Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
46
Nỗi sợ chết khiến ta rối loạn

❊ ❊ ❊

Những người đàn ông và dấu vết của họ có ở khắp nơi khi chúng tôi tiến về phía bắc, lần theo cuộc rút lui của đội quân vùng cao nguyên. Chúng tôi đi qua các nhóm nhỏ những người đàn ông đi bộ, kiên cường rảo bước, đầu cúi xuống để chống lại mưa gió. Những người khác nằm trong các đường hào, rãnh và dưới những hàng rào, quá kiệt sức không thể đi tiếp được. Các dụng cụ và vũ khí bị vứt bỏ dọc đường; ở đây, một chiếc xe thùng nằm chổng ngược, các bao tải bột bị toác ra và hư hỏng dưới tiết trời ẩm ướt; ở kia, một khẩu thần công nhỏ đứng bên dưới một cái cây, những nòng súng đôi tối sẫm dưới bóng râm.

Thời tiết xấu trên cả quãng đường đã trì hoãn chúng tôi. Đã là ngày Mười ba tháng Tư, và tôi lúc thì cưỡi ngựa, lúc thì đi bộ với cảm giác khiếp sợ cồn cào không dứt trong tim. Lãnh chúa George, các thủ lĩnh thị tộc, Hoàng tử và các cố vấn đứng đầu của cậu ta - tất cả đều ở tòa nhà Culloden, hoặc đó là những gì chúng tôi được nói cho biết bởi một người nhà MacDonald mà chúng tôi gặp dọc đường đi. Ông ta chỉ biết được chừng đó, và chúng tôi không níu chân ông ta; người đàn ông ấy loạng choạng đi vào màn sương mù, di chuyển giống như một cái xác sống. Khẩu phần thức ăn hằng ngày trong quân đội đã ít đi kể từ khi tôi bị quân Anh bắt một tháng trước; các vấn đề đi từ tồi tệ đến tồi tệ hơn. Những người đàn ông mà chúng tôi thấy di chuyển chậm chạp, nhiều người trong số họ lê lết vì kiệt sức và đói khát. Nhưng họ ngoan cường di chuyển về phía bắc, tất cả đều giống nhau, đi theo mệnh lệnh của Hoàng tử, di chuyển tới nơi mà người Scot gọi là cánh đồng hoang Drumossie. Hướng tới Culloden.

Đến một chỗ, đường sá trở nên quá tệ đối với những con ngựa đã mệt mỏi. Chúng sẽ phải được dẫn đi vòng qua rìa bên ngoài của một khu rừng nhỏ, xuyên qua những cây thạch nam mùa xuân ẩm ướt để tới nơi đường sá trở nên tốt hơn, do đó đường đi sẽ xa hơn nửa dặm.

“Sẽ nhanh hơn nếu đi bộ xuyên qua cánh rừng,” Jamie bảo tôi, nắm lấy dây cương từ bàn tay tê cóng của tôi. Anh gật đầu ra hiệu về phía một rừng thông và sồi nhỏ, nơi mùi ngòn ngọt, mát lạnh của lá cây ẩm ướt bốc lên từ mặt đất ướt sũng nước. “Em hãy đi đường đó, Sassenach; bọn anh sẽ gặp em ở phía bên kia.”

Tôi quá mệt mỏi nên không muốn tranh luận. Bước chân về phía trước chỉ còn là một nỗ lực mang tính bản năng, và nỗ lực này không nghi ngờ gì sẽ kém đi khi bước trên những lớp lá mềm và lá kim rụng trong rừng so với lúc đi xuyên qua những bãi thạch nam.

Trong rừng thật im ắng, tiếng gió rền rĩ trở nên êm dịu bởi cành lá của rừng thông phía trên. Mưa xuyên qua cành lá, rơi lộp độp lên những lớp lá sồi rụng dai như da, lạo xạo và răng rắc, thậm chí cả khi ẩm ướt.

Anh ta nằm cách rìa bên kia của khu rừng vài bước chân, gần một táng đá xám to lớn. Những mảng địa y màu xanh lục nhạt trên đá tiệp màu với lớp vải ca rô trên y phục của anh ta, và màu nâu của nó quyện lẫn với những chiếc lá rụng bị gió thổi bay ngang qua người anh ta. Anh ta dường như đã là một phần của khu rừng đến nỗi tôi suýt nữa vấp phải anh ta nếu tôi không bị một mảng màu xanh rực rỡ khiến cho dừng khựng lại.

Những cây nấm kỳ lạ mềm như nhung trải rộng tấm áo choàng của mình lên tứ chi trần trụi, trắng bệch. Chúng bám theo đường cong của xương và bắp thịt, giống như cỏ cây trong một khu rừng xâm chiếm một mảnh đất trơ trụi.

Đó là một màu xanh lam rực rỡ, tươi sáng, nổi bật và lạ lẫm. Tôi chưa từng nhìn thấy nó, nhưng đã nghe nói về nó từ một người lính già mà tôi đã chăm sóc, người này đã chiến đấu trong các hào công sự hồi Chiến tranh thế giới thứ nhất.

“Chúng tôi gọi nó là ma trơi,” ông ta bảo với tôi. “Màu xanh lam, xanh rực rỡ. Cô không bao giờ trông thấy nó ở bất cứ đâu ngoài một bãi chiến trường - trên những người chết.” Ông ta ngước lên nhìn tôi, đôi mắt già nua bối rối bên dưới cái băng trắng.

“Tôi thường thắc mắc nó sống ở đâu trong khoảng thời gian giữa các cuộc chiến tranh.”

Trong không khí, có lẽ vậy, những bào tử vô hình của nó đang chờ đợi để chộp lấy một cơ hội hồi sinh, sắc màu kia nổi bật, rực rỡ một cách phi lý y như màu cây tùng lam mà tổ tiên của người đàn ông này đã vẽ lên người mình trước khi tiến lên tham chiến.

Một cơn gió nhẹ thổi qua cánh rừng, làm xáo trộn mái tóc của người đàn ông ấy. Nó lay động và tung bay như lụa, như một thực thể sống. Bỗng có tiếng lá cây lạo xạo phía sau tôi, tôi giật mình thức tỉnh khỏi trạng thái như bị thôi miên, nhìn chằm chằm vào xác chết kia.

Jamie đứng cạnh tôi, nhìn xuống. Anh không nói gì, chỉ nắm lấy khuỷu tay và dẫn tôi đi khỏi khu rừng, rời khỏi người đàn ông đã chết, bị bao phủ trong thứ màu sắc hoại sinh của chiến tranh và sự hy sinh.

•••

Vào giữa buổi sáng ngày Mười lăm tháng Tư, chúng tôi tới tòa nhà Culloden, sau khi thúc ép bản thân và những con ngựa một cách không thương xót. Chúng tôi tiến tới từ phía nam, đầu tiên là đi xuyên qua một khóm nhà phụ ở bên ngoài. Có một sự xôn xao - gần như là điên cuồng - từ đám đàn ông trên đường, nhưng cái sân nuôi ngựa thì trống trơn đến khó hiểu.

Jamie xuống ngựa và trao dây cương cho Murtagh.

“Hãy đợi ở đây một lát,” anh nói. “Dường như ở đây có điều gì đó không ổn.”

Murtagh liếc nhìn cánh cửa tàu ngựa hơi khép hờ và gật đầu. Fergus, cưỡi ngựa ngồi phía sau một tộc viên, định bám theo Jamie nhưng Murtagh đã ngăn cậu nhỏ lại bằng một từ cộc lốc.

Tê cứng người vì cưỡi ngựa, tôi trượt xuống khỏi con ngựa của mình và đi theo Jamie, trượt chân trong vũng bùn ở sân. Có điều gì đó thực kỳ quái ở cái sân này. Chỉ khi tôi theo anh đi qua cánh cửa của khu nhà nuôi ngựa, tôi mới nhận ra đó là gì - nó quá tĩnh lặng.

Mọi thứ bên trong đều im lìm; khu nhà lạnh ngắt và tối mờ, không có sự ấm áp thường thấy và những ồn ào của một chuồng ngựa. Nhưng nơi này không hoàn toàn thiếu sự sống; một hình thù cử động trong bóng tối ảm đạm, quá lớn để là một loài gặm nhấm hay cáo.

“Ai đó?” Jamie hỏi, tự động bước tới để kéo tôi ra sau anh. “Alec? Có phải bác không?”

Bóng người trong đống cỏ khô từ từ ngóc đầu dậy và chiếc áo choàng rơi ra sau. Người nài ngựa ở lâu đài Leoch chỉ có một con mắt; con mắt kia đã bị mất trong một tai nạn từ nhiều năm trước và được che đi bằng một miếng vải đen. Bình thường, một con mắt cũng đủ đối với ông; nó có màu xanh lam vui tươi và lanh lợi, đủ để ra lệnh cho những cậu nhóc làm ở chuồng ngựa, lũ ngựa và những người cưỡi ngựa.

Còn bây giờ, con mắt của Alec McMahon MacKenzie đục ngầu như một phiến đá bẩn bụi. Thân hình từng một thời mạnh mẽ, đầy sinh lực giờ khòng xuống, hai má hõm sâu vì đói khổ.

Biết rõ ông lão này bị chứng viêm khớp khi thời tiết ẩm ướt, Jamie ngồi xổm xuống bên cạnh ông để ngăn ông đứng dậy.

“Chuyện gì đã xảy ra thế?” Anh hỏi. “Chúng cháu mới đến, chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy?”

Dường như mất một lúc lâu, già Alec mới thấm được câu hỏi, tiêu hóa nó và nghĩ ra lời lẽ đáp lại; có lẽ sự tĩnh lặng của khu chuồng ngựa tối tăm, trống trải khiến cho những từ ngữ của ông rung lên trống rỗng khi chúng cuối cùng cũng bật ra.

“Tất cả đã đi rồi,” ông lão nói. “Họ hành quân tới Nairn hai đêm trước, và chạy ngược trở lại vào hôm qua. Điện hạ đã nói họ sẽ trụ lại ở Culloden; Lãnh chúa George đang ở đó, với những đội quân ông ta tập hợp lại được.”

Tôi không thể ngăn được một tiếng rên nhỏ trước cái tên Culloden. Nó đây rồi. Bất chấp mọi thứ, nó đã đến và chúng tôi đã ở đây.

Một cơn rùng mình cũng lan khắp người Jamie; tôi thấy những sợi lông đỏ dựng đứng lên trên cánh tay anh, nhưng giọng anh không để lộ chút gì về sự lo lắng hồi hộp mà anh hẳn đang cảm thấy.

“Những đội quân - họ được trang bị rất ít ỏi để tham chiến. Lãnh chúa George không nhận ra là họ phải được nghỉ ngơi và ăn uống ư?”

Âm thanh cọt kẹt phát ra từ già Alec có lẽ là bóng dáng của một tiếng cười.

“Đức ngài có biết thì cũng làm nên sự khác biệt gì đâu! Điện hạ nắm quyền chỉ huy quân đội, và Điện hạ nói chúng ta sẽ đứng lên chống lại người Anh ở Drumossie. Về phần thức ăn…” Đôi lông mày của ông lão dày và rậm rạp, đã bạc đi vào năm ngoái, với những sợi lông thô cứng dựng đứng lên. Giờ thì một bên lông mày của ông nhướng lên, nặng nề, như thể ngay cả sự thay đổi nhỏ này trên nét mặt cũng là một sự mệt mỏi, kiệt quệ. Một bàn tay biến dạng ngọ nguậy trên đùi ông, ra hiệu về phía những cái chuồng trống rỗng.

“Họ bắt đầu ăn ngựa từ tháng trước,” ông nói. “Vì thế chỉ còn một vài con.”

Jamie vụt đứng lên, tựa vào tường, đầu cúi xuống vì sốc. Tôi không trông thấy mặt anh, nhưng thân hình anh cứng đờ y như những tấm ván chuồng ngựa.

