Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9
Sự tráng lệ của Versailles

❊ ❊ ❊

Tôi lặng lẽ đóng cánh cửa phòng khách nhỏ và đứng im trong chốc lát, thu thập can đảm. Tôi cố thử hít một hơi thật sâu để làm mình tỉnh táo hơn nhưng chiếc coóc xê khung xương cá voi bó siết khiến cho khí nhả ra nghe như một tiếng thở gấp vì bị bóp cổ. Jamie, bị chôn vùi trong một chồng đơn hàng, liếc mắt lên khi nghe thấy âm thanh tôi phát ra và như đông cứng lại, mắt mở lớn. Miệng anh há to nhưng chẳng thốt ra được tiếng nào.

“Anh thấy thích nó không?” Vén tà váy một cách thận trọng, tôi tiến vào phòng, đung đưa nhẹ nhàng như cô thợ may đã hướng dẫn, để khoe lớp lót mỏng bằng lụa xếp nếp trên chiếc váy ngoài.

Jamie ngậm miệng lại và chớp mắt vài lần.

“Nó… à… màu đỏ, đúng không?” Anh nhận xét.

“Hơi hơi.” Sang-du-Christ, chính xác là thế. Máu của Chúa, màu thời trang của mùa này, hoặc như tôi được cho biết thế.

“Không phải mọi phụ nữ đều có thể mặc nó đâu, thưa bà,” cô thợ may tuyên bố, phát âm không rõ lắm bởi miệng ngậm đầy ghim. “Nhưng bà thì rất hợp, với làn da đó! Chúa Mẫu ơi, đàn ông sẽ quỳ rạp dưới váy bà cả đêm!”

“Nếu có kẻ cố thử làm thế, tôi sẽ giẫm lên ngón tay anh ta mất,” tôi nói. Cái đó, rốt cuộc, không phải là hiệu quả mà tôi chủ định nhắm tới. Nhưng tôi lại đang ám chỉ rõ ràng bằng thị giác như thế này. Jamie đã thúc giục tôi làm điều gì đó để khiến mình nổi bật trong đám đông. Bất kể sương mù sáng sớm, Đức vua rõ ràng đã nhớ đến anh kể từ lần anh xuất hiện tại buổi lễ thức dậy kia, và chúng tôi đã được mời tới dự một buổi vũ hội ở Versailles.

“Anh sẽ cần sự lắng nghe của cánh đàn ông cùng với tiền bạc của họ,” Jamie nói, lên kế hoạch với tôi từ sớm. “Và vì anh không có cả địa vị lẫn quyền lực nên sẽ phải xoay xở bằng cách khiến họ tìm kiếm sự bầu bạn của anh.” Anh thở dài nặng nề, nhìn tôi, rõ ràng không hề quyến rũ trong chiếc váy ngủ bằng len.

“Và anh e là ở Paris thì chúng ta sẽ phải ra ngoài xã giao đôi chút; hiện diện trong triều, nếu có thể được. Bọn họ sẽ biết anh là người Scot; lẽ tự nhiên công chúng sẽ hỏi anh về Hoàng tử Charles và liệu Scotland có phải đang chờ đợi sự trở về của dòng họ Stuart không. Khi đó, anh có thể dè dặt cam đoan với họ rằng hầu hết người Scot sẽ chịu trả một cái giá hời để không cho nhà Stuart trở lại lần nữa - mặc dù nói vậy có trái với mong muốn đôi chút.”

“Đúng thế, anh nên dè dặt thận trọng,” tôi tán thành. “Nếu không, Hoàng tử Xinh đẹp có thể sẽ thả chó xua anh vào lần ghé thăm tới đấy.” Căn cứ theo kế hoạch của anh để theo kịp các hoạt động của Charles, Jamie vẫn đang đều đặn thực hiện bổn phận ghé thăm ngôi nhà nhỏ ở Montmartre hằng tuần.

Jamie thoáng mỉm cười. “Được. Miễn là Điện hạ và những người ủng hộ phái Jacobite được người ta quan tâm, anh là một người ủng hộ trung thành của nhà Stuart mà. Và chừng nào Charles Stuart còn chưa được đón nhận tại hoàng cung thì anh còn nói vậy, vì cơ hội cậu ta phát hiện ra những gì anh nói không nhiều. Những người theo phái Jacobite ở Paris bo bo giữ mình, như là một nguyên tắc vậy. Vì điều đó, nên họ không có tiền bạc để xuất hiện ở nơi giao tế thời thượng. Nhưng chúng ta thì có, điều đó phải cám ơn Jared.”

Jared đã bày tỏ sự đồng tình - vì những lý do hoàn toàn khác - với đề xuất của Jamie rằng chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi giải trí - kinh doanh thường lệ của Jared, để thế giới quý tộc Pháp và những người đứng đầu các gia tộc kinh doanh ngân hàng giàu có có thể thường xuyên lui tới cửa nhà chúng tôi, ở đó, họ sẽ bị cám dỗ và lừa gạt bởi rượu Rhenish, những cuộc chuyện trò thú vị, những trò giải trí vui vẻ và một lượng lớn rượu whisky Scotch hảo hạng mà Murtagh đã dành hai tuần lễ băng qua eo biển Anh và đi đường bộ để đưa tới hầm rượu của chúng tôi.

“Họ bị lôi kéo bởi những trò giải trí, em biết đấy,” Jamie đã nói vậy, phác thảo ra những kế hoạch trên mặt sau của một bài thơ viết trên giấy khổ lớn miêu tả cuộc tằng tịu giữa Bá tước de Sévigny và vợ của ngài Bộ trưởng Nông nghiệp. “Tất cả quý tộc đều quan tâm tới vẻ bề ngoài. Bởi vậy, để bắt đầu, chúng ta phải mời chào họ bằng thứ gì đó trông thú vị.”

Căn cứ từ vẻ mặt sửng sốt của anh lúc này, tôi hẳn đã có được một sự khởi đầu tốt đẹp. Tôi đi hơi khệnh khạng một chút, khiến cho phần chân váy to đùng đung đưa như một chiếc chuông.

“Không tồi, đúng không?” Tôi hỏi. “Rất bắt mắt, trong bất cứ trường hợp nào.”

Cuối cùng anh cũng tìm lại được giọng nói của mình.

“Bắt mắt ư?” Anh rền rĩ thốt lên. “Bắt mắt ư? Chúa ơi, anh có thể nhìn thấy từng centimet trên người em, xuống tới tận cái xương sườn thứ ba đấy!”

Tôi ngó xuống phía dưới.

“Không thể nào. Dưới lớp đăng ten không phải là người em mà là một lớp vải lót bằng xa tanh trắng.”

“Được rồi, trông có vẻ giống em!” Anh đến gần hơn, cúi xuống xem xét kĩ phần thân áo chẽn bó sát của chiếc váy. Anh ngó vào cái rãnh xẻ sâu của tôi.

“Chúa ơi, anh có thể nhìn xuống tới tận rốn em! Chắc chắn em không định mặc thế này để đi ra nơi công cộng chứ!”

Tôi nổi giận trước câu nói này. Tự bản thân tôi vốn đang cảm thấy bồn chồn lo lắng vì sự hở hang của chiếc váy, mặc dù còn có các mẫu thiết kế thời thượng khác mà cô thợ may đã cho tôi xem. Nhưng phản ứng của Jamie khiến tôi cảm thấy muốn phòng bị và theo đó mà có ý chống đối.

“Anh đã nói với em là cần bắt mắt,” tôi nhắc anh nhớ. “Và đây tuyệt đối không là gì so với những mẫu thời trang mới nhất trong triều. Tin em đi, em sẽ là hiện thân của sự e lệ nếu đem so sánh với bà de Pérignon và Nữ bá tước de Rouen.” Tôi chống nạnh và lạnh lùng dò xét anh. “Hay là anh muốn em xuất hiện tại lâu đài trong bộ váy nhung màu xanh lá cây?”

Jamie ngoảnh mặt đi trước cái khe ngực của tôi và mím chặt môi.

“Hừm,” anh làu bàu trong miệng, trông giống dân Scot hết mức.

Cố gắng hòa giải, tôi tiến đến gần hơn và đặt bàn tay lên cánh tay anh.

“Thôi nào,” tôi nói. “Anh đã vào cung điện rồi đấy; chắc chắn anh biết các quý bà ăn mặc ra sao. Anh biết cái váy này cũng không khủng khiếp quá mức nếu xét trên các tiêu chuẩn đó còn gì.”

Anh liếc xuống nhìn tôi và mỉm cười, gương mặt có phần ngượng ngùng.

“Phải,” anh nói. “Phải, quả thật là thế. Chỉ là… à, em là vợ anh, Sassenach ạ! Anh không muốn những gã đàn ông khác nhìn em theo cái cách mà anh nhìn các quý bà đó.”

