Sau thời kỳ đầu im lặng quan sát từ trong góc, Fergus đã trở thành một phần của gia đình và chính thức là một cậu bé chăn ngựa, cùng với Rabbie MacNab.
Dù ít hơn Fergus một, hai tuổi nhưng Rabbie vẫn to ngang cậu bé gầy gò người Pháp. Chúng nhanh chóng trở thành đôi bạn gắn bó, trừ những lúc cãi nhau - khoảng hai hoặc ba lần một ngày - và cố gắng giết nhau. Một sáng nọ, trận đánh lộn đã leo thang, chúng đấm đá, vung tay vung chân loạn xạ, lăn qua kho trữ bơ sữa và làm đổ hai chén kem dùng để lên men được Jamie lấy ra.
Anh tóm lấy cái gáy trơ xương của hai thằng nhóc bất trị, tống chúng vào khu vực cách biệt của chuồng gia súc với thái độ kiên quyết. Tôi nghĩ anh đã vượt qua mọi đắn đo còn lại để thi hành hình phạt về thể chất với chúng. Sau đó, anh sải bước ra ngoài, lắc đầu và cài lại thắt lưng, rồi cùng Ian cưỡi ngựa lên làng Broch Mordha. Một lúc sau, hai cậu nhóc lò dò xuất hiện, chúng đã nguôi ngoai và vì vừa phải cùng nếm trải đau đớn nên giờ lại trở thành bạn thân.
Chúng nguôi ngoai đến mức chấp nhận cho bé Jamie bám riết lấy mình trong lúc làm việc vặt. Đến cuối buổi sáng, tôi liếc qua cửa sổ và thấy ba đứa trẻ chơi đùa trong sân với quả bóng làm từ giẻ rách. Hôm đó là một ngày lạnh lẽo, mù sương, ba đứa trẻ thở ra những làn khói mỏng khi chạy nhảy và la hét.
“Thằng bé thật cứng cáp,” tôi nhận xét với Jenny, chị đang tìm kiếm một cái khuy trong hộp kim chỉ. Chị ngẩng lên và nhìn thấy khung cảnh tôi đang quan sát, liền mỉm cười.
“Ồ, đúng vậy, bé Jamie rất đáng yêu.” Chị tiến tới, đứng cạnh tôi bên cửa sổ, quan sát trò chơi dưới sân.
“Thằng bé giống bố nó như tạc,” chị âu yếm nói, “nhưng chị nghĩ, nó sẽ to hơn bố bởi cái vai kia. Có thể nó sẽ to cao bằng cậu nó, nhìn hai cái chân mà xem!” Tôi nghĩ chị nói đúng, tuy bé Jamie mới gần bốn tuổi và có thân hình mũm mĩm của đứa trẻ mới biết đi nhưng cậu nhóc đã sở hữu đôi chân dài cùng tấm lưng rộng bằng phẳng. Cậu có khung xương thanh thoát giống như người cậu cùng tên, khí chất cũng có nét tương đồng, toát lên vẻ dẻo dai, khỏe mạnh.
Tôi quan sát cậu bé vồ bóng, nhấc nó lên một cách khéo léo và ném đủ mạnh để lướt qua đầu Rabbie MacNab, khiến Rabbie vừa chạy theo vừa la hét để tìm lại.
“Thằng bé còn có nhiều điểm khác giống cậu nó,” tôi nói. “Em nghĩ, sau này nó cũng thuận tay trái.”
“Ôi, Chúa ơi!” Jenny thốt lên và cau mày, ngắm nhìn con trai mình. “Chị hy vọng điều đó không xảy ra, nhưng có thể em nói đúng.” Chị lắc đầu, thở dài.
“Chúa ơi, chị vẫn nghĩ về vấn đề mà Jamie tội nghiệp mắc phải khi thuận tay trái! Mọi người đều cố gắng sửa cho nó, từ bố mẹ đến thầy giáo, nhưng nó luôn bướng bỉnh như một đứa bé ngớ ngẩn và không chịu thay đổi. Trừ cha của anh Ian.” Chị nói thêm sau khi suy nghĩ.
“Ông ấy không nghĩ thuận tay trái là sai sao?” Tôi thắc mắc, bởi tôi biết quan niệm chung của thời đại này là thuận tay trái đồng nghĩa với xui xẻo bậc nhất và tệ hơn nữa là họ bị coi như bị quỷ ám. Jamie viết - chật vật - bằng tay phải, bởi anh bị đánh đập thường xuyên ở trường do cầm bút lông ngỗng bằng tay trái.
Jenny lắc đầu, những lọn tóc xoăn màu đen lúc lắc bên dưới chiếc khăn trùm đầu.
“Không, già John Murray là một người kỳ lạ. Ông ấy bảo rằng, nếu Chúa ban sự mạnh mẽ cho cánh tay trái của Jamie thì nó không nên trở thành kẻ tội đồ từ chối món quà của Chúa. Và già John là một tay kiếm hiếm thấy, nên cha của chị nghe theo, để Jamie học cách chiến đấu bằng tay trái.”
“Em nghĩ Dougal MacKenzie đã dạy Jamie chiến đấu bằng tay trái,” tôi nói. Tôi muốn biết Jenny nghĩ sao về ông cậu Dougal.
Chị gật đầu, liếm đầu sợi chỉ trước khi xỏ nhẹ qua lỗ kim.
“Phải, đúng thế, nhưng đó là sau này, khi Jamie đã trưởng thành và tới làm con nuôi của Dougal. Cha của Ian là người đầu tiên dạy nó chiến đấu.” Chị mỉm cười, quan sát chiếc áo trong lòng.
“Chị nhớ, khi Ian và Jamie còn nhỏ, già John đã nói với Ian rằng nhiệm vụ của anh ấy là đứng về phía bên phải của Jamie, anh ấy phải bảo vệ mặt yếu hơn của chủ nhân trong một trận đánh. Anh ấy đã làm theo - cả hai bọn họ thực hiện lời căn dặn rất nghiêm túc. Chị nghĩ già John đã đúng,” chị nói thêm, cắt chỗ vải thừa. “Sau một thời gian, không ai có thể đánh lại hai người, thậm chí cả những chàng trai nhà MacNab. Jamie và Ian đều to lớn, họ là những dũng sĩ khỏe mạnh, và khi họ đứng cạnh nhau, vai kề vai, không ai có thể hạ gục họ cho dù đông người hơn.”
