Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18

❊ ❊ ❊

18

Kelly L. Warfield lớn lên ở vùng ngoại ô Frederick, Maryland, cách Fort Detrick, căn cứ quân đội Mỹ chuyên nghiên cứu y học và phòng thủ sinh học nơi đặt USAMRIID, không xa. Cô ấy là một cô gái địa phương, hăng hái và tò mò, có mẹ sở hữu một cửa hàng tiện lợi chỉ ngay bên ngoài cánh cổng của Fort Detrick. Giúp đỡ mẹ từ khi còn là học sinh trung học, Kelly lần đầu nhìn thấy và nói chuyện với các nhà khoa học từ cơ sở nghiên cứu bệnh tật khi họ vào cửa hàng để mua nước ngọt ăn kiêng, sữa, kẹo cao su Nicorette, Tylenol… bất kì thứ gì mà các nhà virus học hàng đầu làm việc cho quân đội mua. Không như thu ngân trẻ của một cửa hàng tiện lợi thông thường, Kelly bộc lộ năng khiếu vững vàng về khoa học từ sớm. Trong các mùa hè thời trung học cô ấy làm việc ở một trung tâm của chính phủ về các tiêu chuẩn và đo lường. Sau năm nhất đại học và mỗi mùa hè cho tới khi tốt nghiệp, cô ấy làm việc như một phụ tá phòng thí nghiệm ở Viện ung thư quốc gia, có chi nhánh trong khuôn viên của Fort Detrick. Cô đã hoàn thành chương trình cử nhân ngành sinh học phân tử và xem xét việc học cao học. Cũng vào khoảng thời gian đó cô đọc cuốn Vùng Nóng, khi đó mới được xuất bản.

“Tôi là một đứa trẻ Vùng Nóng,” Warfield nói với tôi rất lâu sau đó. Cô ấy nói thêm rằng tuy không thể đảm bảo cho sự chính xác về mặt khoa học của cuốn sách, nó tác động một cách đột ngột lên cô. Cô ấy được truyền cảm hứng từ một trong những nhân vật chính, Nancy Jaax, một thiếu tá quân đội và nhà bệnh lý học thú y ở USAMRIID, người đã tham gia đội phản ứng ở khu nhà chứa lũ khỉ bị nhiễm bệnh ở Reston. Warfield hi vọng được trở lại Fort Detrick sau khi hoàn thành cao học và gia nhập USAMRIID với tư cách một nhà khoa học – để nghiên cứu virus Ebola, nếu có thể.

Cô ấy tìm kiếm một chương trình tiến sĩ mà dạy cô về virus học và tìm thấy một chương trình tốt ở Cao đẳng Y khoa Baylor, ở Houston. Toàn bộ chương trình ở Baylor dành cho nghiên cứu virus, với hai tá nhà virus học, một vài trong số đó khá nổi tiếng, tuy không ai từng làm việc với các mầm bệnh có độ độc hại cao như Ebola. Warfield tìm được chỗ trong phòng thí nghiệm của một người hướng dẫn ở đó và bắt đầu nghiên cứu một nhóm virus đường tiêu hóa, loại rotavirus, gây tiêu chảy ở người. Luận văn tốt nghiệp của cô nghiên cứu về phản ứng miễn dịch đối với sự lây nhiễm rotavirus ở chuột. Đó là một công trình phức tạp và quan trọng (rotavirus giết nửa triệu trẻ em trên toàn thế giới mỗi năm), tuy không đặc biệt kịch tính. Cô ấy có kinh nghiệm sử dụng thú vật trong phòng thí nghiệm (đặc biệt là chuột) như các hình mẫu cho phản ứng miễn dịch của người với sự lây nhiễm virus, và cô ấy học được một chút về việc làm vắc-xin. Cụ thể, cô ấy học được chuyên môn về phát triển vắc-xin bằng các phân tử giống virus (VLP) thay vì phương pháp thông thường, sử dụng virus sống yếu đi do sự tiến hóa gây ra trong phòng thí nghiệm. VLP về bản chất là vỏ ngoài của virus, có khả năng kích thích việc sản sinh kháng thể (sẵn sàng miễn dịch) nhưng không có phần ruột hoạt động, và do đó không có khả năng sinh sôi hay gây bệnh. VLP dường như mang nhiều hứa hẹn cho việc sản xuất vắc-xin chống các loại virus, như Ebola, mà việc nghiên cứu vắc-xin bằng virus sống có thể quá nguy hiểm.

