Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 199 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
41
Lời nguyền của nhà tiên tri

❊ ❊ ❊

Hầu hết những người Scot ở vùng đồng bằng đã đi theo Giáo hội Trưởng lão từ hai thế kỷ trước. Một số thị tộc vùng cao cũng đi theo họ, nhưng những người khác, giống như người nhà Fraser và MacKenzie, vẫn giữ đức tin theo Công giáo. Đặc biệt là những người nhà Fraser, với mối gắn kết mạnh mẽ của gia tộc với Công giáo Pháp.

Trong lâu đài Beaufort có một nhà nguyện nhỏ để phục vụ cho việc cầu nguyện của Bá tước và gia đình ông ta, nhưng tu viện Beauly thì đã đổ nát, chỉ còn lại nơi chôn cất của những người nhà Lovat, và sàn nhà của khu vực riêng dành cho giáo sĩ và ca đoàn, thông thống không có mái che, được lát dày đặc những tấm bia mộ phẳng của những người nằm bên dưới.

Đó là một nơi bình yên, thỉnh thoảng tôi lại tản bộ ra đó, bất chấp thời tiết lạnh giá và gió thổi dữ dội. Tôi không biết liệu Simon Già có ý đe dọa tôi thật không, hay liệu sự so sánh của Jamie về tôi với Quý bà Aliset - người hóa ra là “quý bà trắng” hoặc người chữa bệnh huyền thoại mà dân Scot coi tương đương với La Dame Blanche - có đủ để ngăn chặn sự đe dọa đó không. Nhưng tôi nghĩ rằng không ai có thể gạ gẫm tôi giữa các ngôi mộ của những người đã khuất nhà Fraser.

Một buổi chiều, vài ngày sau chuyện xảy ra ở thư phòng của Simon Già, tôi tản bộ đi xuyên qua một lỗ hổng trên bức tường đổ nát của tu viện và lần này đã tìm thấy người mà tôi không ngờ tới. Người phụ nữ cao lớn mà tôi đã trông thấy bên ngoài phòng làm việc của Lovat đang ở đó, tựa người vào một ngôi mộ đá đỏ, hai cánh tay bao lấy đôi chân dài ấm áp thò ra như một con cò.

Tôi định đi vòng qua nhưng bà ta đã trông thấy tôi và ra hiệu cho tôi đến nhập hội cùng.

“Bà là phu nhân Broch Tuarach ư?” Bà ta nói, mặc dù không hề có gì ngoài một chút thắc mắc trong chất giọng vùng cao êm ái ấy.

“Đúng thế. Và bà là… Maisri ư?”

Một nụ cười mỉm thắp sáng cả khuôn mặt bà ta. Bà ta có một khuôn mặt gần như khiến người ta say đắm, hơi mất cân đối giống như một bức họa của Modigliani[1], và mái tóc đen dài điểm bạc buông xõa quanh bờ vai, dù bà ta còn khá trẻ. Một nhà tiên tri ư? Tôi nghĩ bà ta trông rất giống một người như vậy.

“Phải, tôi có khả năng tiên tri,” bà ta nói, nụ cười nở rộng hơn trên khuôn miệng hơi lệch.

“Bà cũng đọc được ý nghĩ ư?” Tôi hỏi.

Bà ta cười to, tiếng cười biến mất trong cơn gió khiến nó nghe rền rĩ khi xuyên qua những bức tường đổ nát.

“Không thưa bà. Nhưng tôi có thể đọc được nét mặt và...”

“Và mặt tôi thì dễ đọc như một cuốn sách vậy, tôi biết mà,” tôi nói với vẻ cam chịu.

Chúng tôi đứng cạnh nhau một lúc, ngắm nhìn những hạt mưa tuyết li ti hắt vào những phiến sa thạch và lớp cỏ dày màu nâu phủ khắp khu nghĩa địa.

“Bọn họ nói bà là một quý bà trắng,” Maisri đột nhiên nói. Tôi cảm nhận được ánh mắt của bà ta chăm chú nhìn mình, nhưng không hề có sự lo sợ thường thấy đi cùng với một lời bình luận như vậy.

“Đúng là họ nói thế,” tôi tán đồng.

“À!” Bà ta lại không nói gì, chỉ nhìn chăm chăm xuống hai chân mình, đôi bàn chân dài và thanh thoát, đi tất len và được che chắn trong đôi xăng đan bằng da. Các ngón chân tôi, còn được che chắn nhiều hơn thế, đang càng lúc càng tê cóng lại, và tôi nghĩ chân bà ta hẳn phải đông cứng như đá nếu bà ta còn ở đây thêm một lúc nữa.

“Bà đang làm gì ở trên này thế?” Tôi hỏi. Tu viện này là nơi đẹp đẽ và yên bình trong thời tiết tốt, nhưng không phải chốn an lành trong trời mưa tuyết giữa mùa đông lạnh lẽo này.

