71
Malaysia đã hành động quyết liệt, thắt chặt các quy định nông nghiệp, đóng cửa một số trang trại, đưa chuồng lợn tránh xa những cây ăn quả, và thực hiện chiến dịch truyền thông khẩn cấp nhằm nâng cao ý thức cộng đồng. Hãy cảnh giác với Nipah! Hãy coi chừng lợn bị hen suyễn! Tuy nhiên, việc loại bỏ tất cả các mối đe dọa từ virus này không đơn giản như vậy. Hai năm sau, nó tái xuất ở Bangladesh, nước láng giềng trong khu vực của Malaysia, một quốc gia Hồi giáo có rất ít lợn.Bangladesh có nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm đặc biệt cao vì một số lý do, trong đó rõ ràng nhất là mật độ dân số. Lãnh thổ 57 ngàn dặm vuông chứa tới gần 150 triệu người, biến đất nước này thành quốc gia có mật độ dân số cao nhất trên thế giới (ngoại trừ các thành bang như Singapore và Malta). Địa hình nhìn chung thấp (hầu hết các khu vực chỉ cao hơn mực nước biển khoảng 30 feet) và lũ lụt diễn ra thường xuyên (do mưa theo mùa và sông nằm trên vùng cao) làm các bệnh lây truyền qua nước như dịch tả và tiêu chảy do vi khuẩn trở nên trầm trọng hơn, khiến hàng chục nghìn người Bangladesh tử vong mỗi năm (đặc biệt là trẻ em). Mặc dù số ca nhiễm Nipah nhỏ hơn nhiều và cơ chế lây bệnh rất khác nhau, nhưng sự xuất hiện của loại virus này ở Bangladesh và thực tế là (như bạn sẽ thấy), nó đôi khi có thể lây truyền từ người sang người đã khiến các nhà nghiên cứu và giới chức y tế đánh giá tình hình rất nghiêm trọng. Bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào lây lan hiệu quả qua qua đường không khí đều có thể lan tràn và tàn phá khắp Dhaka rộng lớn (với dân số 17 triệu người), các thành phố lớn khác và các ngôi làng đông đúc trải dài nối tiếp nhau. Và một trận dịch lớn như vậy ở Bangladesh, ngoài việc khiến nhiều người Bangladesh tử vong, cũng sẽ tạo cho virus rất nhiều cơ hội để thích nghi tốt hơn với vật chủ là người.
Vào tháng 4 và tháng 5 năm 2001, đợt bùng phát dịch Nipah đầu tiên ở Bangladesh xảy ra ở một nơi tên là Chandpur, một ngôi làng có sáu trăm người sống ở vùng đất thấp phía nam. Mười ba người mắc bệnh, chín người trong số đó đã tử vong, các mẫu máu xác nhận sự hiện diện của virus Nipah, và sau đó vấn đề dường như biến mất. Việc có người qua đời ở Bangladesh diễn ra thường xuyên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, và nhóm ca bệnh này không gây ra bất kỳ sự hoảng sợ hay điều tra nghiêm ngặt nào. Virus đã đến từ đâu? Chẳng ai biết. Nếu dơi lại là ổ chứa thì điều gì đã gây ra việc lây truyền sang người? Không ai hay. Có vật chủ nào phát tán virus không? Cũng không xác định được. Dù sao trong trường hợp này thì lợn cũng không liên quan.
Nhiều năm sau, khi một nhóm các nhà dịch tễ học xem xét hồi cứu, các ca bệnh ở Chandpur dường như chỉ có hai yếu tố nguy cơ giống nhau. Một số nạn nhân đã sống cùng hoặc chăm sóc các nạn nhân khác, cho thấy khả năng lây truyền từ người sang người, điều này là mới. Và nhiều người trong số họ đã tiếp xúc với bò bị bệnh. Con bò ư? Các nhà dịch tễ học đã công bố báo cáo vô cùng chi tiết, chính xác, tìm kiếm các manh mối và đề cập đến con vật này nhiều lần. Nếu virus sống tốt trên lợn Malaysia, liệu nó có thể phát triển mạnh ở bò Bangladesh không? Có thể chứ. Vai trò của con bò vẫn chưa được xác định.
Vào tháng 1 năm 2003, một đợt dịch khác bùng phát ở huyện Naogaon, cách Chandpur khoảng một trăm dặm về phía bắc. Bệnh nhân lại ốm sốt, mất ý thức, bị viêm não, nhập viện, tỷ lệ tử vong cao; và không có lời giải thích hợp lý nào về cách mà virus đến được đây. Một sự thật thú vị là có một đàn lợn đã đi ngang qua khu vực này, có lẽ là đi theo những người chăn thả du mục, và một số bệnh nhân viêm não Nipah đã tiếp xúc với chúng. À há! Các báo cáo cho thấy những con lợn này không bị hắt hơi, thở khò khè, đi tập tễnh rồi chết như ở Malaysia, nhưng dù sao thì chúng cũng có thể đã bị nhiễm bệnh. Trong khi các nhà khoa học nghiên cứu dịch bệnh ở Bangladesh vẫn đang phân tích vụ dịch đầu tiên và thứ hai thì đợt dịch thứ ba đã bùng phát vào tháng 1 năm 2004. Đợt dịch này tấn công một vài ngôi làng ở huyện Rajbari, ngay phía tây sông Padma (một nhánh của sông Hằng), chảy từ Dhaka.
