17
Nước Anh có ca mắc bệnh virus Ebola đầu tiên vào năm 1976. Nga có ca đầu tiên (theo chúng tôi biết) vào năm 1996. Khác với người phụ nữ Thụy Sĩ đã khám nghiệm tử thi con tinh tinh ở Bờ Biển Ngà, hai người không may mắn này không nhiễm bệnh khi làm việc ở châu Phi và về nhà trong tình trạng suy nhược trên một chiếc máy bay cứu thương. Họ bị phơi nhiễm do các tai nạn trong phòng thí nghiệm. Mỗi người đều mắc một thương tích nhỏ, định mệnh, tự gây nên khi tiến hành nghiên cứu.Tai nạn ở Anh diễn ra tại Trung tâm nghiên cứu vi sinh học Anh quốc, một cơ sở chuyên môn kín đáo nằm bên trong một tổ hợp được canh gác cẩn mật của chính phủ có tên Porton Down, cách Stonehenge không xa ở vùng đồng quê xanh bát ngát về phía tây nam của London. Hãy tưởng tượng Los Alamos, nhưng nằm gọn ở một vùng mục vụ hẻo lánh nước Anh thay vì ở vùng đồi núi của New Mexico, và với vi khuẩn và virus thay vì uranium và plutonium ở vị trí chất liệu nghiên cứu chiến lược. Trong những năm đầu thành lập, bắt đầu từ 1916, Porton Down là một trung tâm thử nghiệm phát triển vũ khí hóa học như khí ga mù tạt; trong Thế chiến II, các nhà khoa học ở đây đã phát triển vũ khí hóa học từ vi khuẩn bệnh than và vi khuẩn botulinum. Nhưng cuối cùng, ở Porton Down cũng như ở USAMRIID, với những hoàn cảnh chính trị thay đổi và xáo trộn chính phủ, chủ trương chuyển sang phòng thủ – tức là, nghiên cứu những biện pháp đối phó chống vũ khí sinh học và hóa học. Công việc đó cần tới những cơ sở và kỹ thuật chứa cao dành cho việc nghiên cứu các virus nguy hiểm mới, và điều đó chứng minh Porton Down có đủ điều kiện để giúp đỡ vào năm 1976, khi WHO thành lập một đoàn thực địa để nghiên cứu một đợt bùng phát bí ẩn ở miền tây nam Sudan. Những mẫu máu đông đá từ những bệnh nhân Sudan vô vọng được gửi tới để phân tích – cũng vào khoảng thời điểm đó, trong mùa thu định mệnh đó, cùng lúc các mẫu máu từ Yambuku được gửi tới CDC. Những người ở thực địa đã nhờ những người nghiên cứu trong phòng thí nghiệm giúp giải đáp một câu hỏi: Đây là thứ gì? Nó vẫn chưa được đặt tên.
Một trong các nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm ở Porton Down là Goeffrey S. Platt. Vào ngày 5/11/1976, trong khi đang làm thí nghiệm, Platt đổ mẫu gan đã đồng nhất từ một con chuột lang đã nhiễm mẫu virus ở Sudan vào một ống tiêm. Có lẽ ông định tiêm dung dịch đó sang một con vật thí nghiệm khác. Có chuyện gì đó xảy ra, và thay vào đó ông đã chọc mũi tiêm vào ngón cái của mình.
