Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2183 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii: Mười Ba Con Khỉ Đột - 8

❊ ❊ ❊

Vài tháng sau những sự kiện ở chuồng ngựa của Vic Rail, một sự lây truyền khác xảy ra, lần này ở Trung Phi. Dọc theo vùng thượng du sông Ivindo ở đông bắc Gabon, gần biên giới với Cộng hòa Congo, có một ngôi làng nhỏ với cái tên Mayibout 2, một khu định cư vệ tinh chỉ cách làng Mayibout một dặm về phía thượng du sông. Vào đầu tháng Hai năm 1996, 18 người ở Mayibout 2 đột ngột đổ bệnh sau khi cùng làm thịt và ăn một con tinh tinh.

Các triệu chứng của họ bao gồm, sốt, đau đầu, nôn mửa, mắt đỏ, xuất huyết lợi, nấc, đau cơ, viêm họng và tiêu chảy ra máu. Cả 18 người được chuyển xuống hạ lưu tới một bệnh viện ở thủ phủ của tỉnh, thị trấn có tên Makokou, theo quyết định của trưởng làng. Khoảng cách theo đường quạ bay từ Mayibout 2 tới Makokou chỉ hơn 80 km, nhưng nếu đi bằng xuồng trên con sông Ivindo quanh co mất tới bảy tiếng. Chiếc xuồng trôi lững lờ giữa khu rừng dọc theo bờ sông. Bốn trong số những người được chuyển đi đã hấp hối khi tới nơi và tử vong hai ngày sau đó. Bốn thi thể, được đưa về Mayibout 2 để an táng theo nghi thức truyền thống, và không có biện pháp nào được thực hiện để phòng ngừa sự lây lan của những thứ đã giết chết họ. Bệnh nhân thứ năm trốn khỏi bệnh viện, lảo đảo trở về làng và tử vong ở đó. Lượt ca bệnh thứ hai nhanh chóng bùng phát ở những người chăm sóc cho những bệnh nhân đầu tiên: những người thân và bạn bè của họ, và cả những người xử lý những xác chết. Sau cùng có 31 người mắc bệnh, trong đó có 21 người chết: tỷ lệ tử vong là gần 68%.

Những thông tin và số liệu đó do nhóm các nhà nghiên cứu y học, bao gồm cả người Gabon và người Pháp, đã tới Mayibout 2 trong thời gian bùng phát ghi lại. Trong số đó có Eric M. Leroy, bác sĩ thú y và nhà virus học người Pháp đầy năng nổ, được đào tạo ở Paris và làm việc ở Trung tâm Nghiên cứu Y học Quốc tế Franceville (CIRMF), trụ sở đặt tại Franceville, một thành phố nhỏ ở miền đông nam Gabon. Leroy và các đồng nghiệp đã tìm thấy dấu hiệu của virus Ebola trong các mẫu xét nghiệm thu được từ một vài bệnh nhân, và họ kết luận được rằng con tinh tinh bị làm thịt đã nhiễm virus Ebola. “Con tinh tinh dường như là khởi điểm lây nhiễm cho 18 người đầu tiên”, họ viết. Cuộc điều tra cũng hé lộ sự thật rằng con tinh tinh không phải do những người làng săn được; họ tìm thấy nó chết trong rừng và nhặt về.