Chị bật cười, vuốt tóc ra sau tai.
“Một lúc nào đó, em hãy thử quan sát họ đi bộ ra cánh đồng cùng nhau. Chị không nghĩ họ nhận ra thói quen của mình, nhưng họ thường làm vậy. Jamie luôn đi bên trái nên Ian đi ở vị trí bên phải, bảo vệ mặt yếu hơn của nó.”
Jenny chăm chú quan sát khung cảnh bên ngoài cửa sổ, chiếc áo trên lòng bị bỏ quên trong chốc lát và chị đặt một tay lên cái bụng đang nhô ra.
“Chị hy vọng nó là con trai,” chị nói, nhìn đứa con trai tóc đen dưới sân. “Dù thuận tay trái hay không, thật tốt nếu nó có một đứa em trai giúp đỡ.” Tôi thấy chị liếc bức tranh trên tường - Jamie hồi còn bé đứng giữa hai đầu gối của anh trai, Willie. Cả hai khuôn mặt trẻ con đều có cái mũi hếch, thần thái nghiêm trang; bàn tay che chở của Willie đặt trên vai của em trai.
“Jamie thật may mắn khi có Ian,” tôi nói.
Jenny dời mắt khỏi bức tranh và chớp mắt một cái. Chị hơn Jamie hai tuổi, ít hơn William ba tuổi.
“Phải, đúng vậy. Và chị cũng thế,” chị nói nhỏ, lại cầm cái áo lên.
Tôi nhặt một cái áo khoác ngoài của trẻ em trong rổ kim chỉ và lộn trái nó để khâu lại chỗ bị bục chỉ ở đường khâu bên trong ống tay áo. Phòng khách vừa ấm áp vừa dễ chịu, còn thời tiết ngoài kia quá lạnh nên mọi người không ra ngoài, chỉ có đám trẻ nô đùa và đàn ông làm việc. Trong lúc chúng tôi khâu vá, các ô cửa sổ chẳng mấy chốc đã mờ đi, cách ly chúng tôi khỏi thế giới băng giá bên ngoài.
“Nhân nói chuyện về anh em,” tôi nói, nheo mắt lại để xỏ chỉ vào lỗ kim, “hồi nhỏ, chị có hay gặp cậu Dougal và Colum MacKenzie không?”
Jenny lắc đầu. “Chị chưa bao giờ gặp cậu Colum. Cậu Dougal đến đây một, hai lần để đưa Jamie về nhà ăn tất niên hoặc những dịp tương tự, nhưng chị không cho rằng mình biết rõ ông ấy.” Chị ngước nhìn, hai mắt sáng lên vì háo hức. “Em thì biết họ. Nói chị nghe, cậu Colum MacKenzie trông thế nào? Chị luôn muốn biết điều đó sau khi nghe những mẩu tin tức của khách khứa, nhưng cha mẹ chị không bao giờ kể về cậu ấy.” Chị dừng lại một lúc, nhăn mày.
“Không, chị nhớ nhầm, cha từng nói về cậu ấy, một lần. Ngay sau khi cậu Dougal quay về Beannachd cùng Jamie. Cha vươn người ra ngoài lan can, quan sát họ cưỡi ngựa đi khỏi tầm mắt và chị bước tới để vẫy tay chào Jamie - chị luôn cảm thấy đau buồn mỗi khi nó đi, bởi chị không biết nó sẽ đi bao lâu. Dù sao chăng nữa, chị quan sát họ đi trên đỉnh đồi nhấp nhô, rồi cha chuyển mình, lẩm bẩm nói: “Nếu Colum chết đi là Chúa giúp Dougal MacKenzie.” Sau đó, ông nhớ ra chị ở đó nên quay sang mỉm cười và hỏi: “Được rồi, cô gái, chúng ta có gì cho bữa tối đây?” Ông không nói gì thêm.” Đôi lông mày đen mượt mà và đậm màu như nét chữ đẹp viết nên uốn cong khi đặt câu hỏi.
“Chị nghĩ điều đó thật kỳ quặc vì theo những gì chị nghe được - ai cũng biết - thì cậu Colum bị tàn tật và cậu Dougal làm những công việc của một lãnh chúa thay anh trai, như đi thu tô, giải quyết các yêu cầu - và dẫn dắt thị tộc đánh trận khi cần thiết.”
“Đúng vậy. Nhưng…” Tôi ngập ngừng, không biết phải miêu tả mối quan hệ cộng sinh này thế nào cho đúng. “Chà,” tôi mỉm cười, “điều sát thực nhất mà em có thể kể với chị là, một lần, em nghe lỏm họ cãi nhau và Colum đã nói với Dougal thế này: “Nếu hai anh em nhà MacKenzie chỉ có một công cụ gây giống và một bộ não, vậy thì anh rất mừng vì bộ não chính là thứ mà anh có được!””
Jenny bật cười vì ngạc nhiên, sau đó chị nhìn tôi chằm chằm, một tia sáng lóe lên trong đôi mắt màu xanh dương, giống như đôi mắt của em trai chị.
“Ồ, mối quan hệ của họ là như vậy sao? Chị từng thắc mắc khi nghe cậu Dougal nói chuyện về con trai của cậu Colum, Hamish bé bỏng; có vẻ ông ấy yêu thương thằng bé không chỉ như một người chú.”
“Chị thật nhanh trí, Jenny,” tôi nói, nhìn chị chằm chằm. “Rất nhanh trí! Em phải mất một thời gian dài để hiểu chuyện, dù em thấy họ mỗi ngày, suốt mấy tháng trời.”
Chị nhún vai khiêm tốn, nhưng một nụ cười thấp thoáng trên môi.
“Chị nghe,” chị nói, “những điều người ta nói - và những điều người ta không kể. Mọi người đồn thổi nhiều chuyện kinh khủng ở đây, tại xứ cao nguyên này. Nên” - chị cắn đứt sợi chỉ, nhổ gọn gàng chỗ chỉ trong miệng ra lòng bàn tay - “kể chị nghe về Leoch đi! Người ta nói nó lớn nhưng không đẹp bằng Beauly hay Kilravock.”