Platt không biết chính xác ông vừa tiếp xúc với mầm bệnh nào, nhưng ông biết nó không tốt đẹp gì. Tỷ lệ tử vong của loại virus không xác định này, hẳn ông đã biết, là trên 50%. Ngay lập tức ông tháo găng y tế, nhúng ngón cái vào một dung dịch hypochlorite (chất tẩy, thứ có thể giết virus) và cố gắng nặn ra một vài giọt máu. Không có giọt nào chảy ra. Ông thậm chí không thể nhìn thấy một vết đâm. Đó là một dấu hiệu tốt nếu điều đó có nghĩa là không có vết đâm, một dấu hiệu xấu nếu là một vết đâm đã bọc kín. Sự tí hon của vết thương của Platt, được minh chứng với các sự kiện diễn ra tiếp theo, chứng tỏ rằng ngay cả một liều ebolavirus vô cùng nhỏ cũng đủ để gây bệnh, ít nhất nếu liều đó được tiêm thẳng vào dòng máu của một người. Không phải mầm bệnh nào cũng mạnh như vậy. Một vài mầm bệnh yêu cầu một chỗ đứng lớn hơn. Ebolavirus có sức mạnh nhưng không có tầm với. Bạn không thể dính virus khi hít thở chung một bầu không khí, nhưng nếu chỉ một tí tẹo virus vượt qua lớp da của (và luôn luôn có những vết nứt nhỏ), Chúa phù hộ bạn. Theo thuật ngữ được các nhà khoa học sử dụng: Nó không thực sự dễ lây lan nhưng cực kỳ dễ truyền nhiễm. Sau ngày sau khi bị kim tiêm đâm, Geoffrey Platt đổ bệnh.
Ban đầu ông đơn thuần chỉ cảm thấy buồn nôn và kiệt sức, với đau bụng. Tuy nhiên, xét tới hoàn cảnh đó, sự khó chịu của ông được xem xét một cách rất nghiêm túc. Ông được đưa vào một cơ sở đặc biệt dành cho bệnh truyền nhiễm ở một bệnh viện gần London và, trong cơ sở đó, được đưa vào một lều cách ly với tường nhựa dưới áp lực âm. Hồ sơ ghi chép không nhắc tới nhưng bạn có thể chắc chắn các bác sĩ và y tá chăm sóc cho ông đều đeo khẩu trang.
Ông được tiêm interferon, để giúp kích thích hệ miễn dịch, và huyết thanh (gửi tới qua đường hàng không từ châu Phi) được lấy từ các bệnh nhân Ebola đã khỏi để cung cấp một ít kháng thể vay mượn. Vào ngày thứ tư, thân nhiệt của Platt tăng vọt và ông nôn mửa. Điều này cho thấy virus bắt đầu phát triển mạnh. Trong ba ngày tiếp theo, quãng thời gian khủng hoảng, ông nôn nhiều hơn, cộng thêm tiêu chảy, và phát ban lan rộng; lượng nước tiểu thải ra thấp; và việc nấm hình thành ở cổ họng của ông cho thấy hệ miễn dịch đã suy giảm. Tất cả đều là những dấu hiệu u ám. Trong khi đó ông được cho nhiều huyết thanh hơn. Có lẽ điều đó là có ích.
Đến ngày thứ tám, Platt đã hết nôn mửa và tiêu chảy. Hai ngày sau đó, phát ban bắt đầu lặn và nấm được kiểm soát. Ông đã rất may mắn, có lẽ về mặt di truyền, cũng như đặc quyền được nhận sự chăm sóc y tế tối ưu. Virus biến mất khỏi máu, khỏi nước tiểu, và khỏi phân (tuy nó còn sót lại một thời gian trong tinh dịch của ông; rõ ràng ông đã hứa với các bác sĩ sẽ không biến điều đó thành hiểm họa cho bất kỳ ai khác). Ông được đưa ra khỏi khu cách ly. Cuối cùng ông được về nhà. Ông đã sụt cân, và trong quãng thời gian nghỉ dưỡng dài, chậm rãi phần lớn tóc của ông đã rụng. Nhưng giống như người phụ nữ Thụy Sĩ, ông đã sống sót.