“Tôi đến đây để suy nghĩ,” bà ta nói, tặng tôi một nụ cười mỉm nhưng có phần lo lắng. Cho dù bà ta đang suy nghĩ về điều gì đi nữa thì những ý nghĩ đó cũng không quá mức vui vẻ.

“Nghĩ về chuyện gì?” Tôi hỏi, nhấc người lên để ngồi trên ngôi mộ bên cạnh bà ta. Hình hiệp sĩ trên nắp mộ đã mòn đi, thanh kiếm to bản của anh ta đặt trên ngực, chuôi kiếm tạo thành hình chữ thập trên trái tim.

“Tôi muốn biết tại sao!” Bà ta kêu lên. Gương mặt mỏng đột ngột bừng lên vẻ căm phẫn.

“Tại sao cái gì?”

“Tại sao! Tại sao tôi có thể nhìn thấy những điều sẽ xảy ra, nhưng không thể làm gì để thay đổi hay ngăn chặn nó? Món quà như thế có gì tốt đẹp chứ? Đó không phải là một món quà, nó là một lời nguyền chết tiệt, mặc dù tôi chẳng làm gì để đáng bị nguyền rủa như thế này!”

Bà ta quay sang trừng trừng nhìn Thomas Fraser một cách độc địa, người đang thanh thản nằm dưới chiếc mũ sắt của ông ta, với chuôi kiếm kẹp dưới hai bàn tay bắt tréo nhau.

“Đúng vậy, có lẽ đó là lời nguyền của ông, lão già ngớ ngẩn ạ! Ông và những người còn lại trong gia đình đáng chết của ông. Bà có bao giờ nghĩ vậy không?” Bà ta đột ngột quay sang hỏi tôi. Cặp lông mày nhướng cao trên đôi mắt nâu sáng long lanh với vẻ thông minh giận dữ.

“Bà có bao giờ nghĩ có lẽ không phải số phận của bà quyết định việc bà là ai không? Có lẽ bà có khả năng tiên tri hay sức mạnh chỉ bởi vì nó cần thiết cho một ai đó chứ chẳng liên quan gì đến bà cả - ngoại trừ nó là thứ bà sở hữu và phải chịu đựng khổ sở vì có nó. Bà có nghĩ vậy không?”

“Tôi không biết nữa,” tôi chậm rãi nói. “Hoặc đúng ra là có, vì bà đã nói, tôi cũng thắc mắc. Tại sao lại là tôi? Tất nhiên, bà lúc nào cũng tự hỏi về điều đó. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ ra được một câu trả lời thỏa đáng. Có phải bà nghĩ mình có khả năng tiên tri ấy là vì một lời nguyền giáng xuống những người trong dòng họ Fraser - để họ biết trước về cái chết của mình? Đó là một ý tưởng thật kinh khủng.”

“Đúng là kinh khủng,” bà ta cay đắng tán đồng. Bà ta ngả ra sau, dựa vào cái quan tài bằng đá đó, nhìn chằm chằm vào cơn mưa tuyết tuôn tung tóe qua đỉnh bức tường vỡ nát.

“Bà nghĩ sao?” Bà ta đột nhiên hỏi. “Tôi có nên nói cho ông ấy biết không?”

Tôi giật mình.

“Ai cư? Lãnh chúa Lovat?”

“Phải, chính ông ấy. Ông ấy thường hỏi tôi nhìn thấy gì, và đánh tôi khi tôi nói với ông ấy rằng không thấy gì cả. Ông ấy biết, bà hiểu không; ông ấy nhìn thấy nó trên mặt tôi khi tôi nhìn thấy hình ảnh tiên tri. Nhưng đó là sức mạnh duy nhất mà tôi có; sức mạnh đó không phải để nói ra.” Những ngón tay dài trắng bệch luồn ra từ trong chiếc áo choàng của bà ta, nghịch ngợm những nếp gấp ướt sũng ấy với vẻ lo lắng bất an.

“Luôn luôn có khả năng đó, đúng không?” Bà ta hỏi, đầu hơi cúi xuống khiến chiếc mũ trùm của áo choàng che khuất cả khuôn mặt trước cái nhìn chăm chú của tôi. “Khả năng những điều tôi kể ra sẽ tạo nên sự khác biệt. Đôi khi nó có thể làm được điều đó, bà biết đấy. Tôi đã kể với Lachlan Gibbons lúc tôi nhìn thấy con rể ông ta bị bọc trong tảo biển và những con lươn luồn lách bên dưới áo sơ mi của anh ta. Lachlan đã lắng nghe; ông ta lập tức đi đục thủng một lỗ trên thuyền của con rể.” Bà ta cười to, nhớ lại. “Trời ạ, vụ đó thật om sòm! Nhưng khi cơn bão lớn ập đến vào tuần kế tiếp, ba người đàn ông đã chết đuối còn con rể của Lachlan thì an toàn ở nhà, vẫn còn đang sửa chữa con thuyền của anh ta. Và lần sau, khi tôi nhìn thấy anh ta, áo sơ mi của anh ta khô khan, rong rêu đã biến mất.”

