Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
15
Ở nơi đó âm nhạc đóng một vai

❊ ❊ ❊

Chúng tôi thức khuya với chai rượu thứ hai, xem đi xem lại bức thư mới nhất trong số những lá thư của Hiệp sĩ de St. George - còn được biết đến với tư cách Đức bệ hạ, James III - và những lá thư người ủng hộ phái Jacobite gửi tới cho Hoàng tử Charles.

“Fergus đã lấy được một bưu kiện lớn, sắp gửi tới cho Điện hạ,” Jamie giải thích. “Có rất nhiều thứ trong đó và chúng ta không thể sao chép tất cả một cách nhanh chóng, vậy nên anh để lại một vài lá cho lần sau.”

“Xem này,” anh nói, rút ra một tờ từ đống giấy nằm trên đầu gối tôi, “phần chính yếu của những lá thư này đã được mã hóa, giống như cái này - “cha nghe nói rằng cảnh tượng lũ gà gô trắng dường như được yêu thích nhất năm nay ở những ngọn đồi phía trên Salerno; các thợ săn ở vùng đó sẽ thấy mình rất thành công.” Cái đó thì dễ rồi; nó nhắc tới Manzetti, chủ ngân hàng người Ý; ông ta đến từ Salerno. Anh đã thấy Charles đang ăn tối với ông ta và đã xoay xở để mượn được mười lăm nghìn livre - lời khuyên của James thật hay. Nhưng ở đây…” Anh xáo lộn cả chồng thư, lôi ra một tờ khác.

“Xem cái này này,” Jamie nói, đưa cho tôi tờ giấv dày rịt những nét chữ nguệch ngoạc nghiêng nghiêng của anh.

Tôi ngoan ngoãn liếc qua tờ giấy, từ trong đó tôi có thể nhận ra những chữ cái đơn lẻ được nối với nhau bằng một mạng lưới những mũi tên và các dấu hỏi.

“Đó là ngôn ngữ gì vậy?” Tôi hỏi, chăm chú nhìn kĩ. “Ba Lan?” Dù sao mẹ của Charles Stuart, Clementina Sobieski quá cố, cũng là người Ba Lan.

“Không, nó là tiếng Anh,” Jamie toe toét cười, nói. “Em không thể đọc được nó à?”

“Anh có thể sao?”

“Ồ, đúng vậy,” anh tự mãn nói. “Nó là một loại mật mã, Sassenach ạ, và không phải là loại cực kỳ phức tạp. Thấy không, tất cả những gì em phải làm là tách riêng từng cụm năm chữ cái thành một nhóm, để bắt đầu - chỉ là em đừng đếm cả chữ Q hay X. Những chữ X nghĩa là những đoạn ngắt giữa các câu, còn các chữ Q chỉ là được nhét vào chỗ này chỗ kia để khiến cho nó rắc rối hơn thôi.”

“Nếu anh nói vậy,” tôi nhìn từ bức thư trông cực kỳ rối rắm, bắt đầu bằng “Mrti ocruti dlopro qahstmin…” đến trang giấy trong tay Jamie, với một loạt những nhóm năm chữ cái được viết thành một hàng, những chữ đơn lẻ được in cẩn thận phía trên chúng, cùng một lúc.

“Vậy, một chữ cái chỉ được thay thế cho một chữ cái khác, nhưng theo cùng một trật tự,” Jamie giải thích, “nên nếu em có một đoạn văn bản tương đối để từ đó giải mã, em có thể đoán ra một từ ở chỗ này hay chỗ khác, sau đó tất cả những gì em cần làm là dịch nó từ một bảng chữ cái thành một bảng khác - thấy không?” Anh ve vẩy một tờ giấy dài trước mặt tôi, với hai bảng chữ cái in, bảng này phía trên bảng kia, hơi so le nhau.

“Được rồi, dù ít dù nhiều,” tôi nói. “Em hiểu những gì anh làm rồi, bảng chữ cái nào thì có gì quan trọng. Nó nói gì thế?”

Biểu cảm hứng thú sống động của Jamie về cách giải mã nhạt đi một chút, anh thả rơi tờ giấy xuống đầu gối, nhìn tôi, cắn môi vẻ trầm tư.

“Cái đó,” anh nói, “chính là điều kỳ quái. Nhưng anh không thấy mình làm sai chỗ nào. Giọng điệu trong các lá thư của James về tổng thể đều theo một hướng, và lá thư được mã hóa này càng nói rõ ràng hơn.”

Đôi mắt xanh lam dưới hàng lông mày rậm hung đỏ bắt gặp ánh mắt tôi.

“James muốn Charles cầu xin ân huệ của Louis,” anh chậm rãi nói, “nhưng ông ta không tìm kiếm sự ủng hộ để xâm lược Scotland. James không có hứng thú với việc giành lại ngai vàng.”

“Cái gì cơ?” Tôi vồ lấy tệp thư từ tay anh, luống cuống nhìn lướt qua đoạn văn bản nguệch ngoạc.

Jamie nói đúng; trong khi các lá thư từ những người ủng hộ bày tỏ hy vọng tràn trề về sự phục vị sắp đến thì thư từ của James gửi cho con trai lại chẳng đề cập tới những điều ấy, mà tất cả những gì ông ta quan tâm là Charles tạo được một ấn tượng tốt với Louis. Thậm chí khoản vay từ Manzetti ở Salerno cũng nhằm mục đích giúp cho Charles có cuộc sống bề ngoài như một quý ông ở Paris; chứ không phải để hỗ trợ cho bất kỳ lực lượng quân đội nào.

“Thật ra, anh đang nghĩ James là một người đàn ông bé nhỏ khôn ngoan,” Jamie nói, búng lên một lá thư trong số đó. “Vì cái này, Sassenach ạ, ông ta có rất ít tiền bạc riêng; vợ ông ta có một món lớn, nhưng bác Alex đã nói với anh rằng bà ta đã để lại tất cả cho nhà thờ khi qua đời. Giáo hoàng vẫn đang trợ giúp về tài chính cho James - rốt cuộc ông ta cũng là một quốc vương theo Công giáo và Giáo hoàng dự định ủng hộ lợi ích của ông ta chống lại Tuyển hầu tước Hanover.”

Anh vòng hai bàn tay ôm lấy một đầu gối, trầm tư nhìn đăm đăm vào đống giấy tờ nằm trên xô pha giữa hai chúng tôi.

“Philip của Tây Ban Nha và Louis - ý anh là Tiên Vương - đã cho ông ta một vài binh đoàn và mấy con thuyền, ba mươi năm trước, cùng với chúng, ông ta đã cố giành lại ngai vàng của mình. Nhưng tất cả đều xôi hỏng bỏng không; thời tiết xấu làm nhiều chiếc thuyền bị đắm, số còn lại thì không có hoa tiêu và đổ bộ lên nhầm địa điểm - mọi chuyện không như mong đợi, và cuối cùng, người Pháp chỉ đơn giản là lại ra khơi, cùng với James thậm chí còn chưa đặt chân lên đất Scotland. Bởi vậy, có lẽ từ nhiều năm trước, ông ta đã từ bỏ ý định giành lại ngai vàng. Nhưng ông ta có hai người con trai đang trưởng thành và không còn con đường nào khả dĩ cho bọn họ đặt chân trên cuộc đời này.