Bốn năm sau, gần thượng du sông Ivindo, tôi ngồi bên lửa trại với một tá người bản địa làm công việc dẫn đường trong rừng cho cuộc thám hiểm đường dài. Những người đàn ông này, hầu hết đến từ những ngôi làng ở phía đông bắc Gabon, đã đi bộ hàng tuần trước khi tôi gia nhập vào hành trình. Công việc của họ bao gồm mang vác những túi nặng qua khu rừng và dựng những khu trại đơn giản hàng đêm cho các nhà sinh học, trong đó có Mike Fay, người mà nỗi ám ảnh về nhiệm vụ này đã thôi thúc cả dự án tiến về phía trước. Fay là một người đàn ông kỳ lạ, ngay cả theo tiêu chuẩn của một nhà sinh học thực địa vùng nhiệt đới: thể chất khỏe mạnh, cứng đầu, vô tư, thông minh và vô cùng tâm huyết với công việc bảo tồn. Dự án của ông, mang tên Megatransect, là một cuộc khảo sát sinh lý học trên quãng đường dài 2.000 dặm, đòi hỏi đi bộ qua những vùng hoang dã nhất chưa được biết tới ở Trung Phi. Ông thu thập dữ liệu trên mọi bước đi của hành trình, từ phân voi, dấu chân báo cho tới những lần trông thấy tinh tinh và nhận dạng thực vật, hàng nghìn ghi chép nhỏ, tất cả đều nằm trong cuốn sổ chống nước màu vàng với dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng tay trái, trong khi những người đồng hành theo sau ông mang theo những chiếc máy tính, điện thoại vệ tinh, các công cụ đặc biệt và pin dự phòng, cũng như lều và thực phẩm và thuốc men đủ cho cả ông và họ.

Fay đã đi bộ được 290 ngày tính tới khi họ đặt chân tới phần này của vùng đông bắc Gabon. Ông đi qua Cộng hòa Congo với nhóm thực địa gồm những người Congo thạo việc đi rừng, hầu hết là những Bambendjellés (một dân tộc thiểu số gồm những người vóc dáng nhỏ bé, đôi khi còn được gọi là Người Lùn), nhưng họ đã không được cho phép nhập cảnh qua biên giới Gabon. Do vậy Fay buộc phải tìm một đoàn mới tại Gabon.

Ông chiêu mộ họ phần lớn từ các mỏ vàng ở thượng lưu sông Ivindo. Công việc vất vả đầy khó khăn mà ông đòi hỏi: mở đường, mang vác đồ đạc, có vẻ được ưa chuộng hơn so với đào vàng trong bùn ở vùng xích đạo. Một người vừa khuân vác vừa phụ trách nấu ăn, nấu lượng lớn gạo hay fufu (một loại thực phẩm tinh bột làm từ bột sắn, nhìn giống một loại keo dán giấy tường ăn được) khi cắm trại vào mỗi buổi tối, và trang trí nó với một loại sốt nâu gì đó. Nguyên liệu cho món sốt này bao gồm rất nhiều thứ, từ sốt cà chua, cá khô, cá mòi đóng hộp, bơ lạc, thịt bò khô đóng đá, và pili-pili (tiêu cay), tất cả đều được cho là tương hợp và được kết hợp theo ý thích của bếp trưởng. Chẳng có ai phàn nàn. Tất cả mọi người đều luôn đói. Thứ duy nhất tệ hơn một khẩu phần to của món đó, sau một ngày lang thang qua khu rừng, là một khẩu phần nhỏ. Vai trò của tôi trong nhóm này, theo chỉ định của National Geographic, là theo chân Fay để sản xuất loạt câu chuyện mô tả công việc cũng như chuyến hành trình. Tôi sẽ đi cùng ông ấy mười ngày đến hai tuần ở đâu đó, rồi trốn về Mỹ, để đôi chân nghỉ ngơi (chúng tôi đi những đôi dép lội sông), và viết thành câu chuyện dài kỳ.

Mỗi lần tôi trở lại gia nhập với Fay và đoàn của ông, công tác hậu cần để tới được điểm gặp mặt lại thay đổi, tùy thuộc vào mức độ hẻo lánh của nơi ông đang ở và mức độ cấp thiết về nhu cầu tiếp tế. Ông không bao giờ đi chệch khỏi hành trình zic zac của mình. Tôi mới là người phải bắt kịp với ông. Đôi khi, tôi phải đi máy bay bụi và xuồng máy độc mộc cùng với người dẫn đường và giám lộ của Fay, nhà sinh thái học người Nhật, Tomo Nishihara. Tomo và tôi lọt thỏm trên chiếc xuồng giữa hàng đống đồ đạc dành cho chuyến đi tới của Fay: những túi chứa đầy fufu với cơm cùng cá khô, những thùng cá mòi, dầu, bơ lạc và pili-pili và pin AA. Nhưng ngay cả những chiếc xuồng máy này cũng không phải lúc nào cũng tới được nơi mà Fay cùng đoàn của ông đang chờ đợi trong tình trạng đói ngấu và luộm thuộm. Lần này, bởi họ đang đi bộ ngang qua một khu rừng rộng lớn có tên Minkébé, Tomo và tôi bay trên một chiếc trực thăng Bell 412, chiếc máy bay 13 chỗ ngồi cỡ lớn, được thuê với giá đắt đỏ từ quân đội Gabon. Vòm lá của khu rừng, vốn dày và liền mạch, tại đây bị xuyên thủng bởi những tảng đá granite lớn, cao hàng trăm mét, như tảng đá El Capitan nổi bật giữa làn sương màu xanh. Điểm hạ cánh nằm ở trên một phiến đá mà Fay đã chỉ. Nơi đó cách Mayibout 2 bốn mươi dặm về phía tây.

