhìn lên.» Anh ấy nhắc nhở tôi rằng, dơi thả virus Nipah qua nước tiểu.

Tại khách sạn, chúng tôi đặt báo thức lúc 0:30 sáng và sau đó thức dậy, bắt tay vào công việc chính. Khi chúng tôi đi qua thành phố Khulna đang ngủ say để đến nhà kho, Epstein đã nói về cái mà anh ấy gọi là Thông tin An toàn. Anh nói: Kính bảo hộ và găng tay da thợ hàn dành cho người bắt dơi. Cần đeo thêm găng tay y tế bên trong. Giữ mũ trên đầu, thả tay áo xuống. Khi bạn giữ một con dơi lớn như vậy, bạn cần nắm chặt quanh phía sau đầu của nó, các ngón tay và ngón cái để phía dưới hàm để nó không thể cắn bạn. Tránh để bị cắn. Tránh để bị cào. Nếu một con dơi quặp móng vuốt vào cánh tay bạn, hãy giơ tay đó lên cao, qua đầu bạn; bản năng của động vật là leo lên cao và bạn sẽ không muốn nó trèo qua mặt mình. Pitu và Gofur sẽ gỡ những con dơi bị bắt khỏi lưới và sau đó đặt chúng vào tay bạn. Giữ lấy đầu nó bằng một tay, tay kia nắm lấy tứ chi, kẹp chặt từng chi nhỏ khỏe của nó vào các kẽ tay — một, hai, ba, bốn — và ngón tay cái của bạn. Bốn kẽ ngón tay là vừa đủ. Hãy tin tưởng Pitu và Gofur, họ sẽ giúp chúng ta. Đó là cách bạn điều khiển một con cáo bay để không ai bị thương. Thả từng con dơi vào trong túi vải mà Arif sẽ mở sẵn, sau đó thắt nút chiếc túi, treo nó lên một cành cây và quay lại bắt con khác. Nếu bạn bị cào hoặc bị cắn, chúng ta sẽ xử lý như khi bị phơi nhiễm — có thể với Nipah, cũng có thể là virus dại. Chúng ta sẽ rửa vết thương trong năm phút với xà phòng và sau đó dùng benzalkonium chloride, một chất kháng virus mạnh. Ngay sau đó, bạn sẽ được tiêm một mũi phòng bệnh dại. Anh đã tiêm phòng bệnh dại chưa, David? (Tôi tiêm rồi.) Lần tiêm nhắc lại cuối cùng của anh là khi nào, hiệu lực của vắc-xin là bao lâu? (Ừm, tôi không biết.) Nếu phơi nhiễm với Nipah, đừng bận tâm, bởi vì không có vắc-xin, không điều trị được, không có thuốc chữa. (Nghe mới nhẹ nhõm làm sao.) Có phải tôi đã nói là Không để bị cắn không? Nguyên tắc đầu tiên là, một, an toàn cho chúng tôi; hai, an toàn cho những con dơi. Hãy chăm sóc đàn dơi thật tốt, Epstein nói. (Trên hết, anh ấy là bác sĩ thú y và nhà bảo tồn động vật.) Có ai có câu hỏi nào không?

Tạ ơn trời đất, hầu hết điều này đều là vì lợi ích của Jim Desmond, không phải tôi. Arif, Pitu và Gofur là những chuyên gia dày dạn kinh nghiệm; họ không cần hướng dẫn khác. Desmond là thực tập sinh, và tôi đã đi cùng để giám sát. Tôi không có ý định để bất cứ ai đưa cho tôi một con dơi chứa virus Nipah nếu tôi có thể tránh nó một cách hợp lý.

Ngay bên ngoài bức tường, trong một tòa nhà trống khác, Epstein đã dựng lên phòng thí nghiệm thực địa của mình. Ở đó, trong những giờ đầu tiên, anh ấy và đội của mình đã chuẩn bị các thiết bị phục vụ các nhiệm vụ sau này: gây mê những con dơi bị bắt, lấy mẫu máu và nước tiểu của từng con, ly tâm các ống máu để tách lấy huyết thanh, và làm đông lạnh tất cả các mẫu trong một thùng chứa nitơ lỏng. Căn phòng này có sàn bê tông, cửa sổ có rào chắn, một chiếc bàn gỗ giờ được phủ bằng tấm nhựa, và một bồn ngâm chân vô trùng ở cửa, mỗi lần chúng tôi đến và đi bằng ủng cao su sẽ đi qua đó. Epstein đã phát cho mỗi người mặt nạ phòng độc, kính bảo hộ và găng tay y tế (không phải làm bằng cao su mà là vật liệu mới nhất được lựa chọn: nitrile), và chúng tôi đã mặc đồ bảo hộ vào. Anh ấy và Desmond đều mặc bộ áo liền quần đã cũ. Arif mặc bộ đồ liền thân mới khá đẹp của Tyvek, giống như đồ ngủ màu trắng phi bóng. Epstein nói với Arif một cách nhẹ nhàng, hãy tìm bộ đồ khác khi anh có thể; những con dơi này có thể nhìn thấy, ghi nhớ, không phải định vị bằng sóng âm mà chúng có thể nhìn thấy anh. Desmond đã thử khẩu trang của mình, và một lúc sau Epstein hỏi, «Anh có thở được không?»

«Có.»

“Tốt đấy. Anh không được phép ngất đi. Đó là quy tắc số năm.” Tôi đang cố gắng nhớ bốn quy tắc còn lại.

Ngay trước khi đeo mặt nạ, Epstein vui vẻ lưu ý: “Với các loại virus mới xuất hiện, tất cả chỉ xoay quanh cách phòng ngừa. Một khi đã nhiễm virus, ta sẽ chẳng làm được gì nhiều nữa.” Anh ấy đưa cho tôi một chiếc khăn lau nhỏ đã được đóng gói, giống khăn lau mặt tẩm cồn mà bạn hay sử dụng trên máy bay, nhưng thay vì cồn, chiếc khăn này có chứa benzalkonium chloride. Ồ, cảm ơn anh nhé. Bây giờ là 2:40 sáng, thời điểm để leo lên mái nhà.

“Được rồi,” Epstein nói. “Chúng ta đã sẵn sàng chưa?”

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.