Roger rời khỏi Tòa nhà Culloden vào sáng hôm sau với mười hai trang ghi chú và cảm giác thất bại ngày càng lớn. Những gì ban đầu tưởng như là một công việc nghiên cứu lịch sử khá là dễ dàng, giờ lại đang đảo lộn thành vài nút xoắn kỳ quái, mà rõ ràng không hề có gì nhầm lẫn cả.
Anh chỉ tìm thấy ba cái tên trong danh sách những người chết trận Culloden mà Claire Randall đã liệt kê. Điều này chẳng có gì lạ. Quân đội của Charles Stuart hiếm khi có một danh sách tuyển quân mạch lạc rõ ràng, trong khi một vài thủ lĩnh thị tộc gia nhập đội quân của Hoàng tử Xinh đẹp dựa trên cảm hứng nhất thời, thậm chí nhiều người còn rời đi không có lý do, trước khi tên mình được viết vào bất cứ văn bản chính thức nào. Việc lưu giữ các ghi chép của quân lính vùng cao cũng rất lung tung bừa bãi, hầu hết đã phân tán tứ tung; dù sao thì người ta cũng chẳng giữ bảng quân lương làm gì nếu không có tiền để trả cho những người đàn ông có tên trên đó.
Anh cẩn thận gập khung người gầy gò, cao lêu nghêu để nhét mình vào chiếc Morris cổ, tự động rụt cổ để tránh bị đụng đầu. Lấy tập tài liệu kẹp dưới cánh tay, anh mở nó ra và cau mày trước những trang giấy anh đã sao ra. Điều kỳ quái là gần như tất cả những người đàn ông trên danh sách của Claire đều đã có mặt trên danh sách khác của đội quân này.
Trong một đội quân được thành lập từ nhiều thị tộc, có lẽ đã có rất nhiều binh lính rời đi, vì khi thảm kịch kia đến gần, số quân đã trở nên thưa thớt hơn hẳn; điều đó cũng không có gì là khác thường cả. Điều khiến cho toàn bộ chuyện này trở nên quá mức khó hiểu là những cái tên trong tờ danh sách của Claire lại đều có mặt - toàn bộ và trọn vẹn - trong đội quân của Công tử Lovat, được cử đến sau để thực hiện lời hứa của Simon Fraser, Lãnh chúa Lovat, là ủng hộ dòng họ Stuart.
Nhưng Claire rõ ràng đã nói - anh liếc nhìn vào những giấy tờ gốc để xác nhận lại - rằng những người đàn ông này đều đến từ một điền trang nhỏ gọi là Broch Tuarach, nằm về phía tây nam của vùng đất thuộc nhà Fraser - trên đường biên giới với lãnh địa của thị tộc MacKenzie. Hơn thế nữa, bà ấy đã nói những người đàn ông này ở cùng với quân lính vùng cao kể từ trận chiến Prestonpans, diễn ra lúc sắp bắt đầu chiến dịch Culloden.
Roger lắc đầu. Chuyện này không có ý nghĩa gì. Trời ạ, có thể Claire đã nhầm lẫn về thời gian - bà ấy đã nói rằng bản thân mình không phải là sử gia. Nhưng chắc không phải nhầm địa điểm chứ? Và làm sao những người đàn ông ở điền trang Broch Tuarach, vốn không nguyện trung thành với thủ lĩnh của thị tộc Fraser, lại sẵn sàng phục vụ Simon Fraser? Sự thật, Lãnh chúa Lovat nổi tiếng là “Cáo Già”, và có lý do cho biệt danh này, nhưng Roger nghi ngờ rằng ngay cả sự xảo trá của vị Bá tước già đáng sợ đó cũng không đủ để giúp ông ta thắng thế trong một chuyện như vậy.
Roger cau có khởi động xe và lái ra khỏi khu vực đỗ xe. Đáng buồn là những tài liệu lịch sử ở Tòa nhà Culloden lại không đầy đủ; hầu hết là những bức thư sinh động do Lãnh chúa George Murray viết, than vãn về các rắc rối liên quan đến việc cung ứng, và nhiều thứ phù hợp để trưng bày trong viện bảo tàng cho khách du lịch tham quan. Anh cần nhiều hơn thế.
“Gượm đã, đồ ngốc,” anh nhắc nhở bản thân, liếc nhìn vào gương chiếu hậu ở chỗ rẽ. “Mày định tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với những người không tham dự trận Culloden à? Việc bọn họ đến đó bằng cách nào có gì là quan trọng, miễn là bọn họ đã rời khỏi cuộc chiến ấy mà không sứt mẻ gì?”
Nhưng anh không thể để mặc một tình huống kỳ lạ như thế. Những cái tên thường trùng nhau, đặc biệt là ở vùng cao nguyên Scotland, nơi một nửa dân số ở bất cứ thời điểm nào dường như cũng đều được đặt tên là “Alexander”. Vì vậy, những người đàn ông thường được gọi tên theo địa danh họ sinh sống, cũng như thị tộc hay họ của họ. Đôi khi thay thế cả những cái họ. “Lochiel”, một trong những đầu lĩnh nổi bật của Jacobite, thực ra là Donald Cameron, của xứ Lochiel, vừa hay là thứ để phân biệt ông ta với hàng trăm người mang họ Cameron có tên là Donald khác.
Và tất cả đàn ông vùng cao nguyên không có tên là Donald hay Alec thì cũng được đặt là John. Chính là ba cái tên mà anh đã tìm thấy trong hồ sơ tử sĩ trùng với danh sách của Claire, một người là Donald Murray, một người là Alexander MacKenzie Fraser, và người nữa tên John Graham Fraser. Cả ba đều không có tên địa danh sinh sống viết kèm theo; chỉ có tên không và đội quân họ phục vụ. Đội quân của Công tử Lovat, đội quân của nhà Fraser.
Nhưng không có tên địa danh thì anh không thể chắc chắn rằng họ chính là những người đàn ông có tên trong danh sách của Claire. Ít nhất có sáu John Fraser trong danh sách tử sĩ, thậm chí chưa phải đã hết; người Anh rất ít chú ý đến sự toàn vẹn hay chính xác - hầu hết ghi chép đều được biên soạn sau khi sự kiện xảy ra, bởi tộc trưởng đếm số người và xác định xem ai không trở về quê nhà. Thường thì chính các tộc trưởng không trở về quê hương nữa, điều này làm các vấn đề trở nên rắc rối.
Anh đưa tay lên vò đầu với dáng vẻ thất vọng, như thể việc mát xa da đầu có thể kích thích cho bộ não của anh. Và nếu ba cái tên này không phải là những người đàn ông đó thì bí ẩn này chỉ càng chìm sâu thêm. Một nửa đạo quân của Charles Stuart đã bị tàn sát ở Culloden. Và người của Lovat chiếm số đông trong đó, ngay ở trung tâm trận chiến. Điều phi thường là một nhóm ba mươi người đã sống sót trong tình huống đó mà không gặp rủi ro gì. Những người đàn ông của Công tử Lovat gia nhập vào cuộc nổi dậy khá muộn; trong khi hiện tượng đào ngũ lan rộng trong các đội quân khác vì bọn họ đã phục vụ đủ lâu để biết mình ở đây vì cái gì, những người Fraser lại đặc biệt trung thành, vì thế mà họ đã chịu đựng được.
Một tiếng còi to vang lên từ phía sau khiến anh giật mình thoát ra khỏi dòng suy tưởng, anh tạt vào lề đường để nhường cho một chiếc xe tải lớn ầm ầm đi qua. Suy nghĩ và lái xe là những hoạt động không thể làm cùng một lúc được, anh nhận định, nếu còn tiếp tục thế này, anh sẽ đâm sầm vào một bức tường đá mất.
Anh ngồi trầm tư một lúc. Anh nóng lòng muốn đi ngay đến nhà trọ của bà Thomas và nói cho cô Claire biết những gì anh đã tìm được như đã hẹn. Thật ra, có lẽ ý tưởng này hấp dẫn là vì mong muốn được gặp Brianna Randall trong chốc lát.
Mặt khác, bản năng của một sử gia trong anh đang kêu gào đòi thêm nhiều dữ liệu hơn nữa. Và anh không dám hoàn toàn chắc chắn rằng Claire chính là người cung cấp nó. Anh không thể hình dung nổi tại sao bà lại nhờ anh làm công trình nghiên cứu này, đồng thời lại gây cản trở việc hoàn thành nó bằng cách đưa cho anh những thông tin không chính xác. Điều đó thật vô lý, mà Claire Randall lại gây cho anh ấn tượng là một người có óc xét đoán.
Nhưng còn vụ rắc rối với whisky, hai má anh nóng bừng khi nhớ lại. Anh khẳng định bà gây ra vụ đó là có mục đích - và vì bà thật sự không có vẻ đùa giỡn nên anh buộc phải cho rằng bà làm thế để ngăn anh mời Brianna tới Broch Tuarach. Có phải bà muốn anh tránh xa nơi đó không, hay chỉ ngăn cản anh đưa Brianna tới đó? Càng nghĩ về sự cố đó, anh càng tin rằng Claire Randall đang giấu con gái bà điều gì đó, nhưng đó là gì, anh không thể hình dung ra. Càng không nghĩ ra nổi mối liên hệ giữa anh với bí mật đó, hay với công trình nghiên cứu mà anh đã nhận lời thực hiện.
Anh sẽ không từ bỏ, vì hai điều: Brianna và đơn thuần là hiếu kỳ. Anh muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra, và chết tiệt là anh có ý định phải khám phá nó cho bằng được.
Anh khẽ siết nắm tay trên vô lăng, ngẫm nghĩ, phớt lờ dòng xe cộ chạy qua. Cuối cùng, sau khi đã quyết định, anh lại khởi động máy và lái xe lên đường. Ở chỗ bùng binh kế tiếp, anh đánh lái ba phần tư vòng xuyến, hướng về trung tâm thị trấn Inverness và trạm xe lửa.