Tôi cười vang và vòng tay qua cổ, kéo anh xuống hôn tôi. Anh ôm lấy eo tôi, hai ngón tay cái vô thức vuốt ve lớp lụa đỏ mềm mại bao bọc bên ngoài thân hình tôi. Bàn tay anh hướng dần lên phía trên, trượt qua nếp vải trơn trượt hướng tới phần gáy trần trụi. Bàn tay còn lại nắm lấy bầu ngực tròn trịa mềm mại của tôi đã bị chiếc coóc xê đẩy vun cao lên hết mức, phóng khoáng một cách khêu gợi bên dưới lớp vải lụa che phủ duy nhất. Cuối cùng, anh cũng thả tay ra và đứng thẳng lên, lắc lắc đầu vẻ nghi ngại.

“Anh cho là em sẽ phải mặc nó, Sassenach ạ, nhưng vì Chúa, hãy cẩn thận nhé!”

“Cẩn thận? Về cái gì?”

Miệng anh nhếch lên trong một nụ cười thiểu não.

“Chúa ơi, đúng là đàn bà, em không ý thức được là mình trông như thế nào trong bộ váy đó ư? Nó làm anh muốn phạm tội cưỡng bức ngay tại chỗ. Và mấy cái khung lồng chết tiệt này chẳng thể kiềm giữ anh được đâu.” Anh hơi cau mày. “Em không thể… phủ cái đó lên trên à?” Anh vẫy bàn tay to về phía phần ngực áo đăng ten của mình, được siết chặt bằng một chiếc ghim cài áo ruby. “Một… diềm đăng ten hay thứ gì đó đại loại thế. Một chiếc khăn tay chẳng hạn.”

“Đàn ông,” tôi thốt lên, “chẳng có tí tẹo nhận thức nào về thời trang cả. Nhưng đừng lo! Cô thợ may nói chiếc quạt là để làm công việc đó.” Tôi mở cây quạt đăng ten ra bằng một động tác mà tôi đã phải mất mười lăm phút mới thực hành hoàn hảo được và phe phẩy quyến rũ phía trên bộ ngực của mình.

Jamie chớp chớp mắt ngẩn ngơ trước màn trình diễn này, rồi quay sang lấy chiếc áo choàng không tay của tôi từ trong tủ áo.

“Xin ban cho anh một ân huệ, Sassenach,” anh nói, khoác chiếc áo nhung nặng nề lên vai tôi. “Hãy lấy một cây quạt lớn hơn.”

•••

Xét trên phương diện hấp dẫn sự chú ý, chiếc váy này quả là không đủ thành công. Xét trên phương diện tác động hiệu quả đến huyết áp của Jamie, nó có phần còn thiếu chắc chắn hơn.

Anh nắm hờ khuỷu tay tôi một cách che chở, hung tợn trừng mắt với bất cứ giống đực nào liếc nhìn về phía tôi, cho tới khi Annalise de Marillac phát hiện ra chúng tôi từ phía bên kia phòng, thướt tha tiến về phía chúng tôi, nét mặt thanh tú của cô ta ôm ấp một nụ cười niềm nở chào đón. Tôi cảm thấy nụ cười đó cũng đang đóng băng trên gương mặt mình. Annalise de Marillac là một “người quen” - anh đã nói thế - của người quen của Jamie, từ hồi anh cư trú ở Paris những ngày trước. Cô ta cũng xinh đẹp, quyến rũ và nhỏ bé, thanh tú.

“Mon petit sauvage![1]” Cô ta chào đón Jamie. “Có một người anh nhất định phải gặp. Thật ra là vài người.” Cô ta nghiêng nghiêng mái đầu như một con búp bê Trung Hoa hướng về phía một nhóm đàn ông tụ tập quanh một bàn cờ ở góc phòng, đang nhiệt tình tranh cãi về điều gì đó. Tôi nhận ra Công tước d’Orléans và Gérard Gobelm, một chủ ngân hàng xuất chúng. Vậy là một nhóm người có sức ảnh hưởng.

“Đến và chơi cờ với họ đi,” Annalise thúc giục, đặt một bàn tay nuột nà lên cánh tay Jamie. “Đây sẽ là một nơi rất tốt để lát nữa Bệ hạ gặp anh.”

Đức vua được chờ đợi sẽ xuất hiện sau bữa tối, chừng một hoặc hai giờ nữa. Trong khi đó, khách khứa lang thang chỗ này chỗ kia, trò chuyện, thưởng thức các bức tranh trên tường, tán tỉnh nhau đằng sau những chiếc quạt, tiêu thụ đồ ăn thức uống và rượu vang, bí mật biến mất vào trong những hốc tường nhỏ bé kỳ quặc có màn rủ che kín. Những chỗ đó rõ ràng là vừa khít với những tấm ván tường của các căn phòng, cho nên bạn khó mà phát hiện ra bọn họ, trừ phi bạn ở đủ gần để nghe thấy âm thanh từ bên trong.

Jamie còn do dự, Annalise lại kéo mạnh hơn.

“Đến đi,” cô ta thúc. “Không có gì phải lo sợ cho phu nhân của anh cả” - cô ta ném một cái liếc nhìn tán thưởng về phía chiếc váy của tôi - “cô ấy sẽ không đơn độc một mình đâu.”

“Đó chính là điều tôi sợ đấy,” Jamie lầm bầm trong miệng. “Được rồi, thế thì chỉ một lát thôi.” Anh giải thoát bản thân khỏi cái nắm siết của Annalise trong giây lát và cúi xuống thì thầm vào tai tôi:

“Nếu anh tìm thấy em trong một cái hốc tường nào đó, Sassenach, thì người đàn ông ở cùng em sẽ chết đấy. Còn về phần em...” Hai bàn tay anh vô thức nhích về phía cái đai đeo kiếm.

“Ồ không, anh không làm vậy đâu,” tôi nói. “Anh đã thề trên lưỡi dao găm của mình là không bao giờ đánh em nữa. Thanh sắt Thiêng có giá trị ra sao, hử?”

Một nụ cười bất đắc dĩ nở rộng trên môi anh.

“Không, anh sẽ không đánh em, dù anh rất thích điều đó.”

“Tốt. Vậy anh định làm gì nào?” Tôi khiêu khích hỏi.

“Anh sẽ nghĩ đến thứ gì đó,” anh đáp với một sự dứt khoát chắc chắn không lay chuyển. “Anh chưa nghĩ ra là gì, nhưng em sẽ không thích nó đâu.”

Và với một cái trừng mắt cuối cùng nhìn quanh, kèm theo cái ghì siết vai tôi đầy tính chiếm hữu, anh để Annalise dẫn mình đi, giống như một chiếc thuyền bất đắc dĩ bị sự dẫn đường nhiệt tình kéo giật đi.

Annalise đã đúng. Không còn bị cản trở bởi sự hiện diện cau có của Jamie, các quý ông trong cung điện ồ ạt tấn công tôi như một bầy vẹt xúm vào một quả chanh leo chín.

Bàn tay tôi được hôn đi hôn lại và cầm nắm một cách quyến luyến, hàng tá những lời tán dương hoa mỹ được dành cho tôi, những cốc rượu cay nồng được mang tới cho tôi liên miên không dứt. Sau khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ, hai chân tôi bắt đầu đau. Cả cơ mặt tôi cũng thế vì phải mỉm cười mãi. Và bàn tay tôi mỏi nhừ vì phải cầm quạt.

Tôi phải thừa nhận mình có phần biết ơn Jamie vì sự thiếu khoan nhượng của anh liên quan đến chiếc quạt. Cúi đầu trước sự nhạy cảm của anh, tôi đã mang theo chiếc quạt lớn nhất mình có, một chiếc có nan dài và to khác thường được sơn vẽ hình những con hươu Scotland đang nhảy xuyên qua đám cây thạch nam. Jamie đã chê bai tính nghệ thuật nhưng phê chuẩn kích cỡ của nó. Hòa nhã quạt đi sự chú ý của một chàng thanh niên nồng nhiệt trong bộ đồ màu đỏ tía, tôi kín đáo xòe rộng nó bên dưới cằm mình để phủi đi các mảnh vụn bánh do đã gặm một miếng bánh mỳ với cá hồi.

Và không chỉ có vụn bánh mỳ thôi đâu. Trong khi Jamie, từ ưu thế chiều cao hơn tôi tới ba mươi phân, đã tuyên bố là có thể trông thấy được cả rốn của tôi, thì cái rốn ấy lại hết sức an toàn trước sự săm soi kĩ càng của các cận thần nước Pháp, vì hầu hết bọn họ đều lùn hơn tôi. Mặt khác…

Tôi thường thích rúc vào ngực Jamie, mũi tôi vừa vặn một cách thoải mái trong cái hõm nhỏ bé ở ngực anh. Một vài linh hồn thấp bé và liều lĩnh trong số những kẻ ngưỡng mộ tôi dường như cũng đang cúi xuống thưởng thức một trải nghiệm tương tự, nên tôi liên tục bận rộn, quạt phành phạch cây quạt của mình mạnh đến nỗi thổi bay những lọn tóc xoăn ra khỏi mặt họ, hoặc nếu điều đó chưa đủ để làm bọn họ nhụt chí, tôi liền sập cây quạt lại và tao nhã gõ nhẹ lên cái đầu của họ.