Kelly mất một chút thời gian để đạt được ước mơ của mình, nhưng không lâu, và cô đã không bỏ lỡ chút nào. Sau khi hoàn thành chương trình tiến sĩ, TS. Warfield 26 tuổi bắt đầu làm việc ở USAMRIID vào tháng 6/2002, chỉ vài ngày sau khi tốt nghiệp ở Houston. Cơ sở của quân đội đã thuê cô, một phần, nhờ kỹ năng làm việc với VLP. Ngay lập tức cô tham gia Chương trình tiêm chủng đặc biệt, một loạt các mũi tiêm đau đớn cần thiết trước khi một người mới đủ điều kiện vào các phòng thí nghiệm BSL-3. (BSL-3 bao gồm các phòng thí nghiệm mà các nhà nghiên cứu thường làm việc với các căn bệnh nguy hiểm nhưng chữa được, rất nhiều trong đó do vi khuẩn gây ra, như bệnh than và dịch hạch. BSL-4 dành cho việc nghiên cứu các mầm bệnh như Ebola, Marburg, Nipah, Machupo, và Hendra, vốn không có vắc-xin hay thuốc chữa.) Họ tiêm chủng cho cô ấy chống lại hàng loạt những thứ không lành mạnh mà cô có thể hoặc không bao giờ gặp trong phòng thí nghiệm – chống lại sốt Thung lũng Rift, viêm não ngựa, đậu mùa, và bệnh than – tất cả chỉ trong một năm.

Một vài loại vắc-xin có thể khiến một người cảm thấy khá ốm yếu. Vắc-xin bệnh than, đối với Warfield, đặc biệt không dễ chịu. “Ầy, kinh khủng!” cô ấy nhớ lại, trong cuộc trò chuyện dài ở căn nhà hiện tại của cô, ở vùng ngoại ô mới bên ngoài Frederick. “Đó là một loại vắc-xin kinh khủng.” Sau tất cả những thử thách đó với hệ miễn dịch, và có lẽ là do chúng, cô mắc chứng viêm khớp dạng thấp, di truyền trong gia đình. Viêm khớp dạng thấp là một dạng rối loạn miễn dịch, và loại thuốc được sử dụng để kiểm soát nó có thể ức chế các phản ứng miễn dịch thông thường. “Do đó tôi không được phép tiêm bất kỳ loại vắc-xin nào nữa.” Dù sao, cô đã đủ điều kiện để vào các phòng BSL-3, và không lâu sau là BSL-4. Cô bắt đầu làm việc với virus Ebola sống.

Phần lớn công sức của cô dành cho việc nghiên cứu VLP, tuy cô cũng giúp sức trong một vài dự án trong phòng thí nghiệm của cấp trên. Một trong số đó liên quan đến thử nghiệm một loại kháng thể làm ra trong phòng thí nghiệm có thể dùng làm thuốc điều trị bệnh virus Ebola. Những kháng thể này, do một công ty tư nhân cộng tác với USAMRIID phát triển, được thiết kế để đẩy lùi virus bằng cách gây xáo trộn một protein tế bào có vai trò trong sự sinh sôi của virus, không phải tác động lên bản thân virus. Đó là một ý tưởng thông minh. Warfield một lần nữa dùng chuột làm loài vật thí nghiệm; cô giờ đây đã có nhiều năm kinh nghiệm xử lý và tiêm cho chúng. Trong thí nghiệm này cô tiêm Ebola virus vào năm mươi hay sáu mươi con chuột và rồi, trong những ngày sau đó, chữa trị cho chúng bằng kháng thể thử nghiệm. Liệu chúng sống, hay chết? Những con chuột được giữ trong những lồng nhựa trong, giống như những cái chảo thành cao, mười con trong một chảo. Các quy trình cẩn thận và sự chú ý liên tục là mấu chốt cho công việc trong một phòng BSL-4, Warfield biết rõ điều đó. Quy trình cẩn thận của cô trong thí nghiệm này bao gồm chuẩn bị một ống tiêm đầy kháng thể, đủ cho mười liều, và rồi tiêm mười con chuột trong mỗi cái chảo với cùng một loại kháng thể, cùng kim tiêm. Lây nhiễm chéo không phải là vấn đề, do chúng đã có sẵn một lượng Ebola như nhau. Tiêm nhiều con chuột một lúc với một ống tiêm tiết kiệm thời gian, và thời gian trong phòng BSL-4 thì gia tăng căng thẳng và rủi ro, bởi các điều kiện thể chất cực kỳ khó khăn.

