Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16

❊ ❊ ❊

16

Khi một con khỉ đột lưng bạc chết vì Ebola, nó chết bên ngoài tầm mắt của khoa học và y học. Không ai ở đó trong rừng để quan sát quá trình đau đớn của nó, với ngoại lệ có thể là những con khỉ đột khác. Không ai đo thân nhiệt nó hay soi họng của nó. Khi một con khỉ đột cái mắc Ebola, không ai đo tốc độ thở hay tìm triệu chứng phát ban báo hiệu căn bệnh. Hàng nghìn con khỉ đột có thể đã chết do virus nhưng không một con người nào từng có mặt khi bất kỳ trường hợp nào xảy ra – ngay cả Billy Karesh, hay Alain Ondzie. Một số lượng nhỏ thi thể đã được tìm thấy, một vài trong số đã đã được xét nghiệm dương tính với kháng thể Ebola. Một lượng lớn thi thể đã được nhìn thấy và báo cáo bởi những nhân chứng tình cờ, trong lãnh thổ của Ebola vào những thời điểm của Ebola, nhưng rừng rậm là một nơi háu ăn, phần lớn những thi thể đó chẳng bao giờ có thể được các nhà nghiên cứu khoa học khám nghiệm hay lấy mẫu. Phần còn lại của những gì chúng ta biết về tác động của Ebola lên khỉ đột đều từ suy luận mà có: Rất nhiều trong số chúng – phần lớn số lượng cá thể của một vài vùng, như ở Lossi, Odzala, và Minkébé – đã biến mất. Nhưng không ai biết virus Ebola tác động như thế nào lên cơ thể của khỉ đột.

Với con người thì khác. Những con số tôi nhắc tới ở trên đem lại một thước đo của sự khác biệt đó 245 ca tử vong trong một đợt bùng phát ở Kikwit, 224 ở Gulu, 128 ở trong và xung quanh Mbomo,v..v… Tổng số ca tử vong do bệnh virus Ebola, kể từ khi nó được phát hiện vào năm 1976, là khoảng 1500 người – không nhiều nếu so sánh với những căn bệnh lan rộng và liên tục trên quy mô toàn cầu như sốt rét hay lao, nhưng đủ để hình thành nên một cơ sở dữ liệu đáng chú ý. Thêm nữa, các bác sĩ và y tá đã thấy rất nhiều trong số 1500 người đó tử vong. Do đó những người trong ngành y tế hiểu một phần rất rõ về các biểu hiện triệu chứng và các tác động bệnh lý nó gây ra cho cơ thể người khi tử vong do nhiễm phải ebolavirus. Nó có thể không hẳn như bạn nghĩ.

Nếu bạn đã đọc hết cuốn Vùng Nóng khi nó được xuất bản, như tôi đã làm, hoặc bạn đã tiếp xúc gián tiếp với những ảnh hưởng sâu rộng của nó lên cái nhìn của công chúng đối với ebolavirus, bạn có thể mang những ý nghĩ vô cùng kinh khủng. Richard Preston là một nhà văn sâu sắc, một nhà văn tài năng, một nhà nghiên cứu cần cù, và đó là mục đích của ông để khiến một căn bệnh thực sự đáng sợ có vẻ gần như khủng khiếp một cách siêu thực. Bạn có thể nhớ những mô tả của ông về một bệnh viện ở Sudan nơi mà con virus “nhảy từ giường bệnh này sang giường bệnh khác, giết chết các bệnh nhân ở mọi phía,” tạo nên sự mất trí và hỗn loạn, và không chỉ giết chết những bệnh nhân mà còn khiến họ xuất huyết không ngừng khi họ chết, nội tạng của họ bị hóa lỏng, cho tới khi “người ta phân hủy ngay trên giường bệnh của mình.” Bạn có thể đã rùng mình với những tuyên bố của Preston rằng virus Ebola đặc biệt “biến đổi gần như mọi phần của cơ thể thành một chất nhày đã được tiêu hóa bởi các phân tử virus.” Bạn có thể đã dừng lại trước khi lật sang trang tiếp theo khi ông kể rằng, sau khi chết, một thi thể bị nhiễm Ebola”đột nhiên bị hủy hoại, “nội tạng chảy ra theo “một kiểu tan chảy vì sốc.” Bạn có thể đã không để ý sự tan chảy đó là một phép ẩn dụ, ý nói ngừng hoạt động, không phải thực sự tan chảy. Hoặc là không phải thế. Ở đoạn sau, với việc đưa ra một filovirus khác, Preston nhắc tới một người Pháp bị đi đày, sống ở châu Phi, người mà “về bản chất đã tan chảy với virus Marburg khi đi trên một chiếc máy bay.” Bạn có thể nhớ đến một cụm đặc biệt, khi Preston miêu tả những nạn nhân ở trong một cái chòi tối tăm ở Sudan: hôn mê, bất động, và “úa máu.” Điều đó có vẻ rất khác so với chỉ “chảy máu.” Nó ám chỉ việc máu trong một cơ thể người tuôn ra ào ạt. Cũng có tuyên bố rằng Ebola khiến nhãn cầu của một nạn nhân đầy máu, gây mù lòa và nhiều hơn thế. “Những giọt máu nổi bật trên mí mắt: Bạn thậm chí có thể chảy nước mắt máu. Máu chảy từ mắt xuống má và không đông.” Mặt nạ tử thần đỏ – nơi mà báo cáo y học gặp Edgar Allan Poe.

Tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải khuyên bạn không nên tiếp nhận những mô tả đó theo nghĩa đen – ít nhất, không giống như quá trình tiêu biểu của một ca tử vong do bệnh virus Ebola. Ý kiến chuyên gia, một số được xuất bản và một số bằng lời nói, chỉ trích Preston về một vài trong số những điểm thêm thắt, không nói giảm nói tránh sự ghê gớm của Ebola trong việc mô tả sự đau đớn và chết chóc này. Pierre Rollin, đơn cử, phó giám đốc của Chi nhánh các mầm bệnh đặc biệt của CDC, là một trong số những nhà nghiên cứu ebolavirus có kinh nghiệm. Ông từng làm việc ở Viện Pasteur ở Paris trước khi chuyển đến Atlanta, và là thành viên của các đội phản ứng trong nhiều đợt bùng phát Ebola và Marburg trong suốt mười lăm năm qua, bao gồm cả những đợt ở Kikwit và Gulu. Khi tôi hỏi, trong một cuộc phỏng vấn ở văn phòng của ông, về nhận thức của công chúng rằng dịch bệnh này vô cùng đẫm máu, Rollin ngắt lời tôi nhẹ nhàng để đói: “ – đó là điều vớ vẩn.” Khi tôi nhắc tới những mô tả trong cuốn sách của Preston, Rollin cười nhạo rằng, “Chúng tan chảy, bắn lên tường,” và nhún vai chán nản. Ông Preston có thể viết những gì ông ấy muốn, Rollin nói thêm, miễn là tác phẩm được gắn mác phi hư cấu. “Nhưng nếu bạn nói rằng đó là một câu chuyện thật, bạn phải nói thật với câu chuyện, và ông ấy đã không làm vậy. Bởi việc máu me ở khắp nơi và sự sợ hãi ở khắp nơi khiến mọi thứ trở nên hấp dẫn hơn.” Một vài bệnh nhân thực sự có xuất huyết đến chết, Rollin nói, nhưng “họ không phát nổ, và họ không tan chảy.” Trên thực tế, ông nói, bản thân thuật ngữ thường được sử dụng “sốt xuất huyết Ebola” là một cách hiểu sai về bệnh virus Ebola, bởi hơn một nửa bệnh nhân không xuất huyết chút nào. Họ tử vong vì những nguyên nhân khác, như suy hô hấp và nội tạng ngừng hoạt động (nhưng không tan ra.)

Karl Johnson, một trong những người tiên phong trong việc phản ứng với đợt bùng phát Ebola, người mà uy tín của ông đã được tôi phác họa, cho một phản ứng tương tự nhưng thậm chí còn chính xác hơn, được bộc lộ với sự bộc trực thường thấy của ông. Chúng tôi đang nói chuyện – lần này là ở văn phòng của tôi – trong một trong số những chuyến đi định kỳ của ông tới Montana để câu cá. Chúng tôi đã kết bạn và ông ấy đã hướng dẫn cho tôi một chút, một cách thân mật, về cách tư duy đối với các virus lây truyền từ động vật. Sau cùng tôi đã có thể mời ông ngồi phỏng vấn, và không tránh khỏi việc nhắc đến Vùng Nóng. Karl nói một cách bực tức: “Huyết lệ là điều vớ vẩn. Chưa từng có ai bị huyết lệ.” Thêm nữa, Karl chú thích, “Những người tử vong không phải là những túi chất nhầy vô định hình.” Johnson cũng đồng tình với Pierre Rollin rằng góc độ máu me đã bị làm quá. Nếu bạn muốn một căn bệnh thực sự máu me, ông nói, hãy nhìn vào bệnh sốt xuất huyết Crimean-Congo. Ebola rất tệ và chết người, chắc chắn rồi, nhưng không tệ và chết người theo cách đó.

