Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

4

Việc phân lập virus Hendra là một trong những nhiệm vụ của các nhà virus học làm việc tại các phòng thí nghiệm có an ninh nghiêm ngặt ở AAHL. “Phân lập” có nghĩa là tìm kiếm các cá thể virus và nuôi cấy thêm để tạo thành một quần thể virus sống được cô lập, tiềm ẩn khả năng gây tai họa khủng khiếp nếu để bất kỳ phân tử nào thoát ra ngoài, nhưng lại vô cùng quan trọng cho việc nghiên cứu. Các hạt virus nhỏ tới mức không thể quan sát được, trừ phi sử dụng kính hiển vi điện tử, và đòi hỏi phải làm chúng chết trước. Do đó, sự tồn tại của chúng trong quá trình phân lập phải được phát hiện một cách gián tiếp. Bắt đầu từ một mảnh tế bào nhỏ, một giọt máu hay các mẫu vật khác từ cá thể mắc bệnh, với hi vọng những thứ này có chứa virus. Mẫu vật này sau đó được thêm vào một tổ chức tế bào được nuôi trong môi trường dinh dưỡng. Sau đó nó được ủ và quan sát. Hầu như sẽ chẳng có gì xảy ra, trừ phi bạn gặp may mắn. Quá trình được coi là thành công khi virus nhân bản đủ nhiều để gây thiệt hại rõ ràng cho những tế bào được nuôi cấy. Lý tưởng nhất là chúng hình thành mảng bám, những lỗ lớn trong tế bào nuôi cấy, mỗi lỗ thể hiện vị trí bị virus tàn phá. Quá trình này đòi hỏi sự kiên nhẫn, kinh nghiệm, và đặc biệt là những công cụ đo lường chính xác vô cùng đắt đỏ, cộng thêm sự cẩn trọng tỉ mỉ nhằm tránh sự lây nhiễm (dẫn tới làm sai lệch kết quả) hay các tai nạn có khả năng làm virus thoát ra (có thể lây nhiễm cho bạn, gây nguy hiểm cho đồng nghiệp xung quanh, và đẩy một thành phố vào trạng thái hoảng loạn). Những nhà virus học trong phòng thí nghiệm thường không phải những người ồn ào. Bạn sẽ không nhìn thấy họ ở các quán bar, khua chân múa tay khoe khoang về những hiểm nguy trong công việc của họ. Trái lại, những người này thường có xu hướng tập trung, gọn gàng và bình tĩnh, như các kỹ sư nguyên tử.

Việc xác định nơi trú ngụ của virus trong thế giới hoang dã là một công việc hoàn toàn khác. Nó là một công việc ngoài trời với mức độ nguy hiểm khó kiểm soát hơn, như là bẫy những con gấu xám cần di dời. Thực tế, giống như những người đồng sự làm việc trong phòng thí nghiệm, những người tìm kiếm virus hoang dã không hề huyên náo hay bất cẩn, và họ cũng không được phép. Nhưng môi trường họ làm việc ồn ào, đông đúc, và khó đoán định hơn: Thế giới bên ngoài. Nếu có lý do để nghi ngờ một loại virus mới nào đó lây nhiễm lên người có yếu tố lây truyền từ động vật (và phần lớn chúng đều thế), công cuộc tìm kiếm có thể tiến vào các khu rừng, đầm lầy, những cánh đồng hoa màu, những tòa nhà cũ, các ống cống, hang động hay đôi khi là chuồng ngựa. Thợ săn virus là những nhà sinh lý học thực địa, nhiều khả năng đã được đào tạo chuyên sâu về y học, thú y, sinh thái học, hay cả ba ngành trên – những người hứng thú với những câu hỏi mà lời giải chỉ có thể tìm thấy bằng cách làm việc với động vật. Tất cả những yếu tố đó hội tụ trên Hume Field, một người đàn ông gầy gò với giọng nói nhỏ nhẹ, với lần đầu tiếp cận với virus Hendra khi ông mới ngoài 30 tuổi.