“Đúng thế,” cuối cùng, anh nói. “Đúng thế. Những người đàn ông của cháu - họ có được chia đều phần thịt không? Donas… nó… là một con ngựa to lớn.” Anh khẽ nói, nhưng từ cái liếc nhìn sắc bén của Alec, tôi biết ông cũng đã nghe được nỗ lực giữ cho giọng nói khỏi vỡ òa của Jamie.

Ông lão từ từ đứng lên khỏi đống cỏ khô, thân hình lụ khụ di chuyển thận trọng vì đau đớn. Ông đặt bàn tay biến dạng lên vai Jamie; những ngón tay bị chứng viêm khớp không thể khép lại, nhưng bàn tay đặt ở đó có một sức an ủi lớn.

“Họ không giết thịt Donas,” ông khẽ nói. “Họ giữ nó cho Hoàng tử Tcharlach cưỡi khi ngài ấy chiến thắng trở về Edinburgh. O’Sullivan nói sẽ không… phù hợp… nếu Điện hạ đi bộ.”

Jamie che mặt bằng hai bàn tay và run rẩy đứng tựa vào những tấm ván của cái chuồng ngựa trống không.

“Tôi là một thằng ngốc,” cuối cùng anh nói, thở hổn hển để lấy lại hơi. “Ôi, Chúa ơi, tôi là một thằng ngốc!” Anh thả hai tay xuống, để lộ những giọt nước mắt đang chảy xuống gương mặt cáu bẩn vì cuộc hành trình vừa rồi. Anh dùng mu bàn tay quệt ngang má, nhưng nước mắt vẫn tiếp tục trào ra từ đôi mắt anh, như thể anh không kiểm soát nổi nó.

“Cuộc chiến đang thất bại, những người đàn ông của tôi đang bị mang đi để tàn sát, có những người chết rục trong rừng… thế mà tôi lại đang khóc vì một con ngựa! Ôi, Chúa ơi,” anh thì thầm, lắc đầu. “Tôi là một thằng ngốc!”

Già Alec thở dài nặng nhọc, bàn tay trượt xuống cánh tay Jamie.

“Cũng may là bây còn có thể khóc, chàng trai ạ,” ông lão nói. “Ta thì đã qua cái thời đó rồi.”

Ông lão vụng về co một chân, quỵ xuống để tiếp tục nghỉ ngơi. Jamie đứng đó một lát, nhìn xuống già Alec. Nước mắt vẫn chảy dài trên mặt anh, nhưng nó giống một cơn mưa xóa đi một lớp bẩn trên nền đá hoa cương được đánh bóng. Sau đó, anh nắm lấy khuỷu tay tôi và quay đi mà không nói một lời.

Tôi nhìn lại Alec khi chúng tôi ra tới cửa chuồng ngựa. Ông vẫn ngồi lặng im, một hình dáng lụ khụ tối tăm choàng tấm áo choàng len của mình, con mắt màu xanh lam không nhìn thấy gì cũng giống như mắt bên kia.

•••

Những người đàn ông nằm la liệt khắp nhà, mệt mỏi đến kiệt sức, tìm kiếm sự lãng quên khỏi cơn đói đang gặm nhấm họ và ý thức về một tai họa chắc chắn sắp xảy ra. Không có phụ nữ ở đây; những thủ lĩnh có nữ quyến đi cùng đã gửi các phu nhân đến nơi an toàn, tránh xa số phận bất hạnh sắp xảy đến.

Jamie để tôi lại sau khi lầm bầm một từ gì đó bên ngoài cánh cửa dẫn vào nơi ở tạm thời của Hoàng tử. Sự có mặt của tôi sẽ không giúp được gì. Tôi khẽ dạo bước qua khắp căn nhà đầy tiếng thở nặng nề từ những người đàn ông đang ngủ, bầu không khí u ám vì tuyệt vọng.

Ở tầng trên cùng của ngôi nhà, tôi tìm thấy một căn phòng nhỏ bề bộn. Chật ních những đồ tạp nham và đồ gỗ bỏ đi, nó chưa bị ai chiếm giữ. Tôi lần mò vào cái hang ổ kỳ quặc này, cảm thấy mình giống như một loài gặm nhấm nhỏ, tìm kiếm nơi trú ẩn tránh xa một thế giới mà những áp lực to lớn và bí ẩn đang được phóng thích để hủy diệt tất cả.

Chỉ có một ô cửa sổ nhỏ, đầy sương mù xám xịt buổi sáng. Tôi phủi sạch bụi khỏi một tấm kính bằng góc cái áo choàng của mình, nhưng vẫn chẳng nhìn thấy gì ngoài sương mù bao quanh. Tôi tì trán vào tấm kính lạnh lẽo ấy. Ở nơi nào đó ngoài kia là chiến trường Culloden, nhưng tôi chẳng trông thấy gì ngoài hình ảnh phản chiếu lờ mờ của chính mình.

Tôi biết, tin tức về cái chết khủng khiếp và bí ẩn của Công tước Sandringham đã đến với Hoàng tử Charles; chúng tôi đã nghe nói về nó từ nhiều người mà chúng tôi trò chuyện cùng khi đi ngang qua trên đường tiến về phía bắc và điều đó trở nên an toàn hơn cho chúng tôi khi một lần nữa để lộ mình. Chính xác chúng tôi đã làm gì? Tôi tự hỏi. Chúng tôi đã làm sụp đổ đại nghĩa của phái Jacobite chỉ trong một đêm phiêu lưu đó, hay chúng tôi đã tình cờ cứu Charles Stuart khỏi một cái bẫy của quân Anh? Tôi di một ngón tay, tạo ra tiếng rin rít trên tấm kính mờ hơi nước, đánh dấu thêm một điều mà tôi sẽ không bao giờ khám phá ra.

Có vẻ rất lâu sau tôi mới nghe thấy tiếng bước chân trên những tấm ván không được trải thảm của cầu thang bên ngoài chỗ tôi đang trú ẩn. Tôi đi ra cửa để rồi thấy Jamie đang đi lên chiếu nghỉ. Chỉ nhìn thấy mặt anh là đủ rồi.

“Alec đã đúng,” anh nói, không có mào đầu. Các đường nét trên gương mặt anh như đanh lại, nhô hẳn lên vì đói khát, sắc bén hơn là vì giận dữ. “Các đội quân đang di chuyển đến Culloden - chừng nào họ có thể. Họ không ngủ hoặc không ăn trong hai ngày, không có quân nhu tiếp viện cho pháo đại bác - nhưng họ vẫn sẽ đi.” Cơn giận phun trào đột ngột và anh giáng nắm đấm xuống chiếc bàn ọp ẹp. Tầng đĩa đồng nhỏ ở trên đống đồ gia dụng kêu loảng xoảng, vang vọng khắp căn gác mái.

Với một cử chỉ nôn nóng, anh rút con dao găm từ thắt lưng và đâm mạnh xuống chiếc bàn, khiến nó rung lên vì lực đâm mạnh.

“Gã nhà quê đó nói rằng nếu em nhìn thấy máu trên con dao găm của em, nó có nghĩa là cái chết.” Anh hít vào một hơi với một tiếng rít mạnh, nắm đấm siết chặt trên mặt bàn. “Thế thì anh đã nhìn thấy nó rồi! Và tất cả bọn họ cũng thế. Họ biết - Kilmarnock, Lochiel và những người còn lại. Không có gì hay ho cả nếu trông thấy nó có máu!”

Anh cúi đầu, hai bàn tay chống trên bàn, nhìn chằm chằm vào con dao găm. Anh dường như quá to lớn so với phạm vi của căn phòng này, một cơn giận âm ỉ hiện diện có thể đột ngột bùng lên thành một ngọn lửa. Thay vào đó, anh vung hai bàn tay lên và ném mình lên một cái ghế tủ đã hỏng và ngồi đó, đầu vùi vào hai bàn tay.

“Jamie,” tôi nói và nuốt khan. Tôi không thể nói ra những từ tiếp theo, nhưng chúng cần phải được nói ra. Tôi biết tin tức anh mang đến là gì, và tôi đã nghĩ đến điều có thể kết thúc nó. “Jamie! Chỉ còn một việc duy nhất - chỉ có một khả năng duy nhất.”

Anh đang cúi đầu, tì trán vào những khớp xương trên bàn tay. Anh lắc đầu, không nhìn tôi.

“Không có cách nào cả,” anh nói. “Cậu ta khăng khăng làm thế. Murray đã cố gắng thuyết phục cậu ta. Cả Lochiel. Balmerino. Anh. Nhưng vào giờ này những người đàn ông đã đứng trên vùng thảo nguyên ấy rồi. Cumberland đã lên đường tới Drumossie. Không có cách nào nữa.”

Nghệ thuật chữa lành vết thương là nghệ thuật đầy sức mạnh và bất cứ người thầy thuốc lành nghề nào cũng biết sức mạnh của những thứ có hại. Tôi đã cho Colum chất xyanua mà ông ta không có dịp sử dụng, và lấy về một lọ nhỏ chứa thứ chết người ấy từ trên chiếc bàn cạnh giường nơi xác ông ta nằm. Giờ nó đang ở trong chiếc hộp của tôi, những tinh thể được chưng cất sơ sài có màu trắng đục hơi nâu, nhìn bề ngoài có vẻ vô hại.

Miệng tôi khô khốc đến nỗi tôi không thể nói ra ngay lập tức. Trong cái chai dẹt của tôi vẫn còn một chút rượu; tôi uống nó, vị chua chua ấy giống như mật đắng trên lưỡi tôi.

“Có một cách,” tôi nói. “Cách duy nhất.”

Đầu Jamie vẫn gục vào lòng hai bàn tay. Chuyến đi ngựa đường dài và cú sốc từ tin tức Alec mang đến đã gieo thêm nỗi phiền muộn vào sự mệt nhọc của anh. Chúng tôi đã đi một vòng để tìm kiếm người của anh, hoặc hầu hết bọn họ, một đội quân khốn khổ, tả tơi, không thể phân biệt được với những bộ xương của nhà Fraser của Lovat vây xung quanh họ. Cuộc nói chuyện riêng với Charles chính là giọt nước tràn ly.

“Vậy ư?” Anh nói.

Tôi do dự, nhưng vẫn phải nói. Khả năng này phải được nhắc tới; liệu anh - hay tôi - có thể mang chúng tôi tới bước đó hay không.

“Đó là Charles Stuart,” cuối cùng, tôi nói. “Cậu ta - mọi thứ. Trận đánh này, cuộc chiến tranh này - mọi thứ phụ thuộc vào cậu ta, anh có thấy không?”

“Phải!” Jamie ngẩng lên nhìn tôi, đôi mắt vằn tia máu lộ vẻ dò hỏi.

“Nếu cậu ta chết…” Cuối cùng, tôi thì thầm.

Mắt Jamie nhắm lại, mặt cắt không còn giọt máu.

“Nếu cậu ta chết… ngay bây giờ. Ngay hôm nay. Hoặc tối nay. Jamie, không có Charles, sẽ không có gì để phải đánh nhau cả. Không ai ra lệnh cho những người đàn ông đến Culloden nữa. Trận chiến sẽ không xảy ra nữa.”

Những thớ cơ dọc theo cổ họng anh giật giật khi anh nuốt khan. Anh mở mắt và nhìn tôi chằm chằm, kinh hãi.

“Chúa ơi,” anh thì thầm. “Chúa ơi, em không thể có ý đó!”

Bàn tay tôi nắm lại viên pha lê màu khói, nạm vàng đeo trên cổ.

Họ đã cho gọi tôi tới diện kiến Hoàng tử trước trận Falkirk. O’Sullivan, Tullibardine và những người khác. Điện hạ bị ốm - một sự khó ở, họ nói vậy. Tôi đã khám cho Charles, yêu cầu cậu ta để ngực và hai cánh tay trần, kiểm tra miệng và lòng trắng mắt của cậu ta.