Đoàn tàu Flying Scotsman có thể đưa anh tới Edinburgh trong vòng ba giờ đồng hồ. Người phụ trách tờ Stuart đã từng là bạn thân của mục sư. Và anh đã có một manh mối để bắt đầu, nhưng nó thật đánh đố. Danh sách liệt kê những cái tên trong đội quân của Công tử Lovat cho thấy ba mươi người đàn ông này nằm dưới sự chỉ huy của một đội trưởng tên là James Fraser - ở Broch Tuarach. Người đàn ông này rõ ràng là mối liên hệ duy nhất giữa Broch Tuarach với những người Fraser của Lovat. Anh thắc mắc tại sao James Fraser lại không xuất hiện trên bản danh sách của Claire?
•••
Mặt trời đã ló ra khỏi những đám mây; một tiết trời hiếm có vào thời điểm giữa tháng Tư thế này, và Roger tận hưởng hết mức khí trời đẹp này bằng cách hạ cánh cửa sổ bên ghế lái xuống một chút xíu, để làn gió rạng rỡ thổi qua tai mình.
Anh đã phải ở lại Edinburgh qua đêm và trở về muộn vào ngày hôm sau, mệt bã sau chuyến tàu đường dài nên chỉ ăn có một ít xúp nóng mà Fiona khăng khăng ép anh dùng, trước khi ngã vào giường ngủ mê mệt. Nhưng ngày hôm nay, anh đã lấy lại đầy đủ năng lượng và quyết tâm lái xe xuống ngôi làng nhỏ tên Broch Mordha, nằm gần điền trang tên Broch Tuarach. Mẹ của Brianna Randall không muốn cô ấy đến Broch Tuarach, nhưng chẳng có gì ngăn được anh đến xem nơi này.
Anh thực sự đã tìm thấy Broch Tuarach, hay ít nhất anh cho là thế; đó là một đống đá đổ khổng lồ, bao quanh dấu tích của một tòa tháp tròn cổ xưa, thời xa xưa vừa được dùng để sinh sống vừa được dùng để phòng thủ. Vốn tiếng Gaelic của anh đủ giúp anh hiểu cái tên đó có nghĩa là “tòa tháp quay mặt về hướng bắc”, và anh thoáng thắc mắc làm sao một tòa tháp hình tròn lại có cái tên như thế được?
Bên cạnh nó còn có một trang viên và những ngôi nhà phụ, cũng trong tình trạng hoang phế mặc dù phần lớn vẫn còn nguyên vẹn. Một tấm biển của đại lý bất động sản bị thời tiết bào mòn đến mức gần như không đọc nổi được đóng đinh vào một cái cọc ở sân trước. Roger đứng trên con dốc cao hơn ngôi nhà, nhìn ngó xung quanh. Thoáng nhìn qua, anh chẳng thấy có gì lý giải được việc Claire muốn ngăn cản con gái bà đến đây.
Anh đỗ chiếc Morris trong sân trước và xuống xe. Đây là một nơi đẹp đẽ nhưng rất hẻo lánh. Anh đã mất gần bốn mươi lăm phút rón rén điều khiển chiếc Morris đi xuống con đường nông thôn đầy vết lún dẫn từ đường cao tốc chính tới đây để không làm nứt bình chứa dầu của xe.
Anh không đi vào trong ngôi nhà; nó đã bị bỏ hoang từ lâu và có thể nguy hiểm - trong đó sẽ chẳng có gì. Cái tên FRASER được khắc vào thanh rầm đỡ của cửa ra vào, và cũng cái tên đó được ghi trên hầu hết các tấm bia mộ nhỏ trong một khu vực hẳn là nghĩa trang gia đình - tất cả đều còn có thể đọc được. Chẳng giúp được gì nhiều, anh ngẫm nghĩ. Không có bia đá nào mang tên những người đàn ông trên bản danh sách của anh. Anh sẽ phải đi tiếp dọc theo con đường lớn, theo bản đồ du lịch thì ngôi làng Broch Mhorda nằm cách đây ba dặm.
Đúng như anh lo sợ, nhà thờ của ngôi làng nhỏ này đã đổ nát không thể sử dụng được và bị khóa kín lại từ nhiều năm nay. Những cái khóa bền chắc trên các cánh cửa làm người ta liên tưởng tới những cái nhìn chòng chọc trống rỗng, những ánh mắt khắc khổ, và cuối cùng, một ông lão nông dân ngờ vực suy đoán rằng các ghi chép của xứ đạo cũ có thể đã được đưa đến viện bảo tàng ở Fort William, hoặc là Inverness; một vị giáo sĩ từ nơi đó đã xuống đây và thu thập những thứ rác rến kiểu như thế.
Mệt mỏi và bụi bặm, nhưng chưa nhụt chí, Roger lê bước quay lại xe ô tô đậu trên con đường nhỏ cạnh quán rượu trong làng. Đây là một kiểu thất bại vẫn đều đặn xảy đến trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, và anh đã quen rồi. Uống nhanh một, à, có lẽ là hai cốc bia - thời tiết hôm nay nóng nực khác thường - và rồi tiếp tục lên đường tới Fort William.
Đáng đời, anh lạnh lùng tự giễu, nếu như các ghi chép anh đang tìm kiếm hóa ra lại ở ngay trong văn khố lưu trữ của mục sư suốt thời gian qua. Đó là những gì anh đáng nhận được vì lơ là công việc cần làm mà theo đuổi việc vô ích hòng gây ấn tượng với một cô gái. Chuyến đi tới Edinburgh của anh thu được ít kết quả hơn dự định, chỉ loại trừ được ba cái tên mà anh đã tìm thấy ở Tòa nhà Culloden; cả ba người này được chứng minh là đến từ các đội quân khác chứ không phải nhóm người của Broch Tuarach.
Tòa soạn của tờ Stuart chiếm cứ ba căn phòng, cũng như vô số thùng gỗ dưới tầng hầm của viện bảo tàng, vậy nên anh khó có thể đòi thực hiện một cuộc tra cứu triệt để. Mặc dù vậy, anh đã tìm thấy một bản sao của danh sách chi trả tiền cho binh lính mà anh thấy ở Tòa nhà Culloden, liệt kê những người đàn ông đã tham chiến trong đội quân do Công tử Lovat - con trai của Cáo Già - toàn quyền chỉ huy, đó chính là Simon Trẻ. Lão khốn láu cá đã chia nhỏ phiếu bầu của mình[1], Roger nghĩ; cử kẻ thừa kế của lão tới đánh nhau cho nhà Stuart còn bản thân lão thì ở nhà, và suốt thời gian đó tuyên bố mình là một kẻ trung thành với Vua Geordie. Lão tính thật khéo!
Văn kiện đó đã ghi Simon Fraser Trẻ là người chỉ huy và không đả động gì đến James Fraser cả. Dù cũng có một James Fraser được nhắc đến trong nhiều báo cáo, thư báo và những văn bản tư liệu khác của quân đội. Nếu đó là cùng một người thì ông ta hoạt động khá tích cực trong chiến dịch này. Tuy nhiên, chỉ với mỗi cái tên “James Fraser” thì không thể nói chắc chắn đây là người đến từ Broch Tuarach; James cũng là một cái tên Scotland phổ biến ngang với Duncan hay Robert. Chỉ duy nhất một điểm là tên James Fraser ghi cùng với những cái tên khác có thể giúp ích cho việc nhận diện người này, nhưng văn bản đó lại không đề cập tới những người đồng đội của ông ta.
Roger nhún vai, bực bội phẩy đi một đám muỗi đói bất chợt xuất hiện. Để xem hết các ghi chép đó một cách kĩ càng sẽ phải mất tới vài năm. Không thể xua đi đám muỗi, anh lánh mình vào bầu không khí tối tăm, sực nức mùi bia của quán rượu, để mặc chúng sôi sục vo ve điên cuồng ở bên ngoài.
Nhấp một hớp bia đắng mát lạnh, anh âm thầm suy xét lại các bước tiến triển và những lựa chọn mở ra trước mắt. Ngày hôm nay, anh còn thời gian để đi đến Fort William, mặc dù như vậy sẽ đồng nghĩa với việc phải quay về Inverness muộn. Và nếu viện bảo tàng Fort William chẳng có gì hữu ích thì một lần lục lọi thật kĩ khắp thư khố của mục sư, mỉa mai thay, chính là bước kế tiếp hợp lý nhất.
Sau đó thì sao? Anh uống cạn những giọt bia đắng cuối cùng và ra hiệu cho ông chủ quán lấy thêm một cốc khác. Nếu đã đến nước đó thì một chuyến lặn lội qua từng khu mộ trong vùng phụ cận xung quanh Broch Tuarach có lẽ là điều tốt nhất anh có thể làm trong thời gian ngắn. Anh không dám chắc là người nhà Randall sẽ ở lại Inverness khoảng hai, ba năm để kiên nhẫn chờ đợi kết quả.
Anh lần tìm cuốn sổ tay đang nằm trong túi áo - người bạn đồng hành trung thành của một sử gia. Trước khi rời khỏi Broch Mhorda, ít nhất anh nên đi thăm qua nơi vốn là khu nghĩa địa ngày xưa. Chẳng bao giờ biết trước chuyện gì có thể xảy ra, ít nhất nó sẽ miễn cho anh khỏi quay trở lại lần nữa.
•••
Chiều ngày hôm sau, nhà Randall đến uống trà theo lời mời của Roger để nghe báo cáo tiến triển công việc.
“Cháu đã tìm được vài cái tên trong bản danh sách của cô,” anh vừa nói với Claire vừa dẫn đường đi vào phòng làm việc. “Nhưng rất lạ, cháu chưa tìm được người nào chắc chắn chết tại Culloden. Cháu nghĩ mình đã tìm thấy ba người, nhưng hóa ra họ chỉ là những người trùng tên.” Anh liếc nhìn bác sĩ Randall; bà đang đứng lặng lẽ, một tay bám lấy lưng chiếc ghế bành, dường như đã quên mất mình đang ở đâu.