Field lớn lên ở vùng duyên hải Queensland, từ Cairns đến Rockhampton. Một cậu bé yêu thiên nhiên, thích trèo cây, lang thang trong bụi rậm và dành những ngày nghỉ ở trại chăn nuôi của người chú. Cha của Field là một thám tử, phần nào có thể coi là tiền đề cho công việc của con trai mình sau này dưới vai trò người truy lùng virus. Khi lớn lên, Field tốt nghiệp đại học ngành thú y ở Đại học Queensland, Brisbane, và làm tình nguyện ngoài giờ tại một trung tâm bảo trợ động vật, giúp những con thú hoang bị thương tái hòa nhập. Sau khi lấy bằng thạc sĩ năm 1976, ông dành vài năm hành nghề chăm sóc cho các loại động vật khác nhau tại Brisbane, rồi với tư cách bác sĩ thay thế tạm thời khắp bang. Trong khoảng thời gian này, ông đã chữa trị rất nhiều con ngựa. Nhưng Field ngày càng nhận thức rõ rằng mối quan tâm lớn nhất của bản thân là động vật hoang dã chứ không phải gia súc hay thú cưng. Do đó, vào đầu những năm 1990, Field trở lại Đại học Queensland, lần này để lấy tấm bằng tiến sĩ sinh thái học.

Tại đây, ông tập trung nghiên cứu bảo tồn động vật hoang dã.

Chủ đề luận văn ông lựa chọn là quần thể mèo hoang và những tác động của chúng, do những con mèo hoang (mèo nuôi trong nhà bỏ đi hoang trong vùng) gây thiệt hại đáng kể cho động vật hoang dã bản địa ở Úc: chúng giết những con thú có túi nhỏ và chim chóc, chưa kể còn là nguồn lây bệnh. Thời điểm virus bùng phát trên chuồng ngựa của Vic Rail, ông đang bẫy mèo và đeo cho chúng vòng cổ có thiết bị phát sóng radio để theo dõi. Một trong những người hướng dẫn luận án tiến sĩ cho Field, một nhà khoa học làm việc với DPI, hỏi Field rằng liệu ông có hứng thú đổi đề tài không. DPI cần ai đó nghiên cứu phương diện hệ sinh thái của căn bệnh mới. “Và thế là tôi quên luôn lũ mèo hoang và bắt đầu đi tìm những ổ chứa hoang dã của virus Hendra” Field kể lại, khi tôi tìm tới ông khá lâu sau đó, tại Viện Nghiên cứu Động vật, một cơ quan của DPI ở gần Brisbane.

Ông bắt đầu cuộc tìm kiếm bằng việc quay trở lại với ca bệnh đầu tiên – con ngựa mắc bệnh đầu tiên, hồ sơ và nơi nó sống. Đó là Drama Series, con ngựa cái mang bầu, đổ bệnh trong chuồng ngựa ở Cannon Hill. Manh mối duy nhất ông có tại thời điểm đó là virus này là một chủng paramyxovirus, và một nhà nghiên cứu khác ở Queensland đã tìm thấy một chủng paramyxovirus mới trên động vật gặm nhấm một vài năm trước đó. Do vậy Field đã thiết kế một loạt bẫy ở chuồng ngựa, với mục đích bắt tất cả những động vật có xương sống nhỏ và vừa có thể – các loài gặm nhấm, chồn Possum, thú có túi, bò sát, động vật lưỡng cư, chim, mèo hoang – và thu thập mẫu máu của từng con vật, đặc biệt chú tâm tới các loài gặm nhấm. Ông gửi mẫu máu tới phòng thí nghiệm của DPI để sàng lọc tìm kháng thể chống lại Hendra.