“Vậy là nó có thể xảy ra,” tôi khẽ nói. “Đôi khi.”

“Đôi khi,” bà ta gật đầu, nói, vẫn nhìn chằm chằm xuống đất. Phu nhân Sarah Fraser nằm dưới chân bà ta, bia mộ của vị phu nhân này nổi hẳn lên với một cái xương sọ trên đỉnh và hai cái xương chéo. Hodie mihi cras tibi, dòng chữ trên đó viết. Sic transit gloria mundi. Hôm nay đến lượt ta, ngày mai đến lượt người. Và như thế, sự huy hoàng của thế giới này cũng biến mất.

“Đôi khi không. Khi tôi nhìn thấy một người đàn ông bị bọc trong tấm vải liệm, anh ta liền bị ốm thật - và lần đó không thể làm gì để thay đổi tình hình.”

“Có lẽ,” tôi nói, nhìn vào hai bàn tay mình đang xòe ra trên tảng đá bên cạnh. Không có thuốc, không có dụng cụ y tế, không có kiến thức - phải, khi đó bệnh tật chính là số phận, và chẳng có gì thay đổi được nữa. Nhưng nếu có một thầy thuốc ở gần đó, và nếu có thứ để chữa trị… Phải chăng Maisri nhìn thấy bóng đen của bệnh tật đang đến gần như là một triệu chứng thực sự - dù nó thường không hiện rõ - chẳng hạn như một cơn sốt hoặc một đợt phát ban? Và rồi chỉ vì sự thiếu thốn về trang thiết bị y tế khiến cho việc nhận biết các triệu chứng như thế trở thành một lời tuyên án tử? Tôi sẽ không bao giờ biết được.

“Chúng ta sẽ không bao giờ biết được,” tôi nói, quay sang phía bà ta. “Chúng ta không thể nói ra. Chúng ta biết những điều mà người khác không biết, và chúng ta không thể lý giải vì sao hay làm cách nào mà chúng ta lại biết được. Nhưng chúng ta có khả năng đó - và bà nói đúng, nó là một lời nguyền. Nhưng nếu bà có kiến thức, và có thể ngăn chặn được tác hại… thì bà nghĩ nó có thể gây hại không?”

Bà ta lắc đầu.

“Tôi không rõ. Nếu bà biết mình sắp chết, bà sẽ làm gì? Và bà sẽ chỉ làm những điều tốt đẹp sao, hay là bà sẽ tận dụng cơ hội cuối cùng có thể có để làm điều có hại cho kẻ thù của mình - mặc dù có thể bỏ qua?”

“Biết chết liền.” Chúng tôi im lặng một lúc, ngắm nhìn cơn gió lốc thổi bay những bông tuyết lên các hình trang trí trên tường tu viện.

“Đôi khi tôi biết có điều gì đó ở ngoài kia, kiểu như thế,” Maisri bỗng nói, “nhưng tôi có thể chặn nó ở bên ngoài tâm trí mình, không nhìn tới. Trường hợp của Lãnh chúa cũng như vậy; tôi biết có điều gì đó, và tôi cố tìm cách để không trông thấy nó. Nhưng rồi ông ấy bắt tôi nhìn, và đọc câu chú linh thiêng để làm hình ảnh đó trở nên rõ nét. Và tôi đã làm.” Chiếc mũ trùm tuột ra sau khi bà ta nghiêng đầu, ngước lên nhìn bức tường tu viện phía trên đầu chúng tôi, màu nâu vàng, trắng và đỏ, với vữa tường vỡ vụn giữa những tảng đá. Mái tóc đen điểm bạc chảy tràn xuống sau lưng bà ta và tung bay trong gió.

“Ông ấy đang đứng trước đống lửa, nhưng lúc đó đang là ban ngày và tôi có thể nhìn thấy rất rõ. Một người đàn ông đứng sau ông ấy, im lìm như một cái cây, gương mặt hắn bị bao phủ trong bóng tối. Và trên mặt của Lãnh chúa có bóng của một cái rìu.”

Bà ta nói một cách thản nhiên, nhưng cơn rùng mình chạy ngược lên sống lưng tôi. Cuối cùng, bà ta thở dài, quay sang tôi.

“Haizz, tôi sẽ nói cho ông ấy biết, rồi sau đó ông ấy muốn làm gì thì làm. Ông ấy tận số hay được cứu rỗi, điều đó tôi chẳng can thiệp được. Đó là lựa chọn của ông ấy - và Chúa Jesus phù hộ cho ông ấy.”