Đó là bệnh scorbut do thiếu vitamin C, và vài bệnh do thiếu dinh dưỡng. Tôi đã nói khá nhiều.

“Bậy bạ!” Sheridan bực bội nói. “Điện hạ không thể bị bệnh ngứa như một tên nhà quê bình thường được!”

“Ngài ấy đang ăn giống như một nông dân,” tôi vặn lại. “Hay còn tệ hơn thế.” Những tên “nhà quê” bắt buộc phải ăn hành và bắp cải, chẳng có thứ gì khác. Khinh bỉ loại đồ ăn nghèo nàn như thế, Điện hạ và những cố vấn của ngài ăn thịt - và rất ít những thứ khác. Nhìn một vòng quanh những gương mặt bực bội, hoảng sợ, tôi thấy chỉ một số ít là không có triệu chứng thiếu đồ ăn tươi. Răng lung lay và bị gãy, nướu răng mềm, chảy máu, mưng mủ, các dấu hiệu của “bệnh ngứa” xuất hiện lan tràn trên khắp làn da trắng trẻo của Điện hạ.

Tôi bất đắc dĩ từ bỏ ý định cung cấp bất cứ thứ thực phẩm quý giá nào như quả tầm xuân và quả mọng khô, nhưng đã miễn cưỡng đề nghị Hoàng tử uống trà được làm từ chúng. Lời đề nghị bị bác bỏ, với sự nhã nhặn tối thiểu, và tôi hiểu rằng Archie Cameron đã được triệu gọi, với cái bát đựng những con đỉa hút máu và dụng cụ trích máu của ông ta, để xem liệu việc làm chảy bớt máu của Hoàng gia có làm nhẹ nhõm bớt cơn ngứa của Hoàng gia không.

“Em có thể,” tôi nói. Tim đập thình thịch trong lồng ngực khiến tôi thấy khó thở. “Em có thể pha cho cậu ta một liều thuốc nước. Em nghĩ mình có thể thuyết phục cậu ta uống nó.”

“Và nếu cậu ta chết sau khi uống thuốc của em thì sao? Chúa ơi, Claire! Họ sẽ giết em ngay tại chỗ!”

Tôi kẹp chặt hai bàn tay dưới hai cánh tay, cố gắng làm chúng ấm lên.

“Điều đó quan trọng ư?” Tôi hỏi, cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ cho giọng mình bình tĩnh. Sự thật là nó đã có hiệu quả. Ngay lúc đó, tôi lại thấy mạng sống của chính mình quan trọng hơn cả hàng trăm mạng sống mà tôi có thể cứu. Tôi siết chặt hai nắm tay, run lẩy bẩy vì sợ hãi, như một chú chuột trong hàm của chiếc bẫy.

Jamie đến bên tôi ngay lập tức. Hai chân tôi không đứng vững nổi nữa; anh nửa bế nửa kéo tôi tới chiếc ghế tủ bị hỏng kia và ngồi xuống cùng tôi, hai cánh tay anh bao bọc lấy tôi thật chặt.

“Em có sự dũng cảm của một con sư tử, mo duinne,” anh thì thầm bên tai tôi. “Của gấu, của sói! Nhưng em biết anh sẽ không để em làm điều đó mà.”

Cơn run rẩy hơi dịu đi, mặc dù tôi vẫn cảm thấy lạnh và phát ốm vì kinh hãi trước những gì mình đang nói.

“Có thể có cách khác,” tôi nói. “Một chút thức ăn, thứ gì đó sẽ được đưa tới cho Hoàng tử. Em nghĩ có lẽ không khó để bí mật thêm thứ gì đó vào đồ ăn của cậu ta; mọi chuyện đang rất lộn xộn.” Điều này là sự thật; khắp căn nhà, các sĩ quan nằm ngủ trên bàn, trên sàn nhà, vẫn đi nguyên ủng, quá mệt mỏi không muốn đụng tay vào việc gì. Căn nhà này là một sự hỗn loạn, người đến kẻ đi không dứt. Sẽ rất đơn giản để làm một tên hầu sao nhãng để kịp cho một thứ bột chết người vào đĩa đựng món ăn tối.

Sự kinh hãi lúc đó đã hơi dịu đi, nhưng lời gợi ý khủng khiếp của tôi vẫn lảng vảng như một thứ độc dược làm máu tôi lạnh buốt. Cánh tay Jamie thoáng siết chặt quanh vai tôi, rồi thả ra khi anh suy tính về tình huống này.

Cái chết của Charles Stuart sẽ không làm kết thúc vấn đề của cuộc nổi dậy; mọi thứ đã đi quá xa. Lãnh chúa George Murray, Balmerino, Kilmarnock, Lochiel, Clanranald - và tất cả chúng tôi đều là những kẻ phản bội, cả mạng sống và của cải đều sẽ bị tước mất. Quân đội vùng cao nguyên đang trong tình trạng rách nát tả tơi; không có kẻ bù nhìn Charles để tập hợp lại, nó sẽ tiêu tan như một làn khói. Người Anh, bị làm cho khiếp sợ và chịu nhục ở Preston và Falkirk, sẽ không ngần ngại truy đuổi những kẻ chạy trốn, tìm cách giành lại cái danh dự đã mất của họ và xóa sạch sự nhục nhã đó bằng máu.

Có rất ít khả năng Henry xứ York, người em trai ngoan đạo của Charles, bị ràng buộc bởi những lời thề liên quan đến nhà thờ, sẽ thế chỗ anh trai mình, tiếp tục chiến đấu để phục vị. Chẳng có gì phía trước ngoài một kết cục bi thảm và sự hoang tàn, không có con đường khả dĩ nào để tránh nó. Tất cả những gì có thể tạm cứu được bây giờ chỉ là mạng sống của những người đàn ông sẽ chết trên bãi hoang vào ngày mai mà thôi.

Chính Charles là người đã chọn cuộc chiến ở Culloden. Charles - kẻ chuyên quyền ngoan cố, thiển cận, đã coi thường lời khuyên của các tướng lĩnh để xâm nhập vào nước Anh. Và cho dù lời đề nghị của Sandringham có thực lòng hay không thì nó cũng đã chết cùng với gã. Không còn sự ủng hộ nào từ miền Nam; những người Jacobite ở Anh không tập hợp lại dưới lá cờ hiệu Đức vua của họ như mong đợi. Bị buộc đi ngược lại ý nguyện của bản thân và rút lui, Charles đã lựa chọn vị trí ngoan cố cuối cùng này để đặt những người đàn ông đói khát, kiệt sức và được vũ trang ít ỏi trong một trận chiến dàn quân trên bãi hoang ướt đẫm mưa, để đối mặt với cơn thịnh nộ của những họng súng đại bác của Cumberland. Nếu Charles Stuart chết, trận chiến Culloden có thể không diễn ra. Một mạng đổi hai nghìn mạng. Một mạng - nhưng đó là sinh mạng của Hoàng gia, và nó không bị lấy đi trên chiến trường, mà bị tước đoạt trong máu lạnh.

Căn phòng nhỏ nơi chúng tôi ngồi có một lò sưởi nhưng không được đốt lửa vì không có củi. Jamie ngồi nhìn chằm chằm vào nó như đang kiếm tìm câu trả lời trong những ngọn lửa vô hình. Tội giết người. Không chỉ giết người mà là tội giết vua. Không chỉ giết người mà còn là giết đi một người đã từng là bạn.

Nhưng còn những thành viên thị tộc của vùng cao nguyên run rẩy trên bãi hoang ngoài kia, tấp tểnh trong hàng ngũ đứng san sát khi kế hoạch trận đánh thay đổi, sắp xếp lại, tổ chức lại, trong khi có thêm nhiều người đàn ông nữa trôi dạt đến gia nhập cùng họ. Trong số họ có những người nhà MacKenzie của Leoch, người nhà Fraser của Beauly, bốn trăm người đàn ông cùng chung dòng máu với Jamie. Và ba mươi người đàn ông ở Lallybroch, là người của anh.

Gương mặt anh trống rỗng, bất động trong khi suy nghĩ, nhưng hai bàn tay đan vào nhau đặt trên đầu gối thì siết chặt lại vẻ giằng co tranh đấu. Những ngón tay bị tàn tật và những ngón tay thẳng tranh giành xoắn vào nhau. Tôi ngồi cạnh anh, gần như không dám thở, chờ đợi quyết định của anh.

Cuối cùng, anh thở dài một tiếng gần như không nghe rõ và quay sang tôi, một nỗi buồn không thể nói thành lời hiện lên trong mắt anh.

“Anh không thể,” anh thì thầm. Bàn tay anh khẽ chạm vào mặt tôi, ôm lấy má tôi. “Có Chúa chứng giám, Sassenach ạ! Anh không thể làm được điều đó.”

Một làn sóng nhẹ nhõm quét qua tôi, cướp đi ngôn ngữ của tôi, nhưng anh nhìn thấy điều tôi cảm nhận được và nắm lấy hai bàn tay tôi.

“Ôi, Chúa ơi, Jamie, em mừng vì điều đó!” Tôi thì thầm.

Anh gục đầu vào hai bàn tay tôi. Tôi xoay mặt, tựa một bên má lên tóc anh, và đông cứng lại.

Ở khung cửa, đang nhìn tôi bằng ánh mắt hoàn toàn khiếp sợ, là Dougal MacKenzie.

Những tháng vừa qua đã khiến ông ta già đi; cái chết của Rupert, những đêm không ngủ vì những tranh cãi vô ích, những căng thẳng trong chiến dịch gian nan này, và giờ là nỗi cay đắng của thất bại sắp xảy đến. Đã có những sợi màu xám trên bộ râu màu hung nhạt, làn da xám xịt, và những nếp nhăn sâu trên gương mặt vốn không hề có vào hồi tháng Mười một. Giật mình choáng váng, tôi nhận ra ông ta giống anh trai mình, Colum. Ông ta đã muốn lãnh đạo. Dougal MacKenzie. Giờ đây ông ta đã thừa kế cương vị thủ lĩnh, và đang phải trả giá cho nó.

“Đồ phù thủy… đĩ điếm… phản bội… bẩn thỉu!”

Jamie đứng phắt dậy như bị trúng đạn, gương mặt chuyển sang trắng toát như mưa tuyết ngoài kia. Tôi cũng đứng bật dậy, làm lật chiếc ghế dài đánh rầm, tiếng vang vọng khắp căn phòng.

Dougal MacKenzie từ từ tiến về phía tôi, gạt sang bên những nếp gấp của chiếc áo choàng ông ta đang mặc, để dễ dàng rút được chuôi kiếm. Tôi đã không nghe thấy tiếng cửa đằng sau mở ra; nó hẳn mới chỉ khép hờ. Ông ta đã đứng lắng nghe ở ngoài đó bao lâu rồi?

“Mày,” ông ta nói rất khẽ. “Ta đáng ra phải biết trước rồi; từ lần đầu tiên ta trông thấy mày, ta đáng ra phải biết.” Hai mắt ông ta gắn chặt vào tôi, có điều gì đó giữa kinh hãi và tức giận ẩn sâu trong đôi mắt xanh thẳm u ám ấy.

Bầu không khí bên cạnh tôi đột ngột xáo động; Jamie đã ở đó, một tay đặt lên cánh tay tôi, kéo tôi lùi ra phía sau anh.

“Dougal,” anh nói. “Không phải như những gì cậu nghĩ đâu. Đó là…”

“Không ư?” Dougal cắt ngang. Ánh mắt đăm đăm của ông ta rời khỏi tôi một giây, và tôi co rụt vào phía sau Jamie, biết ơn sự trì hoãn đó.