Hãy tưởng tượng những điều kiện đó của Kelly Warfield. Thông thường cô làm việc trong một phòng BSL-4 có tên AA-5, đi hết một hành lang bằng khối than trong khu vực bảo mật cao nhất của USAMRIID, đằng sau ba cánh cửa áp suất và một cửa sổ mica thương hiệu Plexiglas. Cô mặc một bộ đồ bảo hộ bằng vinyl (cô và các đồng nghiệp chỉ gọi đơn giản là “bộ đồ xanh,” không phải bộ đồ phi hành gia hay bộ đồ hazmat) với mũ trùm kín, tấm chắn mặt trong suốt, và một ống thông khí. Nối với ông thông khí là một đường ống màu vàng, uốn khúc từ trên trần nhà để dẫn không khí lọc sạch. Cô đi đôi giày cao su và hai đôi găng tay – găng cao su bên trong đôi găng canner nặng hơn, dán chặt với bộ đồ bằng băng dính điện. Ngay cả với găng canner bọc ngoài găng cao su, đôi bàn tay của cô vẫn là nơi dễ tổn thương nhất trên cơ thể, chúng không thể được bảo vệ bằng vinyl bởi chúng phải khéo léo một cách tinh tế. Bàn làm việc của cô là một bàn đẩy bằng thép không gỉ, giống như ở trong các bệnh viện, dễ lau chùi, dễ di chuyển. Nếu bạn không yêu công việc, bạn sẽ không đặt mình vào nơi này.

Khi đó cô ấy ở một mình trong AA-5, trong đúng những điều kiện kể trên, vào năm rưỡi chiều ngày 11/2/2004. Cô đã tới làm các tác vụ cho thí nghiệm Ebola muộn bởi trước đó phải làm những công việc khác. Một cái chảo chứa chuột đặt lên bàn đẩy của cô, cùng với một cốc nhựa, một tấm bảng kẹp, và không mấy vật liệu và dụng cụ. Đó là chảo chuột cuối cùng trong ngày.

Cô ấy đổ đẩy ống tiêm và cẩn thận tiêm chín con chuột, từng con một – tóm vào đoạn da sau cổ của từng con, lật ngửa bụng nó, đưa kim tiêm vào vùng bụng một cách khéo éo, nhanh chóng, không gây khó chịu hơn mức cần thiết cho tính mạng của từng con chuột xấu số dính Ebola. Sau mỗi lần tiêm, cô đặt con chuột vào cốc, để tách những con đã tiêm xong khỏi chỗ còn lại. Còn một con. Có lẽ cô đã hơi mệt. Tai nạn vẫn xảy ra. Chính con chuột cuối cùng này đã gây rắc rối. Ngay sau khi tiêm xong, nó đột nhiệt đá kim tiêm đi, bật đầu kim vào ngón cái bên trái của Kelly Warfield.

Vết thương, nếu có, dường như chỉ là một vết xước rất nhỏ. “Ban đầu, tôi không nghĩ kim tiêm đã đâm qua đôi găng tay,” cô ấy noi. “Nó không đâu. Không có gì đau cả.” Vẫn bình tĩnh một cách kỷ luật, cô ấy đặt con chuột trở lại chảo, cất ống tiêm đi, và nặn bàn tay. Cô có thể thấy máu chảy ra từ dưới lớp găng. “Khi đó tôi biết mình đã bị đâm.”

Chúng tôi ngồi ở bàn ăn tối của cô, vào một buổi chiều tháng chín nhẹ nhàng, trong khi cô thuật lại cho tôi những sự kiện của ngày tháng hai đó. Căn nhà, nơi cô chia sẻ với người chồng là một bác sĩ quân y và cậu con trai nhỏ, sáng và tươi tắn với cảm giác ấm cúng; có những bức vẽ của trẻ con trên tủ lạnh, một vài món đồ chơi nằm rải rác, một sân sau rộng xanh mướt, hai con chó poodle lai, và một tấm biển ở trên tường nhà bếp ghi: KHÔNG ĐƯỢC VÀO NẾU KHÔNG MẶC ĐỒ BẢO HỘ CÓ THÔNG KHÍ. Hôm nay cô ấy mặc một chiếc áo khoác đỏ và đeo bông tai ngọc trai, không phải bộ đồ vinyl màu xanh.