“A, sao cô không ngồi xuống?” Roger lên tiếng mời, bà khẽ giật mình rồi gật đầu và ngồi ngay xuống mép ghế. Roger tò mò nhìn bà nhưng vẫn tiếp tục, lấy ra tập tài liệu trong đó có các ghi chép đã tra cứu được và đưa nó cho bà.
“Như cháu đã nói, nó thật kỳ quái. Cháu không lần theo tất cả những cái tên đó; cháu nghĩ mình sẽ cần phải mò mẫm tất cả đống sổ của giáo xứ và các nghĩa trang gần Broch Tuarach. Cháu đã tìm thấy hầu hết các ghi chép này trong đống giấy tờ của cha cháu. Nhưng cháu cũng phát hiện ít nhất một, hai người đã chết trận, căn cứ vào việc tất cả bọn họ đều ở Culloden. Đặc biệt là, như cô nói, họ thuộc một trong những đội quân của nhà Fraser; những người đó gần như ở ngay trung tâm của trận đánh, nơi cuộc chiến khốc liệt nhất.”
“Cô biết.” Có điều gì đấy trong giọng nói của Claire khiến anh phải ngước nhìn bà, cảm thấy khó hiểu, nhưng lại không nhìn thấy được mặt bà vì bà đã cúi xuống nhìn đám giấy tờ trên mặt bàn. Hầu hết các ghi chép đều là bản sao, do chính tay Roger sao chép lại, vì công nghệ photocopy của nước ngoài còn chưa thâm nhập sâu vào hệ thống lưu trữ của chính phủ như Tờ Stuart, nhưng cũng có vài bản nguyên gốc, được phát hiện từ kho tài liệu sưu tầm của mục sư Wakefield. Bà nhẹ nhàng dùng một ngón tay lật giở các ghi chép, thận trọng để không chạm vào những tờ giấy mong manh ấy hơn mức độ cần thiết.
“Cháu nói đúng; thật kỳ quái!” Giờ anh đã nhận ra cảm xúc trong giọng nói của bà - đó là sự kích động, nhưng xen lẫn sự thỏa mãn và nhẹ nhõm. Theo một cách nào đó, bà đã mong đợi điều này - hay nói đúng hơn là hy vọng kết quả này.
“Nói cho cô nghe đi..Bà ngập ngừng. “Những cái tên mà cháu đã tìm được. Chuyện gì đã xảy ra với họ, nếu họ không chết ở Culloden?”
Anh hơi ngạc nhiên khi nhận thấy dường như chuyện này quan trọng đối với Claire, nhưng vẫn nghe lời lôi ra tập tài liệu chứa những ghi chép anh tra cứu được và mở nó ra. “Hai trong số họ có tên trong danh sách đi tàu biển; họ đã di cư sang Mỹ ngay sau trận Culloden. Bốn người đã chết vì các nguyên nhân tự nhiên khoảng một năm sau đó - không có gì đáng ngạc nhiên cả, sau trận Culloden đã xảy ra một nạn đói khủng khiếp, và nhiều người khác chết ở vùng cao. Và cháu tìm thấy một người trong sổ của xứ đạo - nhưng không phải là xứ đạo quê ông ta. Dù vậy, cháu khá chắc chắn đó là một trong số những người đàn ông có tên trong danh sách của cô.”
Chỉ khi sự căng cứng trên hai vai Claire thả lỏng, anh mới nhận ra bà đã căng thẳng đến thế.
“Cô có muốn cháu tìm kiếm những người còn lại không?” Anh hỏi, thầm hy vọng rằng câu trả lời sẽ là “có”. Anh nhìn Brianna qua bờ vai của mẹ cô. Cô gái đang đứng bên bức tường gỗ xốp, quay nghiêng người như thể không mấy hứng thú với công trình nghiên cứu của mẹ mình, nhưng anh có thể trông thấy một nếp nhăn thẳng đứng giữa hai lông mày cô.
Có lẽ cô ấy cũng có cảm nhận giống anh, bầu không khí lạ lùng của sự kích động bị kìm nén bao quanh Claire giống như một điện trường. Anh đã nhận thấy nó ngay từ khoảnh khắc bà bước vào căn phòng này, và những tiết lộ của anh chỉ càng làm nó tăng lên. Anh mường tượng nếu mình chạm vào bà thì một tia lửa tĩnh điện lớn sẽ quét qua họ.
Một tiếng gõ cửa ngắt ngang dòng suy nghĩ của anh. Cánh cửa phòng làm việc mở ra và Fiona Graham bước vào, đẩy một chiếc xe trà di động với đầy đủ dụng cụ cho một buổi uống trà: ấm trà, tách uống trà, khăn lót, ba loại bánh kẹp, bánh kem, bánh xốp, bánh tạc nhân mứt và bánh nướng với kem bọc sữa.
“Oa!” Brianna thốt lên khi nhìn thấy cái xe trà. “Tất cả chỗ đó dành cho chúng ta sao, hay các vị đang đợi thêm mười người khác nữa?”
Claire Randall nhìn lướt qua sự chuẩn bị dành cho bữa trà chiều, tủm tỉm cười. Điện trường kia vẫn còn đó, nhưng đã giảm bớt nhờ một nỗ lực lớn. Roger thấy một bàn tay của bà siết chặt các nếp váy đến mức chiếc nhẫn hằn sâu vào da thịt.
“Bữa trà này thật quá xa xỉ, chúng tôi chắc sẽ không cần phải ăn trong vài tuần lễ mất,” bà nói. “Trông thật tuyệt!”
Fiona cười rạng rỡ. Cô gái có vóc người thấp bé, đầy đặn và xinh xắn y như một cô gà mái nâu nhỏ bé. Roger thầm thở dài. Mặc dù anh rất vui được bày tỏ lòng hiếu khách của mình, nhưng anh cũng nhận biết rõ rằng sự ưu đãi hào phóng này có xu hướng dành cho anh hơn là cho các vị khách. Fiona, ở tuổi mười chín, có một tham vọng cháy bỏng. Được làm một người vợ. Tốt nhất là vợ của một người đàn ông có nghề nghiệp. Cô đã để mắt đến Roger trong lần trước anh về đây để thu xếp công việc của mục sư, và cô quyết định rằng một giáo sư dự khuyết của ngành sử học là viễn cảnh tốt nhất mà Inverness mang lại.
Kể từ đó, anh bị nhồi như một chú ngỗng Giáng sinh, giày lúc nào cũng được đánh bóng loáng, dép đi trong nhà và bàn chải đánh răng được xếp ngay ngắn, giường được dọn gọn ghẽ, áo khoác được chải sạch bụi, báo buổi tối được mang đến và đặt dọc một bên đĩa ăn, cổ của anh được xoa bóp mỗi khi anh làm việc suốt nhiều giờ liền, và một loạt câu hỏi thường xuyên được đặt ra, bày tỏ sự quan tâm tới tình trạng thể chất và tinh thần của anh. Trước đây, anh chưa bao giờ bị bủa vây trong một đời sống đầy tính gia đình như thế.
Chẳng bao lâu, Fiona làm anh muốn phát điên. Anh thường xuyên không cạo râu và ăn mặc xuềnh xoàng để phản kháng sự đeo bám dai dẳng của cô ta chứ không phải vì thói quen ở bẩn vốn là bản chất tự nhiên mà những gã đàn ông tự do ưa thích do nhu cầu của công việc và hoàn cảnh xã hội.
Nghĩ đến việc bị ràng buộc với Fiona Graham trong một cuộc hôn nhân thiêng liêng khiến anh rùng mình ớn lạnh. Bằng sự phiền nhiễu dai dẳng của mình, cô ta sẽ biến anh thành một kẻ mất trí chỉ trong vòng một năm. Thế rồi anh nhìn sang Brianna Randall lúc này đang suy tư nhìn chằm chằm vào xe trà như thể tự hỏi không biết nên bắt đầu từ đâu.
Trong cả buổi chiều nay, anh vẫn luôn tập trung chú ý vào Claire Randall và công trình nghiên cứu của bà, tránh nhìn sang phía cô con gái. Claire Randall là người dễ thương, dáng người cân đối và làn da gần như trong suốt khiến bà trông vẫn như mới đôi mươi. Nhưng nhìn Brianna Randall lại khiến anh có cảm giác hơi nghẹt thở.
Cô có dáng vẻ giống như một nữ hoàng chứ không lòng khòng như những cô gái cao lớn khác. Để ý tới tấm lưng thẳng tắp và tư thái duyên dáng của mẹ cô, Roger có thể thấy rõ đặc điểm ấy của Brianna từ đâu mà có. Không kể đến chiều cao nổi bật, cô có mái tóc đỏ dài tới tận eo giống như thác đổ, lấp lánh ánh hoàng kim và màu đồng, điểm xuyết màu hổ phách và nâu vàng, những lọn tóc xoăn xòa xuống quanh mặt và hai bờ vai như một chiếc áo choàng. Đôi mắt xanh lam sẫm đến mức trông gần như là màu đen dưới vài góc độ ánh sáng. Chưa kể khuôn miệng rộng hào phóng, với bờ môi dưới đầy đặn mời gọi những nụ hôn. Những đặc điểm đó hẳn là được thừa hưởng từ cha cô ấy.
Roger lấy làm mừng vì cha cô không có mặt ở đây, hẳn ông ấy sẽ mếch lòng theo kiểu của các ông bố nếu biết những gì anh đang nghĩ; anh sợ là những suy nghĩ ấy đã thể hiện rõ trên nét mặt mình.
“Trà hả?” Anh nồng nhiệt hỏi. “Hoành tráng quá! Tuyệt vời! Trông rất ngon, Fiona. À, cảm ơn cô, Fiona. Tôi, ừm, không nghĩ là chúng tôi còn cần gì nữa đâu.”