“Không phải điều ta nghĩ ư?” Ông ta nói, vẫn rất khẽ. “Ta nghe thấy người đàn bà này xúi giục mày phạm tội giết người đáng ghê tởm - phạm tội giết Hoàng tử của mày! Không chỉ là tội giết người hèn hạ, mà còn là kẻ phản bội nữa! Và mày nói với ta rằng ta không nghe thấy điều đó ư?” Ông ta lắc đầu, những lọn tóc màu hung rối bù rũ xuống vai. Như tất cả chúng tôi, ông ta đang chịu đói; xương nhô ra trên mặt, nhưng đôi mắt bốc lửa từ hai hốc mắt thâm quầng.

“Ta không đổ lỗi cho cháu, chàng trai ạ,” ông ta nói. Giọng ông ta đột nhiên mệt mỏi, và tôi nhớ ra rằng ông ta là một người đàn ông đã ngoài năm mươi. “Đó không phải là lỗi của cháu, Jamie! Ả đã mê hoặc cháu - bất cứ ai cũng có thể thấy điều đó.” Miệng ông ta rúm ró khi ông ta lại nhìn sang tôi.

“Phải, ta biết điều đó đã xảy ra với cháu như thế nào. Ả ta cũng đã sử dụng phép phù thủy đó với ta, đôi lúc.” Ánh mắt ông ta sục sạo khắp người tôi, cháy bừng bừng. “Một mụ đàn bà dâm đãng dối trá, phạm tội giết người sẽ nắm lấy dương vật của đàn ông mà dẫn hắn đi tới sự diệt vong. Đó là bùa mê thuốc lú chúng bỏ cho cháu, cậu bé ạ - ả và cả mụ phù thủy kia nữa. Đưa cháu tới giường của chúng và đánh cắp linh hồn của cháu khi cháu ngủ gục trên ngực chúng. Chúng lấy đi linh hồn cháu và ăn mất lòng can đảm của cháu, Jamie ạ!”

Ông ta thè lưỡi, liếm môi. Ông ta vẫn đang nhìn chằm chằm vào tôi, bàn tay siết chặt trên chuôi kiếm.

“Đứng sang một bên đi, chàng trai trẻ! Ta sẽ giải thoát cho cháu khỏi ả điếm ngoại tộc này.”

Jamie bước lên chắn trước tôi, trong giây lát che khuất Dougal khỏi tầm mắt tôi.

“Cậu mệt rồi, Dougal,” anh nói, vẻ bình tĩnh và xoa dịu. “Cậu mệt mỏi và nghe nhầm rồi, cậu à! Giờ cậu hãy xuống nhà đi! Cháu sẽ…”

Anh không có cơ hội để nói hết. Dougal không nghe anh nói; đôi mắt màu xanh lá cây sâu hoắm vẫn gắn chặt vào tôi, người thủ lĩnh của thị tộc MacKenzie đã rút con dao găm ra khỏi vỏ của nó trên thắt lưng ông ta.

“Ta sẽ cắt cổ mày,” ông ta khẽ nói với tôi. “Đáng ra ta nên làm thế khi lần đầu trông thấy mày. Điều đó sẽ cứu tất cả chúng ta khỏi nỗi đau khổ.”

Tôi không dám chắc chắn là ông ta sai, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi định để mặc ông ta giải quyết vấn đề này. Tôi lùi về phía sau ba bước thật nhanh, và đụng mạnh vào chiếc bàn.

“Cậu hãy lùi lại ngay!” Jamie đẩy người mình đến chắn trước tôi, giơ cánh tay lên che chở cho tôi khi Dougal tiến tới.

Tộc trưởng của nhà MacKenzie lắc đầu, ánh mắt đỏ ngầu lên như một con bò tót, dán chặt vào tôi.

“Ả là của ta,” ông ta khàn giọng nói. “Phù thủy! Kẻ phản bội! Tránh ra, chàng trai! Ta sẽ không làm hại cháu, nhưng thề có Chúa, nếu cháu che chở cho ả đàn bà đó, ta cũng sẽ giết cháu, dù cháu có là con trai nuôi của ta hay không.”

Ông ta nhào qua Jamie, chộp lấy cánh tay tôi. Dù kiệt sức, bị bỏ đói và có tuổi, ông ta vẫn là một người đàn ông ghê gớm, những ngón tay của ông ta bấm sâu vào da thịt tôi.

Tôi hét lên vì đau đớn, quẫy đạp điên cuồng khi bị lôi về phía ông ta. Ông ta túm lấy tóc tôi và giật ngửa đầu tôi ra sau. Hơi thở của ông ta nóng bỏng và chua lòm phả lên mặt tôi. Tôi la lên chói tai và đánh ông ta, cào móng tay vào má ông ta để cố gắng thoát ra.

Ông ta thở hộc ra khi nắm đấm của Jamie thụi vào mạng sườn ông ta, và bàn tay nắm tóc tôi nới lỏng ra khi nắm đấm khác của Jamie giáng một đòn tê liệt lên vai ông ta. Đột nhiên được giải thoát, tôi ngã về phía sau, trúng vào chiếc bàn, rên rỉ vì choáng và đau.

Dougal quay ngoắt sang đối diện với Jamie, khom người để lấy đà, lưỡi con dao găm hướng lên trên.

“Vậy thì cứ để tự nhiên đi,” ông ta nói, thở hồng hộc, hơi đung đưa từ bên này sang bên kia, thay đổi trọng tâm cơ thể trong khi tìm lợi thế. “Đúng là nòi nào giống nấy. Mày là dòng giống chết tiệt của nhà Fraser! Thói bội bạc ăn sâu trong máu mày. Đến đây nào, đồ cáo con! Nể mặt mẹ mày, tao sẽ giết mày nhanh thôi.”

Trong căn gác mái nhỏ này có rất ít không gian để hành động. Không có đủ chỗ để rút kiếm; con dao găm của Jamie đã kẹt trên mặt bàn, anh gần như không có vũ khí. Anh cũng làm tư thế như của Dougal, hai mắt chăm chú cảnh giác, dán chặt vào mũi con dao găm đầy hăm dọa kia.

“Đặt nó xuống đi, cậu Dougal,” anh nói. “Nếu cậu còn nhớ đến mẹ cháu thì hãy nghe cháu nói, hãy nể mặt bà!”

Thủ lĩnh nhà MacKenzie không đáp lời, đột ngột đâm tới, một đòn rạch nhắm vào phía trên.

Jamie lách người sang bên để tránh, rồi lại lách người về, quét cánh tay đánh tới từ phía bên kia. Jamie có lợi thế nhanh nhẹn của tuổi trẻ - nhưng Dougal lại có con dao.

Dougal xông tới thu hẹp khoảng cách và con dao găm sượt qua sườn Jamie, rạch rách áo sơ mi của anh, khía một đường sẫm màu trên da thịt anh. Rít lên một tiếng vì đau, anh giật người lại, tóm lấy cổ tay Dougal, bắt được nó đúng lúc lưỡi dao đâm xuống.

Ánh lấp lóe đùng đục của lưỡi dao sáng lên một lần, rồi biến mất giữa hai thân hình đang giằng co. Họ hòa thành một khối, khóa chặt lấy nhau như một cặp tình nhân, bầu không khí đầy ắp mùi mồ hôi đàn ông và sự giận dữ. Lưỡi dao lại giơ lên, hai bàn tay túm lấy cái cán tròn của nó. Một sự xoay chuyển, một cú giật, và đột nhiên một tiếng gằn đau đớn bật ra. Dougal bước lùi lại, loạng choạng, mặt đỏ bừng và mồ hôi túa ra, cán con dao găm cắm vào hõm cổ ông ta.

Jamie gần như ngã xuống, thở hổn hển và tựa người vào bàn. Ánh mắt tối sầm vì choáng váng, mái tóc ướt đẫm mồ hôi, chỗ bị rách trên áo sơ mi của anh nhuốm màu máu.

Một âm thanh kinh khủng phát ra từ Dougal, âm thanh cực kỳ yếu ớt và nghèn nghẹn. Jamie đỡ lấy ông ta khi ông ta lảo đảo ngã xuống, trọng lượng của Dougal kéo theo anh quỳ sụp xuống. Đầu Dougal nằm trên vai Jamie, hai cánh tay anh khóa vòng quanh người cha nuôi của mình.

Tôi cũng quỳ xuống bên cạnh họ, cố gắng giúp Dougal nhưng đã quá muộn. Thân hình to lớn đó mềm rũ đi rồi co giật, trượt ra khỏi cái ôm ghì của Jamie. Dougal nằm rúm ró trên sàn, các cơ bắp giần giật vì sự co thắt không điều khiển được, vật vã như một con cá bị mắc cạn.

Đầu ông ta gối trên đùi Jamie. Ông ta cố nhấc đầu lên, gương mặt méo mó, đỏ bầm và hai con mắt cố hé ra một khe nhỏ. Miệng ông ta mấp máy liên tục như đang nói điều gì đó, tuy nhiên không phát ra âm thanh nào ngoại trừ tiếng lào xào thoát ra từ cái cổ họng bị đâm thủng.

Mặt Jamie nhợt nhạt, rõ ràng anh biết điều Dougal đang nói là gì. Anh vật vã điên cuồng, cố giữ im cái thân thể thảm bại kia. Một cơn co giật cuối cùng, rồi một tiếng nấc hấp hối, và Dougal MacKenzie nằm im lìm, hai bàn tay Jamie siết chặt quanh vai ông ta, như thể cố ngăn ông ta vùng dậy một lần nữa.

“Thánh Michael bảo vệ cho chúng con!” Một tiếng thì thầm khàn đặc vang lên từ chỗ cửa. Đó là Willie Coulter MacKenzie, người của Dougal. Anh ta kinh hãi, sững sờ nhìn chằm chằm vào xác người thủ lĩnh. Một vũng nước tiểu đang hình thành bên dưới cái xác, luồn ra từ bên dưới chiếc áo choàng. Người đàn ông làm dấu thánh, mắt vẫn nhìn chăm chăm.

“Willie!” Jamie đứng lên, quệt ngang mặt bằng bàn tay run rẩy. “Willie!” Người đàn ông đó dường như đã bị choáng váng không nói nổi. Anh ta nhìn Jamie mà hoàn toàn hoang mang, miệng há hốc.

“Tôi cần một giờ đồng hồ, anh bạn!” Jamie đặt tay lên vai Willie Coulter, kéo anh ta vào phòng. “Một giờ để sắp xếp cho vợ tôi được an toàn. Sau đó, tôi sẽ quay trở lại để trả lời cho chuyện này. Tôi xin thề trên danh dự của mình. Nhưng tôi phải có một giờ tự do đã. Một giờ thôi. Anh sẽ cho tôi một giờ chứ, anh bạn, trước khi anh nói ra?”

Willie liếm đôi môi nứt nẻ, nhìn qua nhìn lại giữa cái xác của vị thủ lĩnh và đứa cháu trai của thủ lĩnh, rõ ràng đã bị sợ hãi đến mức đánh mất cả sự nhanh trí. Cuối cùng, anh ta gật đầu, hoàn toàn không biết phải làm gì nên lựa chọn nghe theo yêu cầu này, bởi vì ngay lúc này, không có lựa chọn hợp lý nào khác.

“Tốt rồi!” Jamie khó nhọc nuốt khan và lau mặt mình bằng áo choàng len. Anh vỗ nhẹ lên vai Willie. “Hãy ở đây, anh bạn! Hãy cầu nguyện cho linh hồn của ông ấy!” Anh hất đầu ra hiệu về phía thân hình nằm lặng im trên sàn nhà mà không nhìn vào nó. “Và cả của tôi nữa.” Anh nhoài qua người Willie để nhổ con dao găm cắm trên bàn, rồi đẩy tôi đi trước anh ra khỏi phòng, xuống cầu thang.