Thật là một cảm giác nhẹ nhõm vô cùng khi nghe thấy tiếng người hầu ở cửa đột nhiên cao giọng hô: “Sa Majesté, Le Roi Louis![2]”

Trong khi Đức vua có lẽ thức dậy[3] vào lúc bình minh thì rõ ràng ông ta “trổ hoa” vào buổi tối. Không cao hơn mấy so với chiều cao gần một mét bảy của tôi, Louis bước vào với dáng đi của một người đàn ông cao lớn, liếc nhìn trái phải, gật đầu hòa nhã với các thần tử đang cúi chào mình.

Lúc này đây, tôi nghĩ, nhìn lướt qua ông ta, quả là một món hời so với tưởng tượng của tôi, nếu xét về dáng vẻ mà một ông vua đáng ra nên có. Không đặc biệt đẹp trai, ông ta lại hành động như thể mình rất đẹp; ấn tượng nổi bật đó không chỉ bởi sự giàu có phô ra trên bộ trang phục của ông ta mà còn bởi thái độ của mọi người xung quanh. Ông ta đội bộ tóc giả hơi ngửa ra sau, chiếc áo khoác được cắt may bằng vải nhung, thêu hàng trăm con bướm phù phiếm bằng lụa. Nó được cắt đi phần giữa để khoe ra một cái áo gi lê bằng lụa màu kem gợi cảm với hàng khuy kim cương, đồng bộ với cái khóa lớn hình con bướm trên đôi giày của ông ta.

Đôi mắt hùm hụp màu đen liên tục quét qua khắp đám đông và cái mũi kiêu kỳ của dòng họ Bourbon hếch lên như thể đang đánh hơi bất kỳ thứ gì hay ho, thú vị.

Trong bộ trang phục váy dạ và áo choàng len, nhưng đi kèm một chiếc áo khoác và gi lê bằng lụa màu vàng, cùng với mái tóc như ngọn lửa buông xõa xuống bờ vai, một sợi dây tết nhỏ buông xuống một bên theo đúng mốt của người Scot cổ xưa, Jamie rõ ràng trông thật chỉnh tề. Ít nhất tôi nghĩ chính Jamie là người đã thu hút sự chú ý của Đức vua, khi Le Roi Louis[4] chủ định thay đổi hướng đi và rẽ về phía chúng tôi, tách đám đông trước mặt ông ta ra giống như những làn sóng trên Biển Đỏ. Bà Nesle de La Tourelle, người mà tôi đã nhận biết từ một buổi tiệc trước đó, bám theo sau Đức vua như một cái xuồng hơi.

Tôi quên bẵng mất chiếc váy đỏ; Bệ hạ dừng lại ngay trước mặt tôi và cúi chào một cách khoa trương, tay để bên eo.

“Chère Madame![5]” Ông ta nói. “Chúng tôi đã bị mê hoặc rồi!”

Tôi nghe thấy một tiếng hít vào thật mạnh từ phía Jamie, rồi anh bước lên trước và cúi chào Đức vua.

“Xin cho phép tôi được giới thiệu vợ mình, thưa Bệ hạ - phu nhân Broch Tuarach.” Anh đứng thẳng lên và bước lùi lại. Bị thu hút bởi một cử động thật nhanh của các ngón tay Jamie, tôi nhìn chằm chằm vào anh mất một lúc mà không hiểu gì, rồi đột nhiên hiểu ra anh đang ra hiệu cho tôi nhún gối chào.

Tôi máy móc hạ thấp người, chật vật để giữ cho mắt mình nhìn xuống sàn nhà và tự hỏi mình sẽ phải nhìn vào chỗ nào khi đứng thẳng trở lại. Bà Nesle de la Tourelle đang đứng ngay sau Louis, quan sát màn giới thiệu bằng một vẻ mặt hơi tẻ nhạt. Nghe đồn Nesle là người tình hiện giờ Louis đang sủng ái. Bà ta, trong bộ cánh đang thịnh hành, mặc một chiếc váy dài được khoét cổ thấp xuống tới cả hai bầu ngực, may từ thứ vải sa mỏng như sương khói rõ ràng là nhằm mục đích thời trang, vì nó không thể có chức năng giữ ấm hay che đậy gì hết.

Mặc dù vậy, không phải là cái váy mà chính cảnh tượng nó hé lộ mới khiến tôi bối rối. Hai bầu ngực của “Nesle”, trong khi có kích thước tương xứng thích hợp, tỷ lệ cân đối hài hòa, quầng vú lớn màu nâu được tô điểm bằng một cặp núm vú trang sức là nguyên nhân khiến chúng trông thật tầm thường. Một cặp chim thiên nga vỏ ngoài đính kim cương và mắt làm bằng ruby vươn cái cổ dài về phía trước, chụm vào nhau, đung đưa chênh vênh trên chỗ đậu bằng móc vàng. Tay nghề của người thợ làm ra nó thật siêu phàm và đáng kinh ngạc, nhưng thực tế là mỗi cái móc vàng đi xuyên qua núm vú của bà ta khiến tôi thấy muốn xỉu. Bản thân mấy núm vú đó đã bị xệ xuống khá là nghiêm trọng, nhưng thực tế đó được che đậy bằng một viên ngọc trai cỡ lớn chụp lên mỗi bên, lủng lẳng trên một sợi xích vàng móc từ bên này sang bên kia cái móc chính.

Tôi đứng thẳng lên, đỏ mặt và húng hắng ho, xoay xở lấy cớ để mình lịch sự ho khan vào một chiếc khăn tay trong khi quay lưng đi. Tôi cảm thấy một sự hiện diện phía sau mình và dừng lại kịp thời để tránh lùi vào người Jamie. Anh đang quan sát tình nhân của nhà vua mà chẳng buồn giả vờ che giấu.

“Bà ta bảo Marie d’ Arbanville rằng ông chủ Raymond đã làm cái khuyên đó cho bà ta,” tôi thì thầm. Ánh nhìn đăm đăm như bị thôi miên của anh không hề gợn sóng.

“Em sẽ đặt một cuộc hẹn nhé?” Tôi hỏi. “Em hình dung ông ta sẽ giúp em làm chuyện đó nếu em cho ông ta công thức của thuốc bổ làm từ cây caraway.”

Cuối cùng, Jamie cũng liếc xuống nhìn tôi. Nắm lấy khuỷu tay tôi, anh kéo tôi về phía một cái hốc tường không người.

“Nếu em mong muốn nói chuyện với ông chủ Raymond lần nữa nhiều đến thế,” anh nói bằng khóe miệng, “anh sẽ tự mình xuyên chúng cho em đấy - bằng răng của anh.”

Nhà vua lúc này đã thong thả đi về phía phòng khách Apollo, khoảng trống ngài đi qua nhanh chóng được lấp đầy bởi những người đến từ phòng ăn tối. Thấy Jamie đã chìm đắm vào cuộc chuyện trò với ông Genet, người đứng đầu của một gia tộc giàu có chuyên ngành vận tải đường thủy, tôi len lén tìm chỗ để cởi giày ra một lúc.

Một cái hốc tường ở ngay trước mặt, căn cứ vào tiếng động cho thấy chỗ đó không có người. Tôi đuổi khéo một người ngưỡng mộ vẫn đang nấn ná bên cạnh đi lấy rượu vang, rồi liếc quanh thật nhanh, lẻn vào hốc tường đó.

Chỗ đó được trang bị đồ đạc rất mang tính khêu gợi, với một chiếc xô pha, một cái bàn nhỏ và hai cái ghế bành - thích hợp để nằm không quần áo hơn là ngồi trò chuyện - tôi mỉa mai thầm nghĩ. Tôi ngồi xuống, tháo giày và thở dài nhẹ nhõm, gác bàn chân lên chiếc ghế đối diện.

Một tiếng leng keng yếu ớt của những chiếc chuông gắn trên tấm rèm che đằng sau báo cho tôi biết sự rời đi của mình rốt cuộc vẫn bị phát hiện.

“Thưa bà! Cuối cùng chúng ta cũng được ở một mình rồi!”

“Vâng, còn hơn cả đáng tiếc nữa,” tôi nói, thở dài. Lại là một trong vô số những vị bá tước, tôi nghĩ. Hoặc không, vị này là một tử tước; ai đó đã giới thiệu hắn với tôi lúc nãy, là Tử tước de Rambeau. Một trong số những anh lùn. Tôi nhớ là hai con mắt bé tẹo lấp lóe sáng của hắn vẫn luôn long lanh nhìn về phía dưới vành chiếc quạt của tôi với vẻ tán thưởng.

Không lãng phí thời gian, hắn khéo léo ngồi tọt vào chiếc ghế kia, nâng hai bàn chân tôi lên đùi mình. Hắn nắm siết lấy mấy ngón chân bọc trong chiếc tất lụa của tôi một cách nôn nóng, áp chặt vào đũng quần của hắn.

“A, ma petite![6] Thật duyên dáng làm sao! sắc đẹp của em làm ta mê mẩn!”