Cô nhớ rằng tâm trí cô đã nhảy vọt, từ phản ứng tức thì “Ôi Chúa ơi, hỏng rồi” tới sự cân nhắc tỉnh táo về việc cô vừa làm. Cô ấy đã không tiêm vào bản thân virus Ebola sống – hay ít ra là không nhiều. Ống tiêm không có virus Ebola; nó chứa kháng thể, vốn vô hại với bất kỳ ai. Nhưng kim tiêm đã đi qua mười con chuột nhiễm virus Ebola trước khi đâm vào cô. Nếu đầu kim đã dính bất kỳ lượng Ebola nào và đem nó sang cơ thể cô, thì cô có thể đã nhận một lượng nhỏ. Và cô biết một lượng nhỏ là đủ. Cô nhanh chóng rút ống nối vàng và ra khỏi phòng BSL-4, qua cánh cửa áp lực đầu tiên, vào không gian khóa khí có gắn một vòi xịt hóa chất. Ở đó cô tắm toàn thân, phủ bên ngoài bộ đồ màu xanh với một chất diệt virus.

Và rồi cô đẩy cánh cửa thứ hai, tới một phòng để đồ được biết đến với cái tên Gray Side. Cô cởi giày, lột bộ đồ màu xanh và đôi găng tay nhanh nhất có thể, chỉ mặc trên người bộ đồ phẫu thuật. Cô dùng một chiếc điện thoại treo tường để gọi hai người bạn thân, một trong số đó là Diane Negley, giám sát phòng BSL-4. Lúc đó đã là giờ ăn hoặc muộn hơn, và Negley không nghe máy, do đó Warfield đã để lại một lời nhắn rùng mình, tuyệt vọng trên máy của Negley, đại ý là: Tôi vừa gặp một tai nạn, tự đâm mình, hãy quay lại cơ quan. Người bạn khác, một đồng nghiệp tên là Lisa Hensley, người vẫn chưa rời khỏi tòa nhà, trả lời cuộc gọi và nói: “Bắt đầu chà sát đi, tôi xuống ngay đây.” Warfield bắt đầu chà đôi bàn tay với Betadine, rửa với nước và nước muối, rồi chà lại một lần nữa. Trong lúc nóng vội cô làm nước bắn tung tóe ra sàn nhà. Hensley nhanh chóng tới nơi, nhập bọn với cô ở Gray Side, và bắt đầu gọi điện để cảnh báo mọi người, bao gồm cả những người ở Bộ phận Y tế chuyên xử lý tai nạn, trong khi Warfield tiếp tục chà Betadine. Sau năm hay mười phút, cảm thấy cô đã làm mọi thứ có thể với vết thương, Warfield lột bỏ bộ đồ phẫu thuật, tắm xà phòng, và thay đồ. Hensley cũng làm vậy. Nhưng khi họ cố gắng ra khỏi Gray Side, cánh cửa áp lực không mở. Khóa điện của nó không phản ứng với tấm thẻ của họ. Warfield, adrenaline sôi sục trong người, hoảng sợ, không được phép kiên nhẫn, phá cửa bằng chốt thủ công và chuông báo rộng reo khắp nơi trong tòa nhà.

Tin tức lan đủ nhanh trong viện và, cho tới lúc này, một nhóm nhỏ đã tụ tập ở hành lang. Warfield đi ngang qua ánh nhìn và những thắc mắc của họ, hướng tới Bộ phận Y tế. Ở đó cô được đưa vào một phòng nhỏ, bác sĩ khi đó đang trực, một người phụ nữ thường dân, hỏi cô về tai nạn, và được “khám thể chất,” xuyên suốt quá trình người bác sĩ không chạm vào cô. “Như thể cô ấy lo sợ tôi đã mắc Ebola,” Warfield nhớ lại.

Thời kỳ ủ bệnh của virus Ebola được tính bằng ngày, không phải giờ hay phút. Phải mất ít nhất hai ngày, và thường là hơn một tuần để virus có thể củng cố, sinh sôi dồi dào, và khiến một người biểu hiện triệu chứng hay mắc bệnh.. Nhưng vị bác sĩ thường dân dường như không biết điều đó, hay quan tâm tới. “Cô ấy hành xử như thể tôi bị hủi.” Vị bác sĩ đi tham vấn với những người khác, sau đó trưởng Bộ phận Y tế đưa Warfield vào phòng của ông, cho cô ngồi xuống, và nhẹ nhàng thông báo cho cô những bước tiếp theo. Họ muốn đưa cô vào Slammer.

