Chuyến viếng thăm của ông Forez là sự mở đầu cho hàng loạt những gián đoạn bất thường tiếp theo.
“Có một người Ý dưới nhà, thưa phu nhân,” Magnus thông báo. “Ông ta không nêu tên.” Nhìn cái miệng mím chặt của viên quản gia, tôi đoán vị khách kia tuy không nêu tên nhưng đã nói rất nhiều điều với Magnus.
Hai từ “người Ý” đã đủ cung cấp cho tôi manh mối về nhân dạng của vị khách này. Vì thế lúc trông thấy Charles Stuart đứng bên cửa sổ của phòng khách nhỏ, tôi không mấy ngạc nhiên.
Cậu ta quay lại, mũ cầm trên tay và vô cùng sửng sốt khi trông thấy tôi. Charles bàng hoàng trong giây lát, sau đó nhanh chóng chỉnh trang bản thân và thoáng gật đầu chào.
“Đức ngài Broch Tuarach không ở nhà ư?” Cậu ta hỏi thăm, cau mày tỏ ý không hài lòng.
“Không, anh ấy không có đây,” tôi đáp. “Điện hạ có muốn uống chút rượu không?”
Cậu ta thích thú đưa mắt nhìn quanh căn phòng khách nhỏ được trang hoàng lộng lẫy, nhưng lắc đầu từ chối. Theo tôi nhớ, Charles chỉ vào nhà một lần, khi đó cậu ta trèo qua các mái nhà sau buổi hẹn hò vụng trộm với Louise. Thế nhưng, cả chàng trai này lẫn Jamie đều nghĩ việc mời cậu ta đến dùng bữa tối là không thích hợp. Bởi nếu chưa có sự công nhận chính thức từ Louis, giới quý tộc Pháp đều coi thường cậu ta.
“Không. Cảm ơn bà, phu nhân Fraser. Tôi không ở lại; người hầu của tôi đợi bên ngoài, mà đường đi về chỗ tôi ở còn xa. Tôi chỉ muốn thỉnh cầu bạn tôi, Jamie, một việc.”
“Ơ… vâng, tôi chắc chắn chồng tôi sẽ rất vui mừng được giúp đỡ Điện hạ - nếu anh ấy có khả năng,” tôi trả lời một cách thận trọng và tự hỏi lời thỉnh cầu là gì. Một khoản tiền ư, có thể; dựa vào tin tức do Fergus lượm lặt, chàng trai này nhận được nhiều thư giục giã từ thợ may, thợ đóng giày và các chủ nợ khác.
Charles mỉm cười, vẻ mặt bỗng chuyển sang ngọt ngào.
“Tôi biết. Thật không thể nói hết lòng quý trọng vô bờ của tôi đối với sự tận tâm phục vụ của ông nhà; mỗi khi nhìn thấy khuôn mặt trung kiên của ông ấy, trái tim tôi lại được sưởi ấm giữa nỗi cô độc đang bủa vây xung quanh.”
“Ồ?” Tôi đáp.
“Tôi thỉnh cầu một điều không khó,” cậu ta cam đoan với tôi. “Chỉ là tôi có tiến hành một vụ đầu tư nhỏ, một con thuyền chở rượu poóc-tô.”
“Vậy ư?” Tôi hỏi. “Thật thú vị!” Murtagh khởi hành tới Lisbon vào sáng nay với cái túi nhỏ đựng những chai chứa nước cây tầm ma và rễ thiên thảo.
“Một vụ làm ăn nhỏ,” Charles hất tay kiêu kỳ, tỏ thái độ khinh thường vụ đầu tư mà cậu ta đã đổ vào toàn bộ số tiền mà cậu ta vay được. “Tuy nhiên, khi con thuyền cập bến, tôi mong ông Jamie sẽ thực hiện công việc sắp xếp hàng hóa. Bà biết đấy, việc này không thích hợp” - tới đây, cậu ta vô thức nâng cao vai và hếch mũi lên - “cho một… một người như tôi, xuất đầu lộ diện kinh doanh.”
“Vâng, tôi có thể hiểu, thưa Điện hạ,” tôi đáp, cắn môi. Tôi tự hỏi, liệu chàng trai này đã bày tỏ quan điểm với đối tác làm ăn St. Germain hay chưa - hắn đã đinh ninh Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi từ Scotland có ít lòng tự tôn hơn đám quý tộc Pháp, không những vậy còn là người nguyện tham gia vào bất cứ thương vụ nào có thể sinh lợi nhuận.
“Điện hạ kinh doanh một mình ư?” Tôi giả bộ thắc mắc.
Cậu ta khẽ nhăn mặt. “Không, tôi có đối tác, nhưng ông ta là một người Pháp. Mà tôi muốn giao phó vụ đầu tư của mình vào tay một người đồng hương hơn. Mặt khác,” cậu ta trầm ngâm nói, “tôi từng nghe Jamie thân mến là nhà buôn tài giỏi và sắc sảo bậc nhất. Do vậy, ông nhà hoàn toàn có khả năng gia tăng giá trị vốn đầu tư của tôi bằng lợi nhuận từ hoạt động bán hàng sáng suốt.”
Tôi cho rằng người nói với cậu ta về khả năng của Jamie cũng nhấn mạnh rằng, tại Paris không có nhà buôn rượu nào bị St. Germain ghét đến thế. Nếu mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, lời đề nghị này không thành vấn đề. Nhưng nếu kế hoạch thất bại, có khả năng St. Germain sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện bằng cách siết chặt Charles Stuart, ngay khi hắn phát hiện đối tác của mình đã ký hợp đồng chuyển giao nửa số rượu Gostos độc quyền cho địch thủ mà hắn ghét nhất.