Nửa đường, anh dừng lại, tựa vào bức tường, hai mắt nhắm nghiền. Anh hít sâu những hơi rời rạc, như thể sắp ngất đi, tôi đặt hai tay lên ngực anh, lo lắng. Tim anh vẫn đang đập như trống dồn, và anh đang run lẩy bẩy, nhưng sau một lúc, anh đứng thẳng lại, gật đầu với tôi và nắm lấy cánh tay tôi.

“Anh cần Murtagh,” anh nói.

Chúng tôi tìm thấy ông ấy ngay bên ngoài, đang trùm chiếc áo choàng len lên để chống lại cơn mưa tuyết và ngồi ở một vị trí khô ráo bên dưới mái hiên của ngôi nhà. Fergus đang cuộn tròn bên cạnh ông, ngủ gà gật vì mệt mỏi sau chuyến cưỡi ngựa đường dài.

Murtagh thoáng nhìn thấy mặt Jamie liền đứng ngay dậy, u ám và thiếu thân thiện, nhưng sẵn sàng làm bất cứ điều gì.

“Cháu đã giết Dougal MacKenzie,” Jamie nói thẳng, không hề mào đầu.

Mặt Murtagh hơi ngẩn ra trong thoáng chốc, sau đó nét mặt nghiêm nghị, thận trọng quay trở lại.

“Vậy,” ông ấy nói. “Làm gì đây?”

Jamie mò mẫm tìm trong chiếc túi da của anh và lấy ra một tờ giấy được gấp lại. Hai tay anh run rẩy khi cố mở nó ra, tôi đón lấy nó từ tay anh và trải rộng nó bên dưới mái hiên nhà.

Dòng chữ “Chứng thư chuyển nhượng” viết ngay trên đầu trang. Đó là một văn bản ngắn, viết bằng vài dòng chữ đen, chuyển nhượng tước vị và mảnh đất có tên Broch Tuarach cho người có tên James Jacob Fraser Murray, tài sản được nói đến này được tin tưởng giao phó cho cha mẹ của James Murray - Janet Fraser Murray và Ian Gordon Murray - trông nom quản lý cho tới khi James Murray trưởng thành. Chữ ký của Jamie ở dưới cùng, và có hai chỗ trống nữa ở bên dưới, viết chữ “Người làm chứng” ở bên cạnh. Nó đề ngày mồng 1 tháng 7 năm 1745 - một tháng trước khi Charles Stuart phát động cuộc nổi dậy trên bờ biển Scotland, và khiến Jamie Fraser trở thành kẻ phản bội Nhà vua.

“Cháu cần hai người ký vào đây, bác và Claire,” Jamie nói, cầm tờ giấy từ tay tôi và đưa nó cho Murtagh. “Nhưng nó có nghĩa là phải từ bỏ lời thề của bác; cháu không có quyền yêu cầu điều đó.”

Đôi mắt nhỏ đen láy của Murtagh quét qua tờ chứng thư thật nhanh. “Không,” ông nói cộc lốc. “Không có quyền - cũng không cần thiết.” Ông dùng bàn chân thúc vào người Fergus, cậu nhóc ngồi bật dậy ngay và chớp chớp mắt.

“Lẻn nhanh vào nhà kiếm cho ông chủ mày mực và một cái bút lông đi, nhóc,” Murtagh nói. “Nhanh nhanh lên nhé - đi đi!”

Fergus lắc đầu một lần cho tỉnh táo, liếc nhanh Jamie để nhận được một cái gật đầu xác nhận và đi vào.

Nước đang nhỏ giọt từ trên mái hiên xuống gáy tôi. Tôi rùng mình và siết chặt chiếc khăn choàng quanh vai mình. Tôi thắc mắc Jamie đã viết văn bản này từ lúc nào. Ngày tháng giả kia khiến cho nó có vẻ như được chuyển giao trước khi Jamie trở thành kẻ phản bội và của cải cũng như đất đai của anh sẽ bị cướp đoạt. Nếu chứng thư này không bị nghi ngờ thì tài sản này sẽ được trao vào tay nhóc Jamie một cách trót lọt. Ít nhất gia đình của Jenny sẽ được an toàn, họ vẫn sẽ được sở hữu đất đai và điền trang.

Jamie đã nhìn thấy trước sự cần thiết của điều này; nhưng anh chưa làm thủ tục hợp pháp cho văn bản này trước khi chúng tôi rời Lallybroch; anh đã hy vọng bằng cách nào đó có thể trở về và tuyên bố quyền sở hữu của mình một lần nữa. Bây giờ điều đó là không thể, nhưng vùng đất này vẫn có thể được cứu khỏi việc bị tước đoạt. Không ai nói được khi nào văn bản này thực sự được ký - ngoại trừ những người làm chứng, tôi và Murtagh.

Fergus đã trở lại, thở hổn hển, cùng với một lọ mực nhỏ bằng thủy tinh và một cái bút lông cũ nát. Chúng tôi ký vào ngay lập tức, tì lên mặt tường của ngôi nhà, cẩn thận vẩy bút lông trước để mực khỏi nhỏ xuống. Murtagh ký trước; tên đệm của ông ấy, tôi trông thấy, là FitzGibbons.

“Cháu có muốn ta mang nó về cho chị gái cháu không?” Murtagh hỏi khi tôi đang cẩn thận vẩy tờ giấy cho khô mực.

Jamie lắc đầu. Cơn mưa làm ẩm những vết bẩn có kích cỡ như đồng xu trên áo choàng của anh, và làm lông mi anh lấp lánh như nước mắt.

“Không. Fergus sẽ mang nó đi.”

“Cháu ư?” Đôi mắt thằng bé tròn xoe vì kinh ngạc.

“Cháu đấy, cậu cả ạ!” Jamie cầm tờ giấy từ tay tôi, gập nó lại rồi quỳ xuống và nhét nó vào bên trong áo sơ mi của Fergus.

“Thứ này phải đến được với chị gái ta - bà Murray - mà không được có sai sót gì. Nó đáng giá hơn cả mạng sống của ta hay của cháu, chàng trai ạ!”

Nín thở trước tầm cỡ trọng đại của trách nhiệm được giao phó, Fergus đứng thẳng lên, hai bàn tay chắp lại trước ngực.

“Cháu sẽ không làm hỏng việc của ngài, thưa ngài!”

Một nụ cười yếu ớt thoáng qua trên môi Jamie, anh đặt bàn tay lên chiếc mũ lưỡi trai mềm đội trên đầu Fergus.

“Ta biết điều đó, chàng trai ạ, và ta rất biết ơn,” anh nói. Anh tháo chiếc nhẫn đeo trên tay trái; viên ruby được mài tròn đó thuộc về cha của anh. “Đây,” anh nói, đưa nó cho Fergus. “Hãy đi đến chuồng ngựa, đưa cái này cho ông lão mà cháu thấy ở đó. Bảo ông ấy rằng ta nói cho cháu lấy con Donas đi. Hãy lấy con ngựa đó và cưỡi nó đến Lallybroch. Đừng dừng lại vì bất kỳ điều gì, trừ phi cháu buộc phải làm thế để ngủ và khi ngủ, cháu phải ẩn nấp đi.”

Fergus không thốt nên lời với vẻ kích động hoang mang, nhưng Murtagh cau mày nhìn cậu nhóc vẻ hồ nghi.

“Cháu nghĩ thằng bé có thể xoay xở với con ngựa tinh quái của cháu à?” Ông ấy hỏi.

“Phải, cậu bé có thể làm được,” Jamie khẳng định chắc chắn. Vượt qua cơn kích động, Fergus lắp bắp nói, rồi quỳ xuống hôn tay Jamie nồng nhiệt. Rồi cậu nhóc bật đứng lên, phóng đi về phía chuồng ngựa, bóng dáng lẹ làng biến mất trong sương mù.

Jamie liếm đôi môi khô nứt, thoáng nhắm mắt lại, rồi quay sang Murtagh với vẻ quyết đoán.

“Còn bác - mo caraidh - cháu cần bác tập hợp người của chúng ta lại.”

Cặp lông mày của Murtagh nhướng lên, nhưng ông chỉ gật đầu.

“Được,” ông nói. “Khi nào thì ta phải làm vậy?”

Jamie liếc nhanh sang tôi, rồi quay lại người cha đỡ đầu của anh. “Họ sẽ có mặt trên bãi hoang ngay bây giờ, cháu nghĩ vậy, cùng với Simon Trẻ. Cứ tập hợp họ lại một chỗ thôi đã. Cháu phải đảm bảo cho vợ cháu an toàn trước, sau đó...” Anh lưỡng lự rồi nhún vai. “Cháu sẽ tìm bác. Hãy đợi cháu đến.”

Murtagh gật đầu một lần nữa và xoay người rời đi. Sau đó, ông dừng lại, quay người đối diện với Jamie. Cái miệng mỏng thoáng co rúm lại và ông nói: “Ta sẽ chỉ yêu cầu một điều ở cháu thôi, chàng trai - hãy mặc kệ người Anh đi! Không phải chuyện của cháu.”

Jamie hơi do dự, nhưng sau một lúc, anh gật đầu. Rồi, không nói một lời, anh dang hai cánh tay về phía Murtagh. Họ ôm nhau thật nhanh, mạnh mẽ, và rồi Murtagh xoay người rời đi.

Tôi là vướng bận cuối cùng trong kế hoạch này.

“Đi nào, Sassenach,” anh nói, tóm lấy cánh tay tôi. “Chúng ta phải đi thôi.”

Không ai ngăn cản chúng tôi; có quá nhiều người đến và đi trên đường cho nên chúng tôi không bị phát hiện trong khi ở ngay gần bãi hoang. Đi một đoạn xa, chúng tôi rời khỏi đường chính, thế là không ai nhìn thấy nữa.

Jamie hoàn toàn im lặng, chỉ tập trung suy nghĩ về việc trước mắt. Tôi cũng không nói gì với anh vì vẫn còn quá choáng váng.

“Cháu phải đảm bảo cho vợ cháu an toàn trước.” Tôi không biết anh có ý gì khi nói thế, nhưng nó đã trở nên rõ ràng trong vòng hai tiếng đồng hồ sau, khi anh quay đầu ngựa đi xa hơn về phía nam, và ngọn đồi dốc đứng xanh ngắt có tên gọi Craigh na Dun xuất hiện trong tầm mắt.

“Không!” Tôi thốt lên khi nhìn thấy nó và nhận ra nơi chúng tôi đang hướng đến. “Jamie, không! Em sẽ không đi!”

Anh không trả lời tôi, chỉ thúc ngựa tới trước, khiến tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải đi theo.

Những cảm xúc trong tôi vô cùng hỗn loạn; giờ đây, khi đã cách xa khỏi số phận bất hạnh của trận chiến sắp xảy ra và nỗi kinh hoàng về cái chết của Dougal, trước mắt tôi chỉ có hình ảnh của những tảng đá. Vòng tròn đá đáng nguyền rủa đó, chính vì xuyên qua nó mà tôi đã tới nơi đây. Rõ ràng Jamie định đưa tôi trở về với thời đại của tôi - nếu điều đó có thể.

Anh có thể nói mọi điều anh thích, tôi nghĩ, nghiến chặt quai hàm khi theo anh đi xuống con đường mòn hẹp xuyên qua bãi thạch nam. Không sức mạnh nào trên trái đất này có thể khiến tôi rời khỏi anh vào lúc này.

•••

Chúng tôi cùng nhau đứng trên sườn đồi, trong sân trước của một túp lều đã đổ nát nằm bên dưới đỉnh ngọn đồi. Không có ai sống ở đó từ nhiều năm nay; một người dân địa phương nói ngọn đồi này bị ám - một ngọn đồi tiên.

Jamie nửa thúc, nửa kéo tôi đi lên con dốc, không quan tâm tới sự phản đối của tôi. Đến túp lều, anh dừng lại và ngồi sụp xuống đất, lồng ngực phập phồng vì thở hổn hển.

“Được rồi,” cuối cùng anh nói. “Lúc này, chúng ta có một chút thời gian; sẽ không ai tìm thấy chúng ta ở đây.”