Việc sàng lọc tìm kháng thể khác hoàn toàn với việc phân lập virus, cũng như dấu chân và dấu giày vậy. Kháng thể là những phân tử do hệ miễn dịch của vật chủ sản xuất ra để đối phó với sự hiện hữu của một tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể. Chúng được hình thành một cách đặc trưng nhằm mục đích bám lấy và vô hiệu hóa một loại virus cụ thể, hoặc vi khuẩn, hoặc những loại bọ khác. Tính đặc hiệu, cũng như sự thật rằng chúng tồn tại trong máu ngay cả khi tác nhân xâm lấn đã bị loại bỏ, khiến chúng trở thành những dấu hiệu vô giá về sự lây nhiễm đã từng hay đang có mặt trong cơ thể. Đó là dấu hiệu mà Hume Field hy vọng tìm thấy. Nhưng các động vật gặm nhấm ở Cannon Hill không hề có kháng thể với virus Hendra. Và cả những con vật khác cũng vậy, khiến ông tự đặt câu hỏi vì sao. Hoặc là do ông tìm sai chỗ, hoặc đúng chỗ nhưng sai cách, hay sai thời điểm. Sai thời điểm có thể là một vấn đề lớn, ông ngẫm nghĩ. Thời điểm Drama Series mắc bệnh vào tháng Chín. Nửa năm đã trôi qua và giờ ông đang tìm kiếm vào tháng Ba, Tư, Năm. Ông ngờ rằng “có thể tồn tại một kiểu xuất hiện theo mùa ở virus hoặc vật chủ” ở chuồng ngựa Cannon Hill, và mùa đã hết tại thời điểm nghiên cứu. Sàng lọc những con mèo, chó và chuột đồng quanh chuồng ngựa của Rail cũng không cho kết quả dương tính nào.

Việc virus xuất hiện theo mùa hoàn toàn là có thể. Một khả năng khác là chúng đến và đi trong một khung thời gian ngắn hơn. Chẳng hạn loài dơi xuất hiện rất nhiều ở chuồng ngựa Cannon Hill vào buổi đêm, nhưng quay về tổ của chúng ở đâu đó để ngủ qua ban ngày. Peter Reid đã nghe những cư dân ở Cannon Hill kể rằng, vào ban đêm ở khu dân cư này, “lũ cáo bay nhiều như sao trên trời.” Reid sau đó đã gợi ý cho AAHL rằng nên xem xét những con dơi, nhưng rõ ràng ý kiến của ông không hề được quan tâm. Hume Field và những đồng nghiệp của mình gặp bế tắc trong cuộc đi săn ổ chứa cho tới tháng Mười năm 1995, khi một sự kiện không may mang đến manh mối mới.

Một nông dân trồng mía trẻ tuổi có tên Mark Preston, sống ở gần thị trấn Mackay, khoảng 600 dặm về phía bắc Brisbane, đã lên nhiều cơn co giật liên tục và được vợ đưa đến bệnh viện. Các triệu chứng của Preston đặc biệt đáng báo động, bởi đây là cơn khủng hoảng sức khỏe thứ hai của anh chỉ trong vòng hơn một năm. Hồi tháng Tám năm 1994, anh mắc phải một căn bệnh lạ, gây đau đầu, nôn ói, cứng cổ và sau đó được chẩn đoán tạm thời là viêm màng não không rõ nguyên nhân, và đã khỏi. Hay dường như là vậy.

Viêm màng não là thuật ngữ được áp dụng cho bất kì triệu chứng viêm nào trên lớp màng bao phủ não bộ và tủy sống; hiện tượng này có thể do vi khuẩn, virus hay thậm chí là phản ứng với thuốc gây nên, và có thể chấm dứt một cách khó hiểu y như khi xuất hiện vậy. Preston tiếp tục cuộc sống khỏe mạnh ở trang trại với vợ là Margaret, một bác sĩ thú y với phòng khám nằm giữa cách đồng mía và những con ngựa đua.

Liệu những cơn co giật của Mark Preston có đánh dấu sự trở lại của chứng viêm màng não chưa được xác định? Sau khi nhập viện, anh xuất hiện triệu chứng viêm não nặng – hay nói cách khác là não bị sưng, chưa rõ nguyên nhân. Điều trị bằng thuốc đã kiểm soát được những cơn co giật, tuy nhiên các bác sĩ có thể thấy hàng loạt những cơn nguy kịch nhấp nháy trên điện não đồ. Theo báo cáo y tế sau đó: “Anh ấy hôn mê với cơn sốt dai dẳng, và qua đời sau khi nhập viện 25 ngày.”