Chúng tôi làm việc và trò chuyện cả buổi sáng, chuyển từ khâu vá sang cuộn len để đan và thiết kế họa tiết cho váy của bé Maggie. Tiếng la hét từ mấy cậu nhóc ngoài sân đã ngừng, thay vào đó là tiếng thầm thì và va chạm ở sau nhà, có thể các chàng trai tương lai đã thấy lạnh nên chuyển vào quậy phá trong bếp.
“Không biết sắp có tuyết chưa?” Jenny nói, liếc nhìn cửa sổ. “Không khí thật ẩm ướt. Sáng nay, em có thấy sương mù trên hồ không?”
Tôi lắc đầu. “Em hy vọng không có sương. Jamie và Ian sẽ khó trở về.” Làng Broch Mordha cách Lallybroch chưa tới mười dặm, nhưng nó nằm trên vùng đồi vững chãi với những dốc đứng và triền đá, con đường dẫn đến đó còn nhỏ hơn đường hươu đi.
Tuy nhiên, trời đổ tuyết ngay sau buổi trưa, những bông tuyết không ngừng buông xuống cho đến tận hoàng hôn.
“Họ sẽ ở lại Broch Mordha,” Jenny nói. Sau khi xem xét kĩ bầu trời đầy mây, chị rụt đầu vào, cái mũ ngủ tỏa ánh sáng dìu dịu màu tuyết hồng. “Đừng lo cho họ. Đêm nay, họ sẽ ở lại nhà ai đó để sưởi ấm.” Chị mỉm cười an ủi tôi và đóng các cánh cửa chớp. Một tiếng khóc bỗng vọng tới từ cuối hành lang, chị vén các lớp váy ngủ lên, lầm bầm ca thán.
“Chúc ngủ ngon, Claire,” chị gọi vọng lại sau khi vội vàng bỏ đi để thực hiện công việc cao cả của một người mẹ.
Tôi thường ngủ ngon mặc dù thời tiết ẩm ướt và lạnh giá bởi ngôi nhà được xây kín gió, còn chiếc chăn được nhồi nhiều lông ngỗng. Mặc dù vậy, đêm nay tôi không thể chợp mắt vì thiếu Jamie. Chiếc giường trở nên lạnh lẽo và ẩm ướt, hai chân tôi co lại, bàn chân buốt cóng.
Tôi cố gắng nằm ngửa, hai bàn tay ôm lấy lồng ngực, nhắm mắt, thở sâu để nhớ lại hình ảnh của Jamie. Nếu tôi có thể tưởng tượng anh ở đó, hơi thở sâu trong bóng tối bên cạnh tôi, có lẽ tôi sẽ ngủ được.
Tiếng gà gáy khiến tôi bật dậy như có một khối thuốc nổ đặt dưới gầm giường.
“Ngu ngốc!” Tôi nói, mọi dây thần kinh trong người đều căng ra vì giật mình. Tôi đứng dậy và mở cánh cửa chớp. Tuyết đã ngừng rơi, nhưng bầu trời vẫn còn xám xanh bởi bị mây che phủ, đường chân trời chỉ tuyền một màu u ám. Con gà trống lại gáy một đợt khác trong chuồng gà phía dưới.
“Im đi!” Tôi quát. “Đang là giữa đêm mà, đồ lắm lông!”
Một con chim khác kêu đáp lại từ bụi rậm, xuyên qua màn đêm tĩnh lặng. Ở cuối hành lang, một đứa bé bắt đầu khóc, kèm theo đó là giọng Jenny khẽ buông những lời chửi thề phong phú bằng ngôn ngữ Gaelic.
“Mày,” tôi nói với con gà trống vô hình, “đang sống bằng thời gian vay mượn.” Không có tiếng đáp trả và sau một khoảng thời gian chờ đợi, tôi biết con gà trống này đã ngừng gáy. Tôi bèn đóng các cánh cửa chớp và trở lại giường ngủ.
Âm thanh náo động đột ngột đã cắt ngang mạch suy nghĩ của tôi. Thay vì cố gắng bắt đầu tưởng tượng lại về Jamie, tôi quyết định thử dồn sự tập trung vào một điểm nào đó trong cơ thể mình, hy vọng rằng làm thế sẽ khiến tôi thư giãn và ngủ được.
Nó đã đem đến hiệu quả. Khi tôi bắt đầu lơ lửng trên ranh giới của giấc ngủ, tâm trí tôi gắn chặt vào một nơi nào đó quanh tụy của mình, tôi bỗng nghe thấy thấp thoáng tiếng chân của bé Jamie đi tới phòng ngủ của mẹ ở cuối hành lang - cậu bé tỉnh giấc vì buồn tiểu và thường bước loạng choạng xuống cầu thang trong tình trạng lơ mơ để tìm kiếm sự giúp đỡ.
Tôi từng nghĩ, nếu trở về Lallybroch, tôi sẽ khó gần gũi Jenny như trước bởi ghen tỵ với khả năng sinh nở dễ dàng của chị. Và có thể sẽ như vậy nếu tôi không nhận thấy thiên chức làm mẹ cũng có cái giá của nó.
“Cái bô ở ngay dưới giường con đấy, đồ đầu đất,” giọng nói bực tức của Jenny vọng tới từ bên ngoài cánh cửa khi chị hướng dẫn bé Jamie quay về giường. “Chắc chắn con đã giẫm lên nó khi đi ra khỏi phòng, tại sao con không nghĩ đến việc dùng nó? Tại sao tối nào con cũng sang dùng cái bô ở phòng mẹ?” Giọng chị nhỏ dần khi đi lên cầu thang và tôi mỉm cười, tâm trí đã di chuyển xuống những đường cong của ruột già.
Tôi không ghen tỵ với Jenny còn vì một lý do khác. Ban đầu, tôi sợ rằng lần sinh non Faith đã phá hủy một vài bộ phận trong cơ thể tôi, nhưng nỗi sợ hãi đã biến mất bởi cái chạm của Raymond. Khi tôi hoàn thành việc đánh giá cơ thể và cảm nhận đường xương sống chùng xuống khi chập chờn trước giấc ngủ, tôi cảm thấy tất cả các bộ phận đều còn nguyên ở đó. Chuyện đã xảy ra một lần thì có thể lặp lại lần nữa. Và tất cả những gì tôi cần là thời gian. Và Jamie.
Bước chân của Jenny vang lên trên những tấm ván của hành lang và rảo bước nhanh hơn để đáp lại tiếng khóc ngái ngủ của Maggie ở đầu bên kia ngôi nhà.