Một lần nữa, số ca bệnh rất nhỏ, chỉ khoảng mười hai người; nhưng mười người trong số đó đã tử vong. Một mô hình khác trong dữ liệu có vẻ gây tò mò: Hầu hết những nạn nhân này là trẻ em – trẻ em trai, dưới mười lăm tuổi.
Một nhóm các nhà dịch tễ học khác đã đến, trong đó có một người Mỹ tên là Joel M. Montgomery, đi theo chương trình đào tạo sau đại học với CDC. Họ mang theo bảng kẹp hồ sơ, bộ câu hỏi và công cụ dùng để lấy máu, như các nhà dịch tễ học thường làm, hy vọng có thể hiểu được những gì đang xảy ra. Họ đã thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng, nghĩa là cố gắng xác định nguồn gốc của vụ dịch và tốc độ lây lan của nó, bằng cách xác định những khác biệt trong hành vi giữa những người đã mắc bệnh và những người chưa mắc. Những hành vi nguy cơ nào có thể khiến một người dễ bị nhiễm bệnh hơn?
Tất nhiên, các cậu bé ở Bangladesh, giống như những bé trai khác ở bất cứ đâu, đã tham gia vào rất nhiều hoạt động mạo hiểm, nhiều hành vi có thể dẫn đến nứt sọ, gãy tay, chết đuối, rắn cắn, bị bắt hoặc bị tàu hỏa đâm. Nhưng những loại hành vi nguy cơ nào có thể khiến chúng mắc bệnh Nipah? Montgomery và các đồng nghiệp đã tìm hiểu một số khả năng: câu cá, săn bắn, chạm vào động vật chết, chơi cricket, đá bóng, chơi trốn tìm, nhặt trái cây rụng trên mặt đất và ăn. Khi dữ liệu được tích lũy, trong danh sách đó thì hành vi “chạm vào động vật chết” có vẻ quan trọng; một tuần trước đó, nhiều đứa trẻ mắc bệnh đã giúp chôn một số gà và vịt bị chết. Rõ ràng là những đứa trẻ đã thực hiện nghi thức tang lễ với gia cầm đã chết. Sau đó, nhiều đứa trẻ trong làng không bị nhiễm bệnh cũng đã chạm vào những con vật chết. Những con vịt và gà hóa ra lại là một sự dẫn dắt sai lầm. Bạn đã thấy việc nghiên cứu dịch tễ học ở một ngôi làng Bangladesh phức tạp như thế nào chưa? Trong những trò tiêu khiển hồn nhiên mà tôi đã đề cập, từ chôn vịt đến chơi cricket, không có hoạt động nào liên quan đến những cậu bé bị nhiễm bệnh (dù đã hồi phục hay đã tử vong) rõ ràng hơn là với những đứa trẻ khỏe mạnh. Nhưng có một hành vi khác có liên quan: trèo cây.
Trèo cây ư? Điều đó thật khó hiểu. Mặc dù nhóm của Montgomery đã ghi nhận mối tương quan chặt chẽ, kết quả của họ không giải thích được tại sao việc leo cây có thể khiến những cậu bé Bangladesh bị nhiễm Nipah. Họ chỉ có thể đưa ra một suy đoán có tính toán: Nó đưa các cậu bé đến gần những con dơi hơn.
Ba tháng sau, vào tháng 4 năm 2004, các quan chức y tế ở Bangladesh tiếp tục ghi nhận một đợt dịch bùng phát khác. Huyện Faridpur, ngay gần Rajbari, dọc theo bờ phải của Sông Padma, là ổ dịch mới nhất. Faridpur và Rajbari, khu vực mà chỉ có thể đi phà chậm mới đến được, là nơi những ồn ào đô thị cùng bê tông sắt thép của Dhaka rộng lớn nhường chỗ cho các vùng đất thấp, đồng bằng phù sa ở miền nam Bangladesh. Cánh đồng lúa trải dài hai bên đường. Những cây chà là và chuối mọc um tùm như cỏ dại ở bãi đất trống. Trong số 36 bệnh nhân ở Faridpur, có 27 người chết. Và mô hình tương tác xã hội giữa các ca bệnh dẫn đến một mối lo ngại khác cũng đã nảy sinh trong vụ dịch tại Chandpur: rằng một số người đã bị lây bệnh từ những người khác. Một nhóm các nhà nghiên cứu đã lưu ý rằng, sự lây truyền từ người này sang người khác “làm tăng nguy cơ lây lan rộng rãi của mầm bệnh gây tử vong cao này. Ở một quốc gia nghèo và mật độ dân cư cao như Bangladesh, một loại virus gây chết người có thể lây lan nhanh chóng trước khi các biện pháp can thiệp hiệu quả được thực hiện.” Nói đúng hơn, ý họ là: Nó có thể lan nhanh như đám cháy trên cỏ khô.