“Tôi tin chồng tôi sẽ làm hết khả năng để hàng hóa của Điện hạ đạt được lợi nhuận nhiều nhất, trong số những bên liên quan,” tôi đặt niềm tin tuyệt đối vào điều mình nói.
Điện hạ ân cần cảm ơn với thái độ phù hợp với một hoàng tử khi chấp nhận lòng trung thành của bề tôi. Cậu ta cúi đầu, hôn lên bàn tay tôi vô cùng lịch sự và từ biệt mà không ngớt bày tỏ lòng biết ơn đối với Jamie. Magnus có vẻ không cảm động trước chuyến viếng thăm của hoàng tộc này, ông ta đóng cửa ngay lúc vị khách bước ra.
Hôm đó, Jamie về nhà sau khi tôi đã chìm vào giấc ngủ nên tôi thuật lại chuyến viếng thăm cũng như lời đề nghị của Charles cho anh vào bữa sáng hôm sau.
“Chúa ơi, nếu Điện hạ nói với Bá tước thì chuyện sẽ ra sao?” Anh thốt lên. Để bảo đảm cho hệ tiêu hóa khỏe mạnh, anh đã giải quyết món cháo yến mạch nhanh gọn, sau đó tiếp tục với bữa sáng kiểu Pháp gồm bánh mỳ cuộn phết bơ và sô cô la. Anh cười toe toét trong khi trầm ngâm suy nghĩ về phản ứng của Bá tước và uống từng ngụm ca cao nóng.
“Anh đang nghĩ, nếu làm cho một vị hoàng tử lưu vong thua lỗ thì có bị khép tội lèse-majesté[1] không? Nếu không, anh hy vọng Điện hạ có ngài Balhaldy hay Sheridan gần bên khi St. Germain biết chuyện.”
Dòng suy nghĩ của anh bị cắt ngang bởi âm thanh vọng vào từ sảnh lớn. Một lát sau, Magnus bước qua ngưỡng cửa cùng một tờ giấy nhắn trên chiếc khay bạc.
“Xin ngài thứ lỗi,” ông ta cúi đầu. “Người mang tin nói, việc này rất khẩn cấp, cần ngài xem ngay.”
Jamie nhướng đôi lông mày, cầm lấy tờ giấy trên khay và mở ra đọc.
“Ôi, chết tiệt!” Anh thốt lên đầy căm phẫn.
“Chuyện gì vậy?” Tôi hỏi. “Không phải tin từ Murtagh chứ?”
Anh lắc đầu. “Không, từ quản đốc kho hàng.”
“Có vấn đề ở bến tàu ư?”
Vẻ mặt kỳ quái của anh lúc này cho thấy sự đấu tranh giữa cảm giác nôn nóng và thích thú.
“Chà, không hẳn. Có vẻ ông ta bị mắc kẹt ở nhà thổ. Ông ta cúi xin anh tha thứ” - anh vẫy tờ tin nhắn một cách mỉa mai - “nhưng cũng hy vọng anh sẽ đến để giúp đỡ ông ta. Nói cách khác,” anh giải thích cho tôi hiểu, rồi vò khăn ăn và đứng dậy, “anh sẽ trả tiền hóa đơn của ông ta chứ?”
“Anh có chấp nhận không?” Tôi cười thích thú.
Anh khịt mũi, phủi các vụn bánh trên đùi.
“Anh nghĩ mình nên làm vậy, trừ phi muốn đích thân giám sát kho hàng - mà anh chẳng có thời gian.” Anh chau mày, nhẩm lại trong đầu lịch làm việc của ngày. Việc này có thể mất đôi chút thời gian, trong khi nhiều đơn hàng đang đợi anh trên bàn, các thuyền trưởng đang đợi ngoài bến cảng và những thùng rượu đang đợi trong kho.
“Tốt nhất anh nên mang Fergus đi cùng để đưa tin,” anh nói, cam chịu. “Có thể thằng nhóc phải đưa thư đến Montmartre, nếu anh có ít thời gian quá.”
“Những trái tim chân thành đáng quý hơn mũ miện vương quyền,” tôi nói với Jamie khi anh đứng bên bàn làm việc, lật qua chồng giấy tờ đang đợi được xem xét.
“Ồ, vậy ư?” Anh nói. “Và đó là ý kiến của ai?”
“Alfred, Đức ngài Tennyson, hình như thế,” tôi đáp. “Em không tin ông ta làm được thế, nhưng ông ta là nhà thơ. Bác Lamb có một quyển tuyển tập các nhà thơ nổi tiếng của Vương quốc Anh. Quyển sách có cả thơ của Burns. Em nhớ ông ấy là người Scotland,” tôi giải thích. “Ông ấy từng nói: Tự do và Whisky đánh bạn với nhau.”
Jamie khịt mũi. “Anh không biết ông ta có phải nhà thơ không, nhưng ít nhất ông ta là người Scotland.” Anh mỉm cười, cúi xuống hôn trán tôi. “Anh sẽ về nhà dùng bữa tối, mo duinne. Hãy giữ sức khỏe.”