Huyết thanh lấy khi Preston đi vào giai đoạn cuối của bệnh cho kết quả dương tính với virus Hendra. Mẫu huyết thanh được lấy khi anh mắc bệnh lần đầu tiên từ một năm trước cũng được lấy ra xét nghiệm lại, và cho kết quả tương tự. Hệ miễn dịch của Preston vẫn chiến đấu với thứ đó từ lúc ấy. Các kết quả xét nghiệm tế bào não của anh ấy sau khi qua đời, cùng với các xét nghiệm khác, xác nhận sự có mặt của virus Hendra. Có vẻ như virus sau khi tấn công đã chuyển sang tồn tại ở trạng thái ngầm trong một năm, rồi mới bùng phát và giết chết anh ấy. Điều này đáng sợ ở một mức độ hoàn toàn mới.

Preston mắc phải nó ở đâu? Các điều tra viên, sau khi truy dấu ngược lại để kết nối các sự kiện, phát hiện ra rằng hai con ngựa đã chết tại trang trại của Preston vào tháng Tám năm 1994. Mark đã giúp vợ chăm sóc chúng trong cơn bệnh của chúng và hỗ trợ cô ấy, ở mức độ nào đó, trong quá trình khám nghiệm tử thi. Những mẫu tế bào từ hai con ngựa được Margaret Preston bảo quản và lưu trữ cũng cho kết quả xét nghiệm dương tính với virus Hendra. Tuy nhiên mặc dù tiếp xúc gần với lũ ngựa, cô vẫn khỏe mạnh – cũng giống như Peter Reid, mặc cho phơi nhiễm ở chỗ của Vic Rail vài tuần sau đó. Tình trạng sức khỏe của hai bác sĩ thú y đã dấy lên những câu hỏi về khả năng lây nhiễm của virus mới này. Và ở trường hợp của Preston, với khoảng cách như vậy so với điểm bùng phát đầu tiên, khiến các chuyên gia băn khoăn và lo lắng về việc nó có thể đã lan rộng đến mức nào. Lấy khoảng cách từ Hendra tới Mackey làm bán kính và điểm , vẽ đường tròn khu vực phát tán quanh địa điểm mỗi đợt bùng phát, ta được khu vực bao trùm khoảng 10 triệu người, gần một nửa dân số nước Úc.

Vấn đề lớn đến mức nào? Virus đã lan rộng ra bao nhiêu? Một nhóm các nhà nghiên cứu, được dẫn đầu bởi Joseph McCormack, một chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm, làm việc tại bệnh viện nơi Vic Rail qua đời, đã đánh giá vấn đề một cách tổng quát hơn. Họ sàng lọc huyết thanh từ 5.000 con ngựa ở Brisbane – gần như tất cả những ngựa mà họ có thể lấy mẫu – và từ 298 người từng có tiếp xúc ở mức độ nào đó với một trong những trường hợp nhiễm virus Hendra. Không có bất cứ mẫu nào chứa kháng thể Hendra. Những kết quả âm tính đó, có thể phỏng đoán, đã đem lại sự nhẹ nhõm cho các quan chức y tế và làm hằn thêm nếp nhăn trên gương mặt các nhà khoa học. “Có vẻ như,” nhóm của McCormack kết luận, “sự tiếp xúc cực gần là điều kiện cần thiết để sự truyền nhiễm xảy ra từ ngựa sang người.” Nhưng đó chỉ đơn thuần là suy nghĩ tích cực viển vông. Giả thiết “phải có sự tiếp xúc cực gần” không giải thích được việc Margaret Preston đã không bị mắc bệnh như chồng mình. Sự thật là: sự tiếp xúc cực gần đó, cộng thêm vận đen, cộng thêm có thể một hay hai yếu tố khác là điều kiện cần thiết để một người bị mắc bệnh, và không ai biết những yếu tố khác là gì.