“Vậy nên anh tự hỏi, Sassenach ạ” - anh ngửa người ra sau một chút - “anh sẽ làm gì nếu ở vào tình huống như thế này? Câu trả lời có ở đó, rằng anh sẽ thử gặp mặt nếu người họ hàng tốt của anh, Louis - Đức vua nước Pháp - có thể xem xét sắp xếp cho một đứa con trai của anh một vị trí hứa hẹn trong quân đội cùng với những người dưới quyền. Một tướng quân của nước Pháp là một vị trí không tồi trong cuộc đời này.”

“Ừm.” Tôi suy nghĩ, gật đầu. “Đúng vậy, nhưng nếu em là một người đàn ông thông minh, có lẽ em không chỉ đến gặp Louis và cầu xin thôi, vì mối quan hệ họ hàng xa quá. Có lẽ em sẽ gửi con trai tới Paris và cố gắng làm cho Louis cảm thấy xấu hổ để phải đón nhận nó tại cung điện, và trong khi đó vẫn tiếp tục sống như thể em đang tích cực tìm cách giành lại ngai vàng.”

“Chỉ một lần này thôi, James đã công khai thừa nhận rằng người nhà Stuart sẽ không bao giờ cai trị Scotland nữa,” Jamie khẽ bổ sung, “rồi ông ta sẽ không còn giá trị gì đối với Louis.”

Và nếu không có khả năng phái Jacobite được trang bị vũ khí xâm chiếm nước Anh thì Louis sẽ ít có lý do để ban cho người họ hàng trẻ tuổi của mình, Charles, bất cứ thứ gì nhiều hơn số tiền thù lao còm cõi theo đúng khuôn phép lễ nghi mà ý kiến công chúng buộc ông ta phải cung cấp.

Đó không phải điều chắc chắn; những lá thư Jamie có thể lấy được, vài lá một lần, chỉ từ tháng Một trở lại đây, khi Charles đã tới Pháp và đều được mã hóa, viết bằng mật mã, nói chung là ngôn ngữ thận trọng, tình huống còn chưa rõ ràng. Nhưng tổng hợp tất cả bằng chứng đều chỉ về một hướng.

Nếu những điều Jamie phán đoán về động tĩnh của James là đúng thì nhiệm vụ của chúng tôi đã hoàn thành; thực tế kia sẽ không bao giờ xảy ra.

•••

Mải suy nghĩ về tất cả các sự kiện của đêm hôm trước, tôi mất tập trung suốt cả ngày hôm sau, dù là đến thăm nhà Marie d’Arbanville vào buổi sáng để nghe một nhà thơ Hungary biểu diễn, hay đến thăm một nhà chuyên nghiên cứu thảo dược ở khu vực lân cận để hái một ít cây nữ lang và rễ cây orris, rồi đến làm công việc của mình ở nhà thương Des Anges vào buổi chiều.

Cuối cùng, tôi bỏ ngang công việc, vì sợ rằng mình có thể vô ý gây ra thương tổn cho ai đó trong khi thiếu tập trung. Cả Murtagh lẫn Fergus đều chưa đến tháp tùng tôi về nhà, thế nên tôi thay ra chiếc váy dài mặc ngoài khi làm việc và ngồi trong văn phòng của Mẹ Hildegarde ngay bên trong tiền sảnh của nhà thương để đợi.

Tôi ở đó được khoảng một tiếng đồng hồ, lười nhác dùng các ngón tay chơi trò xếp nếp trên chiếc váy dài của mình thì nghe thấy tiếng chó sủa ở bên ngoài.

Người gác cổng đi vắng, như ông ta vẫn thường hay thế. Chắc là đi mua thức ăn hoặc là chạy việc lặt vặt cho một bà xơ nào đó. Và như thường lệ, khi ông ta vắng mặt, nhiệm vụ gác cổng nhà thương được giao cho anh chàng bốn chân có năng lực và hàm răng sắc nhọn - Bouton.

Tràng sủa cảnh cáo đầu tiên được nối tiếp bằng một tiếng gầm gừ trầm thấp cảnh báo kẻ xâm nhập đứng yên ở chỗ của hắn, nếu không sẽ có nguy cơ bị cắn đứt chân tức thì. Tôi nhổm người lên, thò đầu ra ngoài cửa văn phòng xem liệu có phải Cha Balmain đang dũng cảm mạo hiểm với con ác quỷ lần nữa để theo đuổi nhiệm vụ ban phước thánh của ông ta không. Nhưng hình dáng người đang tựa vào cái cửa sổ lớn có ô kính bị dây bẩn ở lối vào sảnh kia không phải là khổ người thừa thãi của vị linh mục mới vào nghề ấy. Đó là một người cao lớn, có chiếc váy kẻ ô duyên dáng rủ xuống quanh hai chân khi anh lùi lại phía sau trước con vật nhỏ bé đang nhe răng dưới chân mình.

Jamie chớp chớp mắt, hơi khựng lại bởi cuộc đột kích của chú chó. Đôi mắt anh sẫm lại khi nhìn thấy bóng dáng lờ mờ bên cửa sổ, anh chăm chú nhìn vào cái bóng đen ấy.

“Ồ, xin chào, con chó nhỏ,” anh lịch sự nói, bước tới một bước, đưa bàn tay ra. Bouton gầm gừ to hơn vài đề xi ben, anh liền lùi lại một bước.

“Ồ, như thế đúng không?” Jamie nói, nheo mắt nhìn con chó.

“Nghĩ lại đi, cậu nhóc,” anh khuyên, khinh khỉnh liếc nhìn xuống. “Ta lớn xác hơn mi nhiều lắm đấy! Ta sẽ không hành động hấp tấp vội vàng, nếu ta là mi.”

Bouton hơi nhúc nhích tại chỗ, vẫn tiếp tục ồn ào ở một khoảng cách xa.

“Nhanh hơn nữa,” Jamie nói, làm động tác giả nhử nó về một bên. Hàm răng Bouton táp đến cách bắp chân Jamie có vài phân, anh vội vàng rụt lại. Tựa người vào bức tường phía sau, anh khoanh hai tay trước ngực và gật gật đầu với con chó.

“Chà, anh bạn được đấy, ta công nhận. Khi đến lúc dùng răng, anh bạn đã tiến sát rạt ta, không hề sai lầm.” Bouton vểnh một bên tai lên vẻ hồ nghi trước bài diễn văn tử tế lịch sự này, nhưng lại quay trở về với tiếng gầm gừ gằn giọng.

Jamie đứng, một chân móc vào chân kia, giống như một người chuẩn bị dành thời gian đứng đó cả ngày. Ánh sáng nhiều màu sắc từ cửa sổ hắt qua mặt anh một màu xanh lơ, khiến anh trông giống như một bức tượng cẩm thạch lạnh lùng trong nhà thờ lớn bên cạnh.