“Lũ trẻ chắc chắn mang lại niềm hạnh phúc, nhưng việc chăm sóc chúng không được vui vẻ cho lắm.” Tôi lẩm bẩm với chính mình và chìm vào giấc ngủ.
•••
Ngày hôm sau, trong lúc làm việc, chúng tôi luôn chờ đợi và vểnh một tai để lắng nghe tiếng vó ngựa trước sân.
“Nếu có nhiều việc, họ sẽ ở lại để làm,” Jenny nói, bề ngoài tỏ vẻ tự tin. Tuy nhiên, tôi đã thấy chị dừng lại và nhìn ra con đường dẫn vào nhà mỗi khi đi ngang qua cửa sổ.
Về phần mình, tôi gặp khó khăn trong việc điều khiển trí tưởng tượng của bản thân. Bức thư chứng thực lệnh ân xá của Jamie được Vua George ký đang nằm trong ngăn kéo bàn có khóa ở thư phòng của lãnh chúa. Jamie coi nó như một sự sỉ nhục và muốn đốt nó, nhưng tôi khăng khăng đòi giữ lại để đề phòng. Lúc này, tôi vừa lắng nghe tiếng gió mùa đông thổi vừa tiếp tục hình dung câu chuyện, có lẽ tất cả chỉ là một sự nhầm lẫn hoặc đại loại như một trò chơi khăm - một lần nữa, Jamie bị bắt bởi đội kỵ binh áo đỏ, chúng đưa anh đến nơi tra tấn của nhà tù và mối nguy hiểm đang treo lơ lửng trên sợi dây thòng lọng của đao phủ.
Cuối cùng, hai người đàn ông cũng trở về trước khi màn đêm buông xuống, trên mình những con ngựa chất đầy các túi hàng chứa muối, kim, gia vị để ướp đồ ăn và các món đồ nhỏ mà Lallybroch không tự sản xuất được.
Khi nghe thấy tiếng ngựa hí ngoài sân, tôi liền chạy xuống nhà và bắt gặp Jenny đang chạy vội qua phòng bếp để ra cửa trước.
Vừa trông thấy dáng người cao lớn hắt bóng trên kho thóc của Jamie, tôi liền cảm thấy nhẹ nhõm, chạy qua sân và lao mình vào vòng tay anh, chẳng buồn để tâm đến ánh sáng tuyệt đẹp đang bao bọc bên ngoài lớp tuyết còn nấn ná trên mặt đất.
“Anh đã ở nơi quái quỷ nào vậy?” Tôi gặng hỏi.
Anh hôn tôi trước khi trả lời. Khuôn mặt anh lạnh cóng áp vào khuôn mặt tôi và đôi môi anh còn vương lại chút vị whisky dễ chịu.
“Ừm, bữa tối có xúc xích đúng không?” Anh nói, ra vẻ hài lòng, trong lúc hít hà mái tóc vương mùi khói bếp của tôi. “Tốt, anh đang đói cồn cào.”
“Xúc xích nướng và khoai tây nghiền,” tôi nói. “Anh đã đi đâu vậy?”
Anh cười lớn, giũ áo choàng len để tuyết rơi xuống. “Xúc xích nướng và khoai tây nghiền à? Đó là thức ăn, đúng không?”
“Một món ăn truyền thống rất ngon của người Anh,” tôi giải thích, “cho đến nay vẫn chưa được biết đến trong tầm hiểu biết của xứ Scotland. Giờ thì, anh chàng người Scot chết tiệt này, anh đã ở chỗ quái nào suốt hai ngày qua? Jenny và em đã lo lắng biết bao!”
“Thôi được, bọn anh gặp phải một tai nạn nhỏ…” Jamie bắt đầu nói, rồi chợt phát hiện dáng người nhỏ bé của Fergus đang cầm một cái đèn lồng. “Ôi, cháu mang đèn ra phải không, Fergus? Cậu bé ngoan. Đặt ở đây để không làm cháy rơm, sau đó đưa con vật tội nghiệp này vào chuồng. Khi nào cháu sắp đặt cho nó xong xuôi thì hãy đi ăn tối. Chắc bây giờ cháu có thể ngồi được rồi chứ, ta mong là thế!” Anh vỗ nhẹ vào tai Fergus. Cậu nhóc né tránh và cười tươi đáp lại, có vẻ chuyện xảy ra trong kho thóc sáng hôm qua đã không lưu lại chút oán giận nào.
“Jamie,” tôi nói, tỏ vẻ cân nhắc. “Nếu anh không dừng nói chuyện về ngựa và xúc xích để kể em nghe về tai nạn anh gặp phải, em sẽ đá vào ống quyển của anh. Nếu làm thế, ngón chân em sẽ rất đau vì em chỉ mang giày mềm, nhưng em cảnh cáo anh, dù thế nào em cũng sẽ làm.”
“Đây là lời đe dọa, phải không?” Anh nói và cười lớn. “Tai nạn không nghiêm trọng đâu, Sassenach, chỉ là…”
“Ian!” Jenny bị vướng Maggie nên đến sau, đúng lúc thấy chồng bước vào quầng sáng của ngọn đèn lồng. Tôi giật mình bởi giọng đau xót của chị, liền quay sang nhìn chị lao tới trước, chạm lên gương mặt của Ian.
“Chuyện gì đã xảy ra với anh vậy?” Chị nói. Dù tai nạn là gì thì rõ ràng Ian đã phải gánh chịu sức mạnh của nó. Một con mắt của anh thâm sì, sưng tấy, khép lại phân nửa và có một vết xước dài, rớm máu, chạy xuống dưới má.
“Anh không sao đâu, mi dhu,” anh nói, vỗ về Jenny trong lúc chị ôm lấy anh, Maggie bị ép chặt giữa hai người. “Chỉ là vài chỗ thâm tím thôi.”
“Lúc đó, bọn anh đang xuống con dốc của ngọn đồi cách làng hai dặm, phải xuống dắt ngựa vì đất không bằng phẳng, thì Ian bước hụt vào một cái hang chuột chũi và bị gãy chân,” Jamie giải thích.
“Cái chân gỗ,” Ian nhấn mạnh. Anh cười toe toét, hơi ngượng ngùng. “Con chuột chũi đã có chiến lợi phẩm tốt nhất sau cuộc chạm trán đó.”