•••
Trước khi lạch bạch đi lên tầng trên để đánh một giấc, tôi dùng xong bữa sáng của mình và chén sạch phần bánh mỳ nướng của Jamie. Kể từ lần báo động đầu tiên, máu chảy thêm vài lần nhưng rất ít, chỉ một hoặc hai vết và mấy tuần gần đây, máu không ra nữa. Thế nhưng, tôi vẫn nằm ở trên giường hoặc ghế nhiều nhất có thể, chỉ dám xuống phòng lớn để tiếp khách hay dùng bữa cùng Jamie tại phòng ăn. Khi xuống nhà vào buổi trưa, tôi thấy bàn ăn được sắp sẵn cho một người.
“Ông chủ chưa về ư?” Tôi ngạc nhiên hỏi.
Ông quản gia lắc đầu.
“Chưa, thưa phu nhân.”
“Tôi nghĩ anh ấy sẽ về sớm thôi, hãy đảm bảo thức ăn luôn chờ sẵn.” Tôi quá đói nên không thể đợi Jamie; nếu không ăn kịp bữa thì cảm giác buồn nôn sẽ quay lại.
Sau bữa trưa, tôi lại nằm nghỉ. Quan hệ vợ chồng tạm thời bị ngắt quãng, do đó chúng tôi không có nhiều việc để làm trên giường ngoài đọc sách và ngủ, mà tôi đã làm cả hai việc đó khá nhiều lần. Nằm sấp bụng hoàn toàn không thể, nằm ngửa thì không thoải mái và khiến con bị vặn mình. Vì vậy, tôi nằm nghiêng, co người ôm lấy em bé đang phát triển, như một con tôm ôm lấy nụ bạch hoa ngâm. Tôi hiếm khi ngủ sâu mà thường gà gật, để tâm trí có thể trôi theo những cử động ngẫu hứng nhẹ nhàng của đứa con trong bụng.
Ở đâu đó trong mơ, tôi nghĩ mình cảm nhận được Jamie đang kề bên, nhưng khi mở mắt ra, chỉ có căn phòng trống rỗng. Thế là tôi lại nhắm mắt và ru mình vào giấc ngủ, tựa như đang lênh đênh trên một vùng biển ấm áp.
Cuối cùng, tôi bị đánh thức vào tầm chiều muộn bởi một tiếng gõ nhẹ lên cửa phòng.
“Entrez.” Tôi chớp chớp mắt. Đó là ông quản gia Magnus, thông báo có khách đến thăm.
“Thưa phu nhân, có Công nương de Rohan tới thăm,” ông ta nói. “Công nương muốn đợi phu nhân thức giấc, nhưng phu nhân d’Arbanville cũng đến, nên tôi nghĩ…”
“Được rồi, ông Magnus,” tôi đáp, cố gắng ngồi dậy và thả chân xuống bên giường. “Tôi xuống đây.”
Tôi rất háo hức khi nhà có khách. Bởi chúng tôi đã ngừng tiếp đãi khách khứa cả tháng trời nên tôi nhớ cảm giác rộn ràng và những cuộc trò chuyện, dù nó rất ngu ngốc. Tuy Louise thường xuyên đến trò chuyện cùng tôi về những tin tức mới nhất trong triều nhưng đã lâu tôi không gặp Marie d’Arbanville. Tôi tự hỏi điều gì đã mang cô ta tới đây ngày hôm nay.
Tính tôi lóng ngóng nên phải bước xuống cầu thang thật chậm, trọng lượng ngày một tăng đang đè lên từng bước chân tôi. Tuy cánh cửa phòng khách nhỏ đã đóng nhưng tôi nghe thấy rõ giọng nói bên trong.
“Phu nhân nghĩ, cô ấy có biết không?”
Tôi chuẩn bị bước vào phòng khách đã nghe thấy câu hỏi vọng ra, với âm điệu thấp thế này, có thể đoán họ đang buôn chuyện đến cao trào. Thay vì mở cửa, tôi dừng lại bên ngoài để lắng nghe.
Marie d’Arbanville là người vừa nói. Cô ta được chào đón khắp nơi nhờ vào địa vị của ông chồng già, thậm chí là kẻ thích đàn đúm, ngay cả theo tiêu chuẩn của người Pháp. Marie biết mọi tin tức có giá trị trong những khu vực lân cận của Paris.
“Cô ấy biết chuyện gì cơ?” Chất giọng cao của Louise chứa đựng sự tự tin tuyệt đối của những người sinh ra đã là quý tộc, họ không quan tâm ai bàn tán chuyện gì.
“Ồ, vậy là phu nhân chưa biết!” Marie nhảy ngay vào phần mở đầu như con mèo vui mừng vì tìm được một con chuột mới để vờn. “Chúa ơi! Tất nhiên rồi, chính tôi vừa nghe nói một tiếng trước.”
Tôi đoán cô ta đã phóng ngay đến đây để kể lại. Cho dù “nó” là gì. Bởi đứng ngoài hành lang nên tôi có thể nghe được toàn bộ phiên bản không bị cắt xén.
“Chuyện về Đức ngài Broch Tuarach,” Marie nói. Tôi không cần nhìn cũng có thể tưởng tượng cô ta đang nghiêng người tới trước, đôi mắt màu xanh lục nhìn trước ngó sau và vồ lấy con mồi cùng niềm hân hoan về tin tức mình có. “Sáng nay, ông ấy đã thách đấu với một người Anh - trong nhà thổ!”
“Cái gì!” Tiếng thét kinh ngạc của Louise đã lấn át âm thanh phát ra từ hơi thở hổn hển của tôi. Tôi tựa vào cái bàn nhỏ để giữ cho mình đứng vững, những chấm đen lao tới cuộn xoáy trước mắt tôi và cả thế giới như toác ra thành từng mảng.