“Chắc chắn mi nên làm gì đó hơn là làm phiền những vị khách viếng thăm vô tội chứ?” Anh hỏi, rất có dáng vẻ đàm đạo. “Ta đã nghe nói về mi - mi là anh chàng nổi tiếng với tài đánh hơi ra bệnh, đúng không? Vậy thì, tại sao bọn họ lại lãng phí mi vào những việc ngu ngốc như canh cửa nhỉ, trong khi mi có thể giúp ích trong việc đánh hơi những ngón chân bị bệnh gút và những lỗ hậu môn mưng mủ? Trả lời ta đi, nếu mi sẵn lòng!”

Một tiếng sủa đanh gọn đáp lại hai bàn chân đứng bắt tréo của anh, đó là câu trả lời duy nhất.

Có tiếng áo thụng dài chuyên động phía sau tôi khi Mẹ Hildegarde bước vào văn phòng.

“Cái gì thế?” Bà hỏi, nhìn thấy tôi đang chăm chú ngó ra góc tường kia. “Chúng ta có khách đến thăm à?”

“Bouton có vẻ như đang có ý kiến khác với chồng tôi,” tôi nói.

“Ta không cần phải kiên nhẫn chịu đựng chuyện này, mi biết đấy,” Jamie đang đe dọa. Một bàn tay lén lút hướng về phía cái ghim cài trên vai áo choàng của anh. “Một cú bung trùm thật nhanh bằng áo choàng của ta, và ta sẽ trói gô mi lại như một - ồ, bonjour, Madame’.” Anh lập tức đổi giọng sang tiếng Pháp ngay khi trông thấy Mẹ Hildegarde.

“Xin chào, ông Fraser.” Bà nghiêng nghiêng cái khăn trùm đầu một cách duyên dáng, như thể che giấu nụ cười rộng ngoác trên khuôn mặt hơn là để tỏ vẻ chào đón. “Tôi thấy ông đã làm quen với Bouton rồi. Có phải ông đang tìm bà nhà không?”

Đây dường như là lời báo hiệu dành cho tôi, tôi len lén đi ra khỏi văn phòng phía sau bà. Ông chồng nhiệt tình của tôi liếc nhìn từ Bouton cho tới cửa văn phòng, rõ ràng đã rút ra kết luận.

“Em đã đứng ở đó bao lâu rồi hả, Sassenach?” Anh lành lạnh hỏi.

“Đủ lâu,” tôi đáp, với lòng tự tin đến mức tự mãn vì là một trong những người được Bouton yêu quý. “Anh định làm gì với nó, khi anh đã cuộn được nó vào trong áo choàng của mình?”

“Ném nó qua cửa sổ và chạy trối chết chứ sao,” anh đáp, kèm một cái liếc nhanh vẻ kính sợ trước thân hình áp đảo của Mẹ Hildegarde. “Bà ấy có biết tiếng Anh không vậy?”

“May cho anh là không,” tôi đáp. Rồi chuyển sang nói tiếng Pháp để giới thiệu. “Ma mére, je vous présente mon mari, le seigneur de Broch Tuarach.[1]”

“Chào ông.” Mẹ Hildegarde lúc này đã nắm chắc khiếu hài hước của mình, bà chào đón anh với nét mặt vui vẻ thường lệ. “Chúng tôi sẽ nhớ bà nhà lắm đây, nhưng nếu ông đến đòi bà ấy, dĩ nhiên rồi.”

“Tôi không đến vì vợ của tôi đâu,” Jamie chen lời. “Tôi đến để gặp Mẹ, thưa Mẹ.”

•••

Ngồi trong văn phòng của Mẹ Hildegarde, Jamie đặt bó giấy tờ anh mang theo lên mặt bàn gỗ bóng loáng của bà. Bouton, vẫn tiếp tục chăm chăm đề phòng kẻ xâm nhập, nằm cạnh chân bà chủ của nó. Nó gối cái mõm trên hai chân trước, nhưng hai tai vẫn vểnh lên, môi vén lên để lộ ra một chiếc răng nanh phòng trường hợp nó được triệu gọi để cắn xé ngay tứ chi của vị khách.

Jamie nheo mắt nhìn Bouton, cố ý kéo bàn chân tránh xa cái mõm đen đang nhe nanh kia. “Ngài Gerstmann đã gợi ý rằng tôi có thể đến xin lời khuyên của Mẹ, thưa Mẹ, về những văn bản này,” anh nói, mở một thếp giấy dày và trải phẳng nó ra, chặn dưới hai bàn tay.

Mẹ Hildegarde nhìn Jamie một lát, rồi một bên lông mày nặng nề nhướng lên vẻ dò hỏi. Sau đó, bà chuyển sự chú ý sang thếp giấy, và rồi dường như hoàn toàn tập trung vào vấn đề trước mắt, trong khi vẫn nắm bắt được thông tin về một ca cấp cứu vừa mới được đưa đến nhà thươưg.

“Phải rồi!” Bà nói. Một ngón tay duỗi thẳng nhẹ nhàng lướt trên những đường kẻ của bản nhạc nguệch ngoạc, hết dòng này đến dòng khác, như thể bà nghe được các nốt nhạc bằng việc chạm vào chúng. Bà búng ngón tay một cái, gạt tờ giấy sang một bên, để lộ ra nửa tờ tiếp theo.

“Ông Fraser, ông muốn biết điều gì?” Bà hỏi.

“Tôi không biết, thưa Mẹ.” Jamie đang cúi người tới trước. Anh chạm vào những dòng kẻ màu đen, vỗ nhẹ lên vết bẩn do bàn tay của người viết bất cẩn quệt lên khuôn nhạc trước khi mực khô.

“Có điều gì đó kỳ lạ ở bản nhạc này, thưa Mẹ.”

Khuôn miệng rộng của xơ hơi nhếch lên trong dáng vẻ có phần giống một nụ cười.

“Thật ư, ông Fraser? Nhưng tôi hiểu - tôi tin ông sẽ không thấy bị xúc phạm - rằng đối với ông, bản nhạc này là… một cái ổ khóa mà ông không có chìa?”

Jamie cười thành tiếng, một bà xơ đi ngang qua hành lang giật mình vì âm thanh đó xuất hiện trong phạm vi nhà thương. Nó vốn là một nơi ồn ào, nhưng tiếng cười thì hiếm thấy.

“Đó là một cách mô tả lịch thiệp về sự bất lực của tôi, thưa Mẹ. Và cũng là sự thật. Mẹ có thể hát một trong số những đoạn nhạc này không?” - Ngón tay anh, dài hơn và mảnh khảnh hơn, nhưng gần như có cùng kích thước với ngón tay Mẹ Hildegarde, gõ nhẹ lên tấm giấy da, tạo ra tiếng lạo xạo khe khẽ - “Tôi không thể nói chắc nó xuất xứ từ Kyrie Eleison hay từ La Dame fait bien - ngoại trừ bằng từ ngữ,” anh nói thêm, toe toét cười.

Giờ đến lượt Mẹ Hildegarde bật cười.

“Quả thế, ông Fraser,” bà nói. “Chà chà, ít nhất ông cũng lắng nghe những từ ngữ!” Bà cầm tệp giấy lên, lật các trang phía trên cùng. Tôi có thể nhìn thấy thanh quản của bà rung lên yếu ớt trên cái vòng thít chặt của chiếc khăn trùm đầu khi bà đọc chúng, như thể bà đang thầm hát, và một bàn chân to đánh nhịp liên tục.