Tôi nghĩ, hẳn rồi, nếu hắn đang ảo tưởng rằng bàn chân của tôi đặc biệt duyên dáng. Nâng một bàn chân lên tới môi, hắn gặm rỉa các ngón chân tôi.

“C’est un cochon qui vit dans la ville, c’est un cochon qui vít…”[7]

Tôi giật bàn chân mình khỏi cái nắm siết của hắn và hối hả đứng dậy, bị cái váy lót lùng bùng làm cản trở vướng víu.

“Nói về những con lợn sống ở thành phố,” tôi nói một cách lo lắng, “tôi không nghĩ là chồng tôi sẽ hài lòng khi thấy ông ở đây đâu.”

“Chồng em? Hừ!” Hắn gạt Jamie đi bằng một cái phẩy tay duyên dáng. “Hắn sẽ bận rộn một lúc đấy, ta chắc chắn thế. Và trong khi con mèo đi vắng… đến đây với ta nào, ma petite souris[8]; hãy cho ta nghe em kêu rít lên đi nào!”

Đoán chừng là định làm cho mình mạnh mẽ thêm, ngài Tử tước này lôi từ túi áo ra một cái hộp tráng men, khéo léo rải một đường thứ bột màu đen dọc theo mu bàn tay và đưa nó áp lên hai lỗ mũi.

Hắn hít vào một hơi thật sâu, mắt sáng lên vẻ hưởng thụ, rồi giật mình khi tấm rèm đột ngột bị gạt phăng sang một bên cùng với âm thanh chói tai của những chiếc chuông bằng đồng thau. Bị sao nhãng khỏi mục tiêu của mình bởi sự xâm nhập này, gã Tử tước hắt hơi thẳng vào ngực tôi với một khí lực mạnh mẽ.

Tôi kêu ré lên.

“Ông, đồ đàn ông kinh tởm!” Tôi nói và vụt cái quạt đã xếp lại của mình vào mặt hắn ta.

Gã Tử tước lảo đảo lùi ra sau, mắt chảy nước. Hắn vướng chân vào đôi giày cỡ số chín của tôi đang nằm trên sàn nhà và ngã chúi nhủi, lao đúng vào hai cánh tay Jamie đang đứng ở lối vào.

•••

“Vậy là anh đã thu hút được một lượng lớn sự chú ý rồi đấy,” cuối cùng tôi nói.

Anh “hừ” một tiếng. “Tên salaud[9] đó gặp may đấy, anh đã không vặn cổ hắn để bắt hắn tự nuốt cái đầu của mình.”

“Thế thì chuyện đó sẽ mang tới một cảnh tượng thú vị đấy,” tôi lạnh nhạt tán thành. “Mặc dù, nhấn chìm hắn ta trong đài phun nước gần nhất cũng hay.”

Anh ngước lên nhìn, vẻ mặt cau có thay thế bằng một nụ cười miễn cưỡng.

“Phải nhỉ. Rốt cuộc anh đã không dìm chết gã đàn ông đó.”

“Em tin là ngài Tử tước đánh giá cao sự kiềm chế của anh.”

Anh lại hừ mũi khinh thường. Anh đang đứng giữa phòng khách, một phần của appartement[10] nhỏ trong lâu đài, vì Đức vua, sau khi ngưng cười, đã ban đặc ân cho chúng tôi ở đây, khăng khăng rằng chúng tôi không nên trở về Paris vào đêm nay.

“Sau cùng, mon chevalier[11] ạ,” Đức vua nói, đưa mắt nhìn thân hình to lớn của Jamie, đang nhỏ giọt nước lên nền đất, “chúng ta cực kỳ không thích thấy ngài bị chết cóng đâu. Ta cảm thấy trong trường hợp này, triều đình sẽ bị tước đi một trò tiêu khiển vô cùng thú vị, và bà đây sẽ không bao giờ tha thứ cho ta mất. Phải thế không, em yêu quý?” Ông ta chìa tay ra và nghịch ngợm véo một bên núm vú của bà de La Tourelle.

Người tình của ông ta tỏ vẻ hơi hờn dỗi nhưng vẫn mỉm cười một cách ngoan ngoãn. Mặc dù tôi để ý thấy rằng một lần nữa Đức vua đã sao nhãng không chú ý, vì chính Jamie mới là người bà ta đang vương vấn nhìn đăm đăm. Ừ thì, anh gây ấn tượng thật, tôi phải công nhận thế, đứng đấy với thân hình đẫm nước dưới ánh đuốc cùng bộ quần áo dán sát vào cơ thể. Nhưng không có nghĩa là tôi thích cái kiểu nhìn đó của bà ta.

Anh lột chiếc sơ mi ướt sũng ra và thả nó vào đống đồ đẫm nước. Anh trông còn tuyệt hơn khi không mặc nó.

“Về phần em,” anh nói, hằm hằm đưa mắt nhìn tôi, “không phải anh đã nói với em là tránh xa mấy cái hốc tường đó ra à?”

“Phải. Nhưng ngoài chuyện đó ra, bà Lincoln, anh đã hưởng thụ cuộc vui đó thế nào rồi hả[12]?” Tôi lịch sự hỏi lại.

“Gì?” Anh trừng mắt nhìn như thể tôi đã mất trí.

“Đừng bận tâm; chỉ hơi vượt ra ngoài khuôn khổ của anh một chút thôi mà. Em chỉ có ý là anh có gặp được người nào hữu ích không, trước khi anh đến để bảo vệ quyền lợi hôn nhân của mình ấy?”

Anh lau mái tóc thật mạnh bằng chiếc khăn tắm lôi ra từ chỗ giá rửa mặt. “Ồ, phải rồi. Anh đã chơi một ván cờ vua với ông Duverney, đánh bại ông ta và khiến ông ta tức giận.”

“Ồ, nghe có vẻ hứa hẹn đấy. Mà ông Duverney là ai vậy?”

Anh ném chiếc khăn vào tôi, nhoẻn miệng cười toe toét. “Ngài Bộ trưởng Tài chính Pháp, Sassenach ạ!”

“Ồ. Và anh vui mừng vì đã khiến ông ta tức giận à?”

“Ông ta tức giận với bản thân mình vì đã để thua, Sassenach,” Jamie giải thích. “Bây giờ ông ta sẽ không ngừng lại cho tới khi đánh bại được anh. Ông ta sẽ đến chỗ chúng ta vào Chủ nhật để chơi lại ván nữa.”

“Ồ, làm tốt lắm!” Tôi nói. “Cứ đà này anh có thể đảm bảo với ông ta rằng viễn cảnh của nhà Stuart là cực kỳ u ám và thuyết phục ông ta rằng Louis không muốn trợ giúp về tài chính cho bọn họ, dù có máu mủ họ hàng hay không.”

Anh gật đầu, quay lại với mái tóc ướt. Lò sưởi vẫn chưa được nhóm nên anh hơi run rẩy.

“Anh học chơi cờ ở đâu thế?” Tôi tò mò hỏi. “Em không biết anh biết chơi thứ đó.”

“Colum MacKenzie dạy anh,” anh nói. “Hồi anh mười sáu tuổi và ở lâu đài Leoch một năm. Anh có các gia sư dạy tiếng Pháp, tiếng Đức, toán học, vân vân… nhưng anh đến phòng Colum mỗi tối một giờ để chơi cờ. Mặc dù không phải là lúc nào ông ấy cũng mất một giờ để thắng anh,” anh ảo não bổ sung.

“Thảo nào anh lại chơi giỏi,” tôi nói. Colum là cậu của Jamie, nạn nhân của một căn bệnh quái ác hầu như đã cướp đi của ông ta khả năng di chuyển, nhưng bù vào đó ông ta có một trí tuệ có thể khiến Machiavelli[13] phải hổ thẹn.

Jamie đứng dậy và tháo khóa đai đeo gươm, nheo mắt nhìn tôi. “Đừng nghĩ là anh không biết em đang có ý định gì nhé, Sassenach. Thay đổi chủ đề và tâng bốc xu nịnh anh như một gái bao cao cấp. Không phải anh đã cảnh cáo em về những cái hốc tường đó rồi à?”

“Anh đã nói là anh không định đánh em mà,” tôi nhắc nhở anh, ngồi lùi sâu hơn vào trong ghế để lánh vào phía an toàn.

Anh lại “hừ” một tiếng, ném cái đai đeo kiếm lên chiếc tủ búp phê có nhiều ngăn kéo và thả chiếc váy truyền thống xuống cạnh cái áo sơ mi ướt đẫm.

“Trông anh giống loại đàn ông sẽ đánh phụ nữ mang thai à?” Anh hỏi.

Tôi nhìn anh một cách hoài nghi. Hoàn toàn trần trụi, với mái tóc ẩm ướt màu đỏ rối bù và những vết sẹo trắng vẫn còn thấy rõ trên cơ thể, anh trông như vừa nhảy xuống từ một chiếc thuyền cướp biển Viking, trong đầu chỉ có cưỡng hiếp và cướp phá.