“Ồ, đúng thế!” Marie tiếp tục. “Jacques Vincennes đã ở đó. Ông ta kể lại tất cả với chồng tôi! Đó là cái nhà thổ gần chợ cá - thử hình dung việc đến nhà thổ vào sáng sớm mà xem! Đám đàn ông thật là kỳ quặc. Lúc đó, Jacques đang uống rượu cùng bà Elise, người điều hành chỗ ấy, thì bất chợt nghe tiếng gào thét thất thanh chưa từng thấy ở trên lầu, cả những âm thanh như đấm đá và la hét nữa.”
Cô ta dừng lại để lấy hơi - và tạo hiệu ứng kịch tính - sau đó, tôi nghe thấy tiếng chất lỏng đổ ra.
“Thế là, Jacques xông lên cầu thang - chà, đó là lời ông ta nói; tôi thì nghĩ ông ta đã trốn sau xô pha, ông ta hèn nhát thế đấy - thêm nhiều tiếng la hét cùng đánh đấm, rồi một tiếng động lớn vang lên, viên sĩ quan người Anh bị ném thẳng xuống cầu thang, nửa người không mặc gì, cũng không đội tóc giả, ông ta lăn lông lốc và va mạnh vào các bức tường. Trông thì giống sự trừng phạt của Chúa, nhưng người xuất hiện trên đầu cầu thang lúc đó chính là petit[2] James của chúng ta!”
“Không! Tôi xin thề, ông ấy sẽ là người cuối cùng… nhưng kể nữa đi! Chuyện gì xảy ra tiếp theo?”
Âm thanh đầu tiên là tiếng tách trà đặt lên đĩa, tiếp đó là giọng nói của Marie, sau khi cô ta thoát khỏi trạng thái bị kích thích do phải giữ bí mật lúc trước.
“Chà - không hiểu nhờ phép màu nào, người đàn ông lăn đến chân cầu thang vẫn đứng dậy được. Ngay lập tức, ông ta quay sang nhìn Đức ngài Tuarach. Jacques kể rằng, đối với một người vừa bị đá lăn từ trên cầu thang xuống và chưa kịp mặc quần thì ông ta tỏ ra rất điềm tĩnh. Ông ta mỉm cười - không phải cười vui thực sự, mà là kiểu cười thâm hiểm - và nói: “Không cần phải dùng bạo lực, Fraser. Cậu có thể đợi đến lượt mình chứ? Tôi nghĩ cậu đã nhận đủ ở quê nhà. Nhưng có vẻ có người tìm được niềm vui khi bị hành hạ.””
Louise sửng sốt kêu lên. “Thật khủng khiếp! Tên canaille[3]! Nhưng tất nhiên, không thể chỉ trích ngài Tuarach…” Tôi nhận ra giọng cô ấy trở nên căng thẳng khi tình bạn tranh đấu với ham muốn tiếp tục câu chuyện ngồi lê đôi mách. Nhưng không ngoài dự đoán, ham muốn đã chiến thắng.
“Bây giờ, Đức ngài Tuarach không thể ăn nằm với phu nhân, vì cô ấy đang có bầu và việc mang thai vốn nguy hiểm. Tất nhiên, ông ấy sẽ giải quyết nhu cầu ở nhà thổ; có quý ông nào làm khác đâu? Nhưng kể tiếp đi, Marie! Chuyện gì đã xảy ra?”
“Được thôi.” Marie nín thở, kể tiếp phần cao trào của câu chuyện. “Đức ngài Tuarach xông xuống cầu thang, nắm lấy cổ họng của tên người Anh và lắc hắn ta như lắc một con chuột!”
“Non! Ce n’est pas vrai![4]”
“Nhưng đúng thế! Phải ba người hầu của bà chủ nhà thổ mới ngăn cản được ông ấy - quả là một người đàn ông lực lưỡng, phải không? Thật hung tợn!”
“Vâng, nhưng sau đó thế nào?”
“Ồ… thì Jacques kể, gã người Anh có thở hồng hộc một chút, rồi gã đứng thẳng và nói với ông Tuarach: “Cậu đã suýt giết tôi hai lần, Fraser. Sẽ có ngày cậu thành công.” Sau đó, ông Tuarach chửi thề tục tĩu bằng tiếng Scotland - tôi không hiểu, phu nhân thì sao? - Ông ấy giằng mình khỏi những người đang ngăn cản và đánh vào mặt tên người Anh bằng tay không” - Louise há hốc mồm kinh ngạc khi nghe lời lăng mạ - “và tuyên bố: “Bình minh ngày mai sẽ chứng kiến ngươi chết!” Sau đó, ông ấy chạy lên gác và tay người Anh bỏ đi. John nói trông hắn ta tái mét - tất nhiên! Thử tưởng tượng mà xem!”
Phải, tôi tưởng tượng được.
“Bà có khỏe không, phu nhân?” Giọng nói lo lắng của Magnus đã át đi những câu cảm thán của Louise. Tôi đưa tay dò dẫm đường đi và ngay lập tức, viên quản gia đỡ lấy khuỷu tay tôi.
“Không, tôi không khỏe. Làm ơn… nói với các phu nhân!” Tôi uể oải hất tay về phía phòng khách nhỏ.