Slammer tại USAMRIID là một phòng chứa, được thiết kế để chăm sóc một người bị nhiễm bất kỳ mầm bệnh nguy hiểm nào và – đồng thời – để bảo vệ chống lại sự lây lan của căn bệnh đó cho những người khác. Nó bao gồm hai phòng kiểu bệnh viện được đặt sau những cánh cửa kín áp hơn và một phòng tắm hóa chất khác. Trước đó vào ngày chúng tôi nói chuyện, sau khi đã cho tôi được phép đi tham quan USAMRIID, Warfield đã cho tôi xem qua Slammer, giải thích các tính năng của nó với một chút tự hào chua chát. Phía bên ngoài, một cửa chính rộng được dán chữ: PHÒNG CHỨA. CHỈ DÀNH CHO CÁ NHÂN ĐƯỢC ỦY QUYỀN. Đó là cửa số 537 trong hành lang mê cung của USAMRIID. Đó là cánh cửa để một bệnh nhân mới bước vào phòng và, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, bệnh nhân đó cuối cùng sẽ bước ra ngoài cũng qua cánh cửa đó. Nếu mọi thứ không suôn sẻ, bệnh nhân sẽ thoát ra trong các điều kiện khác, không đi bộ và không qua cửa 537. Tất cả các phương tiện giao thông khác của con người — dòng người chăm sóc y tế và những người bạn trung thành, can đảm — phải đi qua một cánh cửa nhỏ hơn vào phòng thay đồ, nơi hàng đống bộ đồ phẫu thuật được xếp lại và sẵn sàng trên giá, sau đó qua cửa thép điều áp vào một vòi hoa sen khóa khí. Ở phía bên kia của quầy tắm là một cánh cửa thép khác. Hai cửa thép điều áp không bao giờ mở cùng một lúc. Miễn là bệnh nhân không có dấu hiệu nhiễm bệnh, những khách được chấp thuận sẽ được phép vào Slammer với bộ đồ phẫu thuật, áo choàng, khẩu trang và găng tay. Nếu bệnh nhân được chứng minh là bị nhiễm bệnh, dãy phòng sẽ trở thành khu BSL-4 hoạt động, trong đó các bác sĩ và nhân viên y tá (giờ sẽ không có khách) phải mặc đầy đủ bộ đồ màu xanh. Trong tình huống đó, nhân viên y tế tắm kỹ lưỡng trên đường ra ngoài, bỏ lại bộ đồ phẫu thuật của họ trong một chiếc túi để hấp tiệt trùng.

Warfield đã dẫn tôi đi. Chúng tôi có thể đi qua quầy tắm trong quần áo thường vì dãy phòng chứa không có người. Khi cô ấy đóng sầm cánh cửa thép đầu tiên phía sau chúng tôi, kích hoạt điều áp, tôi nghe thấy một tiếng vút và cảm thấy sự thay đổi trong tai mình. Cô ấy nói: «Đó là lý do tại sao nó được gọi là Slammer.»

Cô bước vào căn phòng vào khoảng trưa ngày 12/2/2004, một ngày sau vụ tai nạn của cô, sau khi lập di chúc và chỉ thị trước (theo các quyết định về y tế trong trường hợp sắp qua đời) với sự giúp đỡ của một luật sư quân đội. Chồng cô đang ở Texas để tham gia khóa huấn luyện quân sự nâng cao và cô đã thông báo cho anh biết tình hình này qua điện thoại. Trên thực tế, cô đã nói chuyện điện thoại với anh ấy nhiều đêm trước, giúp cô vượt qua những giờ phút kinh hoàng và sợ hãi với sự hỗ trợ từ xa của anh ấy. Tại một thời điểm nào đó, cô nói với anh ấy: “Nếu em bị ốm, làm ơn hãy cho em nhiều morphin. Em đã nhìn thấy căn bệnh này ” – cô ấy đã thấy nó giết lũ khỉ trong phòng thí nghiệm, mặc dù chưa bao giờ là con người – “và em biết nó rất đau.” Vào cuối tuần đầu tiên, anh ấy đã có thể thu xếp bay lên từ Texas và họ đã dành Ngày lễ tình nhân trong căn phòng để nắm tay nhau qua đôi găng tay cao su của anh ấy. Không có nụ hôn nào qua khẩu trang của anh ấy.