Lờ đi ẩn ý rõ rành rành nhắc nhở cô rời đi, Fiona duyên dáng gật đầu đón nhận những lời khen ngợi của các vị khách, rồi bày các tấm lót và tách uống trà ra bằng động tác khéo léo chuẩn xác, rót trà, đi một vòng mời đĩa bánh đầu tiên, và dường như còn định ở lại, tiếp tục đóng vai trò nữ chủ nhân của ngôi nhà.
“Anh có muốn phết một ít kem lên cái bánh nướng của mình không, Rog - ý tôi là - anh Wakefield?” Cô nàng gợi ý, múc muôi kem lên mà không chờ câu trả lời. “Anh gầy quá cơ; anh phải ăn mạnh vào!” Cô nàng liếc sang Brianna Randall đầy ẩn ý, nói: “Cô biết đàn ông là thế nào rồi đấy; chẳng bao giờ chịu ăn uống tử tế nếu không có một người phụ nữ chăm lo cho họ.”
“May là anh ấy đã có cô chăm lo cho,” Brianna lịch sự trả lời.
Roger hít vào một hơi thật sâu, duỗi gập các ngón tay vài lần, cho tới khi sự thôi thúc muốn siết cổ Fiona qua đi.
“Fiona,” anh lên tiếng. “Cô, ừm, có thể giúp tôi một việc được không?”
Mặt cô nàng sáng bừng lên như một cái đèn ma bằng bí ngô, miệng cười ngoác ra tới tận mang tai trước ý nghĩ có thể làm gì đó cho anh. “Dĩ nhiên rồi, Rog - à, anh Wakefield! Bất cứ điều gì!”
Roger thấy hơi ngượng, nhưng cuối cùng anh vẫn biện hộ rằng điều này là vì muốn tốt cho cô ta cũng như cho chính anh. Nếu cô ta không rời khỏi đây, chẳng mấy chốc anh sẽ không kiềm chế nổi và thực hiện một hành động nào đó khiến họ cùng thấy hối hận.
“Ôi, cảm ơn Fiona. Không có gì nhiều nhặn đâu, chỉ là tôi đã đặt hàng một ít… một ít” - anh điên cuồng suy nghĩ, cố gắng nhớ ra tên của một người bán hàng nào đó trong làng - “một ít thuốc lá sợi, từ chỗ ông Buchan ở trên phố lớn. Tôi không biết cô có sẵn lòng đến đó lấy về giúp tôi không? Tôi có thể muốn hút một điếu sau bữa trà tuyệt vời thế này.”
Fiona đã cởi tạp dề ra - đó là một cái tạp dề viền đăng ten, diêm dúa. Roger nhắm mắt lại trong thoáng chốc, cảm thấy nhẹ nhõm khi cánh cửa phòng làm việc đóng lại sau lưng cô nàng, tạm thời gạt bỏ đi cái thực tế là anh không hút thuốc lá. Thở dài nhẹ nhõm, anh quay lại cuộc trò chuyện với các vị khách của mình.
“Cháu đang hỏi là liệu cô có muốn cháu tìm kiếm nốt những cái tên còn lại trong bản danh sách của cô hay không?”
Claire nói gần như ngay lập tức. Roger bỗng có một ấn tượng lạ lùng là bà cũng cùng chia sẻ cảm giác nhẹ nhõm giống anh khi Fiona rời đi. “Có, cô rất muốn - nếu chuyện ấy không gây ra quá nhiều rắc rối.”
“Không, không! Không hề gì,” Roger vội nói, chỉ hơi khoác lác một chút. “Cháu rất vui được làm việc đó.”
Roger ngần ngừ một lát bên xe trà đầy ắp đồ ăn thức uống, rồi luồn tay túm lấy chiếc bình thon cổ bằng pha lê chứa rượu whisky Muir Breame mười hai năm tuổi. Sau cuộc đụng độ nho nhỏ với Fiona, anh cảm thấy mình nợ bản thân một ly whisky.
“Hai người có muốn dùng một chút không?” Anh lịch sự hỏi các vị khách. Rồi bắt gặp vẻ mặt chán ghét của Brianna, anh nhanh chóng bổ sung. “Hoặc là một ít trà?”
“Trà đi,” Brianna nói với vẻ nhẹ nhõm.
“Con không biết là mình đang bỏ lỡ mất điều gì đâu.” Claire bảo con gái, hít thật mạnh hương rượu whisky với vẻ sung sướng thỏa mãn.
“Ồ vâng, con biết chứ.” Brianna đáp lại. “Đó là lý do vì sao con đang bỏ lỡ nó đây.” Cô nhún vai và nhướng mày với Roger.
“Theo luật ở bang Massachusetts, cháu chỉ được uống rượu khi nào tròn hai mươi mốt tuổi,” Claire giải thích với Roger. “Bree còn tám tháng nữa mới đủ tuổi nên con bé thật sự không quen uống rượu.”
“Mẹ cứ làm như việc không thích whisky là phạm tội không bằng.” Brianna phản đối, mỉm cười với Roger trong khi đưa tách trà lên miệng.
Anh cũng nhướng mày đáp lại. “Người phụ nữ thân yêu của tôi ơi,” anh nói, làm ra vẻ gay gắt. “Đây là Scotland. Lẽ dĩ nhiên không thích whisky là phạm tội rồi!”
“Ồ, thế ư?” Brianna ngọt ngào nói, bắt chước giống hệt cách phát âm chữ “r” trong cổ kiểu dân Scot của anh. “Ái chà, thế thì chúng ta sẽ hy vọng nó không phải là tội tử hình giống như hình phạt dành cho kẻ giết người nhỉ?”
Roger kinh ngạc, anh vừa cười vừa nuốt vội ngụm whisky và bị sặc. Ho sặc sụa và tự đấm ngực cho mình, anh liếc sang Claire để chia sẻ câu nói đùa này. Một nụ cười gượng gạo treo trên môi bà, nhưng gương mặt bà đã trở nên tái nhợt. Rồi bà chớp mắt, nụ cười quay trở lại tự nhiên hơn, và khoảnh khắc đó trôi qua.
Roger thấy ngạc nhiên trước cái cách cuộc trò chuyện giữa họ dễ dàng trở nên ăn ý vui vẻ - cả về những chuyện tầm phào lẫn về công trình nghiên cứu của Claire. Brianna rõ ràng rất hứng thú với công việc của cha mình, và biết về những người Jacobite nhiều hơn cả mẹ cô.
“Thật ngạc nhiên là họ tiến xa được đến tận Culloden,” cô nói. “Anh có biết những người Scotland đã thắng trận Prestonpans chỉ với hai nghìn quân không? Chống lại cả một đội quân Anh lên tới tám nghìn người? Thật không thể tin được!”
“À, và trận Falkirk cũng diễn ra gần giống thế,” Roger phụ họa. “Ít quân hơn, vũ trang kém hơn, hành quân bộ… họ đáng ra không bao giờ có thể làm được những điều họ đã làm… nhưng họ lại làm được!”
“Ừm,” Claire lên tiếng, nhấp một ngụm lớn whisky. “Họ đã làm được.”
“Tôi đang nghĩ,” Roger nói với Brianna, khẩu khí tự nhiên. “Có lẽ cô sẽ muốn đi cùng tôi đến những địa danh này - chiến trường và các chỗ khác nữa? Chúng rất thú vị và tôi chắc chắn cô sẽ giúp ích được rất nhiều cho nghiên cứu này.”
Brianna cười và đưa tay gạt lọn tóc đang sắp rớt vào tách trà của mình. “Tôi không biết có giúp gì được không, nhưng tôi rất muốn đi cùng.”
“Quá tuyệt!” Ngạc nhiên và phấn khởi vì sự đồng ý của cô, anh lóng ngóng cầm chiếc bình thon cổ và suýt làm rơi nó. Claire gọn gàng đỡ được nó và rót đầy cốc cho anh.
“Ít nhất cô có thể làm thế; sau lần cuối cùng làm rớt nó,” bà nói, mỉm cười đáp lại lời cảm ơn của anh.
Nhìn bà lúc này, bình tĩnh, đường hoàng và thả lỏng, Roger lại thấy hoài nghi những nghi ngờ lúc trước của mình. Có lẽ đó chỉ là ngẫu nhiên chăng? Gương mặt đáng yêu, lạnh lùng đó chẳng mách bảo cho anh điều gì.
Nửa giờ sau, bàn trà đã ở trong tình trạng hỗn độn, bình rượu rỗng không, và ba người bọn họ đều ngồi đó trong trạng thái ngơ ngẩn. Brianna nhấp nhổm một, hai lần, liếc sang Roger, cuối cùng hỏi liệu cô có thể sử dụng “phòng nghỉ ngơi” của anh không.
“Ồ, là W.C hả? Dĩ nhiên rồi.” Anh nặng nề nhấc người lên, lóng ngóng với cái bánh Dundee[2] và bánh xốp quả hạnh. Nếu anh không tránh xa Fiona sớm, anh sẽ nặng hơn trăm cân trước khi quay lại Oxford mất.
“Nó thuộc kiểu cổ,” anh giải thích, chỉ tay xuôi theo hành lang về phía phòng tắm. “Bình chứa nước thì ở trên trần và dây kéo bằng sợi xích.”
“Tôi đã nhìn thấy vài chiếc kiểu như thế trong Viện bảo tàng Anh,” Brianna gật đầu, nói. “Chỉ có điều chúng không nằm trong khu trưng bày mà ở phòng vệ sinh nữ.” Cô ngập ngừng rồi hỏi: “Anh không dùng loại giấy vệ sinh như ở trong Viện bảo tàng Anh chứ? Bởi vì nếu anh dùng loại đó, tôi có sẵn một ít giấy Kleenex trong ví đây.”