Anh ngồi trên mặt đất, tấm áo choàng quấn quanh người để giữ ấm. Trời đã ngừng mưa được một lúc, nhưng gió thổi khí lạnh từ những ngọn núi gần đó xuống. Tuyết đã phủ trắng những đỉnh núi và đọng lại qua bao đời. Anh gục đầu xuống gối, kiệt sức vì chuyến đi vừa rồi.

Tôi ngồi sát bên anh, núp mình trong chiếc áo choàng ngắn tay, cảm thấy hơi thở của anh dần chậm lại khi cơn hoảng loạn rút đi. Chúng tôi ngồi trong im lặng một lúc lâu, sợ rằng một cử động cũng có thể khuấy đảo những hỗn loạn đang tạm thời lắng xuống kia. Những hỗn loạn mà tôi cảm thấy mình đã góp một phần nào đó tạo nên.

“Jamie,” cuối cùng, tôi lên tiếng. Tôi đưa tay ra chạm vào anh, nhưng rồi lại rụt về và để nó rơi xuống. “Jamie, em xin lỗi!”

Anh tiếp tục nhìn vào khoảng trống đang tối dần của bãi hoang bên dưới. Trong một lúc, tôi đã nghĩ anh không nghe thấy tôi gọi. Anh nhắm mắt lại. Sau đó, anh lắc đầu rất khẽ.

“Không,” anh nói nhỏ. “Không cần thiết.”

“Có mà.” Nỗi đau đớn gần như làm tôi nghẹt thở, nhưng tôi cảm thấy mình phải nói ra; phải nói cho anh biết rằng tôi biết điều mình đã làm với anh.

“Đáng ra em nên quay về. Jamie - nếu em quay về khi anh đưa em từ Cranesmuir tới đây… có lẽ sau đó...”

“Phải, có lẽ,” anh cắt ngang. Anh đột ngột quay ngoắt sang và tôi thấy mắt anh gắn chặt vào tôi. Ở đó có sự mong mỏi và một nỗi đau đồng điệu như tôi, nhưng không hề có sự giận dữ, trách móc.

Anh lại lắc đầu.

“Không,” anh nói. “Anh biết em muốn nói gì, mo duinne. Nhưng không phải vậy đâu. Nếu khi đó em đi, các vấn đề có thể vẫn xảy ra như chúng đã xảy ra. Có lẽ là vậy, có lẽ không. Có thể nó sẽ đến sớm hơn. Có thể sẽ khác đi. Có thể - chỉ là có thể thôi - không gì xảy ra cả. Nhưng có nhiều người động tay động chân với chuyện này chứ không chỉ riêng hai chúng ta, và anh sẽ không để em gánh lấy tội lỗi ấy về mình.”

Bàn tay anh chạm vào tóc tôi, dịu dàng vuốt chúng ra khỏi mắt. Một giọt nước mắt lăn xuống má tôi và ngón tay anh đón được nó.

“Không phải thế,” tôi nói. Tôi vung tay chỉ về phía bóng tối, những đội quân, Charles, người đàn ông chết đói trong rừng và trận tàn sát sắp xảy đến. “Không phải thế. Đó là điều em gây ra cho anh.”

Anh mỉm cười, với vẻ dịu dàng nhất, lòng bàn tay anh vuốt ve má tôi, sưởi ấm làn da lạnh buốt của tôi.

“Ồ! Còn anh đã gây ra cho em điều gì, Sassenach? Mang em đi khỏi nơi thuộc về em, dẫn em vào đói nghèo và cuộc sống ngoài vòng pháp luật, đưa em đi qua các bãi chiến trường và mạo hiểm mạng sống của em. Em có trách anh không?”

“Anh biết là em không trách anh mà.”

Anh cười. “Đúng thế và anh cũng vậy, Sassenach của anh!” Nụ cười nhạt dần trên khuôn mặt Jamie khi anh liếc nhìn lên đỉnh đồi phía trên. Không nhìn thấy những tảng đá, nhưng tôi có thể cảm nhận được sự uy hiếp từ chúng, gần ngay trước mắt.

“Em sẽ không đi, Jamie,” tôi bướng bỉnh lặp lại. “Em sẽ ở lại với anh.”

“Không.” Anh lắc đầu. Anh nói khẽ, nhưng giọng điệu kiên quyết, không cho phép người khác từ chối. “Anh phải về đây, Claire!”

“Jamie, anh không thể!” Tôi hốt hoảng siết lấy cánh tay anh. “Jamie, lúc này họ tìm thấy Dougal rồi! Willie Coulter sẽ kể cho người ta biết.”

“Phải, anh ta sẽ làm thế.” Anh đặt tay lên cánh tay tôi và vỗ nhẹ. Anh đã đưa ra quyết định của mình trên đường cưỡi ngựa tới ngọn đồi này; tôi có thể nhìn thấy nó trên gương mặt u ám của anh, sự cam chịu và quyết tâm đang trộn lẫn. Ở đó có nỗi đau, và cũng có buồn khổ, nhưng tất cả đã bị gạt sang một bên; lúc này, anh không có thời gian để than khóc.

“Chúng ta có thể thử sang Pháp,” tôi nói. “Jamie, chúng ta phải thử!” Nhưng ngay cả khi nói điều đó, tôi cũng biết rằng mình không thể thay đổi được quyết định của anh.

“Không,” anh lại nói, rất khẽ. Anh quay đi và giơ tay lên, chỉ về phía thung lũng đang tối dần bên dưới, những ngọn đồi đen sẫm phía xa. “Đất nước này đã bị khuấy động, Sassenach. Các bến cảng đã đóng rồi. Suốt ba tháng qua, O’Brien vẫn đang cố thử đưa thuyền tới cứu Hoàng tử để đưa cậu ta đến Pháp an toàn - Dougal đã nói với anh… trước khi…” Một cơn rùng mình lướt qua mặt anh, lông mày anh giật giật trong vẻ đau khổ. Mặc dù vậy, anh gạt nó sang một bên, tiếp tục giải thích bằng giọng đều đều.

“Chỉ duy có người Anh đang săn lùng Charles Stuart. Còn cả người Anh và các thị tộc sẽ săn lùng anh. Anh là kẻ phản bội hai lần, một tên nổi loạn và một kẻ giết người. Claire…” Anh ngừng lại, xoa một bàn tay ra sau gáy, rồi nhẹ nhàng nói: “Claire, anh là một người chết rồi.”

Những giọt nước mắt đang đông cứng lại trên má tôi, để lại những vệt băng đá như thiêu đốt da tôi.

“Không,” tôi lại nói, nhưng chẳng có tác dụng gì.

“Em biết đấy, anh đúng là không dễ giấu giếm hành tung,” anh nói, cố gắng pha trò khi luồn một bàn tay vào dưới mớ tóc màu hung đỏ của mình. “Jamie Đỏ sẽ không đi xa được, anh nghĩ vậy. Nhưng em…” Anh chạm vào miệng tôi, lần theo đường viền môi tôi. “Anh có thể cứu em, Claire, và anh sẽ làm thế. Đó là điều quan trọng nhất. Nhưng sau đó, anh sẽ quay về - vì người của anh.”

“Những người đàn ông đến từ Lallybroch ư? Nhưng làm thế nào?”

Jamie cau mày, ngón tay lơ đãng lướt trên chuôi gươm khi anh suy nghĩ.

“Anh nghĩ mình có thể mang họ đi. Sẽ có sự hỗn loạn trên bãi hoang, người và ngựa di chuyển tới lui, những mệnh lệnh được hét lên và mâu thuẫn với nhau; những trận đánh thường rất hỗn loạn. Và cho dù bây giờ những gì anh… những gì anh đã làm bị người ta biết rồi...” Anh tiếp tục với một thoáng nghẹn ngào, “cũng sẽ không ai ngăn anh cả, với những người Anh ngay trước mắt và trận đánh sắp sửa bắt đầu. Phải, anh có thể làm được,” anh nói. Giọng anh đã bình tình lại, và hai nắm tay siết chặt hai bên sườn với vẻ quyết tâm.

“Họ sẽ đi theo anh mà không thắc mắc gì. Chúa sẽ giúp họ, đó là điều đã mang họ đến đây! Murtagh sẽ tập hợp bọn họ lại cho anh; anh sẽ đưa họ đi và dẫn dắt họ ra khỏi chiến trường. Nếu có bất cứ ai cố gắng ngăn cản anh, anh sẽ nói rằng anh có quyền dẫn người của mình vào trận đánh; cho dù Simon Trẻ có từ chối anh điều đó.”

Anh hít sâu, đôi lông mày nhíu chặt lại trong khi anh mường tượng ra cảnh tượng trên chiến trường vào sáng ngày mai.

“Anh sẽ đưa họ đi an toàn. Chiến trường này đủ rộng, và có đủ người để không ai nhận ra rằng bọn anh không phải đang di chuyển tới vị trí mới. Anh sẽ đưa họ thoát khỏi bãi hoang và dàn xếp cho họ lên đường hướng về Lallybroch.”

Anh rơi vào im lặng như thể điều này là những gì xa nhất anh nghĩ được trong kế hoạch của mình.

“Và sau đó?” Tôi hỏi, không muốn biết câu trả lời, nhưng không thể ngăn mình lại.

“Và sau đó, anh sẽ quay lại Culloden,” anh nói, thở hắt ra. Anh tặng tôi một nụ cười gượng gạo. “Anh không sợ chết, Sassenach!” Khóe miệng anh cong lên lạnh lùng. “À… dù sao cũng không nhiều lắm. Nhưng một vài cách hoàn thành chuyện đó…” Một cơn rùng mình vô tình thoáng qua xuyên khắp người anh, nhưng anh cố giữ nụ cười.

“Anh hoài nghi mình đáng được giao vào tay một chuyên gia thực thụ, nhưng anh cho là trong trường hợp như thế, cả ngài Forez và bản thân anh đều có thể thấy nó… không thoải mái. Ý anh là, khi trái tim anh bị lấy ra bởi một người mà mình từng uống rượu cùng…”

Một tiếng kêu đau đớn rời rạc bật ra, tôi ôm choàng lấy anh, giữ anh thật chặt.

“Ổn thôi mà,” anh thì thầm vào tóc tôi. “Ổn thôi mà, Sassenach! Một viên đạn súng hỏa mai. Có lẽ là một lưỡi dao. Nó sẽ kết thúc nhanh thôi.”

Tôi biết đây là một lời nói dối; tôi đã trông thấy đủ các vết thương chiến trận và những cái chết của các chiến binh. Nhưng như thế còn hơn là chờ đợi một sợi dây thòng lọng trên giá treo cổ. Nỗi sợ hãi đó đã ập đến với tôi từ khi ở dinh thự của Sandringham, giờ càng dâng cao như sóng thủy triều ập tới, nhấn chìm tôi. Hai tai tôi ong ong tiếng mạch đập của mình và cổ họng thít lại đến nỗi không thể thở được.

Sau đó, ngay lập tức, nỗi sợ ấy rời khỏi tôi. Tôi không thể rời khỏi anh, và tôi sẽ không làm thế.

“Jamie,” tôi nói khi vùi mặt vào những nếp gấp trên chiếc áo choàng của anh. “Em sẽ quay trở về cùng anh.”

Anh giật người lại, nhìn chằm chằm vào tôi.

“Quỷ tha ma bắt em đi!” Anh nói.

“Đúng thế!” Tôi cảm thấy rất bình tĩnh, không chút nghi ngại. “Em có thể làm một chiếc váy len từ khăn choàng của mình; có rất nhiều cậu trai trẻ trong quân đội, em có thể đóng giả là một người như thế. Anh đã nói chính bản thân anh cũng sẽ nhầm lẫn mà. Sẽ không ai nhận ra đâu.”