Tuy nhiên trường hợp của Mark Preston đã đem đến cho Hume Field những manh mối quý giá –mốc thời gian cũng như địa điểm thứ hai trên bản đồ. Virus Hendra xuất hiện ở Mackay vào tháng Tám năm 1994; sau đó là chuồng ngựa Cannon Hill và chuồng của Rail vào tháng Chín năm 1994. Do đó Field đã tới Mackay và lặp lại phương pháp của mình, bẫy động vật, lấy và gửi mẫu huyết thanh đi xét nghiệm tìm kháng thể.

Và một lần nữa ông vẫn không tìm được gì. Ông cũng thu thập mẫu từ những con thú hoang bị thương hoặc bị suy nhược, đang được chăm sóc cho tới khi có thể được thả về tự nhiên. Thực hiện công việc đó là mạng lưới những người nghiệp dư và tốt bụng, hay còn thường được gọi là những “người chăm sóc” động vật hoang dã. Họ thường tập trung chăm sóc cho một số nhóm động vật cụ thể: có những người chăm sóc kangaroo, nhóm khác lại chăm sóc chim, chồn Possum, hay dơi. Hume Field biết tới họ từ những năm tháng làm bác sĩ thú y, và thậm chí cũng từng làm công việc đó trong những tháng ngày sinh viên ở trại chăm sóc động vật. Giờ đây, ông lấy mẫu một vài con vật mà họ đang chăm sóc.

Nhưng kết quả vẫn không có dấu vết của Hendra.

Tháng Một 1996, khi cuộc tìm kiếm vật chủ dự trữ đi vào bế tắc, theo yêu cầu của cấp trên tại DPI, Field tham gia một phiên họp chung cùng với các quan chức của cơ quan cũng như các nhà nghiên cứu. Họ đang làm sai điều gì? Làm thế nào để hướng những nỗ lực của họ tới đúng mục tiêu hơn? Virus Hendra sẽ tấn công nơi nào tiếp theo? Ngành công nghiệp đua ngựa Queensland đứng trước nguy cơ thua lỗ hàng triệu đô la, và tính mạng con người đang bị đe dọa. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề của ngành y tế, mà là tình trạng khẩn cấp về cả quản lý và quan hệ công chúng. Một hướng tư duy hữu ích đã được phát hiện ở cuộc họp: địa sinh lý. Có thể thấy rõ rằng (các) vật chủ dự trữ, dù là loài sinh vật nào, cũng phải tồn tại ở cả Mackay và Cannon Hill –ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó trong năm, bao gồm cả tháng Tám và tháng Chín. Điều này hướng tới những loài động vật, hoặc phân bố rộng rãi ở Queensland, hoặc có khả năng di chuyển rộng rãi khắp bang. Những người tham gia cuộc họp (phần nào dựa trên các bằng chứng di truyền cho thấy không có biểu hiện của chủng virus đặc trưng theo khu vực – hay nói cách khác, virus vừa di chuyển vừa biến đổi) thiên về khả năng thứ hai rằng vật chủ dự trữ là loài có khả năng di chuyển dễ dàng, với phạm vi có thể lên đến hàng trăm dặm dọc theo bờ biển Queensland. Điều đó tiếp tục hướng sự nghi ngờ tới những con chim và… dơi.

Tạm thời, Field và các đồng nghiệp loại bỏ giả thuyết về chim, dựa trên hai điểm. Thứ nhất, họ không có bất kỳ bằng chứng nào về một loại paramyxovirus truyền từ chim sang người. Thứ hai, ổ chứa là động vật có vú sẽ hợp lý hơn, khi mà virus gây bệnh trên cả người và ngựa. Sự tương đồng giữa các loài vật chủ là dấu hiệu quan trọng chỉ ra khả năng lây truyền của mầm bệnh. Dơi là động vật có vú. Và chúng có thể di chuyển khá rộng. Hơn thế nữa, dơi vốn nổi tiếng mang một loại virus vô cùng đáng sợ, virus gây bệnh dại, dù tại thời điểm đó căn bệnh này cũng không tồn tại tại Úc. (Rất nhiều mối liên hệ dơi-virus-người khác đã được phát hiện không lâu sau đó, bao gồm cả một số trường hợp tại Úc; nhưng ở thời điểm năm 1996, sự liên kết kém rõ ràng hơn.) Từ cuộc họp, Field nhận một mệnh lệnh mới: Kiểm tra những con dơi.