Roger mắt nhắm mắt mở nhìn cô. “Quả là một logic rất kỳ quái,” anh nói, “hay là tôi đã say hơn tôi tưởng.” Thực sự, anh và Claire đã rất thỏa thuê thanh toán hết bình Muir Breame, còn Brianna vẫn chỉ uống trà.
Claire cười to khi nghe được mẩu đối thoại ấy, bà đứng lên đưa cho Brianna vài tờ khăn giấy gấp nếp lấy ra từ túi xách của mình. “Nó sẽ không phải là loại giấy sáp được in chữ “Tài sản của chính phủ Anh” như trong viện bảo tàng, nhưng có lẽ cũng không tốt hơn nhiều lắm đâu,” bà bảo con gái. “Giấy vệ sinh của nước Anh thường là loại giấy khá cứng.”
“Cảm ơn mẹ.” Brianna nhận tập khăn giấy và đi ra cửa, nhưng rồi lại quay đầu. “Thế quái nào mà người ta lại cố tình làm giấy vệ sinh cứng như giấy thiếc thế nhỉ?” Cô thắc mắc.
“Những người đàn ông của chúng tôi có trái tim bằng gỗ sồi,” Roger ngâm nga cất tiếng, “và cặp mông bằng thép không gỉ. Nó xây dựng nên tính cách dân tộc này.”
“Trong trường hợp của người Scot, cô nghĩ đó chính là chứng chai dây thần kinh mang tính di truyền,” Claire bổ sung. “Kiểu đàn ông có thể mặc váy cưỡi ngựa thì mông chắc hẳn phải giống như da yên ngựa vậy.”
Brianna phì cười. “Vậy thì con phải xem họ dùng gì để làm giấy vệ sinh mới được,” cô nói.
“Thực ra, nó không tệ lắm đâu,” Claire nói, khiến những người còn lại ngạc nhiên. “Lá cây hoa phổi thật sự rất tốt, ngang với loại giấy hai lớp dùng trong phòng tắm. Và vào mùa đông hay trong nhà, nó thường hơi ẩm; không mấy vệ sinh, nhưng đủ tiện lợi.”
Cả Roger và Brianna trố mắt nhìn bà mất một lúc.
“À… mẹ đọc được nó trong một cuốn sách,” bà nói, đột nhiên mặt ửng hồng.
Trong khi Brianna vừa cười khúc khích vừa rời đi nghiên cứu các tiện nghi kia thì Claire vẫn đứng cạnh cửa.
“Cháu thật là tốt bụng hết sức khi chiêu đãi mẹ con cô đâu ra đấy,” bà nói, mỉm cười với Roger. Sự xáo động thoáng qua đã biến mất, thay vào đó là tư thế đường hoàng tự chủ thường thấy ở bà. “Và cháu đặc biệt tử tế khi đã tìm ra những cái tên đó giúp cô.”
“Cháu rất vui được làm điều đó,” Roger cam đoan với bà. “Công việc tìm kiếm đó là một cơ hội thay đổi không khí, còn hơn là cứ phải ngồi chết gí một chỗ. Cháu sẽ cho cô biết ngay khi tìm thấy thêm bất cứ điều gì khác về những người Jacobite của cô.”
“Cảm ơn cháu.” Claire do dự, liếc nhìn qua vai mình rồi hạ thấp giọng. “Thực ra, vì Bree vắng mặt một lúc… có vài điều cô muốn nhờ cháu, riêng tư thôi.”
Roger hắng giọng và nắn thẳng chiếc cà vạt mà anh đeo để thể hiện sự tôn trọng trong dịp này.
“Cô cứ nói đi ạ,” anh đáp, cảm thấy vô cùng vui sướng trước thành công của bữa tiệc trà. “Cháu hoàn toàn sẵn lòng phục vụ cô.”
“Cháu đã hỏi Bree là liệu nó có muốn cùng cháu đi nghiên cứu thực địa không. Cô muốn nhờ cháu… có một nơi mà cô không muốn cháu đưa con bé đến, nếu cháu không phiền.”
Ngay lập tức, tiếng chuông cảnh báo cất lên trong đầu Roger. Có phải anh sắp khám phá ra bí mật về Broch Tuarach không?
“Vòng tròn đá - họ gọi nó là Craigh na Dun.” Khuôn mặt Claire nghiêm túc khi bà hơi nghiêng người tới gần hơn. “Có lý do quan trọng, không thì cô đã không yêu cầu thế. Cô muốn tự mình đưa Brianna đến đó, nhưng cô e là vào lúc này cô không thể nói cho cháu biết lý do vì sao. Đến thời điểm thích hợp, cô sẽ nói, nhưng giờ thì chưa. Cháu hứa với cô chứ?”
Những ý nghĩ điên cuồng rượt đuổi nhau trong tâm trí anh. Vậy rốt cuộc Broch Tuarach không phải là nơi bà muốn con gái mình tránh xa! Một điều bí ẩn đã được lý giải, chỉ có điều nó lại ẩn giấu một bí ẩn khác.
“Nếu cô muốn vậy, dĩ nhiên rồi ạ.” Cuối cùng, anh nói.
“Cảm ơn cháu.” Bà vỗ nhẹ vào cánh tay anh một cái và quay đi. Nhìn dáng hình bà đứng ngược sáng, anh đột nhiên nhớ đến điều gì đó. Có lẽ giờ không phải là lúc để hỏi, nhưng có hại gì đâu chứ!
“Ơ, bác sĩ Randall - cô Claire?”
Claire quay mặt về phía anh. Khi không có Brianna làm anh sao nhãng, Roger có thể thấy Claire Randall là một phụ nữ rất xinh đẹp theo cách riêng của bà. Khuôn mặt bà ửng hồng vì rượu whisky, đôi mắt gần như có màu vàng nâu sáng khác thường, anh nghĩ giống như một miếng hổ phách trong pha lê vậy.
“Trong tất cả các ghi chép mà cháu đã tìm kiếm về những người đàn ông này,” Roger nói, cẩn thận lựa chọn từ ngữ, “có đề cập tới một đội trưởng tên là James Fraser, người này dường như là lãnh đạo của bọn họ. Nhưng ông ta lại không có tên trên danh sách của cô. Cháu chỉ thắc mắc cô có biết về ông ta không?”
Bà đứng sững trong thoáng chốc, gợi cho anh nhớ đến cách bà cư xử vào buổi chiều bà mới đến. Nhưng sau một lát, bà hơi run rẩy, rồi trả lời với vẻ trầm tĩnh.
“Có, cô biết ông ấy.” Bà điềm đạm nói, nhưng mặt lại thất sắc, Roger có thể thấy mạch máu ở cổ bà đang giật rất nhanh. “Cô không cho ông ấy vào danh sách bởi vì cô biết chuyện gì đã xảy ra với ông ấy. Jamie Fraser đã chết trong trận Culloden.”
“Cô chắc chứ?”
Như thể nóng vội rời đi, Claire tóm lấy chiếc túi xách của bà và liếc nhanh về phía phòng tắm cuối hành lang, nơi tiếng lạch cạch của cái tay nắm cửa cổ xưa cho thấy Brianna đang cố gắng đi ra khỏi đó.
“Chắc,” bà nói, không hề nhìn lại phía sau. “Cô khá chắc chắn. Ồ, cậu Wakefield… ý cô là Roger.” Giờ thì bà quay phắt lại, đôi mắt có màu sắc kỳ lạ nhìn chằm chằm vào anh. Dưới ánh sáng này, chúng trông gần như màu vàng, anh nghĩ; đôi mắt của một con mèo lớn, đôi mắt của một con báo.
“Làm ơn, đừng nhắc tới Jamie Fraser với con gái cô.” Bà nói.
•••
Đã muộn rồi, đáng lẽ nên ngủ từ lâu nhưng Roger lại không tài nào ngủ được. Liệu có phải do những trò nghiêm trọng hóa vấn đề của Fiona, sự mâu thuẫn khó hiểu của Claire Randall, hay do hứng chí trước viễn cảnh được tiến hành nghiên cứu thực địa cùng với Brianna Randall mà anh mất ngủ và trằn trọc mãi thế này? Lật người, nằm ngửa hay đếm cừu đều chẳng hữu dụng đối với tình trạng thao thức của anh. Một chuyến đi lục lọi đống giấy tờ sách vở của mục sư có lẽ sẽ giúp anh ngủ được.
Đèn trong phòng Fiona ở cuối hành lang vẫn còn sáng, nhưng anh nhón chân xuống cầu thang, không đánh động đến cô nàng. Thế rồi, bật đèn phòng làm việc, anh đứng một hồi lâu, ngắm nhìn khối lượng đồ sộ của nhiệm vụ trước mặt mình.
Bức tường kia là minh họa sinh động cho trí óc của mục sư Wakefield. Hoàn toàn phủ kín một mặt phòng làm việc, nó là một tấm ván bằng gỗ xốp để cách nhiệt và cách âm, có độ dài các chiều là sáu mét và ba mét rưỡi. Gần như không một phân gỗ xốp nào lộ ra bên dưới lớp lớp giấy tờ, các ghi chép, ảnh, các bản sao bằng máy rônêô[3], hóa đơn, đơn thuốc, lông chim, góc bị xé của các phong bì có dán những chiếc tem thư thú vị, các nhãn địa chỉ, các chùm chìa khóa, bưu thiếp, dây chun và những thứ lặt vặt khác, tất cả được đóng đinh hoặc đính vào bức tường bằng dây.
Những thứ linh tinh ấy dày tới mười hai lớp, nhưng mục sư luôn đưa tay ra là lấy được thứ ông muốn, không chệch đi đâu. Roger nghĩ hẳn là bức tường này được sắp xếp theo một trật tự lớp lang nào đó mà ngay cả các nhà khoa học NASA của Mỹ cũng không thể nhận thấy được.