“Dĩ nhiên, thưa phu nhân! Nhưng để lát nữa. Bây giờ, cho phép tôi dìu phu nhân về phòng. Lối này, chère Madame…” Ông ta dẫn tôi lên gác, vừa đi vừa cằn nhằn liên miên. Sau khi hộ tống tôi đến chiếc ghế nằm trong phòng ngủ, ông ta xin phép xuống nhà và hứa sẽ ngay lập tức cử một cô hầu lên để chăm sóc tôi.
Nhưng tôi không đợi người phục vụ. Khi cơn sốc ban đầu qua đi, tôi có thể tự mình đi lại trong căn phòng. Tôi đứng dậy và tiến tới chỗ hộp thuốc nhỏ đặt trên bàn trang điểm. Tôi không nghĩ mình sẽ ngất lúc này, tuy nhiên tôi có một chai đựng a-mô-ni-ắc trong hộp thuốc, phòng trường hợp cần đến.
Tôi mở nắp rồi đứng yên, nhìn vào bên trong hộp. Trong chốc lát, tâm trí tôi không nhận thức được thứ đang nằm trước mắt mình; một mảnh giấy trắng hình vuông được gập và cài cẩn thận giữa các chai lọ nhiều màu sắc. Tôi nhớ mang máng mấy ngón tay tôi đã run lẩy bẩy khi cầm lấy nó và phải cố gắng vài lần mới mở được ra.
Anh xin lỗi. Từng chữ cái được viết đậm nét bằng mực đen ngay chính giữa mảnh giấy, chữ J đơn lẻ cũng được viết cẩn thận bên dưới. Và dưới cùng, ba chữ nữa, viết vội, như lời tái bút từ nỗi tuyệt vọng: Anh phải đi!
“Anh phải đi,” tôi lẩm bẩm, đầu gối khuỵu xuống. Tôi nằm trên sàn nhà, những khoảng trần chạm trổ tỏa ánh sáng lờ mờ trên cao, và thấy mình đang miên man nhớ lại; trước kia tôi từng đinh ninh phụ nữ thế kỷ mười tám bị ngất xỉu là do buộc coóc xê quá chặt, nhưng bây giờ tôi nghĩ nguyên nhân nằm ở hành động ngu xuẩn của đàn ông thế kỷ mười tám.
Một tiếng thét khiếp hãi vọng đến từ rất gần, những bàn tay mạnh mẽ nâng tôi lên. Tôi cảm thấy tấm nệm len mềm mại xẹp xuống bên dưới cơ thể, mùi chua của giấm tỏa ra từ các mảnh vải mát lạnh, áp trên trán và cổ tay tôi.
Chẳng mấy chốc, các giác quan đã phục hồi trở lại. Nhưng vì không muốn tiếp chuyện nên tôi cam đoan rằng mình hoàn toàn bình thường để đuổi đám người hầu ra khỏi phòng và ngả lưng lên gối, cố gắng suy nghĩ.
Tất nhiên, kẻ đó là Jack Randall, còn Jamie đã đi giết hắn. Đây là điều duy nhất sáng rõ trong đầu tôi, giữa một mớ rối rắm những phán đoán và nỗi kinh hoàng đang lấp đầy tâm trí. Thế nhưng, tại sao? Điều gì khiến anh phá vỡ lời hứa với tôi?
Sau khi suy ngẫm kĩ chuỗi sự việc do Marie tường thuật - những sự việc đã truyền qua tai ba người - tôi tin hẳn còn có chuyện khác nữa đã xảy ra ngoài vụ chạm trán bất ngờ này. Tôi hiểu tay Đại úy này, hiểu tường tận hơn tôi muốn. Do vậy, nếu có một điều tôi biết chắc về hắn thì đó là hắn sẽ không vào nhà thổ để làm tình - niềm vui thú đơn thuần từ đàn bà không tồn tại trong bản tính của hắn. Điều hắn thích - và cần - là sự đau đớn, sợ hãi và nhục nhã.
Dĩ nhiên, những điều này có thể trao đổi, bằng một cái giá cao hơn đôi chút. Tôi đã thấy đủ khi làm việc tại nhà thương Des Anges; những les putains[5] không bán đi thứ ở giữa hai chân họ mà là thứ nằm bên trong khung xương chắc khỏe, được che phủ bởi lớp da mỏng manh quý giá, nó sẽ thâm tím ngay tức thì và hiện ra những vết đòn roi, đánh đập.
Jamie là người từng bị Randall tra tấn, để lại sẹo trên làn da trắng trẻo. Bởi thế, nếu anh bất ngờ trông thấy tên Đại úy đang thích thú làm điều tương tự với các quý cô ở đó thì tôi nghĩ anh sẽ gạt phăng cả lời hứa lẫn mọi cản trở. Jamie có một dấu vết trên ngực trái, ngay bên dưới đầu ngực; một vết da nhăn màu trắng nhạt do bị Jonathan Randall ấn chiếc nhẫn dấu đã nung đỏ lên người. Cơn thịnh nộ đã khiến anh phá vỡ lời thề, anh thà bị thương còn hơn nhìn thấy dấu vết đáng xấu hổ đó xuất hiện lần nữa, anh chọn cách giết hắn - cũng như dòng dõi bất hạnh của hắn.