Bà ta quay người bước đi, và tôi trượt xuống khỏi ngôi mộ, đứng bên tấm bia của phu nhân Sarah.

“Maisri,” tôi gọi. Bà ta quay lại nhìn tôi, đôi mắt đen như bóng tối quanh khu nghĩa địa.

“Hả?”

“Bà thấy gì, Maisri?” Tôi hỏi và đứng đợi, đối diện với bà ta, hai bàn tay buông thõng hai bên.

Bà ta nhìn tôi trừng trừng, từ trên xuống dưới, từ trước ra sau. Cuối cùng, bà ta hơi mỉm cười, gật đầu.

“Tôi chẳng trông thấy gì cả ngoài chính bà, phu nhân,” bà ta nói khẽ. “Chỉ có bà thôi.”

Bà ta quay người và biến mất khỏi con đường mòn giữa hai hàng cây, để lại tôi giữa những bông tuyết bay lộng đầy trời.

Tận số hay cứu rỗi. Điều đó tôi chẳng can thiệp được. Vì tôi không có sức mạnh nào ngoài sự hiểu biết, không có năng lực để uốn người khác theo ý muốn của mình, không có cách nào ngăn chặn họ làm những gì họ muốn làm. Chỉ có mình tôi thôi.

Tôi giũ tuyết ra khỏi những nếp áo khoác và xoay người đi theo Maisri xuôi theo con đường mòn kia, cùng chia sẻ nỗi cay đắng của bà ta khi biết rằng chỉ có duy nhất một mình mình. Và chỉ tôi thôi thì không đủ.

•••

Thái độ của Simon Già vẫn như thường lệ trong suốt hai, ba tuần lễ tiếp theo, nhưng tôi hình dung rằng Maisri đã giữ đúng ý định nói cho ông ta biết về những hình ảnh tiên tri của bà ta. Khi ông ta dường như sắp sửa triệu tập những người trương đất và tá điền để duyệt binh, đột nhiên ông ta lại hoãn lại, nói rằng không phải vội. Sự trù trừ này làm Simon Trẻ tức điên, hắn đang nóng ruột được tham chiến và phủ lên mình vinh quang rực rỡ.

“Đó không phải là vấn đề cấp bách,” Simon Già nói tới hàng tá lần. Ông ta nhấc một chiếc bánh yến mạch lên, ngửi nó và lại đặt xuống. “Có lẽ chúng ta nên đợi tới vụ xuân.”

“Họ có thể đến London trước mùa xuân!” Simon Trẻ gầm lên với cha mình qua bàn ăn và với tay lấy thêm bơ. “Nếu cha không tự mình đi thì hãy để con mang người gia nhập quân đội của Điện hạ!”

Lãnh chúa Lovat cằn nhằn: “Mày có cái tính nôn nóng chết tiệt,” ông ta nói, “nhưng óc suy xét chỉ được một nửa thế. Mày không bao giờ học được cách chờ đợi sao?”

“Không còn thời gian để chờ đợi nữa đâu!” Simon Trẻ rống lên. “Nhà Cameron, nhà MacDonald, nhà MacGillivray - bọn họ đều đã đến đó từ trước rồi. Chẳng lẽ chúng ta thích làm trâu chậm uống nước đục và đứng sau Clanranald và Glengarry à? Cơ hội béo bở để cha trở thành một công tước sẽ tan thành mây khói!”

Lovat có một cái miệng rộng rất gây ấn tượng; ngay cả khi ông ta đã già, nó vẫn mang một vẻ hài hước và gợi cảm. Nhưng lúc này không nhìn thấy nó được nữa. Ông ta mắm môi thật chặt, chăm chú nhìn kẻ thừa kế của mình với vẻ lãnh đạm.

“Vội vàng cưới, hối hận lâu,” ông ta nói. “Và điều đó đúng với việc lựa chọn một lãnh chúa hơn là một người phụ nữ. Một người phụ nữ thì có thể từ bỏ được.”

Simon Trẻ cười khẩy và nhìn sang Jamie xin hỗ trợ. Suốt hai tháng qua, thái độ thù địch, nghi ngờ ban đầu của hắn đã phai nhạt dần, biến thành niềm tôn trọng miễn cưỡng đối với sự tinh thông lão luyện về nghệ thuật chiến tranh của người họ hàng có nguồn gốc thấp hèn này.

“Jamie nói…” Hắn mở đầu.

“Ta biết rõ nó nói gì,” Simon Già cắt lời. “Nó đã nói điều đó quá thường xuyên. Ta sẽ tự đưa ra quyết định của mình theo thời gian của ta. Hãy ghi nhớ điều này, con trai - khi đến lúc thể hiện mình trong một cuộc chiến, sẽ mất rất ít khi biết chờ đợi.”