Hôm đó là một ngày khá dễ thở với cả đoàn – không phải đi qua đầm lầy, không có những thảm thực vật cắt da, không có những con voi nhào tới sau khi bị khiêu khích bởi mong muốn quay được video ở tầm gần của Fay. Họ cắm trại, chờ trực thăng tới. Đồ tiếp tế đã đến cùng với cả bia! Điều đó tạo nên một bầu không khí dễ chịu, vui vẻ quanh lửa trại. Tôi nhanh chóng biết được rằng hai trong số các thành viên trong đoàn, Thony M’Both và Sophiano Etouck, có gốc gác ở Mayibout 2. Họ đã có mặt ở đó khi virus Ebola tấn công ngôi làng.

Thony, một người hướng ngoại, vóc dáng gầy gò và ăn nói hoạt bát hơn nhiều so với những người khác, sẵn sàng kể về chuyện đó. Anh kể lại bằng tiếng Pháp, trong khi Sophiano, một người ngại ngùng với hình thể của lực sĩ, vẻ mặt cau có nghiêm chỉnh với chòm râu dê, nói lắp khi hồi hộp, ngồi im lặng. Sophiano, theo lời của Thony, đã chứng kiến anh trai và hầu hết các thành viên trong gia đình của anh ấy qua đời.

Vì chỉ mới quen biết hai người đàn ông này, tôi không thể đòi hỏi nhiều thông tin hơn trong buổi tối hôm đó. Hai ngày sau chúng tôi bắt đầu chuyến đi tiếp theo của Fay, ngang qua rừng Minkébé, hướng về phía nam, xa khỏi khu sơn đảo. Chúng tôi bận bịu và bị phân tâm bởi những thử thách thể chất của việc đi bộ qua địa hình bất định của khu rừng, rồi kiệt sức (đặc biệt là họ, những người đã phải làm việc vất vả hơn tôi) vào buổi đêm. Tuy nhiên, sau khi vượt qua một nửa hành trình với một tuần đi bộ vất vả, cùng nhau chịu khổ, chia sẻ những bữa ăn, Thony cuối cùng cũng đủ thoải mái để kể cho tôi nhiều hơn.

Ký ức của anh ấy giống với tổng thể bản báo cáo của đội ngũ CIRMF từ Franceville, ngoại trừ một vài điểm khác biệt nhỏ về những con số và chi tiết. Nhưng anh mang đến một góc nhìn cá nhân hơn.

Thony gọi nó là l’épidémie, dịch bệnh. Anh kể lại, nó xuất hiện vào năm 1996, cùng khoảng thời gian mà một vài binh sĩ Pháp đặt chân đến Mayibout 2 trên một chiếc bè hơi Zodiac và cắm trại gần ngôi làng. Không rõ những binh sĩ này có mục đích quan trọng nào không – xây dựng lại một đường băng cũ, hay chỉ ở đó để thư giãn. Họ nổ súng. Có lẽ, theo phỏng đoán của Thony, họ cũng sở hữu một loại vũ khí hóa học nào đó. Anh ấy nhắc tới những chi tiết này vì nghĩ chúng có thể có liên quan đến bệnh dịch. Một ngày, vài chàng trai trong làng quyết định đi săn cùng lũ chó. Con mồi dự tính của họ ban đầu là nhím. Nhưng thay vì nhím, họ tìm thấy một con tinh tinh – không phải do lũ chó giết. Một con tinh tinh được tìm thấy khi đã chết. Con tinh tinh đã thối rữa. Họ đem nó về. Thony nói, “ruột của nó đã hỏng và trương lên.” Cũng chẳng hề gì, mọi người rất mừng và háo hức vì có thịt. Họ làm thịt con tinh tinh và ăn. Rồi nhanh chóng, chỉ trong hai ngày, tất cả những người động đến chỗ thịt bắt đầu ốm.

