99
Hãy gọi người thợ săn ấy bằng cái tên riêng xứng đáng: Người Thợ Săn Bị Thương. Giả sử anh ta sống ở đây trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, anh ta có thể đã bắt một con tinh tinh bằng một cái bẫy làm từ cây nho, hoặc một hình thức bẫy khác, rồi dùng giáo giết con vật. Anh ta có thể là một người Baka, sống độc lập cùng đại gia đình của mình trong rừng hoặc hoạt động như một người nông nô dưới sự “bảo vệ” của trưởng làng Bantu. Nhưng có lẽ là không phải như vậy, sau những gì tôi nghe được về tục lệ của Baka về ăn thịt vượn. Nhiều khả năng anh ta là người Bantu, có thể thuộc tộc Mpiemu hoặc Kako hoặc một trong những nhóm dân tộc khác sinh sống ở thượng lưu sông Sangha. Hoặc anh ta có thể là một Bakwele, tham gia tiến hành beka. Không có cách nào xác định được danh tính của anh ta, thậm chí cả sắc tộc của anh ta, nhưng khả năng cao là anh ta ở khu vực đông nam xa xôi từng là thuộc địa Kamerun của Đức này. Tôi tưởng tượng người đàn ông này đã hồi hộp và kinh hãi thế nào khi phát hiện một con tinh tinh bị mắc vào bẫy của mình. Anh ta đã chứng tỏ mình là một thợ săn thành công, một người kiếm ăn, một thành viên hữu ích trong cộng đồng nhỏ của mình - và tới đây anh ta vẫn chưa bị thương.Con tinh tinh cũng vậy, bị trói chân hoặc tay, sẽ khiếp sợ khi người đàn ông đến gần, nhưng cũng tức giận và mạnh mẽ và nguy hiểm. Có thể người đàn ông đã giết được nó mà không bị thương; nếu vậy, anh ta đã may mắn. Có thể đã có một cuộc chiến tồi tệ; anh ta thậm chí có thể đã bị con tinh tinh vồ lấy hoặc cắn phải. Nhưng anh ấy đã thắng. Sau đó, anh ta sẽ xẻ thịt con mồi của mình, có thể ngay tại đó (loại bỏ ruột của nó và để lại nội tạng, chẳng hạn như tim và gan, những thứ rất có giá trị) bằng một con dao rựa hoặc một con dao sắt. Tại một lúc nào đó trong quá trình này, có thể là khi anh ta đang cố gắng xuyên qua xương ức của con tinh tinh hoặc tách một cánh tay khỏi ổ xương của nó, người đàn ông đã tự làm mình bị thương.
Tôi tưởng tượng thấy anh ta rạch phải một đường dài và sắc lẹm trên mu bàn tay trái, vào thớ cơ giữa ngón cái và ngón trỏ, da anh ta ứa lên màu hồng của thịt, trước cả khi anh ta nhìn thấy vết thương hay cảm thấy nó, bởi vì lưỡi kiếm của anh ta quá sắc. Sau đó ngay lập tức vết thương chảy máu. Một vài giây sau anh bắt đầu thấy đau. Người Thợ Săn Bị Thương vẫn tiếp tục làm việc. Anh ấy đã từng bị thương trước đây, và sự khó chịu không thể làm giảm đi sự phấn khích của anh ấy đối với những gì anh ta dành được. Máu của anh ta chảy ra và hòa lẫn với máu của tinh tinh, máu của tinh tinh chảy vào và hòa với máu của anh ta, đến nỗi anh ta không thể phân biệt được đâu là đâu. Máu đã chảy tới khuỷu tay của anh. Anh ta lau tay. Máu lại rỉ ra trên vết cắt của anh, lại chảy ra từ con tinh tinh, và anh lại lau. Anh không có cách nào để biết — không có lời nói hay suy nghĩ nào khiến anh hình dung được — rằng con vật này dương tính với SIV. Ý tưởng này không tồn tại vào năm 1908.