“Chờ đợi để xem ai là người thắng,” Jamie lầm bầm, cần mẫn vét sạch đĩa của mình bằng một miếng bánh mỳ. Lão già sắc bén ngước lên nhìn, nhưng rõ ràng quyết định phớt lờ câu góp chuyện này.

“Cha đã hứa với nhà Stuart rồi,” Simon Trẻ tiếp tục một cách bướng bỉnh, không thèm để ý đến sự khó chịu của cha mình. “Cha không định nuốt lời đấy chứ? Người ta sẽ nói gì về danh dự của cha?”

“Nói giống y như hồi năm 1715,” ông ta thản nhiên đáp. “Hầu hết những kẻ “nói những điều đó” sau đấy đều đã chết, phá sản, hoặc nghèo túng ở Pháp. Nhưng ta thì vẫn ở đây.”

“Nhưng...” Simon Trẻ đỏ mặt, đây là kết quả thường xuyên gặp phải khi trò chuyện với cha hắn.

“Chuyện sẽ là như thế,” Lãnh chúa thô bạo cắt ngang. Ông ta lắc đầu, trừng mắt với con trai, môi bặm chặt vẻ không hài lòng. “Chúa ơi! Đôi khi ta ước gì Brian chưa chết. Nó có thể cũng là một thằng ngốc, nhưng ít nhất nó biết khi nào thì ngừng nói.”

Cả Simon Trẻ và Jamie đều đỏ mặt tía tai vì giận dữ, nhưng sau một cái liếc mắt cảnh cáo nhau, họ liền chuyển sự chú ý về phía đồ ăn của mình.

“Còn cô đang nhìn gì thế hả?” Lãnh chúa Lovat gầm gừ khi bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn ông ta, sau khi ông ta dời mắt khỏi con trai mình.

“Ông,” tôi trả lời thẳng thừng. “Ông trông có vẻ không khỏe.” Ông ta có vẻ không khỏe thật, so với một người đàn ông ở tuổi bảy mươi. Tuy có tầm vóc trung bình, trì trệ và phát tướng vì tuổi tác, nhưng ông ta vẫn là một người đàn ông có vẻ ngoài rắn chắc, căn cứ vào bộ ngực rộng và cái bụng phệ tròn xoe vững chãi, khỏe mạnh. Dù thế, gần đây ông ta bắt đầu có vẻ mềm nhão, như thể đã co rút lại bên trong cái túi da của mình. Những bọng mắt nhăn nheo thâm đen lại và làn da có vẻ xanh xao ốm yếu.

“Hừm,” ông ta cằn nhằn. “Sao ta có thể khỏe được chứ? Ta ngủ cũng không được yên, ta thức cũng không được thoải mái. Cũng chẳng trách được nếu ta trông không sung mãn bằng một chú rể.”

“Ồ, nhưng cha đúng là vậy còn gì,” Simon Trẻ độc địa nói khi tìm thấy một cơ hội để phản pháo lại cha mình. “Một lần, vào cuối tuần trăng mật, ông ấy bị vắt kiệt sinh lực luôn.”

“Simon!” Phu nhân Frances quát. Nhưng vẫn có một trận cười khẽ vang lên quanh bàn ăn, ngay cả khóe miệng Lãnh chúa Lovat cũng hơi giần giật.

“Đúng vậy à?” Ông ta nói. “Thế thì ta đã sớm phải chịu hậu quả của chuyện đó rồi, nói cho mày biết, con trai ạ!” Ông ta khó chịu xê dịch trên ghế ngồi và đẩy cái đĩa phẳng đựng món củ cải luộc đi khi được mời dùng. Ông ta với tay lấy cốc rượu của mình, đưa nó lên mũi ngửi, sau đó lại khinh khỉnh đặt xuống.

“Nhìn chằm chằm như thế là thiếu lịch sự đấy,” ông ta lạnh lùng nói với tôi. “Hay là chuẩn mực lịch sự của người Anh khác với ở đây?”

Tôi hơi đỏ mặt, nhưng không dời mắt đi. “Cháu chỉ đang thắc mắc vì ông ăn không ngon miệng và cũng không uống gì. Những triệu chứng khác là gì?”

“Đang muốn chứng tỏ bản thân đây hử?” Lovat dựa người vào lưng ghế, hai bàn tay đan vào nhau để trên bụng, trông giống một con ếch già. “Một thầy thuốc, cháu trai ta nói thế. Một quý bà trắng, đúng không?” Ông ta ném về phía Jamie một cái liếc mắt chết người, anh vẫn tiếp tục ăn, phớt lờ ông mình. Lovat lầm bầm, nghiêng đầu về phía tôi vẻ mỉa mai.

“À, thưa cô, ta không uống, vì ta không thể đi tiểu, và ta không muốn mình bị căng phồng lên như một cái bọng đái lợn. Còn ta không ngủ yên được vì ta tỉnh dậy cả tá lần mỗi đêm để sử dụng cái bô, và thật chết tiệt mỗi lần phải dùng nó. Vậy đó, Nữ sĩ Aliset, cô có gì muốn nói nào?”