“Frank,” tôi khẽ gọi, bàn tay trái vô tình giơ lên, để lộ chiếc nhẫn cưới bằng vàng phản chiếu ánh sáng lờ mờ. “Ôi, Chúa ơi! Frank.” Đối với Jamie, Frank chẳng hơn gì một hồn ma, một chốn trú ẩn khả dĩ dành cho tôi trong trường hợp không may xảy ra. Đối với tôi, Frank là người tôi từng chung sống, cùng tôi chia sẻ chiếc giường và cơ thể - cuối cùng, tôi đã bỏ rơi anh để sống với Jamie Fraser.
“Mình không thể,” tôi thì thầm với khoảng không, với người đồng hành nhỏ bé đang uể oải vươn mình và cuộn tròn trong bụng, chẳng hay biết gì đến nỗi lòng của tôi. “Mình không thể để anh ấy làm việc đó!”
Ánh chiều tà tan dần vào bóng xám của đêm tối và căn phòng bị nhấn chìm trong nỗi tuyệt vọng của ngày tận thế. Bình minh ngày mai sẽ chứng kiến ngươi chết. Tôi không hy vọng sẽ tìm thấy Jamie tối nay. Tôi biết anh sẽ không quay lại đường Tremoulins. Nếu trở về, anh đã chẳng để lại mảnh giấy. Anh không thể nằm cạnh tôi suốt đêm nếu sáng hôm sau anh sẽ đấu tay đôi. Không, anh đã trú ở nhà trọ hay quán rượu, một mình chuẩn bị cho việc thực thi công lý mà anh đã tuyên bố.
Tôi nghĩ mình biết nơi diễn ra trận đấu. Sau những hồi ức về trận quyết đấu đầu tiên, anh đã cắt phăng mái tóc để chuẩn bị cho trận này. Vì vậy, tôi biết chắc, hồi ức sẽ quay lại một lần nữa để xui khiến anh chọn địa điểm đối mặt với kẻ thù. Rừng Boulogne, gần con đường mòn Bảy Vị Thánh. Công viên này là nơi thường xuyên diễn ra những trận thách đấu trái phép, bởi cây cối dày đặc sẽ che chắn cho người tham gia không bị phát hiện. Ngày mai, một trong những khoảng rừng rợp bóng cây sẽ quan sát cuộc đối đầu giữa Jamie Fraser và Jack Randall. Và tôi.
Tôi nằm trên giường, chẳng buồn cởi đồ hay đắp chăn, hai tay ôm bụng. Tôi quan sát ánh chiều chạng vạng chuyển dần sang đêm tối và biết rằng đêm nay mình sẽ không ngủ được. Những chuyển động nhỏ bé của kẻ trú ngụ vô hình đã giúp tôi cảm thấy thoải mái hơn và những lời anh nói vang mãi bên tai: Bình minh ngày mai sẽ chứng kiến ngươi chết.
•••
Rừng Boulogne là một khoảng rừng nhỏ, hầu như chưa được khai phá, nằm bên rìa Paris một cách lạc lõng. Mọi người nói rằng sói, cáo và lửng vẫn ẩn nấp trong rừng, nhưng câu chuyện này chẳng dọa được các cặp đôi si tình, họ ve vãn nhau dưới những tán cây và trên nền cỏ xanh của khu rừng. Khu rừng này chính là chỗ trú ẩn để tránh tiếng ồn và bụi bặm ở đô thị, vậy mà chỉ có giới quý tộc là không biến nơi này thành sân chơi của họ. Người dân khu vực xung quanh đã lui tới chốn này từ lâu, họ tìm thấy phút giây thư giãn dưới những tán cây sồi lớn cùng những cây phong nhạt màu trong khu rừng và có cả người từ xa tới, tìm kiếm chốn riêng tư.
Cánh rừng tuy nhỏ nhưng đối với tôi, nó quá rộng để đi khắp nơi tìm khoảng đất hai người quyết đấu. Trời đã mưa suốt đêm và bình minh miễn cưỡng trở lại, tỏa ánh sáng rầu rĩ từ phía sau bầu trời đầy mây. Khu rừng như đang thì thầm với chính mình, tiếng tí tách khe khẽ của nước mưa rơi trên lá hòa cùng âm thanh xào xạc và tiếng lá cọ vào thân cây.
Chiếc xe ngựa dừng trên con đường chạy xuyên qua công viên, gần khu nhà đổ nát xiêu vẹo. Tôi sai xà ích đi làm việc, ông ta nhảy khỏi ghế, cột mấy con ngựa lại và biến mất trong khu nhà. Các cư dân sống gần đây là người hiểu khu rừng. Không thể có nhiều địa điểm phù hợp để quyết đấu nên họ sẽ biết chúng ở đâu.
Tôi ngả lưng ra sau, quấn cái áo choàng không tay nặng nề thật chặt quanh người, cả cơ thể run lẩy bẩy trong cái lạnh của sớm mai. Tôi cảm thấy mệt mỏi vô cùng và kiệt sức sau một đêm không ngủ. Không những vậy, nỗi sợ và buồn đau đè nặng trong lòng, bao trùm tất cả là cơn giận dữ, tôi đã cố gắng gạt đi, bởi sợ rằng nó sẽ cản trở công việc trước mắt.