Nói ra có vẻ dễ, nhưng việc bắt lũ dơi đang bay, hay thậm chí khi chúng đã đậu xuống, không đơn giản như việc đặt bẫy loài gặm nhấm hay động vật có túi trên đồng cỏ. Loài dơi dễ được tìm thấy và phổ biến nhất ở vùng Queensland còn được gọi là cáo bay, nằm trong bốn loài thuộc chi Pteropus, tất cả đều là những con dơi ăn hoa quả khổng lồ với sải cánh dài tới một mét hoặc hơn. Cáo bay có thói quen đậu ở những vùng rừng ngập mặn, những vùng đầm lầy cây tràm, hoặc trên những cành cây cao trong rừng mưa nhiệt đới. Họ cần tới những công cụ và phương pháp đánh bẫy đặc biệt cho việc này. Do không thể chuẩn bị dụng cụ ngay lập tức, Field ngay lập tức quay trở lại với mạng lưới “người chăm sóc”. Tại một cơ sở ở Rockhampton, trên bờ biển hướng về phía Mackay, ông phát hiện trong số những con vật bị thương đang được chăm sóc có những con cáo đen bay (Pteropus alecto). Và ông đã trúng số độc đắc: Mẫu máu của một trong số chúng có kháng thể chống virus Hendra.

Thế nhưng một phát hiện như vậy hoàn toàn không đủ cho một nhà khoa học khó tính như Hume Field.

Dữ kiện đó chứng tỏ rằng những con dơi đen có thể mang virus Hendra, nhưng không đủ chứng minh chúng là một vật chủ dự trữ – huống hồ chính là vật chủ dự trữ đang cần tìm – khiến cho những con ngựa bị bệnh. Ông và các đồng nghiệp tiếp tục tìm kiếm. Trong vòng một vài tuần, kháng thể Hendra được tìm thấy ở ba loài khác nữa, dơi đầu xám, dơi quạ đeo kính và dơi đỏ nhỏ. Đội ngũ DPI cũng đã xét nghiệm những mẫu cũ từ dơi được lưu trữ từ hơn chục năm trước. Một lần nữa, họ tìm thấy dấu vết phân tử của Hendra. Điều này cho thấy quần thể dơi đã tiếp xúc với Hendra rất lâu trước khi virus tấn công đàn ngựa của Vic Rail. Và rồi, vào tháng Chín năm 1996, hai năm sau đợt bùng phát ở trang trại của Rail, một con dơi đầu xám đang mang thai bị mắc vào một hàng rào dây thép.

Con vật sẩy bào thai sinh đôi và bị cho an tử. Con dơi này không chỉ được xét nghiệm dương tính với kháng thể; nó còn giúp các nhà khoa học lần đầu tiên phân lập virus Hendra từ dơi. Một mẫu nước tiểu của nó chứa virus sống giống hệt với virus Hendra tìm thấy ở ngựa và người. Ngay cả với sự thận trọng của khoa học, vậy là đủ để xác định dơi có khả năng là vật chủ dự trữ của Hendra.

Càng tìm kiếm, Field và các đồng nghiệp càng phát hiện nhiều dấu hiệu của Hendra. Sau các khảo sát ban đầu, khoảng 15% số dơi được xét nghiệm dương tính với kháng thể Hendra. Tham số này – tỷ lệ cá thể được lấy mẫu cho thấy tiền sử nhiễm virus, bất kể hiện tại hay quá khứ – được gọi là trị số huyết thanh. Hệ số này cho phép ước tính, dựa trên việc lấy mẫu có giới hạn, về tỷ lệ trên toàn bộ quần thể. Trị số huyết thanh tăng lên khi nhóm nghiên cứu tiếp tục thử nghiệm. Sau hai năm lấy mẫu trên tổng số 1043 con dơi, Field và các đồng nghiệp báo cáo trị số huyết thanh Hendra ở mức 47%. Có thể nói một cách đơn giản: Gần một nửa trong số những con dơi lớn bay vòng quanh vùng phía đông nước Úc đang hoặc đã từng mang mầm bệnh, chẳng khác gì mang virus Hendra ném trải thảm xuống dưới.