“Thực ra, trông anh có thể làm bất cứ điều gì,” tôi đáp. “Về chuyện những cái hốc tường, đúng là anh đã nói với em. Em nghĩ là mình nên ở ngay bên ngoài để cởi giày, nhưng làm sao em biết được gã ngốc đó sẽ bám theo em vào bên trong và bắt đầu gặm cắn ngón chân em chứ? Mà nếu anh không định đánh em thì anh định làm gì hả?” Tôi bấu chặt vào hai tay vịn của chiếc ghế.

Anh nằm lên giường và toét miệng cười với tôi.

“Cởi cái váy đứng đường đó ra, Sassenach, và lại đây!”

“Vì sao?”

“A, anh không thể đánh đòn em hay cho em uống no nước ở đài phun.” Anh nhún vai. “Thế nên anh định quở mắng em một trận thật kinh khủng, nhưng anh không nghĩ là mình còn có thể giữ cho mắt mở đủ lâu.” Anh ngáp một cái rõ to, rồi chớp chớp mắt và lại nhăn nhở cười. “Nhớ nhắc anh làm việc đó vào sáng mai nhé!”

•••

“Khá hơn chưa?” Đôi mắt màu lam sẫm của Jamie phủ đầy vẻ lo lắng. “Em ốm nhiều như thế này có ổn không, Sassenach?”

Tôi gạt mái tóc dính nhớp mồ hôi ở hai bên thái dương ra và đắp một chiếc khăn ẩm lên mặt.

“Em không biết liệu nó có ổn hay không,” tôi trả lời yếu ớt, “nhưng ít nhất em tin là nó bình thường. Một vài phụ nữ còn ốm nghén suốt thời gian mang thai.” Lúc này, nghĩ đến điều đó đã thấy không thoải mái.

Jamie liếc mắt nhìn, không phải về phía cái đồng hồ được sơn vẽ màu sắc tươi vui ở trên bàn, mà là mặt trời bên ngoài cửa sổ, theo thói quen.

“Em có thấy đủ khỏe để xuống dưới ăn sáng không, Sassenach, hay anh bảo hầu phòng mang thứ gì đó lên đây cho em?”

“Không. Giờ em khá ổn rồi.” Và quả tôi thấy thế thật. Sự ốm nghén thật kỳ lạ, một khi cơn buồn nôn không tránh khỏi đã qua, tôi lại cảm thấy hoàn toàn khỏe khoắn chỉ trong chốc lát. “Để em súc miệng đã.”

Khi tôi đang cúi người trên chiếc chậu rửa mặt, vục dòng nước mát mẻ lên mặt thì có tiếng gõ cửa khe khẽ. Có lẽ là người hầu đã nhận được đồ từ nhà ở Paris chuyển đến và mang quần áo sạch đến cho chúng tôi.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, đó là một cận thần, với một lời mời đến bữa ăn trưa.

“Bệ hạ sẽ dùng bữa với một nhà quý tộc người Anh,” viên cận thần giải thích, “mới tới Paris. Bệ hạ đã cho triệu vài thương nhân Anh nổi bật từ Cité tới để cùng dùng bữa trưa, nhằm mục đích cung cấp cho Đức ngài Công tước sự bầu bạn của những người đồng hương. Và ai đó đã chỉ ra cho Bệ hạ thấy rằng vợ của ngài cũng là một phu nhân người Anh, vậy nên ngài và phu nhân được mời tới tham dự.”

“Được thôi,” Jamie nói, sau khi liếc nhanh về phía tôi. “Ngài có thể nói với Bệ hạ rằng chúng tôi rất vinh hạnh được ở lại.”

Rất nhanh sau đó, Murtagh đã đến, khắc khổ hơn bao giờ hết, mang tới một bọc lớn trang phục sạch và cái hòm thuốc mà tôi yêu cầu. Jamie mang ông vào phòng khách để giao những chỉ thị trong ngày, trong khi tôi hối hả vật lộn mặc vào chiếc váy dài sạch sẽ, lần đầu tiên thấy hối hận vì đã từ chối không thuê một cô hầu gái riêng. Vốn luôn bất kham, đầu tóc tôi thường xuyên lộn xộn sau khi ngủ dậy trong vòng tay âu yếm gần gũi của một chàng Scot to lớn, ẩm ướt; những mớ rối bù hoang dã tủa ra khắp các hướng, kháng cự lại mọi nỗ lực thuần phục chúng bằng bàn chải tóc và lược.

Mất thời gian rất lâu tôi mới xuất hiện, hồng hào và bực bội vì mất bao công sức sửa soạn, nhưng mái tóc có vẻ đã nằm trật tự. Jamie nhìn tôi và lẩm bẩm khe khẽ điều gì đó về những con nhím, nhưng bắt gặp cái liếc mắt hung hãn đáp trả, anh liền khôn ngoan ngậm ngay miệng lại.

Một chuyến tản bộ giữa khu trồng hoa và đài phun nước của các khu vườn trong lâu đài đã có tác dụng tốt làm tôi lấy lại cân bằng. Hầu hết cây cối vẫn còn trụi lá, nhưng ngày hôm đó, thời tiết ấm áp ngoài mong đợi vào dịp cuối tháng Ba, mùi hương hăng hăng tỏa ra từ những chồi non trên các nhành cây xanh mướt. Bạn hầu như có thể cảm nhận được sự trỗi dậy của nhựa sống trong những thân cây dẻ và cây bạch dương lừng lững dọc bên lề các con đường mòn, che chở cho hàng trăm bức tượng cẩm thạch trắng.

Tôi dừng lại giữa chừng bên một bức tượng người đàn ông che đậy nửa người với những trái nho trên tóc và một cây sáo trên môi. Một con dê to lớn lông mượt như lụa đang đói khát gặm những trái nho rủ xuống từ những nếp gấp cẩm thạch của vải áo.

“Ai đây?” Tôi hỏi. “Thần Pan à?”

Jamie lắc đầu, tủm tỉm cười. Anh đã mặc vào chiếc váy cũ và một chiếc áo khoác thoải mái, nhưng đối với tôi anh trông còn đẹp hơn nhiều so với những cận thần ăn vận xa xỉ đang đi ngang qua trước mặt chúng tôi thành từng nhóm, vừa đi vừa tán gẫu trò chuyện.

“Không, anh nghĩ kia mới là tượng Thần Pan, còn đây thì không phải. Đó là một trong Bốn Thể Dịch[14] Của Loài Người.”

“Vậy à, anh ta trông khá là vui nhộn,” tôi nói, liếc nhìn lên con dê đang mỉm cười thân thiện.

Jamie phá lên cười.

“Này, em là thầy thuốc cơ mà, Sassenach! Không phải là hài hước đâu[15]. Em không biết bốn loại thể dịch cấu thành nên cơ thể người à? Đó là Máu” - anh ra hiệu về phía bức tượng người thổi sáo, rồi chỉ xuôi con đường - “còn kia là Mật Đen.” Đây là một người đàn ông trong trang phục áo choàng La Mã, đang cầm một cuốn sách để mở.

Jamie chỉ sang bên kia đường. “Và đằng kia là Mật Vàng” - một thanh niên khỏa thân và cơ bắp cuồn cuộn, người này rõ ràng là đang cau có hung tợn, chưa kể đến con sư tử bằng cẩm thạch đang chực cắn vào chân anh ta - “và kia là Niêm Dịch.”

“Là nó ư, ôi trời ơi!” Niêm Dịch, một người hào hoa phong nhã, râu ria xồm xoàm với một chiếc mũ gấp nếp đội trên đầu, hai tay khoanh trước ngực và một con rùa ở bên cạnh bàn chân.

“Hừm,” tôi ậm ừ.

“Các thầy thuốc ở thời của em không được học về các thể dịch à?” Jamie tò mò hỏi.

“Không,” tôi nói. “Thay vào đó bọn em có vi trùng.”

“Thật à? Vi trùng,” anh tự nói một mình, nhắc đi nhắc lại từ đó, uốn lưỡi với âm “r” trong cổ họng theo kiểu tiếng Scot, khiến nó nghe có vẻ quái gở vô cùng. “Vi tr-r-ù-ng. Vi trùng trông như thế nào?”

Tôi liếc nhìn lên bức tượng đại diện của “Nước Mỹ”, một trinh nữ gợi tình trong chiếc váy bằng lông chim và khăn trùm đầu, cùng với một con cá sấu ở dưới chân.

“Chà, họ sẽ không làm những bức tượng sinh động như thế này,” tôi nói.

Con cá sấu bên bàn chân Nước Mỹ gợi cho tôi nhớ tới cửa hiệu của ông chủ Raymond.

“Có phải ý của anh là không muốn em đi tới cửa hiệu của ông Raymond nữa?” Tôi hỏi. “Hay anh chỉ không muốn em đeo khuyên lên ngực mình?”

“Anh chắc chắn không muốn em xâu khuyên ngực,” anh kiên quyết nói, nắm lấy khuỷu tay tôi và hối thúc tôi tiến lên trước, vì sợ rằng tôi tìm thấy bất kỳ cảm hứng không hay ho nào từ hai bầu ngực trần của Nước Mỹ. “Nhưng không, anh cũng không muốn em tới cửa hiệu của ông chủ Raymond đó. Có nhiều lời đồn đại về người đàn ông này.”