Jamie ngồi im lặng trên chiếc ghế đẩu, một bàn tay nắm lại đặt trên đầu gối, chăm chú quan sát bà xơ. Đôi mắt màu xanh chuyên chú, anh không mảy may chú ý đến những tiếng ồn đang diễn ra từ phần còn lại của nhà thương phía sau anh. Những bệnh nhân kêu thét, các hộ lý và các xơ đang quát tháo tới lui, gia đình bệnh nhân kêu la đau khổ hay tuyệt vọng và tiếng dụng cụ kim loại va chạm vọng lại qua các bức tường đá cổ xưa của tòa nhà, nhưng cả Jamie lẫn Mẹ Hildegarde đều không nhúc nhích.

Cuối cùng, Mẹ Hildegarde hạ các trang giấy xuống, nhìn anh chăm chú. Đôi mắt bà long lanh rạng rỡ và đột nhiên trông bà như một cô gái trẻ.

“Tôi nghĩ ông đã đúng!” Bà nói. “Ngay lúc này, tôi không có đủ thời gian để suy ngẫm nó một cách cẩn thận” - bà liếc nhìn về phía cửa, chỗ đó đang tối lại vì thân hình của một hộ lý chạy ngang qua với một bao tải lớn băng vải dùng để băng bó vết thương - “nhưng có thứ gì đó kỳ quái ở đây.” Bà gõ gõ lên những trang giấy trên bàn, xếp chúng thành một chồng gọn gàng.

“Thật phi thường!” Bà nói.

“Quả thế thật, thưa Mẹ! Mẹ có thể, bằng thiên bẩm của mình, nhận thức cụ thể nó là cái gì không? Sẽ rất khó khăn, nhưng tôi có lý do để cho rằng nó là một loại mật mã, và ngôn ngữ của tin nhắn này là tiếng Anh, mặc dù phần văn bản của các bài hát viết bằng tiếng Đức.”

Mẹ Hildegarde thốt ra một tiếng càu nhàu kinh ngạc.

“Tiếng Anh ư? Ông chắc chắn?”

Jamie lắc đầu. “Không chắc, nhưng tôi nghĩ vậy. Nguyên do là vì quốc gia nơi nó xuất xứ; các bài hát này được gửi từ nước Anh tới.”

“Được rồi, thưa ông,” bà nói, nhướng cong một bên lông mày. “Vợ ông nói tiếng Anh, đúng vậy không? Và tôi hình dung rằng ông sẽ sẵn lòng hy sinh để bà ấy đồng hành trợ giúp tôi trong việc cố gắng giải mã cho ông?”

Jamie nhìn bà, nụ cười nửa miệng trên mặt anh như là hình ảnh phản chiếu nụ cười của bà xơ. Anh cụp mắt liếc nhìn xuống chân, nơi Bouton đang kề sát, khe khẽ gầm gừ.

“Tôi sẽ làm một cuộc mặc cả, thưa Mẹ,” anh nói. “Nếu con chó nhỏ của mẹ không cắn vào mông tôi trên đường đi ra thì Mẹ có thể có vợ tôi.”

•••

Vì vậy, tối hôm đó, thay vì quay trở về nhà của Jared trên đường Tremoulins, tôi dùng bữa tối với các xơ trên chiếc bàn dài trong nhà ăn ở nhà thương Des Anges, rồi lui về để làm việc buổi tối cho Mẹ Hildegarde trong khu phòng riêng.

Có ba căn phòng trong khu phòng của Mẹ bề trên. Phòng phía ngoài được bày biện như một căn phòng khách, với một mức độ tương đối về sự giàu có. Đây hẳn là nơi bà thường tiếp đón các vị khách đến thăm chính thức. Căn phòng thứ hai là một thứ gì đó gây sốc, đơn giản vì tôi không ngờ tới. Ban đầu tôi có ấn tượng rằng căn phòng nhỏ này không có gì ngoại trừ một chiếc đàn cla-vơ-xanh lớn được làm từ gỗ óc chó sáng bóng và trang trí bằng những bông hoa vẽ tay đang đơm hoa từ một cành nho xoắn xuýt chạy dọc theo màn hướng âm phía trên những phím đàn bằng gỗ mun sáng loáng.

Nhìn kĩ lại, tôi thấy có vài món đồ nội thất khác trong phòng, bao gồm giá sách chạy dọc theo chiều dài của một bức tường, nhét đầy những tác phẩm âm nhạc và các bản thảo đóng quyển khâu tay giống như một cuốn Mẹ Hildegarde đang đặt trên giá chiếc cla-vơ-xanh.

Bà ra hiệu cho tôi tới ngồi trên một chiếc ghế bành đặt trước một cái bàn viết văn phòng nhỏ tựa vào tường.

“Bà sẽ tìm thấy giấy trắng và mực ở đó, thưa bà! Giờ, chúng ta hãy xem đoạn nhạc nhỏ này có thể nói với chúng ta điều gì.”

Bản nhạc được viết trên giấy da nặng, các dòng kẻ của khuôn nhạc thống trị cả trang giấy. Bản thân các nốt nhạc, các khóa son, dấu nghỉ và dấu thăng, tất cả đều được vẽ một cách vô cùng cẩn thận; đây đơn giản là một bản sao sạch sẽ cuối cùng, không phải là bản nháp hay một bản sáng tác nguệch ngoạc vội vàng. Nằm ngang phía trên trang giấy là tiêu đề Lied des Landes. Một bài hát đồng quê.

“Tiêu đề này, bà thấy không, nó gợi ý một thứ gì đó đơn giản, như một volkslied[2],” Mẹ Hildegarde nói, chỉ một ngón tay dài xương xẩu vào trang giấy. “Nhưng hình thức sáng tác thì có hơi khác lạ. Bà có thể đọc nhạc chứ?” Bàn tay to, khớp xương lớn và móng tay ngắn, hạ xuống các phím đàn bằng một cái chạm tinh tế không ngờ.

Ngó qua bờ vai dưới lớp áo trùm đen của bà Hildegarde, tôi hát ba dòng đầu của đoạn nhạc, và cố hết khả năng có thế để phát âm tiếng Đức. Rồi bà dừng chơi, xoay đầu lại ngước nhìn tôi.

“Đó là giai điệu cơ bản. Sau đó, nó lặp đi lặp lại theo nhiều cách biến tấu khác nữa - nhưng những biến tấu như thế này! Bà biết đấy, tôi đã thấy vài thứ gợi nhớ lại điều này. Do một ông lão người Đức nhỏ bé tên là Bach sáng tác; thỉnh thoảng ông ấy lại gửi cho tôi mấy thứ...” Bà vẫy tay về phía giá đựng các bản thảo viết tay. “Ông ấy gọi chúng là “Sự phát minh”, và chúng thực sự khá thông minh, có thể bộc lộ ra những biến tấu đó trong hai hay ba dòng giai điệu cùng một lúc. Cái này…” Bà bĩu môi về phía bản nhạc Lied[3] trước mặt chúng tôi, “giống một sự bắt chước vụng về những sáng tác của ông ấy. Thực tế, tôi thề rằng…” Bà bỗng lặng im, đứng dậy khỏi chiếc ghế băng bằng gỗ óc chó và đi đến giá sách, lướt một ngón tay dọc theo các dãy bản thảo.