Sau đó, một đợt dịch khác lại bùng phát tại Bangladesh, trận thứ năm trong vòng bốn năm, lần này là ở huyện Tangail, cách Dhaka khoảng sáu mươi dặm về phía tây bắc. Mười hai ca bệnh, trong đó mười một người đã tử vong chỉ trong tháng một năm 2005. Bây giờ, dường như Bangladesh là nước duy nhất liên tục bị căn bệnh chết người này tấn công và tái phát vào những tháng đầu năm. Malaysia không còn đợt dịch nào nữa. Ấn Độ, ngay phía bắc của biên giới Tây Bắc Bangladesh, đã có một vụ dịch. Ở những nơi khác trên thế giới, Nipah vẫn chưa được biết đến.
Một nhóm nghiên cứu khác lại di chuyển từ Dhaka đi đến địa bàn này và thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng, tìm kiếm nguyên nhân của sự lây truyền. Trưởng nhóm là Stephen Luby, một bác sĩ và nhà dịch tễ học người Mỹ làm việc cho CDC, được biệt phái đến Dhaka với tư cách là giám đốc chương trình của Trung tâm nghiên cứu bệnh tiêu chảy quốc tế, Bangladesh (viết tắt là ICDDR, B nhưng thường được gọi là Bệnh viện Dịch tả), nơi ông đã làm việc chặt chẽ với người đồng cấp từ Bộ Y tế Bangladesh, Mahmudur Rahman.
Nhóm của Luby, giống như nhóm Montgomery trước đó, đã hỏi mọi người về các hành vi nguy cơ — những việc mà các bệnh nhân qua đời hoặc hồi phục đã làm, và những người hàng xóm khỏe mạnh có thể đã không làm. Đối với những trường hợp tử vong, họ hỏi người thân hoặc bạn bè của người bệnh. Người đó có bao giờ trèo cây không? Một số thì đã từng trèo cây, nhưng hầu hết là không trèo, cả trong số bệnh nhân và những người khỏe mạnh. Người đó có phải đã chạm vào lợn không? Không, không ai ở Tangail có thói quen chạm vào lợn. Hay họ đã chạm vào dơi ăn quả? Không ai cả. Người đó có chạm vào vịt không? Có, nhưng vậy thì sao, vì rất nhiều người đã làm điều đó. Chạm vào một con gà ốm? Ăn ổi? Ăn chuối? Ăn thịt một con vật bị bệnh tại thời điểm giết mổ? Ăn khế? Tiếp xúc với ai đó đang bị sốt, mất ý thức, và sau đó tử vong?
Bản thân các câu hỏi giống như những nét vẽ tạo nên bức phác thảo cuộc sống làng quê Bangladesh. Nhưng trong số đó — kể cả câu hỏi về việc leo cây — cũng không có câu nào chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa những người đã mắc bệnh và những người chưa mắc bệnh. Chỉ có một câu hỏi của nhóm Luby đã cho thấy kết quả khác biệt: Gần đây bạn có uống nhựa cây chà là nguyên chất không?
Ực, ừm, có. Nhựa cây chà là là một món ăn ngon theo mùa ở các ngôi làng phía tây Bangladesh. Nó chảy trong mạch một loại chà là nhất định, cây chà là đường (Phoenix sylvestris), và nếu rạch vào thân cây, nhựa cây sẽ chảy xuống một cái niêu đất được đặt cẩn thận. Giống như nhựa cây phong, nó rất ngọt – thậm chí còn ngọt hơn cả cây phong, vì rõ ràng nó không cần phải nấu chín sau nhiều giờ. Một số người sẵn sàng trả nhiều taka, tiền mặt khan hiếm, để mua nhựa chà là tươi và nguyên chất. Những người bán rong mang nó đến từng ngôi nhà ở làng lân cận để bán hoặc ngồi bên lề đường, giống như đứa trẻ hàng xóm với quầy bán nước chanh. Khách hàng thường mang theo một cái cốc hoặc một cái lọ của riêng họ. Họ có thể uống tại chỗ hoặc mang về nhà chia cho gia đình. Nhựa cây có chất lượng tốt nhất khi có màu đỏ, ngọt và trong. Quá trình lên men tự nhiên bắt đầu nhanh chóng và giá giảm mạnh sau 10 giờ sáng, khi nhựa cây không còn tươi nữa. Các tạp chất cũng làm giảm giá trị của nhựa cây. Bạn sẽ thấy, các tạp chất cũng dẫn đến một kết quả khác nữa.
Cuộc điều tra tại Tangail cho thấy điểm khác biệt duy nhất giữa người bệnh và người khỏe: Trong số những người bị nhiễm bệnh, hầu hết đều uống nhựa cây chà là nguyên chất. Những người hàng xóm khỏe mạnh của họ hầu như không uống. Điều này dẫn tới một câu chuyện phức tạp hơn.