Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
81

❊ ❊ ❊

81

Động lực học sinh thái của chính virus có thể là một phần lý do khiến những căn bệnh như vậy không xảy ra liên tục. Đúng, virus có động lực sinh thái, cũng giống như các sinh vật sống rõ ràng hơn. Ý tôi là: Chúng liên kết với các sinh vật khác ở quy mô cảnh quan, không chỉ ở quy mô vật chủ và tế bào riêng lẻ. Một loại virus có vị trí địa lý. Virus có thể bị tuyệt chủng. Sự phong phú, khả năng sống sót và, số lượng của một loại virus đều phụ thuộc vào các sinh vật khác và những gì chúng làm. Đó là hệ sinh thái virus. Để lấy một ví dụ khác, trong trường hợp của Hendra, sự thay đổi hệ sinh thái của virus có thể phần nào giải thích cho sự xuất hiện của nó như một nguyên nhân gây bệnh cho người.

Dòng suy nghĩ này đã được một nhà khoa học người Úc tên là Raina Plowright khám phá. Đầu tiên được đào tạo để trở thành bác sĩ thú y, Plowright đã làm việc trên động vật nuôi và động vật hoang dã ở New South Wales và nước ngoài — Anh, Châu Phi, Nam Cực — trước khi nhập học tại Đại học California, Davis, để lấy bằng thạc sĩ dịch tễ học, và sau đó là tiến sĩ sinh thái học bệnh truyền nhiễm. Cô ấy là một trong những chuyên gia mới về bệnh truyền nhiễm được đào tạo chéo mà tôi đã đề cập, bác sĩ thú y-sinh thái học, những người nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa sức khỏe con người, sức khỏe động vật hoang dã, sức khỏe vật nuôi và môi trường sống mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ. Để thực hiện nghiên cứu tiến sĩ của mình, Plowright trở lại Úc để điều tra động thái của virus Hendra trên một trong những vật chủ chứa nó: con cáo bay đỏ nhỏ. Cô ấy đã bẫy dơi vài lần và lấy mẫu ở Lãnh thổ phía Bắc, phía nam thành phố Darwin, giữa rừng bạch đàn và tram nằm trong và xung quanh Vườn quốc gia Litchfield. Đó là nơi tôi nói chuyện với cô ấy, trong một buổi sáng nhàn rỗi năm 2006, khi cơn bão Larry quét qua miền bắc nước Úc, làm đất ướt sũng và nâng mực nước các con sông và suối. Chúng tôi có thể giết chút thời gian trước khi cô ấy ra ngoài một lần nữa và cố gắng bắt những con dơi giữa trận lũ lụt theo mùa.

Một điều thú vị về Hendra, Plowright nói với tôi, đó là một trong bốn loại virus mới xuất hiện cùng thời điểm từ nhóm dơi đơn lẻ này, loài pteropid. Ngay sau khi virus Hendra xuất hiện lần đầu tiên ở phía bắc Brisbane vào năm 1994, loài dơi Úc chứa lyssavirus đã xuất hiện tại hai địa điểm khác dọc theo bờ biển Queensland vào năm 1996; tiếp theo là virus Menangle, xuất hiện gần Sydney năm 1997; và sau đó là virus Nipah, xuất hiện ở Malaysia vào tháng 9 năm 1998. “Việc 4 loại virus xuất hiện từ một giống vật chủ trong một thời gian ngắn là điều chưa từng có,” cô nói. “Vì vậy, chúng tôi cảm thấy có một số thay đổi trong hệ sinh thái của các loài Pteropus có thể làm xuất hiện dịch bệnh.” Hume Field đã giúp xác định các yếu tố góp phần như vậy trong trường hợp nhiễm virus Nipah tại các trang trại lợn ở Malaysia. Bây giờ, tám năm sau, với Field là một trong những giảng viên hướng dẫn luận án của cô ấy, Plowright đang tìm kiếm những yếu tố tương tự đối với virus Hendra. Cô biết, những thay đổi trong môi trường sống đã ảnh hưởng đến quy mô dân số, mô hình phân bố và hành vi di cư của các vật chủ chứa Hendra — không chỉ là cáo bay đỏ nhỏ mà còn cả những con cùng loài như cáo bay đen, dơi quạ đầu xám và dơi quạ đeo kính. Nhiệm vụ của cô là điều tra xem những thay đổi đó đã ảnh hưởng như thế nào đến sự phân bố, tỷ lệ lưu hành và khả năng lây lan của virus.