Roger hồ nghi quan sát bức tường. Không có một căn cứ logic nào để bắt đầu cả. Anh thử với tay thăm dò một danh sách được sao bằng máy rônêô về các ngày họp của Đại hội đồng được văn phòng giám mục gửi ra, nhưng lại bị phân tâm khi nhìn thấy một con rồng vẽ bằng bút chì màu nằm ngay bên dưới, một tác phẩm hoàn thiện với luồng khói thô ra từ hai cánh mũi phập phồng đầy tính nghệ thuật, và những ngọn lửa màu xanh lục bắn ra từ cái miệng đang ngoác rộng của nó.
Cái tên ROGER được viết thật lớn bằng chữ in hoa rời rạc phía dưới tờ giấy. Anh còn nhớ láng máng là đã giải thích rằng con rồng này thở ra lửa xanh bởi vì nó chẳng ăn gì khác ngoài món rau chân vịt. Anh thả tờ danh sách Đại hội đồng trở lại chỗ cũ và quay đi khỏi bức tường. Anh có thể xử lý mớ giấy tờ đó sau.
Bàn làm việc là một chiếc bàn có nắp cuộn khổng lồ bằng gỗ sồi với ít nhất bốn mươi cái ngăn kéo được nhồi nhét đầy tràn, trông có vẻ giống một cái bánh. Thở dài một tiếng, Roger kéo chiếc ghế văn phòng mòn vẹt ra và ngồi xuống đó để nghiên cứu ý nghĩa của tất cả những văn bản mà mục sư nghĩ rằng xứng đáng được lưu giữ.
Một chồng hóa đơn chưa thanh toán. Một ngăn khác đựng các giấy tờ có vẻ quan trọng: giấy chứng nhận quyền sở hữu xe, các báo cáo địa chính, giấy tờ chứng nhận của thanh tra xây dựng. Một ngăn khác là những ghi chú và ghi chép liên quan đến lịch sử. Một ngăn nữa dành cho những món đồ lưu niệm của gia đình. Ngăn khác - ngăn lớn nhất - dành đựng rác.
Chìm đắm trong nhiệm vụ của mình, anh không nghe thấy tiếng cửa mở sau lưng hay tiếng bước chân tiến đến gần. Bất chợt một ấm trà lớn xuất hiện trên bàn bên cạnh anh.
“A?” Anh ngồi thẳng người, chớp chớp mắt.
“Em nghĩ là anh có thể muốn uống trà, anh Wake… ý em là Roger.” Fiona đặt xuống một cái khay nhỏ trên có một chiếc tách, đĩa đựng tách và một đĩa bánh bích quy.
“Ồ, cảm ơn!” Anh đúng thực là đang đói, và tặng cho Fiona một nụ cười thân thiện khiến máu đổ dồn lên cặp má phúng phình của cô nàng. Như được tiếp thêm can đảm, cô nàng không rời đi mà ngồi vắt vẻo lên một góc bàn, mê mẩn ngắm nhìn anh trong khi anh chuẩn bị quay lại với công việc giữa lúc thưởng thức chiếc bánh bích quy vị sô cô la.
Cảm giác bị che khuất ánh sáng làm anh nhận thấy sự hiện diện của cô nàng, anh giơ lên nửa cái bánh ăn dở và lầm bầm nói: “Ngon lắm!”
“Ngon đúng không? Em làm đấy, anh biết mà.” Gò má Fiona càng ửng hồng hơn. Cô ta là một cô gái nhỏ cuốn hút. Nhỏ nhắn, tròn trịa, với mái tóc xoăn màu đen và đôi mắt to màu nâu. Anh bỗng nhận thấy mình đang thắc mắc liệu Brianna Randall có biết nấu ăn không, rồi anh lắc đầu để xóa đi hình ảnh đó.
Rõ ràng hiểu nhầm cử chỉ này là một dấu hiệu cho thấy anh không tin tưởng, Fiona nhoài người tới gần hơn. “Thật đấy,” cô nàng một mực khăng khăng. “Đó là công thức làm bánh của bà em. Bà thường bảo chúng là món bánh yêu thích của mục sư.” Đôi mắt to màu nâu trở nên mờ mịt ướt át. “Bà đã để lại cho em tất cả sách nấu ăn của bà và các thứ khác nữa. Em chính là đứa cháu gái duy nhất của bà mà.”
“Tôi rất lấy làm tiếc về chuyện của bà cô,” Roger chân thành nói. “Bà ra đi nhanh quá, đúng không?”
Fiona mếu máo gật đầu. “Ồ, vâng. Hôm ấy mưa suốt cả ngày, sau bữa tối, bà bảo là bà cảm thấy hơi mệt và lên giường nằm.” Cô gái nhún vai. “Bà đi ngủ và không bao giờ tỉnh dậy nữa.”
“Một cách ra đi thanh thản,” Roger nói. “Tôi mừng vì điều đó.” Bà Graham đã gắn bó với ngôi nhà của mục sư từ trước khi Roger đến đây. Lúc ấy, anh chỉ là một đứa bé năm tuổi mới mồ côi cha mẹ và còn đang sợ hãi. Còn bà đã ở tuổi trung niên và là góa phụ với những đứa con đã trưởng thành. Bà luôn dành cho anh một tình yêu thương kiên định và nghiêm túc của một người mẹ trong những dịp nghỉ lễ khi Roger rời trường trở về nhà mục sư. Bà và mục sư tạo nên một bộ đôi kỳ quái, nhưng họ thật sự đã biến ngôi nhà cũ kỹ này thành một mái ấm gia đình.
Bị những hồi ức làm cho xúc động, Roger đưa tay ra nắm lấy và siết chặt bàn tay Fiona. Cô gái cũng siết chặt đáp lại, đôi mắt nâu bỗng nhiên như tan chảy. Cái miệng nhỏ chúm chím như nụ hồng khẽ hé mở, và cô nàng ngả đến gần Roger, hơi thở ấm áp thổi vào tai anh.
“Ừm, cảm ơn cô,” Roger lầm bầm. Anh rụt tay lại như phải bỏng. “Cảm ơn rất nhiều. Vì bữa… bữa… à, trà và các thứ. Ngon! Ngon lắm! Rất ngon đấy! Cảm ơn!” Anh quay đi và hấp tấp vươn tay về phía một chồng giấy tờ khác để che đậy sự bối rối, vồ lấy một bó những bài báo được cắt ra, cuộn lại để trong một ngăn kéo bàn mà anh chọn ngẫu nhiên.
Anh mở những bài báo đã ố vàng ấy và trải chúng lên bàn làm việc, dùng lòng bàn tay ấn chúng xuống mặt bàn, cau mày ra vẻ tập trung cao độ, cắm cúi trên những văn bản đầy vết ố nhòe ấy. Sau một lúc, Fiona đứng dậy với một tiếng thở dài thườn thượt, rồi tiếng bước chân cô nàng xa dần. Roger không hề ngẩng đầu lên.
Buông một tiếng thở dài, anh nhắm mắt lại trong chốc lát và thầm cầu nguyện thật nhanh, cảm tạ sự giải thoát trong đường tơ kẽ tóc vừa rồi. Phải, Fiona thật hấp dẫn. Phải, cô nàng không nghi ngờ gì là một đầu bếp giỏi. Nhưng cô nàng cũng ồn ào, hay can thiệp, thực khó chịu và rõ ràng lúc nào cũng hướng tới hôn nhân. Nếu anh đặt tay lên làn da hồng hào ấy lần nữa, chắc chắn họ sẽ được công bố kết hôn ở nhà thờ vào tháng sau. Nhưng nếu có bất kỳ thông báo kết hôn nào thì cái tên đi cùng với Roger Wakefield trong cuốn sổ ghi chép sinh tử, giá thú của giáo xứ sẽ phải là Brianna Randall, đó là những gì anh muốn nói nếu cần phát biểu ý kiến của mình.
Đang tự hỏi anh sẽ phải nói gì thì mắt Roger mở lớn và rồi chớp chớp, vì ngay trước mặt anh là cái tên mà anh đang mường tượng đến trên tờ giấy hôn thú - Randall.
Dĩ nhiên không phải là Brianna Randall. Là Claire Randall. Hàng tiêu đề có ghi TRỞ VỀ TỪ CÕI CHẾT. Bên dưới là bức hình của Claire Randall, trẻ hơn hai mươi tuổi, nhưng trông không khác mấy so với bây giờ, trừ biểu cảm trên gương mặt bà. Bà bị chụp hình lúc đang ngồi vùng dậy trên giường bệnh viện, tóc tai rối bù và tung bay như cờ phướn, cái miệng thanh tú há ra trông như một cái bẫy thép, và đôi mắt cực kỳ khác thường đó đang trừng trừng nhìn thẳng vào máy ảnh.
Với cảm giác choáng váng, Roger giở lướt qua những bài báo đó, rồi quay lại đọc chúng một cách cẩn thận. Mặc dù các bài viết cố làm cho câu chuyện cảm động hết mức có thể, nhưng các sự kiện thực tế vẫn khá rời rạc.
Claire Randall, vợ của nhà sử học nổi tiếng, Tiến sĩ Franklin W. Randall, đã biến mất tại Inverness trong một kỳ nghỉ ở Scotland vào cuối mùa xuân năm 1945. Chiếc xe ô tô mà bà lái đã được tìm thấy nhưng người phụ nữ này lại biến mất không để lại dấu vết nào. Mọi cuộc tìm kiếm đều vô ích, cuối cùng cảnh sát và chồng của nạn nhân đã kết luận rằng Claire Randall chắc chắn đã bị sát hại, có thể bởi một kẻ lang thang và xác bà bị thủ tiêu ở đâu đó trong những vách đá cheo leo của vùng này.
Và vào năm 1948, gần ba năm sau, Claire Randall đã trở lại. Bà được tìm thấy đang lang thang ở gần địa điểm mà bà đã biến mất mấy năm trước, tóc tai lòa xòa rối bời và mặc bộ đồ sờn rách. Tuy hơi gầy nhưng tình trạng sức khỏe của bà khá tốt, dù vậy, bà lại bị mất phương hướng và nói năng không mạch lạc.