“Nên bọn anh phải ở lại một ngôi nhà gần làng để làm cái chân mới cho anh ấy,” Jamie kết thúc câu chuyện. “Chúng ta có thể ăn chưa? Bụng anh lép kẹp rồi.”
Chúng tôi lập tức đi vào nhà. Bà Crook và tôi phục vụ bữa tối trong lúc Jenny rửa mặt cho Ian bằng hợp chất từ lá và vỏ cây phỉ, đồng thời lo lắng truy hỏi xem anh còn bị thương ở chỗ nào khác không.
“Không có gì đâu,” anh cam đoan với chị. “Chỉ bị thâm tím vài chỗ thôi.”
Tôi đã quan sát lúc anh bước vào nhà, phát hiện tật khập khiễng của anh trầm trọng hơn thường ngày rất nhiều. Tôi thì thầm mách Jenny trong lúc dọn bát đĩa và khi tất cả đã yên vị trong phòng khách, những thứ đựng trong các túi treo trên yên ngựa đã được dỡ ra an toàn, Jenny bèn quỳ xuống thảm, bên cạnh Ian, cầm lấy cái chân mới.
“Chúng ta phải tháo nó ra,” chị nói chắc nịch. “Anh đang tự làm mình đau đấy và em cũng muốn Claire xem vết thương. Cô ấy có thể giúp anh nhiều hơn em.”
Cái chân may mắn được cắt bởi người lành nghề. Vị bác sĩ quân đội chỉ cắt chân dưới của Ian, bảo vệ được khớp gối, nhờ đó Ian có khả năng hoạt động mềm dẻo hơn trường hợp bị cắt ca đầu gối. Tuy nhiên, đôi lúc cái khớp gối trở nên bất lợi nhiều hơn là có lợi.
Cú ngã đã làm trật chân anh khiến phần mỏm cụt thâm tím lại và bị rách ở chỗ cạnh sắc của cái chân gỗ cứa vào da. Chắc chắn nó gây đau đớn cực độ khi phải chịu đựng trọng lượng cơ thể đè lên. Không những thế, đầu gối của anh cũng bị trẹo, chỗ thịt ở phần khớp bị sưng tấy, đỏ và nóng rực.
Khuôn mặt dài, hiền lành của anh cũng đỏ lựng gần bằng chỗ khớp bị tổn thương. Mặc dù anh luôn tỏ ra thản nhiên về tình trạng tàn tật của mình nhưng tôi biết anh ghét cay ghét đắng cảm giác bất lực đôi khi gặp phải, vẻ lúng túng đang dần lộ rõ cũng khiến anh đau đớn giống như khi tôi chạm vào chân anh.
“Anh đã làm rách một cái dây chằng ở chỗ này,” tôi nói, nhẹ nhàng đưa ngón tay lần theo vết sưng bên trong đầu gối. “Em xin thông báo, tình trạng này rất tệ. Anh bị tụ dịch bên trong khớp xương, đó là lý do nó sưng tấy.”
“Em có thể chữa nó không, Sassenach?” Jamie ngó qua vai tôi, cau mày lo lắng cho cái chân sưng tấy kia.
Tôi lắc đầu. “Em không thể làm gì nhiều, chỉ có thể chườm lạnh để giảm sưng tấy.” Tôi ngước nhìn Ian, tập trung toàn bộ khả năng để bắt chước ánh mắt của Mẹ Hildegarde.
“Anh chỉ được,” tôi nói, “ở trên giường. Vào ngày mai, anh có thể uống whisky để làm giảm cơn đau; còn tối nay, em sẽ cho anh ngửi cồn thuốc phiện để chợp mắt. Đừng cử động trong ít nhất là một tuần và chúng ta sẽ xem lại vết thương.”
“Anh không làm được!” Ian phản đối. “Có một bức tường trong chuồng ngựa cần sửa chữa, hai cái rãnh cần đào trên cánh đồng cao, rồi còn phải mài lưỡi cày và…”
“Và phải chữa trị một cái chân,” Jamie kiên quyết nói. Anh nhìn Ian bằng thứ mà tôi bí mật gọi là “ánh mắt của lãnh chúa”, đôi mắt xanh sắc lạnh nhìn trừng trừng khiến hầu hết mọi người phải tuân lệnh. Ian là người đã cùng Jamie chia sẻ các bữa ăn, những món đồ chơi, những cuộc thám hiểm, những trận đánh và những trận đòn, nên ít bị ảnh hưởng hơn những người khác.
“Tôi mặc kệ.” Anh nói thẳng. Đôi mắt nâu đậm nhìn Jamie, chứa đầy nỗi đau, giận dữ trộn lẫn với oán hận - và thứ gì khác mà tôi không nhận ra. “Cậu nghĩ cậu có thể ra lệnh cho tôi ư?”
Jamie choáng váng, mặt anh đỏ bừng như vừa bị tát. Anh kìm nén những lời đáp trả và cuối cùng nói khẽ: “Không. Em sẽ không cố gắng ra lệnh cho anh. Dù vậy, em có thể yêu cầu anh quan tâm đến bản thân không?”
Hai người đàn ông nhìn nhau rất lâu, trong ánh mắt đó chứa đựng những lời nhắn nhủ tôi không thể đọc được. Cuối cùng, Ian thả lỏng hai vai, gật đầu và mỉm cười chua chát.
“Em có thể.” Anh thở dài và xoa vết xước trên xương gò má, mặt nhăn lại khi chạm phải chỗ trầy da. Anh hít thật sâu, lấy lại vẻ cứng rắn, rồi đưa tay ra cho Jamie. “Giúp anh đứng dậy chứ?”
Đỡ người đàn ông một chân đứng dậy và đưa lên hai tầng cầu thang là một việc khó khăn, nhưng cuối cùng cũng xong. Jamie trao Ian cho Jenny ở cửa phòng ngủ. Khi anh lùi lại, Ian nói điều gì đó rất khẽ và nhanh với Jamie bằng tiếng Gaelic. Tôi vẫn chưa thành thục ngôn ngữ này, nhưng tôi nghĩ anh ấy đã nói: “Giữ sức khỏe nhé, em trai!”
Jamie dừng lại, nhìn Ian và mỉm cười, ánh nến chiếu vào đôi mắt ấm áp của anh.
“Anh cũng vậy, mo brathair[1].”