Bà tìm thấy thứ mình muốn và quay trở lại cùng với ba đoạn nhạc.

“Đây là các đoạn nhạc của Bach. Chúng khá cũ rồi, tôi đã không xem chúng trong nhiều năm. Nhưng tôi gần như chắc chắn…” Bà sa vào im lặng, lật nhanh các trang bản thảo của Bach đặt trên đầu gối mình, cùng lúc đó, thi thoảng lại liếc nhìn bản Lied trên giá gác bản nhạc.

“Ha!” Bà reo lên đắc thắng và chìa ra một trong những bản nhạc của Bach cho tôi xem. “Nhìn thấy không?”

Trên tờ giấy có tiêu đề Biến tấu Goldberg bằng nét chữ viết tay loằng ngoằng, lem nhem. Tôi chạm vào tờ giấy với vài phần kính sợ khó nén và lại nhìn về phía bản Lied. Chỉ mất một thoáng so sánh là có thể nhìn ra ý bà muốn nói gì.

“Xơ nói đúng, chính là nó!” Tôi nói. “Có đôi chỗ nốt nhạc khác đi, nhưng về cơ bản chính là từ nguyên bản của Bach. Thật dị thường!”

“Vậy ư?” Bà nói, giọng điệu vô cùng thỏa mãn. “Giờ thì tại sao nhà soạn nhạc nặc danh này lại đánh cắp giai điệu và xử lý chúng theo một lối kỳ quái như vậy?”

Đây rõ ràng là một câu hỏi tu từ và tôi không buồn trả lời nhưng lại đưa ra một câu hỏi của chính mình.

“Ngày nay nhạc của Bach đang rất được ưa chuộng ư, thưa Mẹ?” Tôi tất nhiên chưa được nghe bất cứ bản nào tại các phòng khách hay chơi nhạc mà tôi từng tham dự.

“Không,” bà nói, lắc đầu trong khi chăm chú nhìn vào bản nhạc. “Ngài Bach không nổi tiếng ở Pháp; tôi tin ông ấy đã có một chút danh tiếng ở Đức và Áo vào mười lăm hay hai mươi năm trước, nhưng ngay cả hồi đó, nhạc của ông ấy cũng không được trình diễn nhiều lắm trước công chúng. Tôi e là nhạc của ông ấy là loại nhạc sẽ trường tồn, thông thái, nhưng không đi vào lòng người. Hừm. Giờ, có thấy chỗ này không?” Ngón tay to bè của bà gõ nhẹ vào chỗ này, chỗ kia và lật sang các trang khác rất nhanh.

“Hắn ta đã lặp lại cùng một giai điệu - gần như thế - nhưng thay đổi khóa mỗi lần. Tôi nghĩ có lẽ đây là điều hấp dẫn sự chú ý của chồng bà; nó rõ ràng ngay cả đối với một người không biết đọc bản nhạc, bởi vì các bộ khóa thay đổi - note tonique[4].”

Chính thế; mỗi lần đổi khóa được đánh dấu bằng một dòng kẻ sọc đôi, theo sau là một ký hiệu khóa son mới và bộ khóa của các nốt thăng hoặc giáng.

“Năm lần đổi khóa trong một đoạn nhạc ngắn như thế,” bà nói, gõ nhẹ lên đoạn nhạc cuối cùng lần nữa để nhấn mạnh. “Và những thay đổi này đều không có ý nghĩa gì cả đối với bản nhạc. Xem này, dòng nhạc cơ bản chính xác y hệt, nhưng chúng ta chuyển từ khóa nhạc có hai nốt giáng, là Si giáng trưởng, tới La trưởng, với ba nốt thăng. Điều lạ lùng hãy còn, giờ hắn đi tới một bộ khóa gồm hai nốt thăng, nhưng lại dùng nốt Sol thăng có dấu hóa!”

“Thật là khác thường,” tôi nói. Bổ sung một nốt Sol thăng có dấu hóa vào khu vực Rê trưởng có hiệu quả làm cho dòng nhạc giống hệt với khu vực La trưởng. Nói cách khác, không có bất kỳ lý do nào để thay đổi bộ khóa cả.

“Tôi không biết tiếng Đức,” tôi nói. “Mẹ có thể đọc phần lời không?”

Bà gật đầu, những nếp gấp của chiếc khăn trùm đầu màu đen sột soạt trong thoáng chốc, đôi mắt nhỏ hướng vào bản chép tay.

“Thật là một lời nhạc dở tệ!” Bà tự lầm bầm với chính mình. “Mặc dù người ta không mong đợi lời của các bài hát tiếng Đức nói chung giàu chất thơ, nhưng thực sự… vẫn...” Bà dừng khựng lại kèm theo một cái lắc đầu. “Chúng ta phải thừa nhận rằng giả thiết của chồng bà có thể đúng, thứ này là một loại mật mã, thông điệp nằm ẩn dưới những từ ngữ này. Vì thế ý nghĩa của chúng không phải nằm trên mặt chữ bề nổi.”

“Nó nói gì thế?” Tôi hỏi.

“Cô gái chăn cừu của tôi nô đùa với những con cừu của cô giữa vùng đồi núi xanh tươi,” bà đọc. “Ngữ pháp thật kinh khủng, mặc dù dĩ nhiên quyền tự do thường được người ta mang vào trong những bài hát, nếu người nhạc sĩ này khăng khăng viết những dòng giai điệu đó, thứ mà họ gần như thường xuyên làm nếu nó là một bài tình ca.”

“Mẹ biết nhiều bài tình ca ư?” Tôi tò mò hòi. Tối nay là một buổi tối đầy những sự ngạc nhiên về Mẹ Hildegarde.

“Bất cứ bản nhạc hay nào về cơ bản đều là một bản tình ca,” bà thản nhiên đáp. “Nhưng về phần ý bà muốn nói - phải, tôi đã xem rất nhiều bản. Khi tôi còn trẻ” - bà khoe ra hàm răng lớn trắng tinh khi cười, thừa nhận điều khó tưởng tượng nổi về mình khi còn bé - “Tôi là một kẻ có phần khác thường, bà hiểu chứ. Tôi có thể ghi nhớ bất cứ thứ gì mình nghe thấy và tôi viết sáng tác đầu tiên của mình ở tuổi lên bảy.” Bà ra hiệu về phía cây đàn cla-vơ-xanh, bề mặt gỗ véc ni sáng bóng.

“Gia đình tôi giàu có; nếu là đàn ông, không nghi ngờ gì tôi sẽ trở thành một nhạc sĩ.” Bà nói một cách đơn giản mà không hề thấy một sự nuối tiếc nào.

“Chắc chắn bà vẫn có thể sáng tác nhạc nếu bà kết hôn chứ?” Tôi tò mò hỏi.