Virus của tinh tinh đã xâm nhập vào máu của anh ta. Anh ta nhiễm một lượng virus khá lớn. Virus, nhận thấy môi trường máu của anh ta không quá khác biệt với máu của một con tinh tinh, đã tự tin hơn. Được đấy, mình có thể sống ở đây. Nó làm những gì mà một loài retrovirus sẽ làm: thâm nhập vào tế bào, phiên mã bộ gen ARN của nó thành ADN sợi kép, sau đó thâm nhập vào sâu hơn, tiến vào nhân tế bào và tự nhập vào chuỗi gen ADN của tế bào chủ. Mục tiêu chính của nó là các tế bào T của hệ thống miễn dịch. Thụ thể protein (CD4) trên bề mặt của những tế bào của Người Thợ Săn Bị Thương không khác lắm so với thụ thể tương tự (một loại CD4 khác) trên tế bào T của con tinh tinh bị giết. Virus gắn vào, xâm nhập vào tế bào người và tự làm quen với cơ thể người. Sau khi được tích hợp vào bộ gen tế bào, nó ở lại đó luôn. Đó là những gì đã diễn ra. Tế bào virus có thể sinh sôi theo hai cách: bằng cách sao chép tế bào (mỗi khi tế bào T bị nhiễm bệnh tự sao chép, bộ gen retrovirus cũng được sao chép theo) và bằng cách kích hoạt phân tử tiểu gen của nó để tạo ra các phần tử virus mới, sau đó thoát ra khỏi tế bào T và tấn công các tế bào khác.
Người Thợ Săn Bị Thương giờ đã nhiễm bệnh, mặc dù ngoài vết chém trên tay, anh ta vẫn cảm thấy ổn.
Quên Gaëtan Dugas đi. Người đàn ông này mới là Bệnh nhân số 0.
Có thể anh ta đã mang xác con tinh tinh, hoặc các bộ phận của nó, trở về làng anh ta trong niềm hân hoan — giống như các chàng trai của Mayibout 2 sau này mang xác tinh tinh chứa đầy Ebola về làng của họ. Có lẽ, nếu anh ta là người Baka, anh ta đã giao toàn bộ cho lãnh chúa Bantu của mình. Dù sao thì anh ấy cũng không muốn ăn. Nếu anh ta chính là Bantu, gia đình và bạn bè của anh sẽ ăn mừng. Hoặc có thể con tinh tinh là một vận may mang lại nhiều lợi nhuận đặc biệt cho anh ta. Nếu đây là một mùa săn bắn bội thu, giết được nhiều linh dương hoặc khỉ, nhiều trái cây rừng và củ để ăn, một vụ mùa khoai mì tốt tươi, gia đình anh ta không chết đói, anh ta có thể đã lôi con tinh tinh của mình đến một khu chợ, như chợ ở Moloundou, và đổi lấy tiền mặt hoặc một số vật phẩm có giá trị, chẳng hạn như một con dao rựa tốt hơn. Trong trường hợp đó, thịt sẽ được chia lẻ nhiều phần và nhiều người có thể đã ăn những phần đó, bằng cách nướng hoặc hun khói hoặc sấy khô. Nhưng do cách thức lây truyền của virus (qua đường máu hoặc đường tình dục, không qua đường tiêu hóa), rất có thể không ai trong những người đó nhiễm virus, trừ khi họ tiếp xúc với thịt sống qua vết cắt hở trên tay hoặc vết loét ở miệng. Một người có thể nuốt nhiều phân tử HIV-1 nhưng nếu những vi khuẩn đó gặp axit dạ dày trước chứ không phải máu, chúng có thể sẽ không sống và nhân lên được. Giả sử mười lăm người khác nhau đã ăn thịt tinh tinh và tất cả bọn họ đều ổn. Âm tính với HIV. Quả là may mắn. Giả sử chỉ có Người Thợ Săn Bị Thương trực tiếp nhiễm bệnh từ tinh tinh.