Khẽ nhướng lông mày trước ý nghĩ Claire Randall từng là người nói năng không rõ ràng, Roger giở lướt tới những bài báo ở cuối. Chúng chứa rất ít thông tin, chỉ biết rằng bà Randall được điều trị tại bệnh viện địa phương do bị sốc và bị phơi bày săm soi trước công chúng. Có những bức ảnh chụp người chồng, Frank Randall, được cho là mang dáng vẻ vui mừng khôn xiết. Trông ông ta có vẻ ngỡ ngàng thì đúng hơn, Roger mỉa mai nghĩ, cũng không thể trách ông ta vì điều đó được.
Anh tò mò kiểm tra kĩ các bức hình. Frank Randall là một người đàn ông đẹp trai, mảnh khảnh, mang dáng vẻ quý tộc. Trên bức ảnh đen trắng, vẻ duyên dáng ngang tàng toát lên từ góc độ nhìn nghiêng của thân người khi ông ta đứng yên tĩnh trong khung cửa bệnh viện, ngạc nhiên bởi sự xuất hiện của tay săn ảnh trên đường ông ta đến thăm người vợ vừa mới được trả lại.
Anh lần theo đường nét của quai hàm hẹp, dài và đường cong của mái đầu kia, rồi nhận ra mình đang tìm kiếm những dấu vết của Brianna trên người cha cô ấy. Nghĩ vậy, anh đứng dậy tìm kiếm một cuốn sách của Frank Randall từ trên giá sách. Giở tới cuốn sách có áo bọc màu đen, anh tìm thấy một bức ảnh đẹp hơn. Bức ảnh chụp Frank Randall có màu, ở góc nhìn chính diện. Không, mái tóc ông ta rõ ràng là màu nâu sẫm, không phải màu đỏ. Màu sắc chói lọi đó của Brianna hẳn phải được thừa hưởng từ ông bà của cô ấy, cùng với đôi mắt xếch màu xanh sẫm trông y như mắt mèo. Chúng thật đẹp, nhưng không giống mắt của mẹ cô ấy. Và cũng không giống mắt của cha cô ấy. Cố gắng hết mức, anh cũng không thấy được dáng vẻ nữ thần rực rỡ trên khuôn mặt của vị sử gia nổi tiếng.
Anh thở dài, đóng cuốn sách và thu thập lại các bài báo. Anh thực sự cần phải chấm dứt sự thẫn thờ này và tập trung vào công việc, hoặc sẽ phải ngồi đây cho tới mười hai tháng tiếp theo mất.
Anh định cho các bài báo vào chỗ đống đồ lưu niệm thì một bài viết với tiêu đề BỊ LOÀI TIÊN BẮT CÓC? đập vào mắt anh. Hay nói đúng hơn, không phải bài báo đó mà là ngày tháng xuất hiện trên tiêu đề khiến anh chú ý. Ngày 6 tháng 5 năm 1948.
Anh nhẹ nhàng đặt bài báo xuống như thể nó là một quả bom có thể nổ tung trong tay anh. Anh nhắm mắt lại, cố gắng hồi tưởng lần trò chuyện đầu tiên với những người nhà Randall. “Theo luật ở bang Massachusetts, cháu chỉ được uống rượu khi nào tròn hai mươi mốt tuổi,” Claire đã nói thế. “Bree còn tám tháng nữa mới đủ tuổi.” Hai mươi. Brianna Randall hai mươi tuổi.
Không thể tính ngược đủ nhanh, anh đứng dậy, quờ quạng lật giở tìm cuốn lịch vạn niên mà mục sư vẫn giữ ở một khoảng trống dành riêng cho nó trên bức tường lộn xộn của ông. Anh tìm thấy ngày đó và đứng sững, ngón tay ấn chặt lên giấy, mặt tái nhợt, cắt không có một giọt máu.
Claire Randall đã trở về từ chuyến biến mất bí ẩn, đầu tóc rối bời, gầy ốm, nói năng không rành mạch - và mang thai.
•••
Cuối cùng, đến lúc mệt nhoài, Roger cũng đi ngủ, nhưng giấc ngủ chập chờn liên tục bị ngắt quãng khiến anh dậy muộn và mắt sưng húp, đồng thời chớm thấy một cơn đau đầu, dù đã tắm vòi sen lạnh và Fiona vui vẻ, hoạt bát trong suốt bữa sáng nhưng cũng chẳng giúp xua đi được cơn đau đầu ấy.
Cảm giác ngột ngạt nặng nề đến mức anh bỏ cả công việc và rời nhà đi dạo. Sải bước đi xuyên qua màn mưa phùn, anh tìm được bầu không khí trong lành giúp cơn đau đầu dịu đi, nhưng không may là nó lại khiến đầu óc anh thanh tĩnh đủ để bắt đầu ngẫm nghĩ lại những thứ dây mơ rễ má khám phá ra được đêm hôm qua.
Brianna không biết gì. Điều đó thể hiện rõ ràng qua cách cô nói về người cha quá cố - hay về người đàn ông mà cô nghĩ là cha mình, Frank Randall. Và có lẽ Claire không có ý định cho con gái mình biết sự thật, hoặc tự bản thân bà sẽ kể cho cô nghe. Trừ phi chuyến đi đến Scotland lần này được định trước là khúc dạo đầu cho một lời thú nhận? Cha ruột của cô hẳn phải là một người Scot. Suy cho cùng, Claire đã biến mất và xuất hiện trở lại ở Scotland mà. Ông ta vẫn còn ở đây ư?
Đó là một ý nghĩ làm anh choáng váng. Có phải Claire mang con gái tới Scotland để giới thiệu với người cha thực sự của cô không? Roger lắc đầu nghi hoặc. Hành động đó là một sự mạo hiểm điên rồ. Chắc chắn nó sẽ làm Brianna bối rối và gây ra đau khổ khôn cùng cho bản thân Claire. Ông bố kia chắc cũng sẽ sợ đến nỗi chạy mất dép. Cô gái đơn thuần dành hết lòng tận tụy cho Frank Randall. Cô sẽ cảm thấy thế nào khi nhận ra rằng người đàn ông mà cô yêu thương và tôn thờ cả đời mình trên thực tế lại không hề có quan hệ máu mủ gì với cô?
Roger cảm thấy thật tệ cho tất cả những người có liên quan, bao gồm cả chính anh. Anh không đòi hỏi là một phần nào trong câu chuyện này, và ước gì mình vẫn ở trong tình trạng sung sướng chẳng biết gì như ngày hôm qua. Anh thích Claire Randall, thích bà rất nhiều, và nhận thấy ý nghĩ bà phạm tội ngoại tình thật khó chịu. Cùng lúc, anh lại cười nhạo bản thân vì sự đa cảm cổ lỗ sĩ của mình. Ai mà biết được cuộc đời của bà bên Frank Randall là như thế nào? Có thể bà có lý do chính đáng để ra đi với một người đàn ông khác. Nhưng nếu vậy, tại sao bà còn quay trở lại?
Mồ hôi nhễ nhại và tâm trạng ủ rũ, Roger thơ thẩn quay trở về nhà. Anh lột chiếc áo jacket ở hành lang và lên lầu để tắm. Thỉnh thoảng việc tắm táp giúp anh thư thái, và hôm nay anh cảm thấy cần sự xoa dịu ấy.
Anh lướt tay dọc theo dãy mắc áo trong tủ, mò mẫm tìm phần vai áo đã sờn của chiếc áo choàng tắm màu trắng cũ kỹ. Sau đó, dừng lại trong chốc lát, anh với vào sâu hơn tới tận vách tủ sau, gạt các mắc treo trên thanh ngang cho tới khi túm được y phục anh muốn.
Anh ngắm nhìn chiếc áo ngủ đã mòn xơ xác với tình cảm trìu mến. Nền lụa màu vàng đã phai đi thành màu nâu vàng của đất, nhưng những con công đủ màu sắc lại nổi bật hơn bao giờ hết, chúng xòe rộng đuôi với dáng vẻ hống hách vô tâm, thu hút người xem bằng những con mắt giống những hạt cườm đen láy. Anh đưa chiếc áo mềm mại lên mũi, hít vào thật sâu, nhắm hai mắt lại. Mùi hương thoang thoảng của Borkum Riff[4] và rượu whisky mạnh như đưa mục sư Wakefield quay trở lại, điều mà ngay cả bức tường đầy những thứ linh tinh của cha anh cũng không làm nổi.
Đã biết bao lần anh ngửi thấy mùi hương ấm lòng ấy cùng với mùi nước hoa cao cấp hiệu Old Spice, mặt anh áp sát vào chất lụa mềm mịn trơn bóng này, đôi cánh tay mập mạp của mục sư bao bọc chở che cho anh, hứa hẹn một chốn nương náu an toàn. Anh đã tặng cho Oxfam những món quần áo khác của ông cụ, nhưng không hiểu sao anh không đành lòng rời xa chiếc áo này.
Trong sự thôi thúc, anh xỏ tay khoác chiếc áo lên hai bờ vai trần của mình, khẽ ngạc nhiên trước sự ấm áp nhẹ nhàng của nó, giống như có những ngón tay đang mơn trớn trên da thịt anh. Anh thích thú cử động hai vai dưới lớp lụa, rồi quấn nó ôm sát vào thân người mình, buộc hờ dải thắt lưng.
Tiếp tục để mắt canh chừng bên ngoài đề phòng những cuộc đột kích của Fiona, anh đi ngược hành lang đến phòng tắm. Chiếc thùng đun nước nóng đứng dựa vào một đầu bồn tắm giống người lính gác của dòng suối linh thiêng, mập lùn và bất tử. Một ký ức khác trong những kỷ niệm thời trẻ thơ của anh là nỗi kinh hoàng hằng tuần khi phải cố gắng nhóm lửa bằng một cái bật lửa để đun nước nóng tắm, khí đốt thoát ra ngang qua đầu anh với tiếng xì xì đầy đe dọa, khiến hai bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi vì sợ nó nổ tung và cái chết sắp ập tới, thế nên chiếc bật lửa kim loại cứ trượt khỏi tay mãi.