Mẹ Hildegarde xòe hai bàn tay ra, trông chúng thật thô kệch dưới ánh đèn. Tôi đã nhìn thấy hai bàn tay đó giật ra một con dao găm cắm sâu vào xương, nắn những khớp lệch trở về thẳng hàng đúng lối, kẹp và kéo cái đầu lấm lem máu của một đứa trẻ nhô ra giữa hai chân mẹ nó. Và tôi đã trông thấy những ngón tay kia nấn ná trên những phím đàn gỗ mun với sự tinh tế nhẹ nhàng như bước chân của một con bướm đêm.

“Thôi nào,” bà nói, sau một thoáng trầm tư, “đó là lỗi của Thánh Anselm.”

“Nó là?”

Bà nhe răng cười toe toét trước biểu cảm của tôi, khuôn mặt không hề xinh đẹp của bà biến đổi hẳn đi so với vẻ ngoài nghiêm nghị lạnh lùng thường thấy.

“Ồ, phải. Cha đỡ đầu của tôi - Tiên Vương Mặt Trời[5],” bà bình thản bổ sung thêm, “đã tặng cho tôi một cuốn sách về cuộc sống của các vị thánh trong ngày lễ Thánh của tôi khi tôi lên tám. Đó là một cuốn sách rất đẹp,” bà hồi tưởng, “với những trang sách mạ vàng và một cái bìa sách nạm đá quý; nó có phần giống một tác phẩm nghệ thuật hơn là một tác phẩm văn chương. Thế nhưng tôi đã đọc nó. Và trong khi tôi say mê tất cả các câu chuyện trong đó - cụ thể là những người tử vì đạo ấy - có một thành ngữ về Thánh Anselm dường như đã giáng một đòn đánh sâu vào linh hồn tôi.”

Bà nhắm mắt lại và ngả đầu ra sau, hồi tưởng.

“Thánh Anselm là một người đàn ông vô cùng thông thái và bác học, một vị tiến sĩ của nhà thờ, đồng thời cũng là một giám mục, một người đàn ông quan tâm tới những người được mình che chở, dẫn dắt và chăm nom đến những nhu cầu thiết yếu của họ cũng như đời sống tinh thần. Truyện mô tả lại tất cả mọi việc ngài làm và rồi tóm tắt lại trong những từ này: Vậy là ngài đã chết, cái kết của một cuộc đời minh bạch hữu ích, vì lẽ đó nó mang đến cho ngài vương miện trên cõi thiên đường.” Bà dừng lại, nhẹ nhàng co duỗi hai bàn tay đặt trên đầu gối.

“Có điều gì đó trong câu nói ấy đã thu hút tôi mạnh mẽ. Một cuộc đời minh bạch hữu ích.” Bà mỉm cười với tôi. “Tôi có thể nghĩ đến nhiều văn bia còn tồi tệ hơn cái đó, thưa bà.” Mẹ Hildegarde đột nhiên xòe hai bàn tay và nhún vai, một cử chỉ duyên dáng lạ kỳ.

“Tôi đã ước mong mình có ích,” bà nói. Sau đó, gạt đi cuộc chuyện trò vu vơ, bà đột ngột quay lại với bản nhạc trên giá đàn.

“Vậy,” bà nói. “Đơn giản sự thay đổi trong các bộ khóa đó - note tonique đó - cái đó thật là kỳ quặc. Chúng ta có thể đi đến đâu với nó?”

Miệng tôi há hốc kèm theo một tiếng reo kinh ngạc nho nhỏ. Tôi không để ý rằng chúng tôi vẫn đang nói chuyện bằng tiếng Pháp. Nhưng nhận ra lúc Mẹ Hildegarde kể câu chuyện của bà, tôi vẫn đang suy nghĩ bằng tiếng Anh, nên khi liếc nhìn lại bản nhạc, nó khiến tôi sửng sốt.

“Cái gì thế?” Mẹ Hildegarde hỏi. “Bà nghĩ ra điều gì ư?”

“Cái khóa nhạc!” Tôi nói, bật cười. “Trong tiếng Pháp, cái khóa nhạc là note tonique, nhưng từ để gọi một đồ vật mà mở…” Tôi chỉ vào chùm chìa khóa - bình thường được mang theo trên thắt lưng của bà - mà Mẹ Hildegarde đã để sang bên cạnh giá sách khi chúng tôi đi vào phòng này. “Đó là một passe-partout[6], đúng không?”

“Đúng thế,” bà đáp, nhìn tôi vẻ bối rối khó hiểu. Bà chạm vào chiếc chìa khóa vạn năng. “Une passe-partout[7]. Cái này,” bà nói, chỉ vào một cái chìa dạng ống có nhiều rãnh, “có thể gọi là clef[8] thì thích hợp hơn.”

“Clef!” Tôi reo lên sung sướng. “Hoàn hảo!” Tôi chỉ tay vào tờ giấy chép bản nhạc trước mặt. “Thấy không, ma mère, trong tiếng Anh, nó cũng được gọi như thế. “Khóa” vừa là nền tảng căn bản của đoạn nhạc, vừa là một “cái chìa khóa” dùng để mở ổ khóa. Trong tiếng Pháp, clef là một cái chìa khóa, trong tiếng Anh, clef cũng là một phần của bộ khóa nhạc. Và khóa nhạc này cũng chính là chìa khóa của mật mã. Jamie đã nói anh ấy nghĩ nó là một mật mã bằng tiếng Anh! Được tạo ra bởi một người Anh có khiếu hài hước hiểm hóc,” tôi bổ sung.

Với sự hé lộ đó, mật mã này được chứng minh là không quá khó để giải đoán. Nếu người tạo ra nó là người Anh, tin nhắn được mã hóa này cũng có thể là tiếng Anh, điều đó có nghĩa là những lời hát bằng tiếng Đức này chỉ được cung cấp như là nguồn chữ cái. Và theo những gì đã thấy lúc trước khi Jamie cố gắng giải mã với bảng chữ cái và việc thay đổi thứ tự các chữ, chỉ mất một vài lần thử là có thể xác định được nguyên mẫu của mật mã này.

“Hai nốt giáng có nghĩa là Mẹ phải lấy mỗi chữ cái thứ hai, tính từ đầu mỗi đoạn,” tôi nói, cuống cuồng viết nguệch ngoạc kết quả xuống. “Và ba nốt thăng nghĩa là lấy mỗi chữ cái thứ ba, tính từ cuối mỗi đoạn. Tôi cho là người này đã dùng tiếng Đức để che giấu bởi vì nó quá dài dòng; mất gần gấp đôi số từ cần có để nói cùng một vấn đề nếu dùng tiếng Anh.”

“Bà bị dây mực trên mũi kìa,” Mẹ Hildegarde nhắc. Bà chăm chú nhìn qua vai tôi. “Nó có nghĩa không?”

“Có,” tôi nói, miệng đột nhiên khô khốc. “Có, nó có nghĩa.”

Được mã hóa, thông điệp đó ngắn gọn và đơn giản. Đồng thời cũng vô cùng phiền phức.