Thời gian trôi qua. Virus đã tồn tại và nhân lên trong anh ta. Khả năng lây bệnh của anh ta tăng cao trong sáu tháng đầu, vô số phần tử virus nhân rộng trong máu anh ta; sau đó tải lượng virus trong máu giảm một chút do cơ thể anh ta xảy ra phản ứng miễn dịch sớm khiến chúng chững lại một khoảng thời gian. Anh ta không cảm thấy thay đổi gì. Anh ta truyền virus cho vợ mình, và cho cả một trong bốn người phụ nữ khác mà anh ta có quan hệ tình dục. Anh ta không thấy có sự suy giảm miễn dịch nào – chưa thấy. Anh ta là một anh chàng cường tráng, năng động, tiếp tục đi săn trong rừng. Anh ấy là cha của một đứa con. Anh uống rượu cọ và cười đùa với bạn bè. Và sau đó một năm, giả sử, anh ta chết một cách dữ dội trong một cuộc săn voi, một hoạt động thậm chí còn nguy hiểm hơn cả việc giết thịt tinh tinh. Anh ta đi cùng nhóm bảy người đàn ông, tất cả đều được trang bị giáo, và con voi bị thương đã chọn anh ta để tấn công. Anh ta bị cái ngà đâm vào bụng, bị đè xuống đất trong chốc lát. Bạn có thể nhìn thấy lỗ trên mặt đất, như thể một chiếc cọc đẫm máu đã được cắm xuống đó rồi lại rút ra. Trong số những người đàn ông đã nhấc anh ta lên, những người phụ nữ đã lo việc chôn cất cho anh ta, không ai có vết cắt hở, vì vậy họ không nhiễm bệnh. Con trai của anh âm tính với HIV khi sinh ra.
Người vợ góa của Người Thợ Săn Bị Thương gặp gỡ một người đàn ông mới. Người đàn ông đó đã cắt bao quy đầu, không bị lở loét ở bộ phận sinh dục và thật may mắn; anh ấy không bị nhiễm bệnh. Người phụ nữ mà Người Thợ Săn Bị Thương đã lây bệnh có một vài bạn tình khác. Cô ấy lây cho một trong số họ. Người này là một tù trưởng ở địa phương, có hai vợ và thỉnh thoảng quan hệ với những bé gái trẻ trong làng; anh ta đã lây cho cả hai người vợ và một trong những bé gái đó. Những người vợ của tù trưởng vẫn một lòng với anh ta (do hoàn cảnh chứ không phải do họ lựa chọn), không lây nhiễm cho ai. Cô gái bị nhiễm bệnh lấy chồng. Và cứ tiếp tục như vậy. Bạn hiểu rồi đấy. Mặc dù việc lây qua đường tình dục của virus xảy ra kém hiệu quả hơn từ nữ sang nam và không phải mọi trường hợp từ nam sang nữ đều hiệu quả, nhưng nó cũng hiệu quả vừa đủ. Sau vài năm, một nhóm người đã mắc virus. Và sau đó tiếp tục có thêm người mắc, nhưng không nhiều. Đời sống xã hội bị hạn chế bởi quy mô dân số nhỏ, không có nhiều cơ hội tiếp xúc và cả vấn đề đạo đức ở một mức độ nào đó.
Virus sống sót với chỉ số R0 chỉ trên 1,0 một chút. Nó lây truyền sang làng thứ hai, thông qua tương tác giữa những người làng xóm, rồi đến làng thứ ba, nhưng quá trình lây lan không hề nhanh ở bất kỳ đâu. Không ai nhận thấy một làn sóng không thể giải thích được của những cái chết đang dâng lên. Nó âm ỉ như bất kì loại bệnh truyền nhiễm nào với tỷ lệ lưu hành thấp ở khu vực dân cư ở vùng địa hình nhỏ hẹp, nằm giữa sông Ngoko và thượng lưu sông Sangha, nơi cuộc sống thường ngắn ngủi và khó khăn. Người ta chết trẻ do không may và do đau khổ. Nếu một thanh niên, dương tính với HIV, bị giết trong một trận đánh nhau, không ai biết gì về tình trạng máu của anh ta ngoại trừ việc nó đã rơi khắp nơi. Nếu một phụ nữ trẻ, dương tính với HIV, chết vì bệnh đậu mùa trong một đợt bùng phát ở địa phương, thì cô ấy cũng không để lại một câu chuyện lạ kì nào.
Trong một số trường hợp, trong những năm đầu tiên đó, một người bị nhiễm bệnh có thể đã sống đủ lâu đến lúc bị suy giảm miễn dịch. Khi đó có rất nhiều loại bọ trong rừng, trong làng, sẵn sàng giết anh ta hoặc cô ta. Điều đó cũng không phải cái gì đáng chú ý. Người chết vì sốt rét. Người chết vì bệnh lao. Người chết vì viêm phổi. Người chết vì cơn sốt không tên. Đó là một thói quen. Một số người trong số đó có thể đã khỏi bệnh, hệ thống miễn dịch của họ có khả năng đã hoạt động, nhưng không ai cảm thấy một căn bệnh mới. Hoặc nếu có ai cảm thấy, thì báo cáo về chuyện này cũng không tồn tại được lâu. Chuyện này dường như không tồn tại.