Thế nhưng, bất kỳ lúc nào tôi lơ là cảnh giác thì nó lại sôi sục trở lại, giống như lúc này. Anh sẽ làm như thế nào? Tâm trí tôi vẫn liên tục thì thầm giữa cơn thịnh nộ giá băng. Tôi không nên đến đây, tôi nên ở nhà, yên lặng đứng về phía Jamie. Tôi không nên đuổi theo anh, ngăn cản anh để giờ đây chiến đấu với nỗi giận dữ và mệt mỏi. Cơn đau dai dẳng vì đi xe ngựa đang hành hạ đốt xương cuối sống lưng. Phải, anh có thể rất buồn và tôi hiểu điều đó. Nhưng bây giờ, mạng sống của một người đang bị đe dọa, ôi vì Chúa! Làm sao mà lòng kiêu hãnh chết tiệt của anh có thể quan trọng hơn? Và anh bỏ tôi lại mà không một lời giải thích! Anh để tôi biết chuyện từ lời đồn đại của hàng xóm xung quanh.
“Anh đã hứa với em, Jamie, chết tiệt, anh đã hứa với em mà!” Tôi lẩm bẩm. Cánh rừng tĩnh mịch, ướt đẫm nước mưa và bị sương mù bao phủ. Họ đã đến rồi? Hay sắp đến? Tôi đoán nhầm địa điểm chăng?
Tay xà ích quay lại cùng một cậu thiếu niên độ mười bốn tuổi, cậu ta nhanh nhẹn nhảy lên ngồi cùng xà ích và vẫy tay, ra hiệu đi thẳng rồi rẽ trái. Tay xà ích vung roi, kêu một tiếng trong miệng để thúc ngựa chạy nước kiệu, chúng tôi rẽ xuống con đường giữa bóng tối của khu rừng vừa thức giấc.
Chúng tôi dừng hai lần, tạm nghỉ ngơi, trong lúc cậu thiếu niên nhảy xuống và lao vào tầng cây thấp, sau một lúc, cậu ta trở về, lắc đầu phủ nhận. Lần thứ ba, cậu ta quay lại rất nhanh, trạng thái kích động hiện rõ trên khuôn mặt. Tôi mở cửa xe trước khi cậu nhóc đến đủ gần để gọi tay xà ích.
Tôi cầm sẵn tiền trên tay, dúi cho cậu, cùng lúc chộp lấy tay áo của cậu và nói: “Chỉ cho tôi chỗ! Nhanh, nhanh lên!”
Tôi hoảng hốt nhận ra, không chỉ những cành cây giăng khắp rừng mà cả những đợt nước đột ngột đổ xuống cũng thấm ướt áo tôi mỗi khi tôi va phải chúng. Con đường mòn được phủ đầy lá rụng nên khi chúng tôi chạy trên đó, không một tiếng động phát ra. Cứ thế, tôi theo dấu chiếc áo sơ mi tả tơi, loang lổ vệt nước mưa.
Tôi nghe thấy tiếng trước khi trông thấy hai người; họ đã bắt đầu. Tiếng kim loại leng keng bị cản lại bởi những bụi cây ướt, nhưng cũng đủ rõ ràng. Không có tiếng chim hót trong buổi bình minh ẩm ướt mà chỉ có âm thanh chết chóc rung lên bên tai tôi.
Đó là một khoảng đất trống nằm sâu trong khu rừng, tuy nhiên vẫn có đường lớn và đường mòn dẫn vào. Nó đủ rộng để một trận thách đấu nghiêm túc diễn ra. Họ đã cởi áo sơ mi và chiến đấu dưới mưa, lớp vải ướt của chiếc áo lót ôm sát vào cơ thể, để lộ đường nét của đôi vai và xương sống.
Jamie từng nói, anh đấu kiếm lão luyện hơn Randall. Quả là vậy, nhưng Jonathan Randall không có ý định làm một kiếm sĩ. Hắn ta len lỏi, né tránh uyển chuyển như loài rắn và thanh kiếm đâm tới như chiếc nanh bạc. Đối với một người đàn ông cao lớn thì Jamie di chuyển nhanh nhẹn và duyên dáng đến kỳ lạ, vừa nhanh chân vừa chắc tay. Tôi đứng im, quan sát, sợ rằng nếu mình thét lên sẽ làm sao nhãng sự tập trung của Jamie. Họ quay quanh trong vòng tròn của tấn công và phòng thủ, các bàn chân như đang khiêu vũ trên nền đất.
Tôi vẫn đứng yên tại chỗ, quan sát họ. Tôi đã đi xuyên qua màn đêm đương tàn để tìm họ, để ngăn cản họ. Nhưng khi đã thấy hai người, tôi không thể xen vào, vì tôi sợ sẽ gây ra tai họa. Lúc này, tôi chỉ có thể chờ đợi, xem một trong hai người thiệt mạng.
Randall giương kiếm lên tại chỗ để đỡ đường chém, nhưng hắn không đủ nhanh để kịp phòng thủ, do đó thanh kiếm văng khỏi tay hắn.
Tôi mở miệng hét to. Tôi định gọi tên Jamie để ngăn cản anh, ở khoảnh khắc chuyển giao giữa hành động tước vũ khí và đòn cuối cùng kết liễu đối thủ. Tôi đã hét, thực vậy, nhưng âm thanh quá yếu ớt và nghẹn ngào. Trong lúc tôi đứng đó quan sát họ, cơn đau dai dẳng dọc sống lưng càng trở nên dữ dội hơn, nó siết chặt lại như một nắm đấm. Ấy vậy mà giờ đây, tôi đột nhiên cảm thấy mọi thứ tan biến, tựa như nắm đấm đã buông lơi thứ nắm giữ bên trong.