“Các thần dân trung thành của Đức bệ hạ ở nước Anh đang đợi sự trở lại danh chính ngôn thuận của Người. Tổng số tiền năm mươi nghìn bảng sẵn sàng dành để phục vụ Người. Vì để bày tỏ lòng trung thành, món tiền này sẽ chỉ được trao trực tiếp khi Điện hạ đến đất Anh,” tôi đọc. “Và kết thúc bức thư có một chữ “S”. Tôi không biết liệu đó là một dạng chữ ký hay chỉ là thứ gì đó mà người tạo ra bức thư này dùng để khiến từ tiếng Đức có vẻ đúng nghĩa.”

“Hừm.” Mẹ Hildegarde tò mò liếc nhìn lời nhắn được giải mã, rồi lại liếc sang tôi. “Tất nhiên, bà sẽ biết được thôi,” bà gật đầu, nói, “nhưng bà có thể đảm bảo với chồng bà rằng tôi sẽ giữ bí mật chuyện này.”

“Anh ấy sẽ không yêu cầu xơ giúp đỡ nếu anh ấy không tin tưởng xơ,” tôi nói.

Cặp lông mày nhướng lên tới tận vành khăn trùm đầu, bà gõ lên tờ giấy viết nháp vẻ khẳng định.

“Nếu đây là những nỗ lực mà chồng bà đang dính líu đến thì ông ấy sẽ vô cùng mạo hiểm khi tin tưởng bất kỳ ai. Hãy trấn an ông ấy rằng tôi là người rất trọng danh dự,” bà lạnh lùng nói thêm.

“Tôi sẽ làm thế,” tôi mỉm cười, đáp.

“Tại sao, chère Madame,” bà thoáng nhìn tôi, nói, “bà trông hơi xanh xao đấy! Bản thân tôi thường thức khuya khi làm việc nên tôi ít chú ý tới thời gian, nhưng hẳn là đã hơi muộn đối với bà rồi.” Bà liếc nhìn chiếc đồng hồ nến đang cháy trên cái bàn nhỏ cạnh cửa.

“Chao ôi! Muộn quá rồi. Tôi sẽ gọi xơ Madeleine đưa bà tới phòng ngủ của bà nhé?” Jamie đã đồng ý, một cách miễn cưỡng, với gợi ý của Mẹ Hildegarde rằng tôi sẽ ngủ đêm ở tu viện Des Anges tối nay để khỏi phải quay về nhà qua những đường phố tối tăm vào ban đêm.

Tôi lắc đầu, dù đã thấy mệt và hơi đau lưng vì ngồi trên ghế đẩu, nhưng tôi không muốn đi ngủ. Những hàm ý của thông điệp bằng âm nhạc này khiến người ta quá lo lắng, không cho phép tôi ngủ ngay bây giờ, trong bất kỳ trường hợp nào.

“Vậy thì chúng ta hãy nghỉ giải lao một chút, để chúc mừng công việc đã hoàn thành của bà.” Mẹ Hildegarde đứng dậy và đi ra phòng ngoài, tôi nghe có tiếng rung chuông. Ngay sau đó, một bà xơ phục vụ đi đến, mang theo một khay đựng sữa nóng và mấy chiếc bánh kem nhỏ, theo sau là Bouton. Bà xơ phục vụ đặt một chiếc bánh lên cái đĩa sứ nhỏ và để nó xuống sàn nhà trước mặt chú chó như một điều hiển nhiên, rồi để bên cạnh đó một bát sữa.

Trong khi tôi nhấm nháp sữa nóng của mình, Mẹ Hildegarde sắp xếp thành quả lao động của chúng tôi và để nó lên chiếc bàn văn thư, thay vào giá nhạc của chiếc cla-vanh-xơ một tập bản nhạc chép tay.

“Tôi sẽ chơi nhạc cho bà nghe,” Mẹ Hildegarde tuyên bố. “Nó sẽ giúp thần trí bà thanh tĩnh lại và ngủ ngon.”

Bản nhạc đó nhẹ nhàng và êm ái, giai điệu bài hát như nhịp sóng vỗ trở đi trở lại từ giọng kim xuống giọng trầm trên một khuôn nhạc rắc rối thú vị, nhưng không có áp lực như nhạc của Bach.

“Đó là bản nhạc của xơ ư?” Tôi hỏi, chọn lúc bà ngừng lại, nhấc tay lên sau đoạn kết của bản nhạc.

Mẹ Hildegarde lắc đầu mà không quay người lại.

“Không. Một người bạn của tôi, Jean Philippe Rameau. Một nhà lý luận tài ba, nhưng ông ấy không đam mê viết nhạc lắm.”

Tôi chắc hẳn đã mơ màng ngủ, bản nhạc này ru ngủ các giác quan của tôi, vì tôi đột ngột tỉnh dậy khi nghe thấy tiếng thì thào của xơ Madeleine bên tai mình, và nắm tay vững vàng, ấm áp của bà đang đỡ dưới cánh tay nâng tôi dậy, dẫn tôi đi.

Ngoái nhìn lại, tôi trông thấy tấm lưng rộng trùm kín dưới lớp áo chùng đen của Mẹ Hildegarde, và bờ vai mạnh mẽ bên dưới chiếc khăn trùm đầu của bà đang chuyển động khi bà chơi đàn, lúc này bà đã chìm vào thế giới linh thiêng trong căn phòng nhỏ. Trên ván sàn cạnh chân bà, Bouton nằm đó, mõm tì lên hai chân trước, thân hình bé nhỏ nằm thẳng như một mũi com-pa.

•••

“Vậy,” Jamie nói, “nó đi xa hơn là một cuộc trò chuyện - có lẽ thế.”

“Có lẽ ư?” Tôi nhắc lại. “Một lời đề nghị năm mươi nghìn bảng nghe rõ rành rành ra đấy.” Năm mươi nghìn bảng, theo chuẩn tiền tệ bây giờ là thu nhập một năm của một đại công tước.

Anh nhướng mày vẻ châm biếm trước bản nhạc viết tay mà tôi mang về từ chỗ tu viện.

“Phải nhỉ! Một lời mời chào giống như thế khá là an toàn, nó phụ thuộc vào việc Charles hoặc James có đặt chân lên đất Anh hay không. Nếu Charles ở Anh, điều đó có nghĩa là cậu ta đã có đủ chỗ dựa từ những nơi khác để đưa cậu ta tới Scotland trước. Không,” anh nói, đưa tay xoa cằm vẻ nghĩ ngợi, “lời mời chào này thú vị ở chỗ nó là dấu hiệu khẳng định đầu tiên cho chúng ta thấy rằng những người nhà Stuart - hoặc ít nhất một trong số họ - thực tế đang thúc đẩy một nỗ lực để trở về phục vị.”

“Một trong số họ ư?” Tôi bắt được điểm nhấn mạnh trong đó. “Ý anh là anh nghĩ James không có mặt trong chuyện này?” Tôi nhìn vào thông điệp được mã hóa kia với sự hứng thú tăng lên.

“Thông điệp này được dành cho Charles,” Jamie nhắc tôi nhớ, “và nó đến từ nước Anh - không qua Rome. Fergus không lấy nó từ một người đưa tin cụ thể, mà trong một bưu kiện có những dấu niêm phong của Anh; không phải từ người đưa tin của Giáo hoàng. Và mọi điều anh đã thấy trong những bức thư của James…” Anh lắc đầu, cau mày. Anh chưa cạo râu và ánh ban mai ngẫu nhiên bắt lấy những tia lấp lánh màu đồng quanh bộ râu lởm chởm màu nâu vàng của anh.

