Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2186 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

12

“Chúng ta cần phải biết nó ở đâu,” Trish Reed đã nói. Cô ấy ám chỉ hai câu hỏi chưa có lời giải đáp về virus Ebola và vị trí của nó trong không gian. Câu hỏi thứ nhất về mặt sinh thái học: Nó trốn bên trong sinh vật nào? Đó là vấn đề vật chủ. Câu hỏi thứ hai về mặt địa lý: Mức độ phân bố của nó ra sao trên khắp lục địa Phi? Câu hỏi thứ hai có lẽ không thể giải đáp cho tới khi vật chủ chứa đựng được xác định và truy dấu được phân bố của nó. Trong lúc đó, dữ liệu duy nhất phản ánh vị trí của Ebola là những điểm phát họa địa đồ của những đợt bùng phát ở người trên một tấm bản đồ.

Hãy cùng nhìn qua tấm bản đồ đó. Vào năm 1976 virus Ebola xuất hiện lần đầu tiên, như tôi đã nhắc tới, với sự kiện đột ngột ở Yambuku và thảm kịch nhỏ hơn một chút ở miền tây nam Sudan, nhưng dù vậy cũng đủ lớn để gây nên 151 ca tử vong. Đợt bùng phát ở Sudan tập trung ở một thị trấn gần biên giới Zaire, cách Yambuku 500 dặm về phía đông bắc. Nó bắt đầu giữa các nhân viên của một nhà máy sản xuất bông nơi mà những con dơi đậu trên xà nhà và những con chuột chạy thoăn thoắt trên sàn. Tỷ lệ tử vong thấp hơn ở Zaire, “chỉ” 53%, và phân tích từ phòng thí nghiệm cho thấy virus ở Sudan có cấu trúc gien đủ khác với virus ở Zaire để có thể xếp vào một chủng khác. Chủng đó sau này được biết đến, theo cách nói phân loại cẩn thận, với cái tên ebolavirus Sudan. Cái tên chung chính thức chỉ đơn giản là virus Sudan, thiếu đi sự kinh hoàng mà chữ “Ebola” mang lại nhưng dù vậy vẫn chỉ một sát thủ đáng sợ, dữ dội. Phiên bản mà Karl Johnson tìm thấy ở Yambuku, với tên gọi trước nay vẫn là virus Ebola, thuộc về chủng ebolavirus Zaire. Điều này có thể gây bối rối, nhưng tên gọi chính xác, cập nhật là cần thiết cho việc làm rõ thông tin. Sau cùng có năm loại virus được công nhận.

Năm 1977 một cô gái trẻ chết vì một cơn sốt xuất huyết ở một bệnh viện dòng tu tại một ngôi làng có tên Tandala, ở miền tây bắc Zaire. Một mẫu máu đã được lấy sau khi cô chết và gửi không đông lạnh tới CDC mang theo virus Ebola, không phải ở môi trường nuôi cấy mà chỉ sau khi tiêm virus vào chuột lang sống và thấy virus sinh sôi trong nội tạng của chúng. (Đây vẫn là thời kỳ đầu trong chiến dịch thực địa hiện đại chống virus mới xuất hiện, và phương pháp luận được mở rộng để bù đắp cho những có khăn, như việc giữ virus sống ở tình trạng đông lạnh dưới những điều kiện thực địa thô sơ ở vùng nhiệt đới.) Karl Johnson một lần nữa là thành viên của đội ngũ phòng thí nghiệm; đều này dường như là một sự mở rộng hợp lý từ công việc của ông ở đợt bùng phát đầu tiên, chỉ một năm trước đó và cách 200 dặm về phía đông. Nhưng cô bé chín tuổi, tử vong ở Tandala, là một ca bệnh biệt lập. Gia đình và bạn bè cô bé không mắc bệnh. Thậm chí không có một giả thiết về việc vì sao cô bé mắc bệnh. Trong báo cáo được công bố sau này, mà Johnson là đồng tác giả, chỉ gợi ý, khi mô tả khu vực sống của cô bé: “Tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên, với những ngôi làng nằm ở khu vực trống trải giữa rừng mưa nhiệt đới dày đặc hay dọc những con sông ở thảo nguyên.” Liệu cô bé có chạm vào một con tinh tinh đã chết, hít phải nước tiểu của động vật gặm nhấm trong một nhà kho tồi tàn, hay ấn môi vào một bông hoa có dính virus ở trong rừng?

Hai năm sau virus Sudan cũng xuất hiện trở lại, lây nhiễm một công nhân cũng ở nhà máy sản xuất bông nơi nó xuất hiện lần đầu. Người công nhân nhập viện, nơi mà anh ta lây nhiễm cho một bệnh nhân khác, và cho tới khi virus kết thúc việc lây lan trong bệnh viện, 22 người đã chết. Tỷ lệ tử vong một lần nữa ở mức cao (65%), tuy thấp hơn virus Ebola. Virus Sudan dường như không gây nguy hiểm tới tính mạng nhiều như Ebola.