Thời gian ủ bệnh của bệnh virus Ebola, như tôi đã đề cập, được tính là ít nhất hai ngày; nó có thể lâu hơn ba tuần. Tất nhiên, tiền sử bệnh án của mỗi cá nhân khác nhau, nhưng tại thời điểm đó, 21 ngày dường như là giới hạn. Ý kiến chuyên gia cho rằng, nếu một người đã tiếp xúc không biểu hiện bệnh trong khoảng thời gian đó, thì cô ấy sẽ không mắc bệnh. Kelly Warfield do đó đã có tuổi thọ 21 ngày trong Slammer. “Nó giống như nhà tù,” cô ấy nói với tôi.

Sau đó, cô ấy đính chính: «Nó giống như nhà tù và bạn sẽ chết.”

Một điểm khác biệt so với nhà tù là có nhiều xét nghiệm máu hơn. Mỗi buổi sáng, bạn của cô, Diane Negley, người tình cờ là một người trích máu được chứng nhận và là người hiểu đủ về Ebola để nhận thức được nguy cơ xảy ra với bản thân, gõ vào tĩnh mạch và lấy đi một ít máu của Warfield. Đổi lại, cô ấy mang theo một chiếc bánh rán và một ly latte. Chuyến thăm buổi sáng của Negley là điểm nhấn trong ngày của Warfield. Trong khoảng tuần đầu tiên, Negley lấy 50 ml máu mỗi ngày, một thể tích khá lớn (hơn ba muỗng canh) đủ để cho phép thực hiện nhiều xét nghiệm cộng thêm một chút để đưa vào kho đông lạnh. Một thử nghiệm, sử dụng kỹ thuật PCR (phản ứng chuỗi polymerase) quen thuộc với tất cả các nhà sinh học phân tử, đã tìm kiếm các phần của Ebola RNA (phân tử di truyền của virus, tương đương với DNA ở người) trong máu của cô ấy. Thử nghiệm đó, có thể rung một hồi chuông báo động lớn nhưng đôi khi lại không đáng tin cậy, dẫn đến dương tính giả, thường được thực hiện hai lần trên mỗi mẫu. Một xét nghiệm khác được kiểm tra để sàng lọc interferon, sự hiện diện của nó có thể báo hiệu một sự lây nhiễm virus nào đó. Vẫn là một thử nghiệm khác nhằm vào những thay đổi trong quá trình đông máu, để cảnh báo sớm trong trường hợp đông máu nội mạch rải rác, hiện tượng đông máu nghiêm trọng khiến máu chảy ra ở nơi không nên. Warfield khuyến khích các nhân viên y tế lấy tất cả máu họ muốn. Cô nhớ lại đã nói với họ: “Nếu tôi chết, tôi muốn các mọi người tìm hiểu mọi thứ có thể về tôi” – tất cả những gì họ có thể về bệnh virus Ebola, ý cô là vậy. “Lưu trữ mọi mẫu. Phân tích mọi thứ bạn có thể. Hãy làm ơn tìm ra được gì đó từ đây nếu tôi chết. Tôi muốn mọi người học hỏi.” Cô ấy cũng nói với gia đình rằng: Nếu điều tồi tệ nhất xảy ra, hãy để họ khám nghiệm tử thi cho tôi. Hãy để họ vớt vát tất cả thông tin có thể.

Nếu cô ấy chết, Warfield biết, cơ thể của cô ấy sẽ không ra khỏi Slammer qua cửa 537. Sau khi khám nghiệm tử thi, nó sẽ đi qua máng hấp tiệt trùng, một nồi tiệt trùng, mà những người thân yêu của cô ấy sẽ không muốn nhìn thấy trong một quan tài mở.

Tất cả các kết quả kiểm tra của cô ấy trong tuần đầu tiên đều bình thường và an tâm – với một ngoại lệ duy nhất. Thử nghiệm PCR thứ hai từ mẫu của một ngày cho kết quả dương tính. Nó nói rằng cô ấy có virus Ebola trong máu.

Nó đã sai. Kết quả tạm thời khiến Warfield lo sợ nhưng sai lầm đó đã sớm được sửa chữa bằng cách thử nghiệm thêm. Úi, không, xin lỗi. Đừng bận tâm.