Trong thế giới thực, như đã được mô tả trong các phẩm khoa học, danh sách những triệu chứng chủ yếu của bệnh virus Ebola là như sau: đau bụng, sốt, đau đầu, đau họng, buồn nôn và nôn mửa, mất khẩu vị, đau khớp, đau cơ, suy nhược, thở gấp, sung huyết kết mạc và tiêu chảy. Sung huyết kết mạc có nghĩa là mắt đỏ, không phải huyết lệ. Tất cả những triệu chứng này thường xuất hiện ở nhiều hay hầu hết các ca tử vong. Các triệu chứng khác bao gồm đau ngực, nôn ra máu, xuất huyết lợi, phân có máu, xuất huyết từ nơi bị kim tiêm đâm, vô niệu (không thể đi tiểu), phát ban, nấc, và hiện tượng ù tai đã xuất hiện ở một bộ phận nhỏ các ca bệnh. Trong đợt bùng phát ở Kikwit, 59% số bệnh nhân không xuất huyết đáng chú ý chút nào, và xuất huyết nhìn chung không phải là dấu hiệu về việc một người có qua khỏi hay không. Thở gấp, vô niệu, và nấc, mặt khác, là những dấu hiệu đáng lo ngại về cái chết đang gần kề. Trong số các bệnh nhân mà có xuất huyết, lượng máu mất đi chưa từng có vẻ đáng kể, ngoại trừ những phụ nữ mang thai phá thai một cách bồng bột. Phần lớn những người không qua khỏi tử vong một cách sững sờ và trong trạng thái sốc. Điều đó nói lên rằng: Virus Ebola nhìn chung giết người từ từ, không phải theo cách ồn ào và giật gân.

Mặc cho tất cả những dữ liệu này, được thu thập trong những điều kiện đau buồn và nguy hiểm khi mà nhiệm vụ chính không phải là khoa học mà là cứu người, ngay cả những chuyên gia cũng không hoàn toàn chắc chắn virus thường gây ra cái chết như thế nào. “Chúng tôi không biết cơ chế của nó,” Pierre Rollin nói với tôi. Ông có thể chỉ tới hỏng gan, hỏng thận, khó thở, tiêu chảy, và sau cùng nó dường như là nhiều nguyên nhân cùng hội tụ trong một dòng thác không thể ngăn cản. Karl Johnson đã lên tiếng về sự không chắc chắn tương tự, nhưng nhắc tới việc con virus “thường tấn công vào hệ miễn dịch,” chặn sự sản sinh interferon (chất ức chế sinh sản), một loại protein thiết yếu cho phản ứng miễn dịch, để “không có gì ngăn cản sự sinh sôi của virus.”

Ý tưởng về sự ức chế miễn dịch gây ra bởi ebolavirus này cũng xuất hiện gần đây trong các ấn phẩm, cùng với nghi vấn rằng nó có thể dẫn tới hệ quả thảm khốc khi lượng vi khuẩn trong cơ thể bệnh nhân, thường trú ngụ ở ruột hay nơi nào khác, phát triển quá mức, cũng như sự sinh sôi thỏa sức của bản thân con virus. Sự tăng nhanh chóng lượng vi khuẩn có thể đưa máu vào nước tiểu và phân, và thậm chí dẫn tới “sự phá hủy ruột,” theo một nguồn tin. Có lẽ đó là điều Preston đã nghĩ khi ông viết về nội tạng bị hóa lỏng và con người ta tan chảy trên giường. Nếu vậy, ông đã xóa mờ sự khác biệt giữa những gì virus Ebola làm và những gì các vi khuẩn thông thường có thể làm khi một hệ miễn dịch khỏe mạnh không có mặt để ngăn cản. Nhưng, này, chẳng phải chúng ta đều thích một câu chuyện kịch tính hơn là một câu chuyện phức tạp hay sao?