Họ nôn mửa và tiêu chảy. Một số người đi về hạ nguồn bằng xuồng máy tới bệnh viện ở Makokou, nhưng không có đủ nhiên liệu để chuyên chờ tất cả những người bị ốm. Quá nhiều nạn nhân, không đủ xuồng. Mười một người qua đời ở Makokou. Mười tám người khác chết trong làng. Những bác sĩ đặc biệt nhanh chóng tới nơi từ Franceville, mặc trên người những bộ đồ trắng và mũ bảo hộ, nhưng không cứu được ai. Sophiano mất sáu thành viên trong gia đình. Một trong số đó, một trong những đứa cháu gái của anh ấy – qua đời trên tay anh. Tuy vậy bản thân Sophiano chưa từng mắc bệnh. “Tôi cũng vậy”, Thony nói. Nguyên nhân của căn bệnh làm dấy lên sự lo ngại và những lời đồn đen tối. Thony nghi ngờ rằng những binh lính Pháp, với vũ khí hóa học của họ, đã giết con tinh tinh và bỏ lại nó một cách bất cẩn và đầu độc ngôi làng. Dù sao thì, những người sống sót đã học được bài học. Anh nói: “Giờ đây, không ai ở Mayibout 2 ăn thịt tinh tinh.”

Tôi hỏi về những chàng trai đã đi săn hôm đó. Tất cả bọn họ đã chết, theo lời Thony. Những con chó thì không. Tôi hỏi anh đã bao giờ chứng kiến một căn bệnh, một dịch bệnh như vậy chưa? “Chưa. Đó là lần đầu tiên.” Chưa bao giờ.

Họ nấu con tinh tinh như thế nào? Tôi tò mò. “Bằng một thứ nước sốt thông thường ở châu Phi,” Thony nói, như thể đó là một câu hỏi ngớ ngẩn. Tôi tưởng tượng những bắp chân của con tinh tinh trong thứ nước sốt đầy lạc, với pili-pili, đặt trên fufu.

Bên cạnh món tinh tinh hầm, một chi tiết rõ ràng còn lưu lại trong tâm trí tôi. Đó là điều mà Thony đã nhắc tới trong cuộc nói chuyện trước đó. Giữa những hỗn loạn và sự sợ hãi trong làng, Thony kể cho tôi, anh ấy và Sophiano đã nhìn thấy một điều dị thường: một đám gồm mười ba con khỉ đột, tất cả đều đã chết, nằm ở gần đó trong khu rừng.

Mười ba con khỉ đột? Tôi chưa từng hỏi về những con vật hoang dã đã chết. Đây là thông tin ngẫu nhiên anh kể. Tất nhiên, những lời nói suông thường mông lung, không chính xác, đôi khi sai hoàn toàn, kể cả khi chứng kiến tận mắt. Mười ba con khỉ đột ở đây có thể thực sự là một tá, hay mười lăm, hay đơn giản là rất nhiều – quá nhiều khiến trí óc của một người đang đau buồn không thể đếm nổi. Người ta đang chết. Những ký ức mờ nhạt. Để nói rằng Tôi đã thấy chúng có thể có nghĩa chính xác như vậy, nhưng cũng có thể ít hơn. Bạn của tôi đã thấy chúng, anh ấy là một người bạn thân, tôi tin anh ấy như tin chính đôi mắt của mình. Hoặc có lẽ: Tôi đã nghe về nó từ một nguồn đáng tin cậy. Lời nói của Thony, như tôi cảm thấy, thuộc về nhóm tri thức luận thứ nhất: đáng tin cậy, dù có thể không hoàn toàn chính xác. Tôi tin rằng anh ấy đã thấy những con khỉ đột, khoảng mười ba con, chết cạnh nhau, nếu không phải chất thành đống. Anh ấy thậm chí có thể đã đếm chúng. Hình ảnh xác của mười ba con khỉ đột rải rác trên lá mục có thể kinh hoàng, nhưng không phải không hợp lý. Những bằng chứng sau đó cho thấy khỉ đột rất dễ mắc Ebola.