Khi các nhà khoa học công bố phát hiện của mình trên các ấn phẩm định kỳ như Journal of General Virology (Tạp chí Virus học Tổng hợp) và The Lancet , một số phát hiện đã xuất hiện trên báo chí. Một dòng tít viết: NỖI LO VIRUS DƠI, NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐUA NGỰA CẢNH GIÁC. Những băng keo dành cho hiện trường phạm tội và những con ngựa bị cắt lìa ở nhà của Rail là điểm khởi đầu không thể cưỡng lại đối với cánh báo chí truyền hình, và mối quan tâm của họ vẫn tiếp diễn. Một vài báo cáo trên tạp chí tương đối chính xác và hợp lý, nhưng không phải tất cả, và không bài nào trong đó nhẹ nhàng. Mọi người bắt đầu trở nên lo lắng. Việc xác định cáo bay là vật chủ dự trữ, cộng thêm mức trị số huyết thanh cao trong quần thể loài dơi, khiến cho hình ảnh của loài vật vốn đã có tiền sử rắc rối trở nên tồi tệ hơn. Sự ủng hộ dành cho những con dơi chưa bao giờ cao, và giờ đây tại Úc, tỷ lệ này còn giảm thấp hơn.

Một người huấn luyện ngựa đua xuất sắc đã nói với tôi quan điểm của ông về vấn đề này tại một trường đua ở Hendra, vào một ngày thứ bảy đầy nắng, trong quãng nghỉ giữa những cuộc đua. “Virus Hendra!” Người đàn ông này nổi nóng khi nghe đến cái tên đó. “Họ đáng ra không nên để cho nó xảy ra!” “Họ” ám chỉ những nhà chức trách. “Họ nên xử lý lũ dơi! Những con dơi đó gây ra căn bệnh này! Chúng treo ngược và tự ỉa lên chính bản thân chúng!” (Tôi tự hỏi điều đó có đúng không? Về mặt sinh lý thì khó có thể.) “Và chúng ỉa lên con người! Thật ngược đời – đáng ra phải là ta ỉa lên chúng! Chúng thì có lợi gì? Giết hết chúng đi! Tại sao điều đó không xảy ra? Bởi vì những kẻ Hoạt động môi trường ủy mị không cho phép!” Ông cằn nhằn. Chúng tôi lúc đó đang ở quán Members, thánh địa dành cho những người làm trong ngành đua ngựa, và tôi đến đó cùng Peter Reid. “Chính quyền nên bảo vệ mọi người! Nhất là các các bác sĩ thú y, như anh bạn Peter của chúng ta đây!” Ông hắng giọng và tiếp tục tuôn ra hàng tràng. Người huấn luyện ngựa này, một nhân vật huyền thoại trong giới đua ngựa ở Úc, là một người đàn ông ngoài tám mươi thấp bé với mái tóc xám vuốt ngược lượn sóng.

Tôi là khách là trong câu lạc bộ và nên dành một chút tôn trọng – hay đúng hơn, bỏ qua cho ông ta. (Công bằng mà nói, ông ấy nói không lâu sau khi một nạn nhân khác, một bác sĩ thú y có tên Ben Cunneen, qua đời vì mắc virus Hendra sau khi chữa trị cho những con ngựa ốm. Mối nguy hiểm chết người đối với những người chăm ngựa, và rủi ro kinh tế cho toàn bộ ngành công nghiệp đua ngựa của Úc, khi đó là không thể chối cãi.) Khi tôi bày tỏ mong muốn thật sự dẫn lời người huấn luyện này trong báo cáo, giọng ông trở nên bình tĩnh hơn, nhưng đại ý vẫn như vậy.