Tôi theo Jamie đi tới cuối hành lang, trở về phòng riêng. Từ đôi vai thõng xuống, tôi biết anh đang mệt mỏi, nhưng tôi có vài câu muốn hỏi trước khi anh ngủ.
“Chỉ bị thâm tím vài chỗ thôi,” Ian đã nói vậy để Jenny yên lòng và quả là có các vết thâm tím. Ở vài chỗ. Nhưng bên cạnh những vết thâm tím ở mặt và chân, tôi còn thấy những vết thâm đen lấp ló bên dưới cổ áo sơ mi. Không biết sự xâm phạm của Ian đã gây tức giận đến mức nào, nhưng tôi không thể tưởng tượng nổi một con chuột chũi lại có thể cố gắng siết cổ anh để trả thù.
•••
Trong hoàn cảnh này, Jamie không muốn đi ngủ ngay lập tức.
“Ôi, thời gian vắng nhà khiến trái tim anh trở nên yêu thương trìu mến hơn, phải không?” Tôi hỏi. Cái giường đêm hôm trước còn quá rộng, hôm nay dường như đã vừa vặn.
“Hửm?” Anh nói, đôi mắt lim dim. “Ồ, trái tim? Cũng đúng. Ôi, Chúa ơi, đừng dừng lại, cảm giác này thật tuyệt vời.”
“Đừng lo, em sẽ làm thêm một lúc,” tôi cam đoan với anh. “Để em tắt cây nến này đã.” Tôi vươn người và thổi tắt nến. Với những cánh cửa chớp còn để mở, căn phòng có rất nhiều ánh sáng được phản chiếu từ bầu trời tuyết. Dù không có nến, tôi vẫn có thể thấy rõ Jamie, cơ thể cao lớn của anh thả lỏng bên dưới tấm chăn bông, đôi tay khép hờ hai bên người. Tôi chui vào bên cạnh anh và cầm lấy bàn tay phải, tiếp tục xoa bóp các ngón và lòng bàn tay thật chậm. Anh thở dài, gần giống một tiếng rên, tôi xoa ngón cái thành nhiều vòng tròn đều đặn trên các khớp ngón của anh. Sau nhiều giờ cứng ngắc vì cầm dây cương, những ngón tay ấm áp thả lỏng trong tay tôi. Ngôi nhà yên tĩnh và ngoài chiếc giường trú ẩn của chúng tôi, căn phòng đã trở nên lạnh lẽo. Tôi rất hạnh phúc khi được cảm nhận hơi ấm của anh bên cạnh, thích thú tận hưởng cảm giác đụng chạm thân quen mà không có nhu cầu ngay tức thì. Việc xoa bóp diễn ra lâu hơn thường lệ, vì bây giờ là mùa đông nên ban đêm khá dài. Anh ở đó, tôi cũng vậy, hài lòng với những việc chúng tôi đang làm vào lúc này.
“Jamie ơi,” một lúc sau, tôi hỏi. “Ai đã đánh Ian vậy?”
Anh không mở mắt, chỉ thở dài. Dù vậy, anh không cứng người để kháng cự, chứng tỏ anh đang mong chờ câu hỏi này.
“Anh,” anh đáp.
“Cái gì?” Tôi làm rơi bàn tay anh vì choáng váng. Anh nắm tay lại rồi mở ra, kiểm tra cử động của các ngón. Sau đó, anh đặt bàn tay trái lên chỗ ga trải giường bên cạnh, để cho tôi thấy những khớp xương bị phồng lên, tương đồng với các chỗ sưng tấy trên khuôn mặt xương xẩu của Ian.
“Tại sao?” Tôi hoảng sợ hỏi. Phải có chuyện gì đó khiến họ bực tức, dù thái độ ban nãy không giống thù địch. Tôi không thể hình dung rằng chính Jamie đã đánh Ian, người anh rể thân thiết với anh giống chị gái Jenny.
Giờ thì Jamie mở mắt nhưng không nhìn tôi. Anh không ngừng xoa các khớp ngón tay và nhìn vào chúng. Ngoài những vết bầm tím nhẹ, Jamie không bị thương ở đâu, chứng tỏ Ian đã không đánh trả.
“Chà, Ian đã kết hôn quá lâu,” anh bào chữa.
“Em thì cho rằng anh đã ở ngoài nắng quá lâu,” tôi nhận xét, nhìn anh chăm chú, “ngoài việc đó, chẳng còn lý do nào. Anh bị sốt sao?”
“Không,” anh đáp, né tránh mọi nỗ lực sờ trán của tôi. “Không, chỉ là - dừng lại đi, Sassenach, anh vẫn khỏe.” Anh bặm môi, nhưng sau đó trở lại bình thường và kể tôi nghe toàn bộ câu chuyện.
Ian thực sự làm gãy cái chân gỗ vì bước vào một hố chuột chũi gần Broch Mordha.
“Lúc đó, trời gần tối - bọn anh đã làm quá nhiều việc trong làng - và tuyết bắt đầu rơi. Anh thấy chân của Ian làm anh ấy đau đớn, mặc dù anh ấy khăng khăng vẫn có thể cưỡi ngựa. Dù sao đi nữa, gần đấy có hai, ba ngôi nhà tranh, thế là anh giúp anh ấy lên ngựa, đưa anh ấy đi ngược lên con dốc để tìm chỗ ngủ qua đêm.”
Với lòng hiếu khách thường thấy tại vùng cao nguyên, họ được chủ nhà sốt sắng mời dùng bữa và cho ở nhờ. Sau một bát bột yến mạch nóng ăn kèm bánh yến mạch, cả hai được sắp xếp nằm trên một tấm ván gỗ trước lò sưởi.
“Căn phòng chỉ vừa đủ chỗ để đặt một tấm chăn bông trước lò sưởi. Tuy hơi chật một chút nhưng bọn anh vẫn nằm cạnh nhau và cố nằm với tư thế thoải mái hết mức có thể.” Anh hít một hơi thở sâu và nhìn tôi có phần xấu hổ.
“Đúng vậy, vì mệt mỏi sau chuyến đi nên anh ngủ rất say và anh nghĩ Ian cũng vậy. Tuy nhiên, suốt năm năm qua, ngày nào anh ấy cũng ngủ với Jenny, vì vậy anh nghĩ, khi có một cơ thể ấm áp nằm bên cạnh anh ấy… chà, vào buổi đêm, anh ấy lăn sang phía anh, choàng tay ôm và hôn vào gáy anh. Và anh” - anh ngập ngừng. Tôi có thể thấy một màu đỏ thẫm tràn lên khuôn mặt anh trong ánh sáng xám xịt của căn phòng - “anh giật mình choàng tỉnh, nghĩ rằng anh ấy là Jack Randall.”