Dữ liệu khoa học là một chuyện khác, rất khác so với lời nói suông. Chúng không mơ hồ với những cường điệu và mâu thuẫn văn chương. Dữ liệu khoa học chi tiết, đong đếm được, chắc chắn. Được thu thập một cách chọn lọc, phân loại nghiêm ngặt, chúng có thể tiết lộ những ý nghĩa quan trọng. Đó là lý do vì sao Mike Fay đi bộ xuyên Trung Phi với cuốn sổ màu vàng: tìm kiếm những xu hướng lớn hơn có thể xuất hiện từ hàng đống những dữ liệu nhỏ.

Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục hành trình qua khu rừng. Chúng tôi vẫn còn cách con đường gần nhất khoảng hơn một tuần đi bộ. Đó là môi trường sống hoàn hảo cho khỉ đột: kết cấu tốt, đầy rẫy những thức ăn ưa thích của chúng, và gần như không có bàn tay con người: không đường mòn, không trại, không dấu vết của thợ săn. Đáng ra nó phải đầy rẫy khỉ đột. Và trước đó không lâu, nó đã từng như thế: Một cuộc điều tra về số lượng quần thể linh trưởng ở Gabon đã được thực hiện hai thập kỷ trước, bởi hai nhà khoa học từ CIRMF, đã cho kết quả ước tính khoảng 4.171 con khỉ đột trong khu rừng Minkébé. Tuy vậy, trong suốt nhiều tuần đi rừng, chúng tôi không thấy bóng dáng con khỉ nào. Có một sự thiếu vắng kỳ lạ của khỉ đột cũng như dấu vết của chúng – lạ đến mức, đối với Fay, giống như bắt được vàng vậy. Đây chính là kiểu xu hướng, dù tích cực hay tiêu cực, mà phương pháp của ông hướng tới để làm rõ. Trong suốt dự án Megatransect của mình, ông ghi lại trong cuốn sổ tất cả những nơi trú ngụ của khỉ đột ông nhìn thấy, mọi đống phân chúng để lại, mọi nhành cây mà chúng ăn qua – cũng như phân voi, dấu vết của báo đốm, và những dấu vết tương tự của các loài vật khác. Sau khi kết thúc hành trình ở Minkébé, ông ấy tổng kết lại dữ liệu. Việc này khiến ông mất hàng giờ đồng hồ, giam mình trong lều, đối chiếu các quan sát mới nhất trên máy tính xách tay. Và rồi ông ra ngoài.

Fay thông báo với tôi, trong 14 ngày qua, chúng tôi đã gặp 997 đống phân voi, nhưng không có một cục nào của khỉ đột. Chúng tôi đã đi qua giữa hàng triệu thân cây thảo mộc lớn, bao gồm cả những loại (thuộc họ Marantaceae) chứa đầy dinh dưỡng khỉ đột cần đến như cần tây; nhưng không một thân cây nào trong số đó, theo quan sát của ông, có dấu răng của chúng. Chúng tôi không nghe thấy một tiếng vỗ ngực nào của khỉ đột, hay bất kỳ cái tổ nào. Nó giống như bí ẩn về con chó lúc nửa đêm – một con chó yên lặng, cảnh báo hùng hồn cho Sherlock Holmes về những dấu hiệu tiêu cực rằng có gì đó không ổn. Quần thể khỉ đột của khu rừng Minkébé, từng rất đông đúc, đã biến mất. Kết luận không thể tránh khỏi là hẳn thứ gì đó là giết hết bọn chúng.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.