Tuy vậy một phương diện bệnh lý học khác của bệnh virus Ebola là một hiện tượng gọi là đông máu nội mạch rải rác, thường được biết đến cộng đồng y học với tên viết tắt DIC. Nó cũng được biết đến là rối loạn đông máu (nếu nó quen thuộc với bạn hơn), bởi nó liên quan đến sự tiêu thụ quá mức khả năng đông của máu theo một chiều hướng lệch lạc. Billy Karesh đã kể cho tôi về DIC khi chúng tôi đi thuyền dọc sông Mambili sau cuộc săn tìm khỉ đột. Đông máu nội mạch rải rác, ông giải thích, là một dạng bùn máu bệnh lý, trong đó các tác nhân đông máu thông thường (protein và tiểu cầu đông máu) bị kéo ra để hình thành những cục máu đông nhỏ bên trong các mạch máu ở khắp cơ thể của bệnh nhân, khiến cho khả năng đông máu bị cạn kiệt và không còn khả năng ngăn chặn việc mất máu ở nơi khác. Kết quả à, máu có thể chảy ra từ các mao mạch trên da, tạo nên những vết tím như bị bầm (khối máu tụ); nó có thể rỉ ra từ một vết kim tiêm mà dường như không bao giờ lành, hoặc nó có thể chảy vào đường tiêu hóa hay nước tiểu. Tệ hơn, sự tập trung hàng loạt các cục máu đông trong mạch máu có thể chặn dòng máu tới thận hay gan, dẫn tới hỏng các cơ quan nội tạng như thường thấy với Ebola.

Ít nhất đó là những hiểu biết về vai trò của DIC trong bệnh virus Ebola vào thời điểm mà Karesh cảnh báo cho tôi. Gần đây hơn, Karl Johnson và những người khác đã bắt đầu thắc mắc liệu hiệu ứng suy giảm miễn dịch mà virus bằng cách nào đó gây ra, và sự sinh sôi từ đó của vi khuẩn, có thể giải thích rõ hơn một vài tổn thương mà trước đó được cho là do DIC gây nên. “Khi nó được phát hiện lần đầu tiên, DIC, gì gì đó, là chìa khóa dẫn tới mọi thứ về sốt xuất huyết,” Johnson nói với tôi, một lần nữa với giọng điệu vui vẻ khi gạt đi những tri thức thông thường. Giờ, ông nói, ông đọc được ít hơn nhiều về DIC trong các ấn phẩm.

Ebola virus vẫn là một con bọ khó hiểu theo nhiều cách khác nhau, bệnh virus Ebola vẫn là một căn bệnh bí ẩn cũng như mơ hồ, không có thuốc chữa – dù có DIC hay không, có làm tan chảy nội tạng và huyết lệ hay không. “Ý tôi là, nó thật kinh khủng,” Johnson nhấn mạnh. “Nó rất, rất kinh khủng.” Ông đã chứng kiến nó gần như trước bất kỳ ai khác, dưới những điều kiện đặc biệt bí ẩn – ở Zaire, năm 1976, thậm chí trước khi virus được đặt tên. Nhưng nó vẫn không thay đổi, ông nói. “Và thành thật mà nói, tất cả mọi người trên thế giới quá sợ nó, bao gồm cả ngành y học quốc tế, để thực sự muốn thử và nghiên cứu nó.” Ý ông là, nghiên cứu tác động của nó trên một cơ thể người sống, chật vật chống chọi.

Để làm điều đó, bạn sẽ cần sự kết hợp của cả bệnh viện, phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 4 (BSL-4), những người tận tâm với chuyên môn, cũng như hoàn cảnh đặc thù. Bạn không thể làm trong đợt bùng phát tiếp theo ở một bệnh viện dòng tu trong một ngôi làng ở châu Phi. Bạn sẽ phải bắt nhốt virus Ebola – vào trong trạng thái nghiên cứu, dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt – và không chỉ dưới dạng các mẫu vật đóng băng. Bạn sẽ phải nghiên cứu một căn bệnh đang hoành hành bên trong cơ thể của một ai đó.

Điều đó không dễ thu xếp. Ông nói thêm: “Chúng tôi chưa từng có một bệnh nhân Ebola ở Mỹ.” Nhưng cũng như mọi thứ, cái gì cũng có lần đầu tiên.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.