Trong khi đó, bản thân virus có thể đã thích nghi, ít nhất là một chút, với vật chủ của nó. Nó thường xuyên đột biến. Chọn lọc tự nhiên đã hoạt động. Do khả năng tái tạo của virus trong tế bào của con người tăng nhẹ, dẫn đến tăng nồng độ virus trong máu, thì khả năng lây truyền của nó có thể cũng tăng lên. Bây giờ chúng ta có thể gọi nó là HIV-1 nhóm M. Một mầm bệnh truyền nhiễm ở người, hiếm gặp, đặc biệt, giới hạn ở đông nam Cameroon. Có lẽ một thập kỷ nữa lại trôi qua. Vấn đề vẫn ở đấy. Sự lây lan của SIVcpz đến người gần như chắc chắn đã xảy ra trong quá khứ (rất nhiều tinh tinh bị giết thịt, nhiều thợ săn bị thương) và dẫn đến các chuỗi lây nhiễm trước đó, nhưng những chuỗi đó đã trở nên khu trú và ngắn lại. Sự bùng phát âm ỉ thường sẽ dần đi đến hồi kết. Lần này thì không. Trước khi chuỗi đó kết thúc, một nhân vật khác xuất hiện — cũng chỉ là giả thuyết nhưng phù hợp với sự thật — người mà tôi sẽ gọi là Người Du Hành.
Người Du Hành không phải là một thợ săn. Cũng không phải là một chuyên gia hay một người chăm chỉ. Anh ấy có những kỹ năng khác. Theo tưởng tượng của tôi, anh ấy là một ngư dân. Anh ta không sống trong rừng như ở Mambele mà ở sống ở một làng chài dọc sông Ngoko. Tôi hình dung anh ấy là một cậu bé sống ở vùng sông nước từ thời thơ ấu, biết về dòng nước, biết về những chiếc thuyền. Anh ấy sở hữu một chiếc thuyền tốt, chắc chắn và dài, do chính tay anh ta đã dành nhiều ngày để làm từ một khúc gỗ gụ. Anh ta là một thanh niên không vợ, không con, và chỉ thích phiêu lưu. Anh đã rời xa cộng đồng quê hương của mình ngay từ khi còn nhỏ, trở thành một kẻ cô độc, vì cha anh qua đời và làng xóm khinh thường mẹ anh, nghi ngờ bà có ma thuật mới gây ra những điều xui xẻo và hận thù như vậy. Anh ấy coi đây là một vết nhơ; anh ta khinh thường ngược lại dân làng, mặc kệ họ và đi con đường riêng của mình. Anh ta thích ở một mình. Anh ta không phải là một người dân Bakwele trung thành. Anh ấy chưa từng cắt bao quy đầu.
Người Du Hành ăn cá. Thực tế, anh ta ít ăn thứ gì khác, ngoài cá và chuối — và đôi khi là khoai mì, thứ mà anh ta không tự trồng hay chế biến nhưng lại dễ dàng trao đổi được bằng cá. Anh thích hương vị và ý tưởng về cá, và luôn kiếm được đủ cá để ăn. Anh biết tìm cá ở đâu, bắt chúng như thế nào, các loại cá và tên gọi đa dạng của chúng. Anh uống nước từ sông. Thế là đủ. Anh ấy không làm rượu cọ hay mua nó. Anh sống khép kín trong thế giới nhỏ bé của mình.
Anh ấy mang cá cho mẹ và hai đứa con nhỏ của bà, quả là một người con trung thành dù xa lánh hàng xóm. Mẹ anh vẫn sống ở rìa ngôi làng cũ.