“Cha,” phu nhân Frances thì thào, “thật là, con nghĩ cha không nên…”

“Có thể bàng quang bị nhiễm trùng, nhưng với cháu thì nó nghe có vẻ giống viêm tuyến tiền liệt hơn,” tôi đáp, nhấc cốc rượu của mình lên và uống một ngụm, nhấm nháp hương vị của nó trước khi để nó trôi xuống cổ họng. Tôi e dè mỉm cười với ông ta trong lúc đặt cốc xuống.

“Ồ, vậy ư?” Ông ta nói, lông mày nhướng cao. “Và xin cho biết đó là cái gì?”

Tôi vén cổ tay áo và giơ hai tay lên, ngọ nguậy các ngón tay giống như một nhà ảo thuật đang chuẩn bị màn trình diễn của mình. Tôi giơ ngón trỏ bên tay trái lên.

“Tuyến tiền liệt ở đàn ông,” tôi dẫn dắt, “bao quanh ống dẫn nước tiểu - nó là lối thông từ bọng đái ra tới bên ngoài.” Tôi cuộn hai ngón tay của bàn tay phải xung quanh ngón trỏ của bàn tay trái để minh họa. “Khi tuyến tiền liệt bị viêm nhiễm hay phình ra - người ta gọi đó là viêm tuyến tiến liệt, khi chuyện đó xảy ra - nó chèn xuống ống dẫn nước tiểu” - tôi thu hẹp vòng tròn do mấy ngón tay minh họa - “cắt ngang dòng chảy của nước tiểu. Rất thường thấy ở nam giới lớn tuổi. Các vị hiểu không?”

Phu nhân Frances, thất bại trong việc bày tỏ quan điểm về một cuộc trò chuyện hợp khuôn phép trên bàn ăn với cha mình, đang bối rối thì thầm với cô em gái, cả hai đều quan sát tôi bằng vẻ hoài nghi sâu sắc hơn mức bình thường.

Lãnh chúa Lovat theo dõi màn thuyết minh của tôi một cách say mê.

“Phải, ta hiểu rồi,” ông ta nói. Đôi mắt xếch như mắt mèo nheo lại, nhìn những ngón tay tôi vẻ suy đoán. “Vậy phải làm gì với nó đây, nếu cô hiểu biết nhiều đến thế về chủ đề này?”

Tôi suy nghĩ, nhíu mày lục tìm trong bộ nhớ. Tôi chưa bao giờ thực sự thấy - huống hồ là điều trị - một ca viêm nhiễm tuyến tiền liệt, vì bệnh này không phổ biến ở những người lính trẻ. Tuy thế; tôi đã đọc nhiều sách y, trong đó có miêu tả về nó; tôi nhớ được cách điều trị, bởi vì nó từng là nguyên nhân tạo ra trò đùa vui vẻ giữa các học viên y tá, những người đã phải vùi đầu nghiền ngẫm những bức tranh minh họa trong sách giáo khoa một cách hãi hùng mà thích thú.

“À,” tôi nói, “trừ phi làm phẫu thuật, ông chỉ có hai cách. Ông có thể nhét một thanh kim loại mảnh xuyên qua dương vật vào bọng đái để buộc ống dẫn nước tiểu mở ra” - tôi thọc mạnh ngón trỏ xuyên qua vòng tròn đang bị co khít lại - “hoặc ông có thể xoa bóp tuyến tiền liệt để giảm bớt sưng tấy. Thông qua trực tràng,” tôi tận tình bổ sung thêm.

Tôi nghe thấy một tiếng cười khẽ nghẹn lại bên cạnh mình, bèn liếc mắt nhìn Jamie. Hai mắt anh vẫn dán chặt vào cái đĩa, nhưng màu đỏ lựng đang dâng lên từ bên trong cổ áo, vành tai thì đỏ rực. Người anh hơi run run. Tôi nhìn quanh bàn, phát hiện một loạt ánh mắt như bị thôi miên đã gắn chặt vào mình. Phu nhân Frances, Aline và những phụ nữ khác đều chằm chằm nhìn tôi với đủ loại biểu cảm, từ tò mò, hiếu kỳ tới ghê tởm, trong khi cánh đàn ông thì mang đủ vẻ mặt kinh hãi, chán ghét.

Ngoại lệ trước phản ứng chung đó là bản thân Lãnh chúa Lovat, ông ta đang xoa cằm vẻ đăm chiêu, hai mắt lim dim.

“Hừm,” ông ta nói. “Một lựa chọn quái quỷ. Một cái que cắm vào thằng nhỏ, hay một ngón tay chọc ngược lên hậu môn à?”