“Mọi người ở Paris đều bị đồn đại cả,” tôi nhận xét, “và em sẵn sàng đánh cược là ông Raymond biết tất cả bọn họ.”

Jamie gật đầu, mái tóc lấp lánh dưới ánh mặt trời mùa xuân nhợt nhạt.

“Ồ, đúng thế, anh mong là vậy. Nhưng anh nghĩ anh có thể biết được những gì cần thiết trong các quán rượu và phòng khách. Người ta nói ông chủ Raymond đó là trung tâm của một vòng quan hệ đặc biệt, nhưng đó không phải là những người có cảm tình với phái Jacobite.”

“Thật không? Vậy là ai?”

“Người theo giáo phái bí truyền và nghiên cứu những thứ huyền bí. Phù thủy, có lẽ thế.”

“Jamie, anh không lo lắng nghiêm trọng quá về các phù thủy và yêu tinh đấy chứ?”

Chúng tôi đã đi tới phần vườn được biết đến với danh xung “Tấm Thảm Xanh”. Vào lúc chớm xuân này, màu xanh bạt ngàn của bãi cỏ mới chỉ nhàn nhạt, nhưng mọi người đang đi thơ thẩn trên đó, tận hưởng một ngày dễ chịu hiếm hoi.

“Không phải phù thủy, không,” cuối cùng, anh nói khi đã kiếm được một chỗ gần hàng rào cây đầu xuân và ngồi xuống cỏ. “Có lẽ là Bá tước St. Germain.”

Tôi nhớ tới cái nhìn trong đôi mắt đen tối của Bá tước St. Germain ở Le Havre mà rùng mình, bất chấp ánh mặt trời và chiếc khăn choàng bằng len tôi đang quàng.

“Anh nghĩ ông ta có mối liên hệ với Raymond?”

Jamie nhún vai. “Anh không biết. Nhưng chính em đã kể cho anh những lời đồn đại về St. Germain, không phải sao? Và nếu ông Raymond là một phần của vòng tròn ấy thì anh nghĩ em nên tránh xa người đàn ông quỷ quái đó, Sassenach.” Anh tặng tôi một nụ cười nửa miệng giễu cợt. “Miễn là anh không phải cứu em khỏi bị thiêu sống lần nữa là được.”

Những bóng cây gợi tôi nhớ đến sự âm u lạnh lẽo của cái hố giam trộm ở Cranesmuir, tôi rùng mình nhích tới gần Jamie, tiến xa hơn vào dưới ánh mặt trời.

“Em cũng không muốn anh làm thế nữa đâu.”

Những chú bồ câu ve vãn tình tứ trên bãi cỏ dưới một bụi cây đầu xuân đang nở hoa. Các quý ông, quý bà đang trình diễn những hoạt động tương tự trên những đường mòn dẫn xuyên qua các khu vườn đầy những tác phẩm điêu khắc. Sự khác biệt chủ yếu là ở chỗ những con bồ câu làm chuyện đó lặng lẽ hơn.

Một hình ảnh trong chất vải lụa bóng như nước phập phồng di động phía sau chỗ chúng tôi nghỉ ngơi, trong những tiếng trò chuyện phấn khích ồn ào về sự thần thánh của trò chơi đêm hôm trước. Có ba phu nhân đang ở cùng ông ta, trong khi những ý kiến của ông ta vọng lại nghe không có vẻ gì quá hấp dẫn.

“Tráng lệ! Khá tráng lệ, giọng nói của La Couelle!”

“Ồ, tráng lệ! Phải rồi, tuyệt vời!”

“Thật thú vị, thú vị! Tráng lệ là từ duy nhất dành cho nó!”

“Ồ, vâng, tráng lệ!”

Những giọng nói - của cả bốn người bọn họ - chói tai nhức óc như lũ ốc sên đang kéo gỗ. Trái ngược với bọn họ, quý ông chim câu đang làm công việc của nó, cách mũi tôi vài mét có tiếng chim gù trầm thấp ngọt ngào như mật nổi lên từ âm thanh ồn ã yêu đương sâu sắc cho tới tiếng huýt sáo bằng hơi khi nó phồng ngực và cúi chào lặp đi lặp lại động tác đó, đặt cả trái tim mình dưới chân cô bạn tình, nhưng nàng ta trông chẳng có vẻ gì bị ấn tượng trước màn biểu diễn này cả.

Tôi nhìn xa hơn, qua cả chỗ chú chim câu, về phía một viên cận thần mặc đồ xa tanh bóng, người này vội vàng lùi lại để nhặt lên chiếc khăn tay viền đăng ten đã bị một trong những bạn đồng hành của ông ta bẽn lẽn thả rơi làm mồi nhử.

“Các quý bà gọi người kia là “L’Andouille”,” tôi nhấn mạnh. “Em thắc mắc là vì sao?”

Jamie cằn nhằn có vẻ buồn ngủ, anh mở một con mắt để nhìn theo sau viên cận thần đang rời đi.

“Hừm? Ồ, “Cái Xúc Xích”. Thế có nghĩa là hắn ta không thể giữ cho “cậu em” của hắn ở yên trong quần chứ sao. Em biết loại… quý bà, người hầu, gái điếm cao cap, tiểu đồng đó đấy! Những con chó cảnh cũng thế nếu lời đồn là đúng,” anh thêm, nheo mắt nhìn về hướng vạt lụa bóng biến mất, nơi lúc này một mệnh phụ phu nhân đang tiến tới, ôm một cái bọc trắng mềm mại như tơ phía trước che cho khoảng ngực thừa thãi ngồn ngộn của bà ta. “Thật khinh suất! Anh sẽ không mạo hiểm cái của mình ở gần một trong những quả cầu lông biết sủa đó dù ở bất cứ đâu.”

““Cậu em” của anh á?” Tôi vui thích hỏi. “Thỉnh thoảng, em nghe người ta gọi nó là “thằng nhỏ”. Và những người Mỹ, vì một lý do dị thường nào đó, từng gọi cái của họ là “mật thám”. Có lần em gọi một bệnh nhân chòng ghẹo em là “Tay Mật Thám Thông Minh”, và anh ta đã gần như bị bục chỉ vết thương vì cười.”

Jamie cũng cười phá lên, duỗi dài người một cách thoải mái dưới ánh mặt trời mùa xuân ấm áp. Anh chớp mắt mấy cái và đảo mắt, ngoác miệng cười với tôi.

“Em cũng đã ảnh hưởng tới anh rất nhiều đấy, Sassenach,” anh nói. Tôi vuốt tóc anh từ trước trán ra phía sau, hôn lên ấn đường của anh.

“Tại sao đàn ông lại đặt tên cho nó?” Tôi hỏi. “John Thomas, ý em là thế. Hay Roger, đại loại thế. Phụ nữ chẳng hề làm vậy.”

“Họ không đặt tên à?” Jamie thích thú hỏi.

“Không, dĩ nhiên là không. Em gần đây gọi cái mũi của mình là Jane.”

Lồng ngực anh rung lên khi cười. Tôi xoay người nằm lên trên anh, tận hưởng cảm giác rắn chắc của anh bên dưới mình. Tôi ấn hông xuống, nhưng những lớp váy lót chen ngang khiến cho nó có vẻ khiêu khích hơn bất cứ hành động nào khác.

“À,” Jamie nói đầy vẻ hợp tình hợp lý, “cái của em không tự đứng lên nằm xuống được, sau rốt, nó cũng không điều khiển theo ý em muốn trong vấn đề này. Dù sao đó là những gì theo như anh biết,” anh bổ sung, nhướng một bên lông mày vẻ dò hỏi.

“Không, nó không làm được, tạ ơn Chúa. Em thắc mắc liệu người Pháp có gọi cái của họ là “Pierre” không,” tôi nói, liếc nhìn một gã ăn diện diêm dúa trong bộ đồ nhung xếp nếp màu xanh lá cây đi ngang qua.

Jamie phá lên cười làm những con bồ câu giật mình lao ra khỏi bụi cây đầu xuân. Chúng đập cánh trong sự xao động căm phẫn, những con chim xám bị đánh thức bay tán loạn. Con chó cưng màu trắng có bộ lông mềm mại, cho đến lúc này đang thè lưỡi trong vòng ôm của chủ nó giống như một mớ giẻ rách, tỉnh dậy ngay lập tức và ý thức được trách nhiệm của mình, nó nhảy phốc ra khỏi cái ổ tay ấm áp y như một quả bóng bàn và phóng nước đại vào một cuộc truy đuổi nhiệt tình những con bồ câu, vừa chạy vừa điên cuồng sủa váng lên, bà chủ của nó thì gần như phát khóc chạy theo phía sau.

“Anh không biết, Sassenach,” anh nói, vừa nén cười vừa lau đi những giọt nước mắt chảy ra vì cười nhiều. “Anh từng nghe thấy duy nhất một người đàn ông Pháp gọi tên cái của mình là “Georges”.”