“Không!” Anh nói. “Không, Claire!” Quai hàm anh siết chặt, và anh trừng mắt nhìn tôi với dáng vẻ trộn lẫn giữa giận dữ và kinh hoàng.

“Nếu anh không sợ thì em cũng không sợ,” tôi nói, kiên quyết không nhượng bộ. “Nó sẽ… kết thúc nhanh thôi. Anh đã nói vậy mà.” Cằm tôi đang bắt đầu run run, bất chấp sự quyết tâm của mình. “Jamie… em sẽ… em không thể… Khốn kiếp, em sẽ không thể sống mà không có anh, chỉ thế thôi!”

Anh mở miệng nhưng không thốt ra lời, rồi lại ngậm lại, lắc đầu. Ánh sáng phía trên những rặng núi đang rót xuống, vẽ lên những đám mây một ráng đỏ mờ. Cuối cùng, anh với tay ra, kéo tôi lại gần và ôm lấy tôi.

“Em nghĩ anh không biết ư?” Anh khẽ hỏi. “Chính anh bây giờ cũng không dễ chịu gì. Vì nếu em đang suy nghĩ cho anh thì anh cũng suy nghĩ cho em… Anh đang đòi hỏi em xé nát trái tim mình và sống mà không có nó.” Bàn tay anh vuốt ve tóc tôi, những khớp tay thô ráp vướng vào những lọn tóc đang bị gió thổi bay.

“Nhưng em phải làm điều đó, mo duinne. Nàng sư tử dũng cảm của anh! Em phải làm!”

“Tại sao?” Tôi hỏi, kéo người ra để ngước nhìn anh. “Khi anh đưa em đi khỏi phiên xét xử phù thủy ở Cranesmuir, anh đã nói rằng anh sẽ chết cùng em, anh sẽ cùng chịu thiêu sống với em nếu điều đó xảy ra!”

Anh nắm lấy hai bàn tay tôi, giữ chặt tôi lại bằng ánh nhìn đăm đăm bình thản màu xanh lam.

“Phải, anh đã nói vậy,” anh nói. “Nhưng lúc đó anh không mang thai con của em.”

Cơn gió thổi đến làm tôi đông cứng lại; tôi tự nhủ, chính cái lạnh đó khiến tôi run rẩy. Cái lạnh đó lấy đi hơi thở của tôi.

“Anh không thể nói thế,” cuối cùng tôi thốt lên. “Còn quá sớm để có thể chắc chắn về nó.”

Anh thoáng cười khẩy, một chút xíu vui mừng làm đôi mắt anh sáng lên.

“Và anh cũng là một nông dân! Sassenach, em chưa từng bị chậm kinh một ngày trong suốt khoảng thời gian kể từ khi em lên giường với anh lần đầu tiên. Tính đến bây giờ, em đã bị chậm kinh bốn mươi sáu ngày rồi.”

“Anh đúng là đồ khốn!” Tôi giận dữ mắng. “Anh tính nó à? Giữa một cuộc chiến tranh đẫm máu như thế này mà anh còn tính ngày đó à?”

“Em không tính sao?”

“Không!” Tôi không tính ngày; tôi đã quá lo sợ để có thể nhận ra khả năng có thứ mà tôi vẫn hy vọng và cầu nguyện bao lâu nay, bây giờ đây, nó lại đến muộn màng khủng khiếp thế này.

“Ngoài ra,” tôi tiếp tục, vẫn cố phủ nhận khả năng đó, “điều đó không có nghĩa gì cả. Đợt thiếu đói có thể là nguyên nhân khiến nó bị chậm; chuyện đó cũng thường xảy ra.”

Anh nhướng mày, khum bàn tay to, dịu dàng áp lên bên dưới ngực tôi.

“Phải, em gầy, nhưng dù khẳng khiu, ngực em lại đầy đặn - và hai núm vú biến thành màu nho làm rượu sâm banh. Em quên rồi,” anh nói, “trước đây anh đã trông thấy em như vậy. Anh không nghi ngờ gì và cả em cũng vậy.”

Tôi cố kìm nén những cơn buồn nôn - quá dễ dàng để quy điều đó cho sự sợ hãi và đói ăn - nhưng tôi cảm thấy sự nặng nề nho nhỏ đột ngột thiêu đốt trong tử cung mình. Tôi cắn chặt môi, nhưng cơn buồn nôn đã chiến thắng tôi.

Jamie thả hai tay tôi ra và đứng trước mặt tôi, hai bàn tay để hai bên người, vẻ dữ dội trong dáng hình in hằn trên nền trời nhập nhoạng.

“Claire,” anh khẽ nói. “Ngày mai anh sẽ chết. Đứa bé này… là tất cả những gì còn lại của anh… mãi mãi. Anh yêu cầu em, Claire - anh van xin em - hãy bảo vệ nó an toàn!”

Tôi vẫn đứng im, hình ảnh mờ nhòe đi, và trong một lúc, tôi nghe thấy tim mình vỡ nát. Đó là một âm thanh nhỏ, gọn ghẽ, như tiếng cuống hoa bật lại.

Cuối cùng, tôi cúi đầu, gục vào người anh, cơn gió làm hai tai tôi đau đớn.

“Vâng,” tôi thì thầm. “Vâng! Em sẽ đi!”

Trời đã gần tối hẳn. Anh đến phía sau và ôm lấy tôi, tôi tựa vào anh trong khi anh nhìn qua vai tôi, bao quát cả thung lũng kia. Ánh sáng của những đống lửa trại bắt đầu le lói, những đốm nhỏ sáng rực tít phía xa. Chúng tôi im lặng một lúc lâu, trong khi đêm tối càng thăm thẳm hơn. Ngọn đồi rất vắng lặng; tôi không nghe thấy gì ngoại trừ hơi thở đều đều của Jamie, mỗi nhịp thở là một âm thanh quý giá.

“Anh sẽ đi tìm em,” anh thì thầm bên tai tôi. “Anh hứa! Nếu anh phải chịu đựng hai trăm năm sống trong đau khổ, hai trăm năm không có em… thì đó chính là sự trừng phạt của anh, điều anh đáng nhận vì những tội đã phạm phải. Vì anh đã nói dối, đã giết người và đã trộm cắp; đã phản bội và đánh mất lòng tin. Nhưng chỉ có một điều sẽ nằm lại trong cán cân vào ngày phán xét. Khi anh đứng trước Chúa, anh sẽ có một điều để nói ra làm tăng sức nặng cho đĩa cân bên này đối trọng với phần còn lại.”

Giọng anh hạ xuống gần như là một lời thì thầm, hai cánh tay siết chặt quanh tôi.

“Thưa ngài, ngài đã ban cho con một người phụ nữ hiếm hoi, và Chúa ơi! Con đã yêu cô ấy rất nhiều!”

•••

Anh chậm rãi và cẩn thận; cả tôi cũng vậy. Mỗi sự đụng chạm, mỗi khoảnh khắc đều phải được nhấm nháp, ghi nhớ - trân quý như một bùa ấn chống chọi với một tương lai không có anh.

Tôi chạm vào mỗi cái hõm mềm mại, những nơi được giấu kín ở cơ thể anh, cảm nhận sự duyên dáng và sức mạnh của mỗi chiếc xương uốn cong, sự kỳ diệu của những bắp thịt rắn chắc trên hai bờ vai, tấm lưng và hai bắp đùi của anh.

Tôi nếm vị mồ hôi mằn mặn ở hõm cổ anh, vị ngọt ngào của cái miệng rộng và mềm mại, thoang thoảng vị táo khô và vị đắng của quả cây bách xù.

“Em đẹp quá, em yêu của anh,” anh thì thầm với tôi, chạm vào phần trơn trượt giữa hai chân tôi và làn da mềm mại trên mặt trong của đùi.

Mái đầu anh không hơn gì một đốm mờ sẫm màu đối lập với vệt mờ màu trắng của hai bầu ngực tôi. Những cái lỗ trên mái nhà chỉ cho phép ánh sáng yếu ớt từ bầu trời đầy mây rọi xuống; tiếng sấm ì ầm khe khẽ của mùa xuân thì thầm không dứt trên những ngọn đồi bên kia những bức tường mong manh bao quanh chúng tôi. Anh đã căng cứng lại trong tay tôi, cùng với sự ham muốn mà chỉ cần một cái chạm của tôi cũng khiến anh rên rỉ gần như đau đớn.

Khi anh không thể đợi lâu hơn nữa, anh giữ lấy tôi, giống như một con dao sẵn sàng tra vào vỏ, và chúng tôi cùng nhau chuyển động mãnh liệt, đầy gấp gáp và ham muốn cái khoảnh khắc hòa hợp sau cùng, đồng thời cũng sợ hãi đạt tới nó, vì biết rằng sau đó sẽ là sự chia cách vĩnh viễn.

Anh đưa tôi hết lần này đến lần khác tới những đỉnh khoái lạc, còn anh thì kìm nén, dừng lại, thở gấp và rùng mình trên bờ ranh giới. Cho tới lúc cuối, tôi chạm vào mặt anh, vặn xoắn những ngón tay mình trong tóc anh, ép sát anh thật chặt và cong lưng lên để hông áp sát anh, thúc giục, ép buộc.

“Bây giờ,” tôi thì thầm với anh. “Ngay bây giờ! Đến với em, đến với em đi, ngay bây giờ! Bây giờ!”

Anh đầu hàng tôi, và tôi đầu hàng anh, nỗi tuyệt vọng mài sắc sự đam mê, tiếng la hét của chúng tôi dường như từ từ lịm dần, vang vọng trong đêm tối của túp lều đá lạnh lẽo.

Chúng tôi nằm ép chặt vào nhau, không nhúc nhích, trọng lượng cơ thể anh là một niềm hạnh phúc, một sự che chở và một sự an ủi làm tôi yên lòng. Một thân thể quá rắn chắc, quá đầy đủ với hơi ấm và sự sống. Có thể nào anh sẽ kết thúc sự tồn tại này chỉ trong vòng vài giờ nữa?

“Nghe kìa,” cuối cùng anh nói, rất khẽ. “Em có nghe thấy không?”

Ban đầu, tôi không nghe thấy gì ngoài tiếng gió ào ào, tiếng mưa chảy thành dòng, nhỏ giọt qua những lỗ hổng của mái nhà. Sau đó, tôi nghe thấy nó, tiếng đập chậm rãi và đều đều của trái tim anh, nhịp đập rộn ràng áp vào tôi, và nhịp tim của tôi áp vào anh, từng nhịp ăn khớp với nhau trong nhịp điệu của sự sống. Máu chảy khắp cơ thể anh, xuyên qua sự kết nối mong manh giữa hai chúng tôi, chảy khắp cơ thể tôi và lại quay trở lại.

Chúng tôi nằm đó, ấm áp bên dưới sự che phủ tạm thời của chiếc áo choàng len và áo choàng tay ngắn, trên một chiếc giường làm từ đám quần áo lộn xộn của chúng tôi. Cuối cùng, anh rời khỏi tôi, xoay người tôi đi để lưng tôi áp vào ngực anh, khum bàn tay anh áp ngang bụng tôi, hơi thở của anh phả đến làm ấm áp gáy tôi.

“Giờ thì ngủ một chút đi, mo duinne,” anh thì thầm. “Anh sẽ ngủ một lần nữa theo kiểu này - ôm lấy em, ôm lấy con.”

Tôi đã nghĩ mình không thể ngủ được, nhưng sức ì của tình trạng kiệt sức quá lớn, và tôi chìm xuống bên dưới bề mặt không một gợn sóng ấy. Gần sáng, tôi tỉnh dậy, hai cánh tay của Jamie vẫn bao quanh tôi, và tôi nằm ngắm nhìn thời điểm rực rỡ không thể nhận thấy khi đêm chuyển sang ngày, cố gắng một cách vô ích để quay trở lại với sự che chở thân thiện của bóng đêm.