Dự án của Plowright, giống như nhiều công trình trong lĩnh vực sinh thái ngày đó, đòi hỏi sự kết hợp giữa thu thập dữ liệu từ thực địa và mô hình toán học bằng máy tính. Cô giải thích rằng, khung lý thuyết cơ bản “được hai người là Kermack và McKendrick phát triển vào những năm 1920”. Cô đang nhắc đến mô hình SIR (nhạy cảm-bị nhiễm-phục hồi) mà tôi đã mô tả trước đó. Sau khi nhắc đến di sản trí tuệ, cô ấy bắt đầu nói về những cá thể nhạy cảm, những cá thể bị nhiễm bệnh và những cá thể phục hồi trong một quần thể dơi nhất định.

Nếu quần thể dơi bị cô lập và không đủ lớn, thì virus sẽ di chuyển qua đó, lây nhiễm cho những con nhạy cảm, để chúng tự hồi phục (và không bị tái nhiễm), cho đến khi hầu như không còn con nào nhạy cảm nữa. Sau đó, nó sẽ chết, giống như virus sởi chết trong một ngôi làng bị cô lập của con người. Cuối cùng, virus sẽ quay trở lại, do một con dơi ương ngạnh đã nhiễm bệnh mang trở lại quần thể đó. Điều này đại diện cho cùng một kiểu đèn giáng sinh nhấp nháy khi tôi đang nói về Marburg. Các nhà sinh thái học gọi nó là một siêu quần thể (metapopulation): một quần thể của các quần thể. Virus tránh được sự tuyệt chủng bằng cách lây nhiễm cho quần thể dơi tương đối biệt lập này sang quần thể dơi khác. Nó chết ở đây, nó lại đến và lây nhiễm ở kia; nó có thể không tồn tại vĩnh viễn trong bất kỳ quần thể nào nhưng nó luôn ở đâu đó. Các đèn nhấp nháy tắtbật lần lượt, không bao giờ sáng hết, không bao giờ tối hết. Nếu các quần thể dơi cách nhau một khoảng cách đủ lớn để hiếm khi bị vượt qua, thì tốc độ tái nhiễm sẽ chậm lại. Đèn nháy sẽ tắt và bật một cách chậm rãi.

Bây giờ, hãy tưởng tượng một quần thể dơi như vậy nằm trong một siêu quần thể. Nó đã tiến triển theo trình tự SIR, mọi cá thể đều bị nhiễm, tất cả đều hồi phục và virus đã biến mất. Nhưng chúng không ra đi mãi mãi. Nhiều năm trôi qua, khi sự ra đời của những con dơi mới và cái chết của những con cũ làm tăng tỷ lệ nhạy cảm, quần thể trở lại tình trạng dễ bị tổn thương tập thể đối với virus. Cách ly nhiều hơn nghĩa là thời gian dài hơn trước khi virus quay trở lại; Thời gian trôi qua càng lâu thì lại càng có nhiều con sơ sinh bị nhạy cảm; nhiều con nhạy cảm hơn nghĩa là càng có nhiều khả năng lây nhiễm bùng nổ. “Vì vậy, khi bạn giới thiệu lại virus,” Plowright nói, mô tả vai trò thần thánh của người lập mô hình, “bạn sẽ có một đợt bùng phát lớn hơn nhiều.” Đây là nơi mà phép ẩn dụ đèn nháy Giáng sinh không đáp ứng được, bởi vì một ánh đèn đột nhiên phát sáng như một siêu tân tinh giữa các ngôi sao bình thường.