Sau một lúc nín thở để nghe chuyện, bây giờ tôi mới thở ra thật từ tốn.
“Chắc hẳn anh đã rất sốc,” tôi nói.
Jamie nhếch mép. “Ian mới là người sốc nhất,” anh nói. “Anh lăn sang bên và đấm vào mặt anh ấy, đến lúc anh tỉnh táo lại thì đã thấy mình đang ở trên người và bóp cổ Ian, cái lưỡi của anh ấy đang thè ra khỏi miệng. Đây cũng là cú sốc khủng khiếp dành cho những người nhà Murray đang ngủ trên giường,” anh nói thêm khi nghĩ lại. “Anh kể với họ rằng anh có một cơn ác mộng - đúng vậy, anh đã có theo một cách khác - nhưng việc đó đã gây náo loạn cho cả nhà, lũ trẻ la khóc ầm ĩ, Ian nghẹt thở trong góc nhà, còn bà Murray thì ngồi bật dậy trên giường, hét toáng lên “Ai, ai đấy?” như một con cú già béo ú.”
Tôi bật cười trước hình ảnh tưởng tượng ấy.
“Ôi, Chúa ơi, Jamie. Ian có ổn không?”
Jamie hơi nhún vai. “Thì em thấy đấy. Một lúc sau, mọi người tiếp tục đi ngủ, còn anh nằm trước đống lửa suốt đêm, chăm chú nhìn lên xà nhà.” Anh không chống cự khi tôi cầm bàn tay trái lên, nhẹ nhàng chạm vào những khớp ngón tay thâm tím. Các ngón tay của anh nắm lấy tay tôi.
“Khi bọn anh ra đi vào buổi sáng hôm sau,” anh tiếp tục, “anh đợi tới lúc cả hai đến một nơi có thể ngồi ngắm thung lũng bên dưới thì dừng lại và” - anh nuốt nước miếng, bàn tay siết chặt tay tôi hơn - “kể với anh ấy. Về Randall. Và về mọi chuyện đã xảy ra.”
Tôi bắt đầu hiểu ánh mắt mơ hồ Ian dành cho Jamie. Và tôi hiểu vẻ mặt căng thẳng của Jamie cũng như những vết bẩn bên dưới mắt anh. Chẳng biết nói gì thêm, tôi chỉ biết siết lấy tay anh.
“Anh đã không nghĩ mình sẽ kể với bất kỳ ai - ngoại trừ em,” anh nói thêm, siết tay đáp lại. Anh thoáng mỉm cười, sau đó đưa một tay vuốt mặt.
“Nhưng Ian… đúng vậy, anh ấy là…” Anh tìm kiếm từ ngữ thích hợp. “Anh ấy hiểu anh, đúng không?”
“Em nghĩ vậy. Anh đã biết anh ấy trong suốt cuộc đời mình, phải không nào?”
Anh gật đầu, đôi mắt thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ. Tuyết lại rơi, những bông tuyết nhỏ trắng xóa nhảy múa trên nền trời xam xám.
“Anh ấy chỉ hơn anh một tuổi. Hồi anh còn nhỏ, Ian luôn ở bên cạnh anh. Tới khi anh mười bốn tuổi, không ngày nào trôi qua mà anh không gặp Ian. Sau đó rất lâu, khi anh được Dougal nhận làm con nuôi và tới Leoch, kế đến là tới Paris để học đại học - đến lúc trở về, bước vòng qua một góc quanh, anh sẽ thấy anh ấy ở đó, dường như anh chưa bao giờ đi xa. Anh ấy sẽ mỉm cười khi trông thấy anh, như anh ấy luôn làm và sau đó bọn anh sẽ đi bộ cùng nhau, sóng bước bên nhau, qua những cánh đồng và dòng suối, nói chuyện về mọi thứ.” Anh thở dài, luồn tay vào mái tóc.
“Ian… anh ấy là một phần của anh, thuộc về nơi này, điều đó không bao giờ thay đổi,” anh chật vật giải thích. “Anh nghĩ… mình phải nói với anh ấy. Anh không muốn có cảm giác… chia cách. Với Ian. Với nơi đây. Em có hiểu lý do đó không?”
“Em nghĩ là có,” tôi dịu dàng đáp lại. “Thế còn Ian?”
Anh hơi nhún vai vẻ không thoải mái, như thể muốn chỉnh lại chiếc áo sơ mi quá chật. “Anh không biết nữa. Đầu tiên, khi anh bắt đầu kể với anh ấy, Ian chỉ liên tục lắc đầu, dường như anh ấy không tin, sau đó, khi anh ấy bắt đầu tin…” Anh dừng lại và liếm môi, tôi hiểu lời thú nhận trong tuyết đó đáng giá với anh biết chừng nào. “Anh thấy anh ấy muốn nhảy dựng lên và giậm chân đi tới đi lui, nhưng anh ấy không thể bởi vì cái chân đau. Nhưng anh ấy siết chặt nắm đấm và gương mặt thì trắng bệch, anh ấy liên tục nói: “Làm sao? Chết tiệt, Jamie, làm sao em có thể để hắn làm điều đó?””
Anh lắc đầu. “Anh không nhớ anh đã nói gì. Hay anh ấy đã nói gì. Bọn anh quát tháo lẫn nhau, anh biết điều đó rõ nhất. Và anh muốn đánh anh ấy, nhưng không thể, bởi vì cái chân của anh ấy. Và anh ấy muốn đánh anh, nhưng không thể - cũng bởi cái chân của anh ấy.” Jamie khịt mũi, cười. “Chúa ơi, bọn anh hẳn phải giống một cặp đôi ngốc nghếch hiếm thấy khi cứ khua tay và la hét vào mặt nhau. Tuy nhiên, anh la hét lâu hơn, cuối cùng, anh ấy im lặng, lắng nghe đến hết câu chuyện.”
“Rồi đột nhiên, anh không thể nói tiếp, cảm giác thật vô dụng. Anh ngồi ngay xuống một hòn đá, đưa tay ôm đầu. Sau đó một lúc, Ian nói rằng tốt nhất bọn anh nên đi tiếp. Anh gật đầu, đứng dậy, giúp anh ấy lên ngựa và lại bắt đầu đi mà không nói một lời.”