“Có thể là hai hoặc ba,” tôi nói. “Và lặp đi lặp lại nhiều lần.” Rồi mỉm cười một cách đoan trang.

“À.” Lãnh chúa Lovat đáp lại bằng một nụ cười tương tự, ông ta chậm rãi ngước lên, nhìn đăm đăm vào tôi bằng đôi mắt xanh thẫm kèm theo vẻ mặt nhạo báng thách thức.

“Cái đó nghe có vẻ… thú vị,” ông ta ôn tồn nhận xét. Đôi mắt xếch nhìn xuống hai bàn tay tôi, vẻ đánh giá.

“Cô có đôi bàn tay thật đáng yêu đấy,” ông ta nói. “Được giữ gìn xinh đẹp, những ngón tay thon dài trắng nõn, hử?”

Jamie chống cả hai tay lên bàn đánh rầm một tiếng và đứng lên. Anh vươn người qua bàn, gí mặt vào cách mặt ông mình chỉ khoảng ba mươi phân.

“Ông đang cần được chăm sóc, ông nội ạ,” anh nói. “Cháu sẽ tự mình làm việc đó.” Anh xòe hai bàn tay to lớn và chắc nịch trên mặt bàn, mỗi ngón tay dài to như nòng súng lục. “Cháu cũng không vui sướng gì nếu phải thọc ngón tay vào chỗ đó của ông,” anh thông báo với ông nội mình, “nhưng cháu nghĩ là cháu có bổn phận cứu ông khỏi bị nổ tung trong một trận mưa nước tiểu, đúng không?”

Frances phát ra một tiếng kêu yếu ớt.

Lãnh chúa Lovat nhìn cháu trai mình với vẻ ghét bỏ không che giấu, sau đó từ từ đứng lên.

“Đừng chuốc rắc rối vào mình,” ông ta nói cộc lốc. “Ta sẽ nhờ một con hầu làm việc đó.” Ông ta vẫy tay về phía khách khứa, ý bảo chúng tôi cứ tiếp tục dùng bữa và rời khỏi phòng, ngừng lại để nhìn một cô gái trẻ đang mang vào một đĩa gà lôi thái lát với vẻ nghiền ngẫm. Hai mắt mở to, cô ta xoay người sang bên cạnh để đi qua ông ta.

Một sự im lặng chết chóc bao trùm bàn ăn tối sau khi Lãnh chúa đi khỏi. Simon Trẻ nhìn tôi và mở miệng định nói. Rồi hắn liếc sang Jamie và ngậm miệng lại, hắng giọng, nói:

“Vui lòng chuyển giúp lọ muối!”

•••

“… và kết quả của tình trạng ốm yếu đáng tiếc đó đã ngăn ta không đích thân theo hầu Điện hạ được, vì vậy ta xin dâng lên Người qua bàn tay của con trai đồng thời là người thừa kế của ta biểu tượng của lòng trung thành - không, hãy sửa thành “lòng tôn kính” -biểu tượng của lòng tôn kính mà ta đã ấp ủ từ lâu với Bệ hạ và Điện hạ.” Lãnh chúa Lovat ngừng lại, cau mày nhìn trần nhà.

“Chúng ta sẽ gửi cái gì đi, Gideon?” Ông ta hỏi thư ký. “Trông sang trọng, nhưng đừng sang đến nỗi khiến ta không thể nói nó chỉ là một món quà mọn.”

Gideon thở dài và lau mặt bằng một chiếc khăn mùi soa. Là một người đàn ông trung niên, chắc khỏe với mái tóc thưa thớt và hai gò má tròn đỏ ửng, rõ ràng ông ta thấy nhiệt lượng của lò sưởi trong căn phòng ngủ này thật ngột ngạt.

“Chiếc nhẫn ngài có từ Bá tước Mar thì sao?” Ông ta gợi ý, không mấy hy vọng. Một giọt mồ hôi rơi xuống từ cái cằm hai ngấn rót lên lá thư ông ta đang viết, ông ta liền lén lút thấm đi bằng ống tay áo.

“Không đủ đắt giá,” Lãnh chúa phán, “và quá nhiều sự liên tưởng mang tính chính trị.” Ngón tay đồi mồi gõ gõ lên tấm phủ giường vẻ trầm ngâm trong khi ông ta suy ngẫm.

Simon Già đã làm rất tốt, tôi nghĩ. Ông ta đang mặc chiếc áo ngủ đẹp nhất, ngồi tựa người trên giường, với một loạt thuốc men bày tràn ở trên bàn, bên cạnh là vị bác sĩ riêng, bác sĩ Menzies, một người đàn ông nhỏ thó bị lác, cứ nhìn tôi với vẻ nghi ngờ không thôi. Tôi cho rằng ông già không tin tưởng vào óc tưởng tượng của Simon Trẻ nên đã cất công dàn xếp hoạt cảnh công phu này để người thừa kế của mình có thể báo cáo một cách chính xác về tình trạng ốm yếu của Lãnh chúa Lovat khi được diện kiến Charles Stuart.