Vào một thập kỷ nữa trôi qua trước khi họ filovirus xuất hiện lần nữa, ở một hình hài khác, ở một nơi không ngờ tới: Reston, Virginia.

Bạn sẽ biết về điều này nếu đã đọc qua Vùng nóng, lời thuật lại của Richard Preston về đợt bùng phát 1989 của một virus giống Ebola giữa những con khỉ châu Á bị nhốt ở một phòng thí nghiệm động vật được cách ly ở ngoại ô Reston, ngay bên kia sông Potomac từ Washington, DC.

Các chuyên gia về filovirus bộc lộ những ý kiến trái chiều về cuốn sách của Preston, nhưng không thể chối cãi rằng nó đã làm nhiều hơn bất kỳ một bài tạp chí hay câu chuyện báo chí nào trong việc khiến ebolavirus trở nên nổi tiếng và đáng sợ với công chúng. Nó cũng dẫn tới “một cơn mưa vốn,” một chuyên gia nói với tôi, cho các nhà virus học “mà trước đó không được nhận một đồng nào cho công việc của họ với những tác nhân ngoại lai này!” Nếu virus này có thể thảm sát những con linh trưởng trong lồng của chúng bên trong một tòa nhà bình thường ở khu công viên văn phòng Virginia, chẳng phải nó có thể đi bất kỳ đâu và giết bất kỳ ai hay sao?

Cơ sở trong câu hỏi này được biết đến với tên gọi Cơ quan cách ly linh trưởng Reston và do một công ty có tên Hazelton Research Products, một công ty con của Corning, sở hữu. Những con khỉ xấu số thuộc loài khỉ nhiệt đới đuôi dài (Macaca fascicularis), một loài vật được sử dụng rất nhiều trong nghiên cứu y học. Chúng được đưa đến trên một chuyến bay từ Philippines. Hẳn nhiên chúng mang theo filovirus, một kẻ đi lậu chết người, giống như virus thủy đậu đã lây lan qua thủy thủ đoàn của một con tàu. Hai con khỉ nhiệt đới đã chết khi tới nơi, vốn không phải là điều bất thường sau một chuyến đi căng thẳng như vậy; nhưng trong những tuần tiếp theo, trong tòa nhà, nhiều con khác tử vong, thì là bất thường. Sau cùng tình hình đó đã đánh hồi chuông báo động và tác nhân lây nhiễm được xác định là một ebolavirus – một loại virus Ebola, nhưng chưa được xác định rõ. Một đội từ USAMRIID vào cuộc, như một đội SWAT trong bộ đồ bảo hộ, để giết toàn bộ những con khỉ còn lại. Sau đó họ niêm phong Cơ quan cách ly linh trưởng Reston và khử trùng với khí ga formaldehyde. Bạn có thể đọc cuốn của Preston để biết rõ hơn những chi tiết lạnh lùng. Một sự lo lắng lan rộng giữa các chuyên gia bởi biến thể ebolavirus này dường như truyền từ khỉ sang khỉ qua những hạt trong không khí; một sự rò rỉ từ tòa nhà có thể dẫn đến việc phát tán nó vào bầu không khí của khu vực Washington. Liệu nó có gây tử vong ở người như ở khỉ? Một vài nhân viên của Cơ quan cách ly sau cùng đã được xét nghiệm dương tính với kháng thể nhưng – may mắn thay – những người đó không biểu hiện triệu chứng gì. Các hoạt động trong phòng thí nghiệm tiết lộ rằng virus này tương tự như virus Ebola nhưng, giống như virus Sudan, đủ khác để được phân loại vào một loài khác. Nó được biết đến với cái tên virus Reston.

Mặc cho tên gọi đó, virus Reston dường như xuất phát từ Philippines, chứ không phải khu ngoại ô Reston. Những điều tra sau đó về những nhà xuất khẩu khỉ gần Manila, trên đảo Luzon, tìm thấy một lượng đáng kể động vật chết, phần lớn đều nhiễm virus Reston, cộng thêm mười hai người có kháng thể với virus. Nhưng không ai trong số mười hai người Philippines này bị ốm. Do vậy tin tốt về virus Reston, kết luận từ lần đe dọa ở Mỹ năm 1989 và các nghiên cứu truy dấu ở Luzon, là nó dường như không gây bệnh ở người, mà chỉ ở khỉ. Tin xấu là không ai hiểu vì sao.

Ngoài virus Reston, các biến thể ebolavirus trong thế giới hoang dã vẫn là một hiện tượng châu Phi. Nhưng lần xuất hiện tiếp sau đó, vào tháng 11/1992, thêm một điểm nữa trên bản đồ châu Phi. Những con tinh tinh bắt đầu chết ở một khu bảo tồn rừng ở Bờ Biển Ngà, Tây Phi. Khu bảo tồn, Công viên quốc gia Taï, nằm gần biên giới của Bờ Biển Ngà với Liberia, bao quanh một trong những vùng rừng mưa nhiệt đới chủ yếu cuối cùng ở khu vực đó của châu Phi. Đó là nơi sinh sống của rất nhiều loại động vật khác nhau, trong đó có vài nghìn con tinh tinh.