Dường như Jamie chợt nhận ra anh đang nắm tay tôi chặt thế nào. Anh nới lỏng bàn tay, xoay chiếc nhẫn của tôi bằng ngón cái và ngón trỏ.
“Bọn anh đã đi rất lâu,” anh nói khẽ. “Bỗng anh nghe thấy một âm thanh nhỏ đằng sau mình, bèn dừng lại để ngựa của Ian tiến lên sát bên cạnh. Anh thấy anh ấy đang khóc - những giọt nước mắt chảy dài trên mặt. Thấy anh nhìn, anh ấy liền lắc đầu khó nhọc, như thể vẫn đang giận, nhưng rồi, anh ấy đưa tay ra cho anh. Anh cầm lấy và anh ấy siết chặt đủ để bóp gãy xương. Sau đó, anh ấy thả ra và bọn anh về nhà.”
Tôi cảm thấy nỗi căng thẳng đã rời bỏ anh khi câu chuyện kết thúc. “Giữ gìn sức khỏe, em trai.” Ian đã nói thế khi đứng bằng một chân trước ngưỡng cửa phòng ngủ.
“Vậy mọi chuyển đã ổn chưa?” Tôi hỏi.
“Sẽ ổn.” Giờ thì anh hoàn toàn thả lỏng người, chìm vào trong lòng những cái gối nhồi lông ngỗng. Tôi nằm xuống bên cạnh anh dưới lớp chăn bông và sán lại sát người anh. Chúng tôi cùng ngắm tuyết rơi và nghe tiếng gió rít yếu ớt trên ô cửa kính.
“Em mừng rằng anh đã về nhà an toàn,” tôi nói.
•••
Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, ánh sáng xam xám vẫn luẩn quẩn trong phòng. Jamie đã mặc xong quần áo và đang đứng bên cửa sổ.
“Ồ, em dậy rồi ư, Sassenach?” Anh nói khi thấy tôi ngồi dậy. “Tốt quá, anh mang cho em một món quà đây.”
Anh cho tay vào cái túi to trước váy, lôi ra vài đồng xu, hai, ba viên đá nhỏ, một cái que ngắn cuộn dây câu, một bức thư nhàu nát và một mớ ruy băng buộc tóc.
“Ruy băng buộc tóc ư?” Tôi thốt lên. “Cảm ơn anh, chúng thật đáng yêu.”
“Không, mấy cái này không dành cho em,” anh nhăn mặt đáp, trong lúc gỡ những sợi dây ra khỏi bàn chân chuột chũi mà anh luôn mang theo như một lá bùa nhằm chống bệnh thấp khớp. “Chúng dành cho Maggie bé bỏng.” Anh nhìn mấy hòn đá trong lòng bàn tay với vẻ nghi ngại, nhặt một viên lên, thử liếm nó trước sự ngạc nhiên của tôi.
“Không, không phải viên này,” anh lẩm bẩm, lại cho tay vào túi tìm.
“Anh đang làm cái quái gì vậy?” Tôi hỏi, thích thú quan sát màn trình diễn. Anh không trả lời, lấy ra một nắm đá nữa, hít hà chúng, vứt đi từng viên một, cho tới khi anh vui sướng cầm một viên đá nhỏ lên. Anh cũng liếm viên đá này một lần để kiểm tra, sau đó thả vào tay tôi vật sáng lấp lánh đó.
“Hổ phách,” anh nói với vẻ thỏa mãn. Tôi dùng ngón trỏ lật qua lật lại viên đá không cân xứng này. Chạm vào nó đem lại cảm giác ấm áp. Tôi gần như vô thức nắm nó lại.
“Tất nhiên, nó cần đánh bóng,” anh giải thích. “Nhưng anh nghĩ nó sẽ trở thành một sợi dây chuyền xinh xắn.” Anh hơi đỏ mặt, quan sát tôi. “Nó là… nó là món quà nhân dịp một năm ngày cưới. Khi anh nhìn thấy nó, anh đã nhớ đến viên hổ phách nhỏ mà Hugh Munro đã tặng em, khi chúng ta cưới nhau.”
“Em vẫn giữ món quà đó,” tôi nói khẽ, vuốt ve hòn đá nhỏ kỳ quặc được hóa đá từ nhựa cây. Viên hổ phách của Hugh có một mặt được mài cắt và đánh bóng, chứa một con chuồn chuồn ở bên trong, lơ lửng trong chuyến bay vĩnh hằng. Tôi cất nó trong hộp thuốc, đó là viên đá may mắn có nhiều năng lượng nhất của tôi.
Món quà nhân dịp một năm ngày cưới. Tất nhiên, chúng tôi làm đám cưới vào tháng Sáu, không phải tháng Mười hai. Nhưng vào cái ngày kỷ niệm một năm đó, Jamie đã bị bắt vào ngục Bastille và tôi… tôi phải nằm trong vòng tay của vua Pháp. Không có thời gian để kỷ niệm cuộc hôn nhân hạnh phúc.
“Gần đến Giao thừa rồi,” Jamie nói, ngắm tuyết rơi qua ô cửa sổ, chúng đang dần bao phủ các cánh đồng của Lallybroch. “Anh nghĩ bây giờ là thời điểm thích hợp để bắt đầu.”
“Em cũng nghĩ vậy.” Tôi rời khỏi giường và tới đứng cạnh anh bên cửa sổ, vòng tay ôm lấy eo anh. Chúng tôi khóa chặt vào nhau, không nói một lời, cho đến khi tôi đột nhiên trông thấy những viên nhỏ màu vàng mà Jamie đã bỏ ra khỏi túi.
“Đó là cái quái gì thế, Jamie?” Tôi hỏi, tạm buông tay khỏi người anh để chỉ vào chúng.
“Ồ, cái này à? Chúng là những viên mật ong, Sassenach.” Anh nhặt lên một viên và dùng các ngón tay phủi bụi. “Bà Gibson trong làng đã cho anh. Rất tốt, dù anh nghĩ chúng bị dính chút đất bụi trong túi.” Anh giữ nó trong lòng bàn tay và đưa cho tôi, mỉm cười. “Thử một viên chứ?”
[1] Tiếng Gaelic: anh trai của em.