“Georges!” Tôi thốt lên, lớn tiếng đến nỗi thu hút sự chú ý của một đám nhỏ cận thần đi ngang qua. Một người trong đó, anh chàng lùn nhưng là mẫu người sôi nổi hoạt bát trong bộ đồ xẻ vạt màu đen với xa tanh trắng, vội dừng lại và cúi chào thật sâu, một lằn sưng thâm tím vắt ngang sống mũi anh ta, nhưng phong thái của anh ta không hề suy suyển tẹo nào.

“A votre service[16], thưa bà,” anh ta nói.

•••

Có lẽ tôi đã xoay xở được nếu không vì những con chim sơn ca chết tiệt đó. Phòng ăn nóng và đông đúc, toàn các cận thần và người chiêm quan, cái coóc xê của tôi bị lỏng ra và đang đâm vào dưới thận trái của tôi mỗi khi tôi hít vào, tôi còn phải chịu đựng sự khó chịu thường thấy do mang thai, mót đi tiểu từng phút một. Nhưng tôi vẫn có thể xoay xở được. Dù sao việc rời khỏi bàn ăn trước nhà vua cũng là một sự vi phạm nghiêm trọng quy tắc ứng xử, mặc dù bữa trưa là một sự kiện không mấy trang trọng so với những bữa tối chính thức thịnh soạn quen thuộc ở Versailles - hoặc do chính tôi hiểu như thế. Tuy nhiên, “không trang trọng” chỉ là một cụm từ mang tính tương đối.

Thật vậy, chỉ có ba món rau củ ngâm nêm gia vị, không phải tám. Và một món xúp trong, không béo. Thịt thú rừng săn chỉ được nướng, không phải thái miếng rồi xiên lên nướng, còn cá thì được kho trong rượu vang thơm ngon, được phục vụ cắt lát mỏng và ăn cùng nước xốt thịt đông với tôm.

Như thể nhàm chán bởi quá nhiều sự mộc mạc đơn giản, một trong các đầu bếp đã cung cấp món đồ nguội khai vị thật quyến rũ - một cái tổ, được khéo léo xây từ những mảnh bột nhão, trang trí bằng các nhánh chồi non của cành táo đang trổ hoa, trên thành tổ đậu hai con chim sơn ca, đã làm lông và được nướng chín, nhồi táo và quế sau đó được khôi phục lại trong bộ lông của chúng. Và trong tổ là toàn bộ gia đình gồm những con chim non, những mẩu cánh dang ra màu nâu bé xíu và giòn rụm, lớp da trần mềm mại được phủ mật ong, những cái miệng đen ngòm há ra để lộ dấu vết của thứ bột làm từ hạnh nhân nghiền nhỏ nhồi bên trong.

Sau một vòng trưng diễu hoành tráng quanh bàn ăn - kèm theo đó là những tiếng rì rầm tán thưởng xung quanh - món ăn cầu kỳ này được đặt trước mặt nhà vua, ông ta quay lại từ cuộc trò chuyện với bà de La Tourelle, vừa đủ thời gian để giật một con chim non ra khỏi tổ và cho tọt vào miệng.

“Rốp, rốp, rốp,” âm thanh ấy phát ra từ hai hàm răng của Louis. Như bị thôi miên, tôi nhìn chằm chằm, quan sát các cơ trên cổ họng ông ta chuyển động và cảm thấy sự nát vụn của những cái xương nhỏ trượt xuống thực quản của mình. Những ngón tay màu nâu lại ngẫu nhiên với tới, nhón một con chim nhỏ khác.

Đến lúc này, tôi kết luận là còn có nhiều thứ có thể tồi tệ hơn cả việc xúc phạm Bệ hạ bằng cách rời khỏi bàn và chạy bổ nhào đi.

Vài phút sau, nhổm người dậy trên hai đầu gối ở giữa một nơi có nhiều cây bụi, tôi nghe thấy một tiếng động phía đằng sau. Đinh ninh sẽ bắt gặp cái nhìn của một người làm vườn đang giận dữ một cách chính đáng, tôi quay lại đầy vẻ tội lỗi để rồi bắt gặp ánh mắt của một ông chồng giận dữ.

“Chết tiệt, Claire, lúc nào em cũng phải làm thế sao?” Anh hỏi.

“Chỉ một từ - đúng,” tôi nói, mệt lả tì vào thành bể đài phun nước trang trí. Hai bàn tay tôi ướt rượt và tôi chùi chúng lên váy mình. “Anh nghĩ là em làm thế để cho vui à?” Cảm thấy đầu choáng váng, tôi bèn nhắm hai mắt lại, cố gắng lấy lại cân bằng để khỏi ngã nhào vào đài phun nước.

Đột nhiên một bàn tay đặt lên thắt lưng, tôi nửa dựa, nửa ngã nhào vào vòng tay anh khi anh ngồi xuống bên cạnh và kéo tôi lại gần.

“Ôi, Chúa ơi! Anh rất tiếc, mo duinne. Em ổn cả chứ, Claire?”

Tôi đẩy người ra đủ để ngước lên nhìn anh và mỉm cười.

“Em ổn. Chỉ hơi váng đầu thôi.” Tôi đưa tay lên, cố vuốt đi những nếp nhăn do quan tâm lo lắng hằn sâu trên trán anh. Anh cười đáp lại, nhưng nếp nhăn vẫn còn nguyên, một đường mảnh thẳng đứng nằm giữa đôi lông mày rậm cong cong màu hung đỏ. Anh cho tay vào đài phun nước và đưa lên vuốt ve hai má tôi. Tôi hẳn phải xanh xao lắm.

“Em xin lỗi,” tôi nói thêm. “Thật đấy, Jamie, em không thể nhịn nổi.”

Bàn tay ẩm ướt nắm siết gáy tôi một cách trấn an, mạnh mẽ và trầm ổn. Dòng nước đẹp đẽ phun từ miệng của một con cá heo mắt lồi làm mái tóc tôi ẩm ướt.

“Ôi, đừng lo cho anh, Sassenach! Anh không có ý trách em. Chỉ là…” Anh làm một cử chỉ tỏ vẻ bất lực bằng một bàn tay. “… Chỉ là anh cảm thấy mình thật ngu ngốc đần độn. Anh nhìn thấy em khổ sở và anh biết anh đã gây ra điều đó cho em, anh không thể làm được điều tối thiểu nhất để giúp em, vậy nên thay vào đó anh lại đổ lỗi cho em, cáu kỉnh và cằn nhằn với em… Tại sao em không bảo thẳng với anh là hãy cút về với quỷ đi, hả Sassenach?” Anh nói, giọng như vỡ òa.

Tôi cười thành tiếng cho tới khi hai bên mạn sườn đau nhói vì bị chiếc coóc xê thít chặt, phải bám vào cánh tay anh.

“Cút xuống địa ngục đi, Jamie,” cuối cùng tôi nói, đưa tay lau nước mắt. “Cút thẳng xuống địa ngục đi! Đừng có tạt ngang. Đừng có nhặt nhạnh hai trăm đô la. Ở đó đi! Giờ anh cảm thấy dễ chịu hơn chưa?”

“Rồi, tốt hơn rồi,” anh nói, vẻ mặt nhẹ nhõm. “Khi em bắt đầu nói nhảm là anh biết em ổn rồi. Em cảm thấy khỏe hơn rồi chứ, Sassenach?”

“Vâng,” tôi đáp, ngồi thẳng dậy và bắt đầu để ý mọi thứ xung quanh. Các khu vực của Versailles đều mở cửa cho công chúng, những nhóm nhỏ các thương nhân và người lao động hòa vào nhau một cách kỳ lạ giữa những quý tộc ăn mặc sặc sỡ tươi sáng, tất cả cùng tận hưởng một ngày thời tiết tốt.

Đột nhiên cánh cửa hướng ra gò đất gần đó mở bung, những vị khách của Đức vua đổ ra vườn giữa một đợt thủy triều những tiếng chuyện trò huyên náo. Cuộc di tản sau bữa ăn trưa càng tăng lên thêm bởi một phái đoàn mới đến, hiển nhiên là từ hai chiếc xe ngựa bốn bánh lớn mà tôi trông thấy lái ngang qua rìa khu vườn hướng về phía tàu ngựa đằng xa.

Đó là một nhóm lớn đàn ông và đàn bà, trang phục tao nhã hơn so với những sắc màu rực rỡ của các cận thần đi dạo xung quanh họ. Chính tiếng họ trò chuyện, chứ không phải diện mạo của họ, đã thu hút sự chú ý của tôi. Tiếng Pháp được nói bởi số lượng lớn người ở một khoảng cách xa, có sức mạnh tương đương với cuộc chuyện trò quàng quạc của vịt và ngỗng, do cách phát âm mũi của nó. Ngược lại, tiếng Anh, được nói ở một khoảng cách mà các giọng nói của từng cá nhân có thể phân biệt rõ, nó có sự cộc cằn, thô lỗ, giống trạng thái đều đều buồn tẻ thân thiện của tiếng chó chăn cừu sủa. Và ấn tượng chung của cuộc di tản số lượng lớn đang tiến về phía chúng tôi lúc này chẳng khác gì một bầy ngỗng đang bị một đàn chó lùa ra chợ.