Tôi dò dẫm điên cuồng, rồi tóm lấy một cành cây ở gần đó. Tôi trông thấy gương mặt của Jamie tỏ vẻ điềm tĩnh hân hoan và hiểu rằng anh không nghe thấy lời tôi bởi đám sương mù bạo lực đã bao trùm tất cả. Anh sẽ không thấy gì ngoài mục đích cuối cùng tới khi cuộc đấu kết thúc. Randall đang rút lui trước mũi kiếm không khoan nhượng của anh, hắn trườn lùi trên lớp cỏ ướt, đôi lông mày cong lên và cố gắng đứng dậy, nhưng không thể vì cỏ quá trơn trượt. Chiếc khăn quàng của hắn đã rách bươm, đầu ngả ra sau, còn mái tóc đen ướt sũng nước, phần cổ họng bị phơi bày ra, như một con sói đang van xin lòng thương hại. Nhưng việc phục thù thì không có thương xót, hơn nữa không phải cổ họng tự lộ ra mà do lưỡi kiếm tìm thấy nó.
Xuyên qua màn sương u ám, tôi trông thấy thanh kiếm của Jamie gí xuống, vừa duyên dáng, vừa chí tử và lạnh lùng như cái chết. Mũi kiếm chạm vào phần thắt lưng của cái quần làm từ da hoẵng, chọc thủng và xoáy vào da thịt, ngay lập tức, chiếc quần màu nâu vàng bị nhuộm tối bằng dòng máu đen thẫm.
Dòng máu nóng ồ ạt chảy xuống giữa hai bắp đùi của tôi và cảm giác lạnh lẽo trên da thịt dần thấm sâu vào trong, hướng tới xương tủy. Phần xương chậu ở thắt lưng như vỡ ra. Mỗi khi cơn đau ập đến, tôi đều cảm thấy chiều hướng của nó. Một tia sét đã đánh xuống xương sống, khiến nó nổ tung, cháy bừng bừng bên trong đáy hông. Và một cú sét hủy diệt chỉ để lại những cánh đồng bị đốt cháy đen thui đằng sau.
Dường như cơ thể tôi cùng các giác quan đã vỡ tan thành nhiều mảnh nhỏ. Tôi không trông thấy gì, nhưng cũng không thể nhận ra mình mở hay nhắm mắt. Mọi thứ đang xoay tròn trong bóng tối và đôi lúc chắp vá thêm bằng các họa tiết mà bạn vẫn thấy trong đêm hồi còn bé, khi bạn cố gắng chống cự đôi mắt buồn ngủ.
Những giọt nước mưa rơi trên mặt, cổ họng cùng hai vai tôi. Mỗi giọt đều nặng nề và lạnh lẽo, sau đó chúng bay lên thành một luồng hơi nhỏ, lướt trên làn da buốt giá của tôi. Cảm giác thực ra khá rõ ràng, nỗi đau khổ tăng lên, giảm đi, rồi lại giảm hơn nữa. Tôi cố gắng tập trung tâm trí, buộc mình lắng nghe giọng nói khe khẽ và rời rạc nằm trong trung tâm của bộ não, có người đang nói theo kiểu ghi chú vào hồ sơ bệnh án: “Cô đang bị xuất huyết. Có lẽ nhau thai đã bị bong ra, dựa trên triệu trứng chảy nhiều máu. Tai nạn thường thấy. Do mất máu nên tay và chân bị tê liệt, hình ảnh cũng tối sầm. Họ bảo rằng thính giác là thứ cuối cùng mất đi, có vẻ đúng.”
Dù nó có phải giác quan cuối cùng bỏ tôi đi hay không thì tôi vẫn nghe thấy. Đó là những giọng nói, phần lớn bị kích động, vài giọng cố gắng giữ bình tĩnh và tất cả đều bằng tiếng Pháp. Chỉ có duy nhất một từ tôi hiểu - tên của tôi, được hét lặp đi lặp lại nhiều lần, nhưng từ một khoảng cách xa: “Claire! Claire!”
“Jamie,” tôi cố gắng cất lời, nhưng hai bờ môi cứng đờ, tê dại vì lạnh. Nhiều chuyển động xuất hiện xung quanh tôi và lắng xuống một mức độ nhất định; ai đó đã tới, sẵn sàng xử lý như thể họ biết phải làm gì.
Có thể họ biết thật. Những lớp váy thấm đẫm máu được nhẹ nhàng nâng lên khỏi đùi, thay vào đó là một tập vải thấm, cố định chắc chắn. Những bàn tay khỏe mạnh nghiêng người tôi sang trái, ép hai đầu gối lên sát ngực.
“Đưa cô ấy đến bệnh viện đi,” giọng nói bên tai tôi đưa ra đề nghị.
“Cô ấy không sống được lâu đâu.” Một giọng khác tỏ ra bi quan. “Có thể chỉ cần vài phút nữa, rồi cho cô ấy lên xe chở thịt.”
“Không,” giọng khác khăng khăng. “Máu đang chảy chậm dần; cô ấy có thể qua khỏi. Hơn nữa, tôi biết cô ấy; tôi từng thấy cô ấy ở nhà thương Des Anges. Đưa cô ấy tới chỗ Mẹ Hildegarde đi!”
Tôi tập hợp chút sức tàn và cố gắng thì thầm: “Mẹ.” Sau đó, tôi đầu hàng, để cho bóng tối nuốt chửng mình.
[1] Tiếng Pháp: khi quân.
[2] Tiếng Pháp: nhỏ bé.
[3] Tiếng Pháp: tên vô lại.
[4] Tiếng Pháp: Không! Không thể nào!
[5] Tiếng Pháp: gái điếm.