Trong số những “kẻ hoạt động môi trường ủy mị”, hẳn ý ông có cả những người chăm sóc dơi. Nhưng ngay cả những nhà hoạt động nhân hậu, những người chăm sóc, cũng dần cảm thấy lo lắng khi các dấu hiệu ngày một nhiều lên. Họ có hai mối lo, đối nghịch nhau một cách bất an: rằng virus sẽ khiến những con dơi ngày càng bị ghét bỏ, dẫn tới những kêu gọi (như của người huấn luyện ngựa) về việc xóa sổ loài dơi, và rằng chính bản thân họ cũng có thể mắc bệnh trong khi thực hiện công việc đầy thiện ý của mình. Điều thứ hai là một nỗi lo ngại mới. Nó hẳn đã khiến cho họ phải xem xét lại sự tận tụy của mình. Suy cho cùng, họ yêu dơi, chứ không yêu virus. Liệu virus có phải một phần của thế giới hoang dã? Trong tâm trí của phần lớn mọi người thì không. Một vài người chăm sóc đã xin được sàng lọc tìm kháng thể, điều mở ra những cơ hội mới cho một cuộc khảo sát diện rộng, được tổ chức nhanh chóng và dẫn đầu bởi một nhà dịch tễ học trẻ tuổi đến từ trường Đại học Queensland tên là Linda Selvey.

Selvey đã liên hệ với mạng lưới những người chăm sóc động vật hoang dã ở miền đông nam nước Úc, sau cùng đã tìm được 128 người chăm sóc dơi đồng ý và sẵn sàng được kiểm tra. Cô ấy và nhóm thực địa của mình đã lấy máu và yêu cầu mỗi người tham gia hoàn thành một bảng câu hỏi. Bảng câu hỏi cho thấy rất nhiều trong số những người này đã có tiếp xúc gần trong thời gian dài với những con dơi – cho chúng ăn, chăm nom, và đôi khi còn bị cào hay cắn. Một người chăm sóc đã bị một con dơi dương tính với Hendra cắn rất sâu ở bàn tay. Phát hiện bất ngờ nhất trong khảo sát của Selvey là tỷ lệ phần trăm dương tính với Hendra trong số 128 người chăm sóc là 0. Mặc cho hàng năm tháng chăm nom, ốm ấp và bị cào hay cắn, đầy dãi và máu, không một ai cho thấy dấu hiệu miễn dịch của việc từng nhiễm virus Hendra.

Báo cáo của Selvey được công bố vào tháng Mười 1996. Thời điểm này, cô vẫn còn là một sinh viên cao học, rồi trở thành người đứng đầu Chi nhánh Bệnh truyền nhiễm của Ủy ban Sức khỏe Queensland. Sau này, khi ngồi uống cà phê với cô ở một quán café ồn ào ở Brisbane, tôi đã hỏi: “Những người chăm sóc dơi này là ai?”

Selvey trả lời: “Tôi không biết miêu tả họ ra sao. Những người đam mê động vật. Chắc là vậy.” Cả nữ và nam giới? “Hầu hết là nữ giới.” Cô trả lời, hơi nghiêng về giải thiết nhưng người phụ nữ không có con có thể có nhiều thời gian và khao khát hơn cho những công việc đó để lấp đầy khoảng trống. Thông thường họ làm công việc chăm sóc ngay tại nhà riêng, với những cái lồng lớn và thoải mái, nơi mà những con dơi có thể đậu khi không bị đụng chạm. Điều này có vẻ bí ẩn với tôi khi mà những mối liên hệ rất gần giữa người và dơi, cùng với trị số huyết thanh cao của dơi, vẫn chưa gây ra một ca nhiễm bệnh trên người nào theo nghiên cứu của Selvey. Không một người ai trong số 128 người chăm sóc dương tính với kháng thể. Tôi hỏi Selvey: “Điều này nói lên gì về bản chất của loại virus?”

“Nó cần một loại tác nhân kích thích nào đó,” cô đáp, ám chỉ những con ngựa.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.