“Bưu kiện đó đã được mở ra; Charles đã xem bản chép tay này. Không có ngày tháng ghi trên đó nên anh không biết nó đến tay cậu ta bao lâu rồi. Và dĩ nhiên, chúng ta không có những bức thư Charles gửi cho cha mình. Nhưng trong bất kỳ bức thư nào của James không thấy nhắc đến ai có khả năng là một nhạc sĩ, chưa kể tới những lời hứa hẹn rõ ràng về sự hỗ trợ đến từ nước Anh.”

Tôi có thể nhận ra phương hướng anh đang nhắm tới.

“Và Louise de La Tour đang lảm nhảm mãi về việc Charles có ý định nhờ hủy bỏ cuộc hôn nhân của cô ấy như thế nào và tuyên bố cưới cô ấy làm vợ ra sao một khi cậu ta lên làm vua. Vậy anh nghĩ Charles không phải chỉ đang khoác lác để gây ấn tượng với cô ấy thôi ư?”

“Có lẽ không,” anh nói. Anh rót nước từ cái bình cạnh giường vào chiếc chậu và vục nước lên rửa mặt, chuẩn bị cạo râu.

“Vậy có thể nào Charles đang tự ý hành động không?” Tôi hỏi, bị khả năng này làm cho sợ hãi và kích thích. “James đã sắp đặt cho cậu ta giả vờ như bắt đầu một nỗ lực để trở về giành ngai vàng, nhằm khiến Louis bị ấn tượng bởi giá trị tiềm tàng của người nhà Stuart, nhưng…”

“Nhưng Charles không giả vờ?” Jamie cắt ngang. “Phải, trông có vẻ như thế đấy. Có khăn lông ở đó không, Sassenach?” Hai mắt nhắm tịt lại và mặt tong tỏng nước, anh đang gõ nhẹ lên mặt bàn. Tôi cất bản chép tay kia đi để tránh bị nước dây vào và tìm thấy chiếc khăn lông vắt phía cuối thành giường.

Anh kiểm tra con dao cạo với vẻ bất mãn, quyết định sẽ dùng nó, cúi xuống bàn trang điểm của tôi để soi gương và bắt đầu cạo bọt trên hai má.

“Tại sao việc em tẩy lông chân và lông nách bị coi là man rợ, còn anh cạo râu trên mặt thì lại không?” Tôi hỏi, quan sát anh bặm môi trên xuống để cạo phần râu dưới mũi với những nhát cạo tinh tế.

“Đúng thế,” anh đáp, nghiêng mặt nhìn xéo vào gương. “Nhưng nó ngứa ngáy khó chịu như ma hành nếu anh không cạo đi.”

“Anh đã bao giờ để râu chưa?” Tôi tò mò hỏi.

“Không chủ ý để,” anh đáp, cười nửa miệng khi cạo một bên má, “nhưng thi thoảng anh có để khi không thể ngăn nó mọc - khi anh sống như một kẻ ngoài vòng pháp luật ở Scotland. Khi phải lựa chọn giữa việc cạo râu trong tiết trời giá lạnh với một con dao cùn vào mỗi buổi sáng hay là bị ngứa ngáy, anh đã chọn chịu ngứa.”

Tôi cười to, nhìn anh kéo con dao cạo dọc theo đường quai hàm bằng một nhát kéo dài.

“Em không tưởng tượng nổi trông anh như thế nào với một bộ râu rậm. Em chỉ mới nhìn thấy anh ở giai đoạn râu lởm chởm thôi.”

Anh nhếch mép cười, lại cạo ngược một đường ở phía quai hàm bên kia khi loại bỏ đám râu ở phần dưới gò má.

“Lần tới chúng ta được mời tới Versailles, Sassenach ạ, anh sẽ hỏi xem liệu chúng ta có thể đến thăm sở thú hoàng gia không. Louis nuôi một con vật gọi là đười ươi ở đó, một trong những vị thuyền trưởng đã mang nó từ Borneo về. Em đã thấy nó bao giờ chưa?”

“Rồi,” tôi đáp, “sở thú ở London có một cặp đười ươi hồi trước chiến tranh.”

“Vậy em sẽ biết trông anh như thế nào lúc có râu,” anh nói, mỉm cười với tôi khi đã hoàn thành việc cạo râu với một đường cạo cẩn thận dưới cằm. “Lôi thôi và xốc xếch. Khá giống Tử tước Marigny,” anh bổ sung, “chỉ có điều nó màu đỏ.”

Dường như cái tên này gợi cho anh nhớ ra điều gì, anh quay trở lại chủ đề đang thảo luận dở, lau sạch hết bọt còn sót lại trên mặt bằng khăn vải lanh.

“Vậy nên anh cho rằng điều chúng ta phải làm bây giờ, Sassenach ạ,” anh nói, “là sát sao để mắt tới những người Anh ở Paris.” Anh cầm lên bản chép tay ở trên giường và lật giở các trang với vẻ trầm ngâm. “Nếu có bất kỳ ai thực sự sẵn lòng hỗ trợ trên quy mô lớn thế này, anh nghĩ có lẽ bọn họ sẽ cử một phái viên đến gặp Charles. Nếu anh định mạo hiểm năm mươi nghìn bảng thì có lẽ anh muốn thấy mình sẽ kiếm về được thứ gì từ số tiền đó, đúng không?”

“Phải, đúng thế,” tôi trả lời. “Và nhân thể nói tới những người Anh, không biết Hoàng tử Điện hạ yêu nước định mua rượu brandy từ anh và Jared, hay là cậu ta tình cờ hạ cố bảo trợ cho sự phục vụ của ông Silas Hawkins nhỉ?”

“Ông Silas Hawkins, người quá mức hào hứng muốn biết về xu thế chính trị ở Scotland ư?” Jamie lắc đầu với tôi vẻ thán phục. “Và tiện đây, anh đã nghĩ mình cưới em là bởi vì em có một khuôn mặt xinh đẹp và một vòng ba ngon lành. Nhưng không ngờ em cũng có đầu óc nữa!” Anh gọn gàng né được cú bạt tai của tôi và ngoác miệng cười.

“Anh không biết, Sassenach ạ, nhưng anh sẽ biết trước khi ngày hôm nay kết thúc.”

[1] Tiếng Pháp: Thưa Mẹ, tôi xin giới thiệu chồng tôi, Lãnh chúa Broch Tuarach.

[2] Tiếng Đức: nhạc dân gian, đồng quê…

[3] Tiếng Đức: là bài hát để hát đơn ca và độc tấu piano.

[4] Tiếng Pháp: âm chủ.

[5] Vua Louis XIV còn được gọi là Nhà Vua Mặt Trời, ở thời điểm này trong truyện đang là thời trị vì của Louis XV.

[6] Tiếng Pháp: Chìa khóa vạn năng.

[7] Tiếng Pháp: Một chiếc chìa khóa vạn năng.

[8] Tiếng Pháp: Vừa có nghĩa là chìa khóa, vừa có nghĩa là khóa nhạc.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.