Với số cá bắt thừa, anh ta phơi khô trên giá, hoặc hun khói trên lửa trong mùa ẩm ướt, tại cái lều đơn độc ven sông của anh ta. Thỉnh thoảng anh làm một chuyến đi, chèo hàng dặm xuôi dòng hoặc ngược dòng, chở chiếc ghe cá tới chợ của những ngôi làng. Bằng cách này, anh ta được trải nghiệm cảm giác quyền lực khi trao đổi được tiền. Các loại tiền tệ thịnh hành là các thanh đồng thau, hoặc vỏ ốc, đôi khi có cả tiền của Đức. Anh ta mua một vài cái móc bằng thép và một cuộn dây của công ty sản xuất, vận chuyển từ Marseille tới. Cuộn dây thật đáng thất vọng. Mấy cái móc thì tuyệt vời. Khi anh ta trôi xa đến đoạn hạ lưu nơi hợp với sông Sangha, một con sông lớn, mạnh mẽ, rộng gấp đôi sông Ngoko, anh ta thả trôi theo dòng chảy của nó trong một ngày - một trải nghiệm kinh hoàng và đáng sợ. Ở phía hữu ngạn, anh nhìn thấy một thị trấn, mà anh biết đó là Ouesso, rộng lớn và khét tiếng; anh ta tránh không tới gần, trôi ở giữa sông cho đến khi anh đi qua nó. Vào cuối ngày, anh ấy dừng lại và ngủ ở bờ sông; ngày hôm sau anh ta đi ngược lại, sau khi đã trải nghiệm đủ. Anh ta đã mất bốn ngày vất vả cố gắng chèo thuyền trở lại, trôi sát bờ sông (trừ khi đi qua Ouesso), vượt qua các dòng xoáy, cuối cùng Người Du Hành cũng trở về, cảm thấy nhẹ nhõm khi anh ta về với thế giới của riêng mình, dòng sông Ngoko nhỏ bé, và cảm thấy tự tin hơn khi đặt chân vào lều của mình. Câu chuyện này có thể đã xảy ra, giả sử, vào mùa khô năm 1916.
Trong một lần khác, anh chèo thuyền ngược dòng đến tận Ngbala, một sông thị trấn ở vài dặm phía trên Moloundou. Khi trở về từ cuộc hành trình đó, theo như tôi nghĩ, anh ta đã dừng lại ở Moloundou và tại đó, trong chiếc thuyền của mình, nơi nó neo lại qua đêm trong một vịnh nhỏ râm mát ngay dưới thị trấn, anh ta quan hệ tình dục với một người phụ nữ.
Cô ấy không phải là người đầu tiên của anh nhưng cô ấy khác với những cô gái làng. Bản thân cô cũng là một người buôn bán trên sông, một người chuyên mua đi bán lại, hơn anh vài tuổi và có nhiều kinh nghiệm hơn đáng kể. Cô đi ngược xuôi khắp Ngoko và Sangha, kiếm sống bằng trí thông minh, hàng hóa, và đôi khi là cơ thể của mình. Người Du Hành không biết tên của cô ấy. Chưa bao giờ biết. Cô ấy thân thiện và quyến rũ, cũng khá xinh đẹp. Anh ấy không nghĩ nhiều về sự xinh đẹp. Cô ấy mặc một chiếc váy in hoa sáng màu, loại sản xuất công nghiệp, không phải loại vải thô của địa phương. Cô ấy hẳn đã thích anh ta, hoặc ít nhất là thích màn trình diễn của anh ta, bởi vì cô ấy đã trở lại thuyền vào đêm hôm sau và họ lại kết đôi, ba lần. Cô ấy có vẻ khỏe mạnh; cô cười đùa vui vẻ và cô ấy mạnh mẽ. Anh tự cho mình là người may mắn vào đêm hôm đó - may mắn được gặp cô ấy, đã gây ấn tượng với cô ấy, không phải trả bất cứ cái gì như những người đàn ông khác phải trả. Nhưng anh ấy không gặp may. Anh ta có một vết thương hở nhỏ trên dương vật, không to hơn một vết xước, do anh ta bị một cái gai cây nho cào phải khi bước lên bờ sông sau khi tắm. Không ai có thể biết, ngay cả trong kịch bản tưởng tượng này, liệu việc không cắt bao quy đầu có phải là yếu tố quyết định đến khả năng nhiễm bệnh của anh ta, hay là do vết xước nhỏ, hay không phải do cả hai. Anh ta đưa cho người phụ nữ một ít cá hun khói. Cô ta đưa cho anh virus.
Đó không phải là hành động ác ý hay thiếu trách nhiệm từ phía cô ấy. Ngoài vùng nách sưng tấy và đau nhức, cô ấy không hề biết rằng mình đang mang virus.