Nhà nghiên cứu người Nga, năm 1996, không được may mắn như thế. Tên của cô ấy, theo như một nguồn tin của Nga (nhưng không được nhắc đến trong các ấn phẩm y học phương Tây), là Nadezhda Alekseevna Makovetskaya. Với công việc ở một viện nghiên cứu virus trực thuộc Bộ Quốc Phòng, cô khi đó đang nghiên cứu một liệu pháp thử nghiệm đối phó với bệnh virus Ebola, bắt nguồn từ huyết thanh của ngựa. Ngựa không dễ mắc Ebola – không giống như với Hendra – đó là lý do vì sao chúng được sử dụng để làm huyết thanh. Việc thử nghiệm mức độ hiệu quả của liệu pháp này yêu cầu phải tiếp xúc với nhiều con ngựa. “Thật khó để mô tả việc làm việc với những con ngựa bị nhiễm Ebola,” theo tuyên bố khô khan, cẩn trọng từ người đứng đầu phụ trách nghiên cứu vũ khí sinh học của Nga lúc bấy giờ, một trung tướng tên là Valentin Yevstigneyev, ở Bộ Quốc Phòng. Không nghi ngờ gì ông ấy đã nói đúng về chuyện đó. Một con ngựa có thể hồi hộp và bồn chồn, ngay cả khi nó không lên cơn co giật. Ai lại muốn tới gần nó với một kim tiêm chứ? “Ở những điều kiện bình thường loài vật này đã rất khó kiểm soát và chúng tôi phải làm việc trong bộ đồ bảo hộ đặc biệt,” Tướng Yevstigneyev nói. Ý ông nói “chúng tôi” ở đây có thể được hiểu rộng hơn. Ông là một sĩ quan cấp cao và quan chức quân sự, chẳng có lý gì ông phải tự đeo đôi găng cao su vào. “Một bước làm sai, một chiếc găng rách và hậu quả sẽ rất trầm trọng.” Makovetskaya rõ ràng đã bước sai. Hoặc có thể đó không phải lỗi của cô ấy mà là sự vùng vẫy của một con ngựa thiến nhạy cảm. “Găng bảo hộ của cô ấy bị rách nhưng cô đã giấu cấp trên,” theo tuyên bố có vẻ không đồng tình của Tướng Yevstigneyev, “do nó xảy ra ngay trước kỳ nghỉ Tết.” Ông ấy có đang ám chỉ cô ấy không muốn bỏ lỡ việc hội hè khi ngồi ở khu cách ly? Ông ấy không đả động gì đến một cái kim tiêm, một vết xước, hay một vết cắt bên dưới lớp găng bị rách, tuy những sự đen đủi đó có thể đã xảy ra. “Kết quả là, tới khi cô ấy tìm đến một bác sĩ nhờ giúp đỡ thì mọi việc đã quá muộn.” Chi tiết về những triệu chứng và cái chết của Makovetskaya được giữ kín.
Một người phụ nữ Nga khác mắc phải Ebola vào tháng 5/2004, và ca này được biết đến rõ hơn một chút. Antonina Presnyakova là một kỹ thuật viên bốn mươi tuổi làm việc ở một trung tâm nghiên cứu virus an ninh cao có tên Vektor (nghe như thứ gì đó từ trong các tác phẩm của Ian Fleming) ở miền tây nam Siberia. Ống tiêm của Presnyakova mang theo máu từ một con chuột lang bị nhiễm virus Ebola. Kim tiêm đâm qua hai lớp găng tay vào lòng bàn tay trái của bà. Bà ngay lập tức được đưa vào khu cách ly, xuất hiện các triệu chứng trong vòng vài ngày, và tử vong sau hai tuần.
Ba ca bệnh này phản ánh rủi ro hiện hữu của việc nghiên cứu thí nghiệm một loại virus chết người, truyền nhiễm như vậy.
Chúng cũng đem tới bối cảnh cho sự lo ngại xung quanh hướng tiếp cận sát nhất của Mỹ tới một ca bệnh Ebola trong nước. Ca bệnh này xuất hiện vào năm 2004, chỉ vài tháng trước ca tử vong của Antonina Presnyakova.