Từ lâu, một bộ phận tự động đã được gắn thêm vào bên trong, cái thùng đun nước giờ đây tự bơm nước chảy ùng ục, nước sôi sùng sục bởi một ngọn lửa nằm khuất bên dưới tấm chắn kim loại. Roger vặn van nước nóng hết cỡ, rồi thêm nửa vòng van nước lạnh, sau đó đứng ngắm mình trong gương trong khi đợi bồn tắm đầy.
Soi trong gương, trông anh khá ổn, anh hóp bụng và đứng thẳng người trước chiếc gương toàn thân treo sau cánh cửa ra vào. Rắn chắc. Gọn gàng. Chân dài, nhưng không gầy như ống sậy. Có lẽ hai bờ vai hơi khẳng khiu chăng? Anh cau mày, vặn người hết trước lại sau để ngắm nghía.
Anh đưa bàn tay luồn vào mái tóc đen dày, chải vuốt cho tới khi nó dựng đứng lên như một cái chổi xoa bọt cạo râu, cố hình dung bản thân mình có một bộ râu tóc dài giống một số sinh viên của anh. Trông anh sẽ bảnh bao, hay là chỉ có vẻ cũ kỹ cổ lỗ? Có thể mang khuyên tai nếu anh định để râu tóc. Thế thì có lẽ trông anh sẽ giống cướp biển, như Edward Teach hoặc Henry Morgan. Anh nhíu mày lại và nhe răng ra.
“Gừ… ư…” Anh gầm gừ với hình ảnh trong gương.
“Anh Wakefield?” Ảnh trong gương nói.
Roger giật mình nhảy lùi lại, ngón chân vấp vào cái chân nhô ra của chiếc bồn tắm cổ làm anh đau điếng.
“Ái!”
“Anh ổn chứ, anh Wakefield?” Tấm gương hỏi. Tay nắm cửa bằng sứ bị vặn lách cách.
“Tất nhiên tôi ổn!” Anh gắt gỏng thốt lên, trừng mắt nhìn cánh cửa. “Đi đi, Fiona! Tôi đang tắm!”
Có tiếng cười khúc khích phía bên kia cánh cửa.
“Ồ, hai lần một ngày cơ đấy! Cứ nghĩ anh không phải là người thích chải chuốt? Anh có muốn dùng dầu thơm không? Nó ở trong tủ áp tường ấy, nếu anh muốn.”
“Không, tôi không cần.” Anh hậm hừ đáp. Nước trong bồn đã dâng lên được một nửa, anh vặn van nước vào. Sự im lặng đột ngột thật dễ chịu, anh hít vào một hơi thật sâu làm căng đầy buồng phổi toàn hơi nước. Hơi nhăn nhó vì độ nóng, anh bước vào làn nước và cẩn thận ngồi xuống, cảm nhận mồ hôi rịn ra trên mặt khi hơi nóng ập lên người.
“Anh Wakefield?” Giọng nói quay trở lại, vui tươi hớn hở vọng vào từ bên kia cánh cửa giống như tiếng một con chim két.
“Đi đi, Fiona!” Anh nghiến răng nói, thả lỏng cơ thể, ngả người tựa vào thành bồn tắm. Hơi nước dâng lên xung quanh anh, vỗ về an ủi như vòng tay êm ái của tình nhân. “Tôi đã có mọi thứ mình cần rồi.”
“Chưa, anh chưa có đủ đâu.” Giọng nói kia lại cất lên.
“Đủ rồi mà.” Ánh mắt anh quét qua một hàng thẳng tắp đầy ấn tượng, nào chai lọ và đồ dùng bày binh bố trận trên giá treo phía trên bồn tắm. “Dầu gội đầu, ba loại. Dầu xả. Kem cạo râu. Dao cạo. Xà bông tắm. Xà bông rửa mặt. Nước dưỡng sau khi cạo râu. Nước hoa. Thanh khử mùi. Tôi không thiếu gì cả, Fiona ạ!”
“Thế còn khăn tắm thì sao?” Giọng nói lại ngọt ngào cất lên.
Sau một cái liếc mắt tức giận về phía chỗ để đồ thiếu khăn tắm, Roger nhắm mắt lại, nghiến răng trèo trẹo và chậm rãi đếm đến mười. Thế vẫn chưa đủ, anh phải đếm đến tận hai mươi. Sau đó, cảm thấy mình đã có thể lên tiếng trả lời mà không sùi bọt mép, anh điềm đạm nói:
“Được rồi, Fiona. Để chúng ngoài cửa đi, làm ơn! Và sau đó, làm ơn… làm ơn, Fiona… đi đi!”
Có tiếng sột soạt bên ngoài, tiếp nối bằng tiếng những bước chân bất đắc dĩ đi xa dần, và Roger, với một tiếng thở phào nhẹ nhõm, cho phép bản thân được tận hưởng niềm vui của sự riêng tư. Bình yên. Tĩnh lặng. Không có Fiona.
Bây giờ, khi đã có thể suy nghĩ một cách khách quan hơn về khám phá đáng buồn của mình, anh lại thấy bản thân càng hiếu kỳ hơn về người cha bí ẩn của Brianna. Đánh giá từ cô con gái thì người đàn ông ấy hẳn phải có một ngoại hình hấp dẫn hiếm có; chẳng lẽ chỉ riêng điều đó thôi đã đủ để quyến rũ một người phụ nữ như Claire Randall?
Anh băn khoăn liệu cha của Brianna có thể là một người Scot không. Ông ta còn sống - hay đã chết - ở Inverness? Anh cho rằng khả năng đó có liên quan tới trạng thái lo lắng của Claire, và việc bà vẫn tiếp tục giữ bí mật. Nhưng liệu nó có liên quan gì tới các yêu cầu gây hoang mang khó hiểu mà bà đưa ra cho anh không? Bà không muốn anh đưa Brianna tới Craigh na Dun, cũng không nhắc tới đội trưởng của toán người ở Broch Tuarach với con gái bà. Thế quái nào lại như vậy?
Một ý nghĩ đột ngột lóe lên khiến anh ngồi bật dậy trong bồn tắm, nước văng tung tóe đập vào thành bồn bằng sắt. Sẽ ra sao nếu bà không phải đang quan tâm tới người lính Jacobite của thế kỷ mười tám ấy, mà chỉ là cái tên của người đó? Sẽ thế nào nếu người đàn ông là cha của con gái bà năm 1947 cũng có tên là James Fraser? Đó là một cái tên phổ biến ở vùng cao nguyên này.
Phải rồi, anh nghĩ, đó có lẽ là cách giải thích rất hợp lý. Dựa theo ước nguyện của Claire muốn đích thân chỉ cho con gái bà thấy vòng tròn đá đó, có lẽ nơi ấy cũng liên quan tới bí ẩn về cha của Brianna; hoặc có thể đó là nơi bà đã gặp người đàn ông ấy, hoặc có thể đó là nơi Brianna được thụ thai. Roger biết rõ vòng tròn đá đó là nơi thường được dùng làm chốn hẹn hò; chính anh cũng đã đưa những cô gái đến đó vào thời trung học, lợi dụng bầu không khí bí ẩn của những kẻ ngoại giáo ở vòng tròn đá ấy để làm lơi lỏng sự e dè, giữ gìn của họ.
Anh đột nhiên hình dung ra một cảnh tượng đáng giật mình về thân hình trắng trẻo, đẹp đẽ của Claire Randall bị khóa chặt ở nơi hoang dã ấy cùng với thân thể căng cứng, trần truồng của một người đàn ông tóc đỏ, hai cơ thể trơn bóng vì nước mưa và bị cỏ cây gãy làm lấm bẩn, đang quấn lấy nhau trong cơn kích tình sung sướng giữa những hòn đá dựng đứng xung quanh. Hình ảnh đó quá gây sốc vì mức độ rõ ràng sống động đến nỗi khiến anh run rẩy, mồ hôi toát ra chảy xuống ngực rồi biến mất trong làn hơi nước.
Chúa ơi! Làm sao anh có thể nhìn vào mắt Claire Randall vào lần tới họ gặp nhau? Anh sẽ phải nói gì với Brianna về vấn đề đó? “Gần đây có đọc cuốn sách nào hay không?” “Có xem bộ phim nào hay không?” “Cô có biết mình là một đứa con ngoài giá thú không?”
Anh lắc đầu thật mạnh, cố xóa bỏ ý nghĩ đó. Sự thật là anh không biết phải làm gì tiếp theo. Đây là một tình huống hỗn loạn. Anh không muốn dính dáng gì đến nó, nhưng lại không thoát ra được. Thành thật mà nói, anh thích Claire Randall; anh cũng thích cả Brianna Randall - còn thích hơn nhiều so với mẹ cô. Anh muốn che chở cho cô, và cứu cô khỏi bất cứ nỗi đau nào. Nhưng dường như không có cách nào cả. Tất cả những gì anh có thể làm là giữ mồm giữ miệng cho tới khi Claire Randall làm cái việc mà bà dự định làm. Và rồi anh sẽ thu dọn tàn cục.
[1] Nguyên văn: Cagy old bastard split his vote. Cụm từ split one’s vote có nghĩa là bỏ phiếu cho ứng cứ viên đối lập. Câu này nhận xét về nhân vật Cáo Già, là kẻ đã tỏ vẻ ủng hộ cả hai phe đối lập trong cuộc chiến để dù bên nào thắng lão cũng sẽ được lợi.
[2] Bánh bông lan có phủ hạnh nhân trên mặt.
[3] Thiết bị để sao chụp các giấy tờ bằng giấy nến.
[4] Tên một nhãn hiệu thuốc lá được sản xuất ở Đan Mạch.