Tôi lăn người sang bên và nâng mình dậy để ngắm anh, để nhìn thấy hình dáng rõ nét của khuôn mặt anh, ngây thơ trong giấc ngủ, để thấy mặt trời sớm mai chạm vào mái tóc anh với ánh lửa rạng rỡ… một lần cuối cùng.

Một con sóng của sự thống khổ xuyên qua người tôi, sâu sắc mãnh liệt đến nỗi tôi phải thốt ra một tiếng khiến anh mở mắt. Anh mỉm cười khi trông thấy tôi, đôi mắt anh sục sạo khắp khuôn mặt tôi. Tôi biết rằng anh đang ghi nhớ nét mặt tôi, giống như tôi đang làm với anh.

“Jamie,” tôi nói, giọng khàn đặc vì mới ngủ dậy và vì nuốt những giọt nước mắt. “Jamie! Em muốn anh đánh dấu cho em.”

“Gì cơ?” Anh giật mình, hỏi.

Thanh sgian dhu nhỏ xíu anh mang theo trong tất đang nằm ngay trong tầm với, cán của nó được khắc hình sừng hươu sẫm màu nổi bật trên đống quần áo. Tôi với lấy và đưa nó cho anh.

“Cắt vào người em đi,” tôi thúc giục. “Đủ sâu để có sẹo nhé! Em muốn mang đi sự tiếp xúc của anh với em, để có thứ gì đó của anh sẽ ở bên em mãi mãi. Em không quan tâm cho dù nó có đau đi nữa; không gì có thể làm em đau đớn hơn việc phải rời xa anh. Ít nhất khi em chạm vào nó, cho dù em ở đâu, em cũng có thể cảm thấy sự tiếp xúc của anh trên người em.”

Bàn tay anh phủ lên tay tôi đang cầm cán con dao. Sau một lúc, anh siết chặt nó và gật đầu. Anh do dự trong chốc lát, lưỡi dao sắc trong tay anh, và tôi chìa bàn tay phải ra cho anh. Nó ấm áp bên dưới các lớp che phủ, nhưng hơi thở của anh lại hóa thành những làn khói, hiện rõ trong bầu không khí lạnh giá của túp lều.

Anh lật ngửa lòng bàn tay tôi, đưa lên môi, nhẹ nhàng hôn vào đó, rồi nắm lấy phần thịt dày dưới ngón tay cái của tôi và cắn thật mạnh. Nhả ra, anh nhanh chóng khía lưỡi dao vào phần thịt tê liệt đó. Tôi không cảm thấy gì ngoài một cảm giác nóng bỏng dìu dịu, nhưng máu ngay lập tức tuôn ra. Anh nhanh chóng đưa bàn tay lên miệng, ngậm lấy nó cho tới khi máu chảy chậm lại. Anh cẩn thận băng vết thương giờ đang nhức nhối bằng một chiếc khăn tay, nhưng tôi đã kịp nhìn thấy vết cắt đã thành hình, một chữ cái nhỏ hơi cong cong: “J”.

Tôi ngước lên nhìn, thấy anh đưa con dao nhỏ xíu cho tôi. Tôi cầm lấy nó, và không hiểu sao, hơi do dự đón lấy bàn tay anh chìa ra.

Anh thoáng nhắm mắt lại, và bặm môi, nhưng thốt ra một tiếng càu nhàu nhỏ vì đau khi tôi ấn mũi dao vào mặt phẳng của da thịt nơi gốc ngón tay cái của anh. Gò Kim tinh, một người xem chỉ tay đã nói với tôi như vậy, phản ánh niềm đam mê và tình yêu.

Chỉ có điều, khi tôi hoàn thành xong vết cắt hình bán nguyệt nhỏ thì mới nhận ra là anh đưa cho tôi bàn tay trái.

“Đáng ra em nên làm trên tay kia,” tôi nói. “Chuôi gươm của anh sẽ ấn lên vết thương.”

Anh cười yếu ớt.

“Anh không thể đòi hỏi gì hơn là cảm thấy sự tiếp xúc của em trên người anh trong cuộc chiến cuối cùng của mình… bất cứ nơi nào nó diễn ra.”

Tháo cái khăn tay cầm máu ra, tôi áp bàn tay bị thương của mình lên tay anh thật chặt, những ngón tay ghì siết lấy nhau. Máu ấm và trơn mượt, dính nhớp giữa hai bàn tay chúng tôi.

“Anh là máu của em…” Tôi thì thầm.

“… và em là xương của anh,” anh khe khẽ đáp lại. Không ai có thể đọc nốt lời thề ấy, “chừng nào cả hai ta còn sống,” nhưng những lời không nói ra ấy cứ treo lơ lửng nhức nhối giữa chúng tôi. Cuối cùng, anh nhếch mép cười.

“Còn lâu hơn thế nữa,” anh quả quyết nói, và kéo tôi lại với anh một lần nữa.

•••

“Frank,” cuối cùng, anh nói, kèm theo một tiếng thở dài. , “À, anh để cho em quyết định xem sẽ kể gì với anh ta. Có thể anh ta sẽ không muốn nghe đâu. Nhưng nếu anh ta lắng nghe, nếu em thấy mình có thể nói với anh ta về anh, như em phải nói với anh về anh ta, thì hãy nói với anh ta… rằng anh rất biết ơn. Hãy nói với anh ta rằng anh tin tưởng anh ta, bởi vì anh phải tin. Và nói với anh ta…” Hai bàn tay anh đột nhiên siết chặt lấy hai cánh tay tôi, anh nói với vẻ pha trộn giữa cười cợt và ngay thật. “Hãy nói với anh ta, anh căm ghét anh ta tới tận xương tủy!”

Chúng tôi đã mặc quần áo, và ánh bình minh đã sáng lên. Không có thức ăn, không có gì để trì hoãn chúng tôi. Không còn gì phải làm cả… và không còn gì để nói.

Anh sẽ phải rời đi ngay bây giờ để đến bãi hoang Drumossie đúng giờ. Lần này là lần chia tay cuối cùng của chúng tôi, và cả hai không cách nào nói lời tạm biệt.

Cuối cùng, anh nhếch miệng cười, cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên môi tôi.

“Họ nói…” Anh bắt đầu và ngừng lại để hắng giọng. “Họ nói, ngày xa xưa, khi một người đàn ông lên đường đi làm một việc lớn, anh ta sẽ tìm một người đàn bà khôn ngoan và yêu cầu cô ta chúc phúc cho mình. Anh ta sẽ đứng nhìn về hướng mình phải đi, và cô ta sẽ đi sau anh chàng, nói những lời chúc nguyện cho anh ta. Khi cô ta nói xong, anh chàng sẽ đi thẳng và không nhìn lại, để xua đi vận xui của mình.”

Anh chạm vào mặt tôi lần nữa, và quay đi, hướng mặt về phía cánh cửa mở. Mặt trời buổi sáng chảy tràn vào, chiếu sáng mái tóc anh trong hàng nghìn ngọn lửa. Anh vươn thẳng bờ vai rộng dưới lớp áo choàng len, và hít một hơi thật sâu.

“Chúc phúc cho anh đi, người phụ nữ khôn ngoan,” anh khẽ nói, “và đi đi!”

Tôi đặt một bàn tay lên vai anh, mò mẫm tìm từ ngữ. Jenny đã dạy tôi một vài lời cầu nguyện xin sự che chở bảo vệ bằng tiếng Celtic cổ; tôi cố gắng tập hợp lại các từ ngữ trong đầu mình.

“Jesus, con trai của Mary,” tôi bắt đầu nói, giọng khàn khàn, “con gọi tên Người, và nhân danh John người tông đồ yêu dấu, và nhân danh tất cả các thánh thần trong miền đất đỏ, hãy che chở cho anh ấy trong trận chiến sắp tới...”

Tôi ngừng lại, bị ngắt ngang bởi một âm thanh từ dưới sườn đồi. Những giọng nói và những bước chân.

Jamie đông cứng lại trong giây lát, bờ vai cứng ngắc bên dưới tay tôi, rồi xoay ngoắt người lại, đẩy tôi về phía sau túp lều, nơi bức tường đã bị đổ.

“Lối đó!” Anh nói. “Bọn chúng là quân Anh! Claire, đi đi!”

Tôi chạy về phía khoảng trống hoác của bức tường, tim nhảy lên tới tận cổ họng, trong khi anh quay trở lại cửa ra vào, bàn tay đặt lên thanh kiếm. Tôi dừng lại, chỉ một chốc, để nhìn anh lần cuối. Anh quay đầu, bắt gặp ánh nhìn của tôi, và đột nhiên anh đến chỗ tôi, đẩy tôi thật mạnh vào bức tường trong một cơn đau đớn tuyệt vọng. Anh ghì siết lấy tôi vào anh. Tôi có thể cảm thấy sự cương cứng của anh áp vào bụng mình và chuôi con dao găm của anh thúc vào sườn tôi.

Anh khàn giọng nói vào tóc tôi. “Một lần nữa thôi. Anh phải làm! Nhưng thật nhanh!” Anh đẩy tôi dựa vào tường và tôi quờ quạng nâng váy lên trong khi anh nhấc chiếc váy len của anh. Đây không phải là làm tình; anh chiếm lấy tôi thật nhanh và mạnh, nó kết thúc chỉ trong vài giây. Những giọng nói gần hơn, chỉ cách có một trăm mét.

Anh hôn tôi lần nữa, mạnh đến mức để lại vị máu trong miệng tôi. “Đặt tên thằng bé là Brian,” anh nói, “vì cha anh.” Anh đẩy tôi về phía lỗ hổng. Khi chạy tới đó, tôi liếc về phía sau, thấy anh đứng giữa cửa, kiếm tuốt một nửa, con dao găm đã sẵn sàng trên tay phải.

Quân Anh không phát hiện ra căn lều có người nên không nghĩ đến việc cử một người đi vòng ra phía sau để do thám. Con dốc đằng sau túp lều không một bóng người khi tôi lao ngang qua đó, tiến vào một bụi cây tống quán sủi bên dưới đỉnh đồi.

Tôi rẽ đường xuyên qua bụi cây và cành lá, vấp chân vào những hòn đá, mắt nhòa lệ. Phía đằng sau, tôi nghe thấy những tiếng quát và tiếng thép va vào nhau từ chỗ căn lều. Hai đùi tôi còn trơn ướt với hạt giống của Jamie. Đỉnh đồi dường như chẳng bao giờ gần lại; chắc chắn tôi sẽ dành cả phần đời còn lại của mình để vật lộn rẽ đường xuyên qua những cái cây vướng víu này mất!

Có một tiếng răng rắc trong bụi cây phía sau tôi. Ai đó đã trông thấy tôi lao ra từ căn lều. Tôi gạt nước mắt và quờ quạng hướng lên trên, mò mẫm bằng cả tứ chi khi mặt đất trở nên dốc hơn. Giờ tôi đã ở khoảng không gian quang đãng, trên thềm đá hoa cương mà tôi vẫn còn nhớ. Cây thù du nhỏ mọc nhô ra khỏi vách đá vẫn còn đó, và những tảng đá mòn ngã đổ.

Tôi dừng lại ở rìa vòng tròn đá, nhìn xuống dưới, cố gắng một cách tuyệt vọng để xem chuyện gì đang diễn ra. Có bao nhiêu tên lính đến chỗ căn lều? Jamie có thể phá vòng vây của chúng và tới chỗ buộc ngựa bên dưới không? Không có nó, anh sẽ không bao giờ tới được Culloden kịp lúc.

Ngay lúc đó, bụi cây bên dưới tôi tách ra với một ánh đỏ lóe lên. Một tên lính Anh. Tôi quay đi, hổn hển chạy băng qua mặt đất đầy cỏ của vòng tròn đá, và ném mình qua kẽ nứt của khối đá.

[1] Nguyên văn tiếng Latin: Timor mortis conturbat me.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.