Một cộng đồng những con tinh tinh đó đã được một nhà sinh học người Thụy Sĩ có tên Christophe Boesch theo dấu và nghiên cứu trong mười ba năm. Trong sự kiện năm 1992, Boesch và các đồng nghiệp để ý thấy sự sụt giảm đột ngột về số lượng – một vài con tinh tinh chết, những con khác thì biến mất – nhưng các nhà khoa học không phát hiện ra nguyên nhân. Sau đó, vào cuối năm 1994, thêm tám thi thể khác xuất hiện chỉ trong một thời gian ngắn, và một lần nữa những con vật khác lại mất tích.

Hai trong số những cái xác tinh tinh, mới chỉ phân hủy một phần, được mổ xẻ và khám nghiệm bởi các nhà nghiên cứu ở Taï. Một trong số đó có chứa một tác nhân giống với Ebola, tuy nó không thực sự rõ ràng ở thời điểm đó. Trong buổi giải phẫu tử thi, một nữ sinh viên thạc sĩ 34 tuổi người Thụy Sĩ, đeo găng nhưng không mặc áo choàng, không đeo khẩu trang, đã nhiễm bệnh. Nhiễm bệnh như thế nào? Không có một khoảnh khắc rõ ràng về sự tiếp xúc trực tiếp định mệnh nào, không có pha mổ trượt nào, không có kim tiêm nào đâm sai. Có lẽ cô ấy dính máu tinh tinh lên một phần da – một vết xước nhỏ? – hay bị bắn một vài giọt lên mặt. Tám ngày sau, người phụ nữ bắt đầu run rẩy.

Cô ấy uống một liều thuốc sốt rét. Không có tác dụng. Cô được chuyển đến một phòng khám ở Abidjan, thủ đô của Bờ Biển Ngà, và ở đó được điều trị sốt rét một lần nữa. Cơn sốt của cô vẫn tiếp tục. Vào ngày thứ 5 cô bắt đầu nôn mửa và tiêu chảy, cộng thêm phát ban lan khắp cơ thể. Vào ngày thứ 7 cô được chở bằng máy bay cứu thương và bay tới Thụy Sĩ. Giờ cô ấy mới đeo khẩu trang, cũng như các bác sĩ và y tế đang chăm sóc cô. Nhưng không ai biết thứ gì đã làm cô đổ bệnh. Các khả năng về sốt xuất huyết, nhiễm hantavirus, và thương hàn đều đã được xét đến, và sốt rét vẫn chưa bị loại bỏ. (Ebola không nằm trong những nguy cơ hàng đầu vì nó chưa từng được phát hiện ở Bờ Biển Ngà.) Ở Thụy Sĩ, sau khi nhập viện trong một phòng chứa áp lực âm với hai lớp cửa, cô được xét nghiệm một loạt những căn bệnh khủng khiếp, trong đó có sốt Lassa, sốt xuất huyết Crimean-Congo, sốt chikungunya, sốt vàng, bệnh virus Marburg, và giờ, đúng vật, bệnh virus Ebola. Khả năng cuối cùng trong số đó được xét nghiệm sử dụng ba khảo nghiệm, dành cho mỗi loại: virus Ebola, virus Sudan, virus Reston. Không có xét nghiệm dương tính. Những kháng thể trong các khảo nghiệm đó không nhận ra loại virus, bất kể nó là loại gì, trong máu của cô ấy.

Các thám tử phòng thí nghiệm vẫn kiên trì, thiết kế một khảo nghiệm thú tư tổng thể hơn – dành cho cả nhóm ebolavirus. Áp dụng với huyết thanh của cô, thứ đó sáng lên, một kết quả dương tính, báo hiệu sự hiện diện của kháng thể với một biến thể ebolavirus nào đó. Do đó người phụ nữ Thụy Sĩ được coi là bệnh nhân đầu tiên của căn bệnh được biết đến với tên gọi bệnh rừng Taï. Con tinh tinh mà cô ấy khám nghiệm tử thi, tế bào của nó sau đó được xét nghiệm, là nạn nhân thứ hai, được công nhận sau khi chết.

Khác với con tinh tinh, cô ấy đã sống sót. Sau một tuần, cô ấy đã xuất viện. Cô sụt 6 cân và sau đó bị rụng tóc, nhưng ngoài ra thì cô ấy ổn. Ngoài việc là ca lây nhiễm bệnh rừng Taï đầu tiên, người phụ nữ Thụy Sĩ còn một điều đặt biệt nữa: Cô ấy là người đầu tiên mang một ca lây nhiễm ebolavirus ra khỏi lục địa Phi. Không có lý do gì để cho rằng cô ấy sẽ là người cuối cùng.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.