Tất nhiên, Plowright đã làm việc với các con số, không phải phép loại suy. Nhưng những con số của cô ấy phản ánh gần đúng viễn cảnh này. Sự liên quan giữa mô hình này với thực tế trên mặt đất là các quần thể cáo bay ở Úc đã trở nên cô lập hơn trong những thập kỷ gần đây. “Bờ biển phía đông của Úc từng là một khu rừng lớn liền kề,” cô ấy nói với tôi, “và vì vậy bạn có các quần thể dơi phân bố khá đồng đều dọc theo đường bờ biển.” Ngày xưa, những tập hợp tổ của chúng tương đối di động. Nguồn thức ăn của chúng – chủ yếu là mật hoa và trái cây – rất đa dạng, thay đổi theo mùa và rải rác khắp khu rừng. Mỗi đàn dơi, bao gồm vài trăm hoặc vài nghìn cá thể, sẽ bay ra nơi kiếm ăn vào ban đêm, quay trở lại vào ban ngày, và cũng di cư theo mùa để đến gần hơn với nơi tập trung thức ăn. Với việc đến và đi, các cá thể dơi đôi khi sẽ chuyển từ đàn này sang đàn khác, mang theo virus Hendra nếu chúng tình cờ bị nhiễm. Có một sự pha trộn liên tục và tái nhiễm liên tục trong các nhóm nhỏ. Đây chính là bối cảnh — dành cho cáo bay đỏ nhỏ, các loài cáo bay khác, và virus Hendra – từ thời xa xưa. Sau đó, mọi thứ đã thay đổi.

Thay đổi môi trường sống là một truyền thống cổ xưa ở Úc, dưới hình thức đốt rừng của thổ dân, nhưng trong những thập kỷ gần đây, việc giải phóng mặt bằng đã trở thành một xu hướng cơ giới và quyết liệt hơn, với kết quả ít bị đảo ngược, đặc biệt là ở Queensland. Nhiều diện tích rừng già đã bị chặt hoặc xích bằng máy ủi để nhường chỗ cho việc chăn thả gia súc và dàn trải đô thị. Người ta đã trồng những vườn cây ăn trái, quy hoạch các công viên đô thị, trang trí cảnh quan cho sân nhà với những cây nở hoa, và tạo ra những cám dỗ ngoài ý muốn khác giữa các thành phố và vùng ngoại ô. “Vì vậy, dơi đã quyết định rằng, khi môi trường sống bản địa của chúng đang biến mất, khí hậu ngày càng thay đổi và nguồn thức ăn ngày càng kém đa dạng, thì việc sống ở một khu vực thành thị sẽ dễ dàng hơn.” Giờ đây, chúng tập hợp lại thành những đàn lớn hơn, di chuyển những quãng đường ngắn hơn để kiếm ăn, sống gần con người hơn (và gần những con ngựa mà người nuôi).

Cáo bay ở Sydney, cáo bay ở Melbourne, cáo bay ở Cairns. Cáo bay ở Vịnh Moreton tạo bóng mát cho một bãi cỏ ở phía bắc Brisbane.

Tôi đã thấy Plowright đang đi đâu và cố gắng ghi nhớ những điều cuối cùng trong tâm trí của mình. Vì vậy, những đàn dơi lớn đó – bao gồm những con dơi ít vận động hơn, sống thành thị hơn, ít phải bay đường dài để tìm kiếm thức ăn hoang dã – có xu hướng tái nhiễm ít thường xuyên hơn? Và trong thời gian đó, chúng tích lũy nhiều cá nhân nhạy cảm hơn? Vì vậy, khi virus đến, sự lây lan của các bệnh mới sẽ đột ngột và dữ dội hơn? Virus sẽ trở nên phổ biến và phong phú hơn?

«Chính xác. Là thế đó,” cô nói.

«Và sau đó rất có khả năng lây lan sang loài khác?» Tôi muốn nhảy sang hướng hiển nhiên dễ dàng đó nhưng Plowright, với nhiều con dơi chưa bắt được, nhiều dữ liệu cần thu thập, nhiều thông số mô hình cần khám phá, đã kìm hãm tôi lại. Năm năm sau cuộc trò chuyện của chúng tôi, sau khi hoàn thành chương trình Tiến sĩ, giờ đây cô ấy được kính trọng vì nghiên cứu virus Hendra, cô ấy sẽ trình bày công trình và ý tưởng của mình trên một tạp chí uy tín tên là Proceedings of the Royal Society. Nhưng lúc này, giữa trời mưa và nước biển dâng cao của Lãnh thổ phía Bắc, cô ấy tạm thời nói.

“Đó là một giả thuyết,” cô nói.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.