Đám người Anh đã đến rồi, không hiểu sao có phần hơi chậm trễ. Không nghi ngờ gì là họ bị xua vào vườn một cách lịch thiệp trong khi người làm ở nhà bếp đang hối hả chuẩn bị một bữa ăn khác và sắp đặt chiếc bàn khổng lồ dành cho họ.

Tôi quét mắt nhìn đám người này một cách tò mò. Công tước Sandringham thì tôi biết, dĩ nhiên rồi, trước đây tôi đã gặp ông ta một lần ở Scotland, tại lâu đài Leoch. Dáng người có vòm ngực vạm vỡ như ông ta rất dễ dàng nhận ra, đang đi sóng vai cạnh Louis, bộ tóc giả hợp thời trang hơi nghiêng nghiêng tỏ vẻ chú ý lịch sự.

Hầu hết những người khác đều lạ mặt, mặc dù tôi nghĩ vị phu nhân trung niên có phong thái nhất vừa đi qua cánh cửa hẳn là Nữ công tước Claymore, người mà tôi từng nghe nói đến. Hoàng hậu, bình thường hay bỏ lại đằng sau mọi thứ để lui về ngôi nhà nào đó ở nông thôn và tự làm mình vui thú nhất có thể, dịp này cũng đã đi ra ngoài. Nữ công tước đang trò chuyện với một vị khách đến thăm, gương mặt xinh xắn, lo âu của bà ta ửng hồng vì sự phấn khích khác thường trong dịp này.

Cô gái trẻ đi ngay phía sau Nữ công tước bắt gặp ánh mắt của tôi. Ăn vận khá giản dị, cô gái có một vẻ xinh đẹp nổi bật hơn bất cứ ai trong đám đông. Cô có vóc người nhỏ nhắn nhưng tròn lẳn, với mái tóc đen sáng bóng, không rắc phấn và làn da trắng lạ thường, vẻ ửng hồng trên hai gò má cùng với sắc hồng hào tinh khiết khiến cô trông y như một cánh hoa.

Màu da của cô gợi cho tôi nhớ tới một chiếc váy tôi từng có ở thời hiện đại, một chiếc váy dài bằng vải cotton nhẹ nhàng được trang trí hình những cây anh túc đỏ. Ý nghĩ này, vì một lý do nào đó, đột ngột khơi dậy trong lòng tôi một cơn sóng nhớ nhà, tay tôi siết chặt lấy mép chiếc ghế băng bằng đá cẩm thạch, mí mắt nhoi nhói với nỗi khát khao mãnh liệt. Hẳn là vì nghe thấy thứ tiếng Anh chất phác, mộc mạc đang được người ta nói, tôi nghĩ, sau bao nhiêu tháng ròng ở giữa tiếng nói du dương của người Scot và rồi tiếng quang quác của người Pháp. Những vị khách đến thăm nghe thật giống như đang ở quê nhà.

Thế rồi tôi nhìn thấy hắn. Tôi có thể cảm thấy tất cả máu như rút sạch khỏi đầu mình khi mắt tôi lần theo đường cong thanh tú không thể tin nổi của cái đầu tóc đen đậm giữa những nhành cây khô bao quanh nó. Một hồi chuông báo động vang lên trong đầu tôi như còi báo động không kích, trong khi tôi đấu tranh để chấp nhận và đẩy lùi ấn tượng đó. Tiềm thức của tôi trông thấy đường nét của cái mũi đó, ý nghĩ về Frank khiến người tôi xoay qua định bay về phía anh để đón chào. “Không phải Frank”, ý nghĩ đó dâng lên cao hơn, lan tỏa từ trung tâm não bộ, khiến tôi lạnh cứng người ngay tại chỗ trong khi nhìn chằm chằm vào đường cong quen thuộc của nụ cười nửa miệng kia, nó lặp đi lặp lại: “Mày biết đó không phải là Frank mà”, các thớ thịt trên bắp chân tôi như thắt lại. Và rồi cơn choáng váng đổ ập xuống, hoang mang, hoảng sợ, hai bàn tay và dạ dày co siết lại, vì quá trình suy nghĩ logic chậm hơn đã đến một cách kiên cường theo dấu vết bản năng và trí tuệ, nhìn thấy cặp lông mày cao và mái đầu nhìn nghiêng kiêu ngạo đó, cam đoan với tôi một ý nghĩ không thể có. Đó không phải là Frank. Và nếu không phải, vậy thì đó chỉ có thể là…

“Jack Randall.” Đó không phải giọng của tôi mà là giọng của Jamie, âm thanh nghe bình tĩnh và thản nhiên một cách lạ lùng. Sự chú ý khiến ánh mắt tôi bị thu hút về phía đó, anh đã nhìn vào nơi tôi đang nhìn và đã thấy điều tôi thấy.

Anh không nhúc nhích. Thế nhưng tôi có thể nói rằng một sự hoảng sợ mơ hồ đang dâng lên, anh không hề hít thở. Tôi lờ mờ nhận thấy một người hầu gần đó đang tò mò ngó nhìn thân hình lừng lững như tòa tháp của người chiến binh Scotland đã đông cứng lại bên cạnh tôi, im lìm như một pho tượng Thần Chiến Tranh. Nhưng tất cả sự quan tâm của tôi là vì Jamie.

Anh đã hoàn toàn chết lặng. Im lìm như một con sư tử im lìm, là một phần của đồng cỏ bằng phẳng, cái nhìn chằm chằm của nó nóng bỏng và không chớp mắt như mặt trời thiêu đốt thảo nguyên. Và tôi thấy thứ gì đó chuyển động trong đáy mắt anh. Hé lộ sự truy đuổi của loài mèo, túm lông đuôi thình lình giật mạnh một cái, điềm báo trước cho một cuộc tàn sát.

Ra tay trước mặt Đức vua là chết chắc. Murtagh thì ở tít phía bên kia vườn, quá xa để có thể trợ giúp. Chỉ hai bước chân nữa thôi sẽ mang Randall vào trong tầm nghe. Trong tầm kiếm với tới được. Tôi đặt tay lên cánh tay anh. Nó cứng như thép, giống như thanh kiếm trong tay anh. Máu như gầm lên trong tai tôi.

“Jamie,” tôi gọi. “Jamie!” Và ngất đi.

[1] Tiếng Pháp: Cậu bé hoang dã của tôi!

[2] Tiếng Pháp: Bệ hạ, Vua Louis!

[3] Nguyên văn: rise, vừa có nghĩa là “thức dậy”, vừa có nghĩa là “mọc”.

[4] Tiếng Pháp: Vua Louis.

[5] Tiếng Pháp: Bà bạn thân mến!

[6] Tiếng Pháp: Người đẹp bé bỏng của tôi!

[7] Tiếng Pháp: Có một con lợn sống ở thành phố, một con lợn sống…

[8] Tiếng Pháp: Con chuột bé nhỏ của ta.

[9] Tiếng Pháp: khốn kiếp.

[10] Tiếng Pháp: căn hộ khép kín.

[11] Tiếng Pháp: ngài hiệp sĩ.

[12] Câu nói ám chỉ cuộc ám sát Abraham Lincoln trong lúc đang xem một vở kịch ở rạp Ford, sau được dùng để chế nhạo vận xui của ai đó.

[13] Niccolò Machiavelli (1469-1527): nhà ngoại giao, nhà triết học chính trị, nhạc gia, nhà thơ, nhà soạn kịch của nước Ý thời Phục hưng, được xem là một trong những sáng tổ của nền khoa học chính trị hiện đại.

[14] Nguyên văn: Four Humors of Man. Liên quan tới Thuyết thể dịch (humour theory), là học thuyết về cấu tạo và hoạt động của cơ thể con người được phát triển bởi các thầy thuốc cũng như các triết gia Hy Lạp và La Mã cổ đại. Theo thuyết này thì cơ thể con người được cấu thành bởi bốn chất cơ bản, gọi là thể dịch. Sự cân bằng của bốn chất này là điều kiện cơ bản để con người khỏe mạnh. Bệnh tật là hậu quả của một tình trạng quá thừa thãi hay thiếu hụt của ít nhất một trong bốn chất này. Bốn thể dịch là: máu, mật đen, mật vàng và niêm dịch - tương ứng với bốn nguyên tố cơ bản cấu thành vũ trụ là không khí, đất, lửa và nước. Những người có quá nhiều máu sẽ là người vui vẻ, năng động, lạc quan (sanguine). Những người có nhiều niêm dịch sẽ là những người chậm chạp, uể oải (phlegmatic). Những người có quá nhiều mật vàng rất nóng nảy (choleric) và những người có nhiều mật đen sẽ hay u buồn (melancholic).

[15] Từ humor trong tiếng Anh vừa có nghĩa là hài hước, hóm hỉnh, vừa có nghĩa là thể dịch.

[16] Tiếng Pháp: sẵn sàng phục vụ bà.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.