Một khó khăn khác nảy sinh khi ban lãnh đạo của USAMRIID nhận ra rằng Warfield bị viêm khớp dạng thấp, các loại thuốc chữa bệnh này có thể đã ức chế hệ miễn dịch của cô ấy. “Điều đó đã trở thành cuộc tranh cãi lớn này,” cô ấy nói với tôi. Một số người trong ban lãnh đạo cao nhất của văn phòng đã tỏ ra ngạc nhiên và tức giận, mặc dù điều này đã được ghi rõ trong hồ sơ bệnh án của cô ấy. “Họ đã có tất cả những cuộc trao đổi từ xa với tất cả những chuyên gia này. Mọi người đều muốn biết tại sao một người bị suy giảm miễn dịch lại làm việc trong dãy phòng BSL-4.” Trên thực tế, không có bằng chứng nào cho thấy hệ miễn dịch của cô ấy không hoạt động tốt. Chỉ huy của USAMRIID không bao giờ đến thăm riêng để gặp cô trong Slammer, thậm chí không qua kính, nhưng anh ta đã gửi cho cô một email thông báo rằng anh ta đình chỉ quyền tiếp cận vào phòng thí nghiệm BSL-4 của cô và thu giữ thẻ của cô. Warfield nói rằng đó là một «cái tát vào mặt», thêm vào những đau khổ và lo lắng khác của cô.

Sau hơn hai tuần lấy máu liên tục và các xét nghiệm đảm bảo, Warfield bắt đầu cảm thấy tin tưởng một cách cảnh giác rằng cô sẽ không chết vì Ebola. Cô ấy yếu và mệt mỏi, tĩnh mạch của cô ấy cũng kiệt quệ, vì vậy cô ấy đã yêu cầu giảm lượng máu lấy mẫu xuống mức tối thiểu hàng ngày. Vào một buổi tối, cô ấy lại có một tâm trạng bất ổn khác khi cô ấy cởi quần áo, khi thấy những đốm đỏ trên cánh tay và tự hỏi liệu chúng có thể báo trước sự bắt đầu của triệu chứng phát ban đặc trưng của Ebola hay không. Cô đã thấy những đốm tương tự trên những con khỉ bị nhiễm bệnh trong phòng thí nghiệm.

Đêm đó cô thức trắng, ám ảnh về những đốm đỏ, nhưng hóa ra chúng chẳng là gì cả. Cô đã có Ambien để giúp cô ngủ. Cô ấy có một chiếc xe đạp cố định trong trường hợp cô ấy muốn tập thể dục. Cô ấy có TV, Internet và điện thoại. Nhiều tuần trôi qua, yếu tố đáng sợ trong tình hình của cô dần mờ đi bên dưới tin tốt lành và sự tẻ nhạt.

Cô vẫn bình tĩnh với sự giúp đỡ của mẹ cô và một vài người bạn thân (những người có thể đến thăm cô thường xuyên), chồng cô (người không thể), cha cô (người vẫn không có tên trong danh sách khách đến thăm để ông có thể chăm sóc con trai cô, trong trường hợp tất cả những người khác bị nhiễm bệnh và cách ly rồi tử vong), và một lượng nhất định của những tiếng cười lo lắng. Con trai của cô, tên là Christian, lúc đó mới ba tuổi và chưa đủ tuổi theo quy định để vào USAMRIID. Warfield cho rằng dù gì nó cũng còn quá nhỏ để có thể biết chính xác những gì đang xảy ra; cô và chồng giải thích với Christian đơn giản rằng mẹ sẽ vắng mặt trong ba tuần để làm «công việc đặc biệt.» Cô được cung cấp một liên kết video, một kiểu máy quay trong phòng Slammer, qua đó cô có thể xem và nói chuyện với những người thân yêu của mình ở bên ngoài. Xin chào, tôi là Kelly, đến từ Ebolaville, ngày hôm nay của bạn thế nào? Diane Negley, bên cạnh việc cung cấp bánh rán và cà phê buổi sáng, đã can đảm tuồn một ly bia vào mỗi tối thứ Sáu. Ban đầu, thực phẩm là một vấn đề, không có nhà ăn ở USAMRIID, cho đến khi Quân đội nhận ra rằng họ có kinh phí có thể chi để tiếp tế đồ mua về cho một bệnh nhân trong Slammer. Sau đó, Warfield được chọn vào mỗi buổi tối trong số những món ngon nhất của Frederick: đồ ăn Trung Quốc, đồ ăn Mexico, pizza. Và cô ấy có thể chia sẻ với những người bạn đến thăm mình, chẳng hạn như Negley, người sẽ ngồi ở điểm mù bên dưới camera an ninh, lật tấm che mặt lên và ăn. Những niềm an ủi có hàm lượng carb cao này đã khiến Warfield và bạn bè của cô phát minh ra một trò chơi: “Ebola khiến bạn…” và sau đó điền vào chỗ trống. Ebola khiến bạn béo lên. Ebola khiến bạn trở nên ngớ ngẩn. Ebola khiến bạn mắc bệnh tiểu đường do ăn quá nhiều kem sô cô la. Ebola khiến bạn trân trọng những niềm vui và nụ cười nho nhỏ trong khi đó.

Sáng ngày 3/3/2004, cánh cửa 537 mở ra và Kelly Warfield bước ra khỏi Slammer. Mẹ cô và Christian (được miễn trừ đặc biệt) đang ở trong phòng chờ phía dưới hành lang. Cô đưa con trai về nhà. Chiều hôm đó, cô quay trở lại USAMRIID, nơi bạn bè và đồng nghiệp của cô đã tổ chức cho cô một bữa tiệc xuất viện với đồ ăn, lời chúc và bóng bay. Vài tháng sau, sau một thời gian bị đình chỉ truy cập, một loạt các xét nghiệm về hệ miễn dịch của cô ấy, một chế độ đào tạo lại và giám sát có phần nhục nhã, và một chút đấu tranh dai dẳng, cô ấy đã giành lại được quyền vào dãy phòng BSL-4. Cô có thể quay lại cù vào đuôi của con rồng có thể đã giết cô.

Bạn đã bao giờ nghĩ đến việc không quay trở lại nghiên cứu Ebola? Tôi hỏi. “Không,” cô ấy nói.

Tại sao bạn yêu thích công việc này đến vậy?

“Tôi không biết,” cô nói và bắt đầu suy ngẫm. “Ý tôi là, tại sao lại là Ebola? Nó chỉ giết chết vài trăm người mỗi năm.” Có nghĩa là, nó không phải là một căn bệnh có tác động lớn đến toàn thế giới và, mặc dù có những viễn cảnh tồi tệ mà một số người đưa ra, nó khó có thể trở thành một căn bệnh như thế. Nhưng cô ấy có thể trích dẫn sự hấp dẫn của nó trong các thuật ngữ khoa học. Ví dụ, cô ấy quan tâm sâu sắc đến thực tế là một sinh vật đơn giản như vậy có thể gây chết người rất mạnh. Nó chỉ chứa một bộ gen nhỏ, đủ để tạo ra chỉ 10 protein, chiếm toàn bộ cấu trúc, chức năng và khả năng tự sinh sôi của nó. (Ngược lại, herpesvirus mang tính linh hoạt di truyền cao hơn gấp mười lần.) Mặc dù có bộ gen cực nhỏ, virus Ebola rất hung dữ. Nó có thể giết một người trong bảy ngày. «Làm thế nào mà một thứ nhỏ bé và đơn giản lại có thể nguy hiểm đến vậy?» Warfield đặt ra câu hỏi và tôi chờ đợi. «Điều đó thực sự hấp dẫn đối với tôi.»

Con trai cô, Christian, đã lớn thành một học sinh lớp một đẹp trai, lúc này mới đi học về. Kelly Warfield đã dành cho tôi phần lớn thời gian trong ngày của cô ấy và bây giờ chỉ còn thời gian cho một câu hỏi nữa.

Mặc dù cô ấy là một nhà sinh học phân tử, không phải là một nhà sinh thái học, nhưng tôi đã nói đến hai bí ẩn chưa được giải đáp về cuộc sống của Ebola trong tự nhiên: vật chủ chứa và cơ chế lan truyền.

Vâng, cũng rất hấp dẫn, cô ấy đồng ý. «Nó xuất hiện và giết chết một loạt người, và trước khi bạn có thể đến đó và tìm ra bất cứ điều gì, nó đã biến mất.»

Tôi nói, nó biến mất trở lại vào rừng Congo.

“Nó biến mất,” cô đồng ý. “Ừ. Nó đến từ đâu và nó đã đi đâu? ” Nhưng điều đó nằm ngoài hiểu biết của cô ấy.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.