“Ha,” Lãnh chúa thốt lên vẻ thỏa mãn. “Chúng ta sẽ gửi bộ đồ dã ngoại bằng vàng giá trị ấy. Cái đó đủ sang trọng, nhưng quá phù phiếm để diễn giải thành sự ủng hộ chính trị. Bên cạnh đó,” ông ta thiết thực bổ sung, “chiếc thìa được dập nổi. Vậy là được rồi,” ông ta nói với viên thư ký, “chúng ta hãy tiếp tục với “Như Điện hạ đã thấy…””

Tôi liếc nhìn Jamie, anh lén mỉm cười đáp lại.

“Anh nghĩ em đã trao cho ông thứ ông cần, Sassenach ạ,” anh đã nói khi chúng tôi cởi quần áo đi ngủ sau bữa tối định mệnh tuần trước.

“Và đó là gì thế?” Tôi hỏi. “Một cái cớ để quấy rối những cô hầu gái ư?”

“Anh nghi ngờ việc ông đi quấy rối bằng những cái cớ lớn lao kiểu đó,” Jamie lạnh nhạt nói. “Không, em đã cho ông một lối thoát cho cả đôi bên - như thường lệ. Nếu ông có một căn bệnh nghe-có-vẻ-ấn-tượng có thể giữ ông ở trên giường, vậy thì ông không thể bị đổ lỗi vì không thân chinh xuất hiện cùng với những người lính như đã hứa. Đồng thời, nếu ông gửi người thừa kế của mình tới tham chiến, người nhà Stuart sẽ tin rằng Lovat vẫn giữ lời hứa, và nếu cuộc chiến thất bại, Cáo Già sẽ tuyên bố với người Anh rằng ông không định phò tá cho nhà Stuart, có điều Simon Trẻ đã tự làm theo ý mình.”

“Cô đánh vần cụm từ “viêm tuyến tiền liệt” cho Gideon được chứ, cô gái?” Lãnh chúa Lovat gọi, đánh thức tôi khỏi dòng suy nghĩ. “Và vui lòng viết một cách cẩn thận vào, đồ ngốc,” ông ta nói với thư ký của mình, “ta không muốn Điện hạ đọc sai.”

“V-i-ê-m t-u-y-ế-n t-i-ề-n l-i-ệ-t,” tôi đọc thật chậm cho Gideon ghi. “Và tiện đây, buổi sáng hôm nay ông cảm thấy thế nào?” Tôi hỏi, đi đến đứng bên cạnh giường của Lãnh chúa.

“Tốt hơn nhiều rồi, cảm ơn cô,” ông lão nói, ngoác miệng cười với tôi, khoe trọn hàm răng giả. “Có muốn nhìn cảnh ta đi tiểu không?”

“Không phải bây giờ, cảm ơn,” tôi lịch sự đáp.

•••

Chúng tôi rời khỏi Beauly để đến hội họp với Charles Stuart và quân đội vùng cao nguyên vào một ngày quang đãng, lạnh giá giữa tháng Mười hai. Chống đối lại tất cả những lời khuyên nhủ, Charles đã tiến vào nước Anh, bất chấp thời tiết và lẽ thường, cũng như các tướng lĩnh của mình. Nhưng cuối cùng, ở Derby, các tướng đã thắng thế, các thủ lĩnh vùng cao từ chối tiến xa hơn nữa và quân đội vùng cao đang quay trở về hướng bắc. Một lá thư khẩn từ Charles gửi tới Jamie, thúc giục chúng tôi tiến về phía nam “không chậm trễ” để hội họp với Điện hạ khi cậu ta về tới Edinburgh. Simon Trẻ, trông chuẩn đến từng centimet với tư cách một thủ lĩnh thị tộc trong bộ đồ bằng vải kẻ ca rô đỏ sậm, dẫn đầu đoàn người của mình. Ngoài một nhóm cưỡi ngựa theo sau hắn thì còn một nhóm lớn hơn đi bộ phía sau.

Được cưỡi ngựa, chúng tôi đi cùng Simon ở đầu đoàn, cho tới khi đến Comar. Ở đó, chúng tôi sẽ tách khỏi đoàn, Simon và đội quân nhà Fraser tiếp tục đi tới Edinburgh, còn Jamie sẽ tháp tùng tôi về Lallybroch trước khi quay trở lại Edinburgh. Dĩ nhiên, anh không định quay lại nơi đó, nhưng đấy không phải chuyện Simon cần quan tâm.

Vào giữa buổi sáng, khi đi ra khỏi khóm rừng nhỏ bên đường, tôi phát hiện Jamie đang nôn nóng chờ đợi. Đội ngũ lên đường đã được phục vụ bia nóng như một lời động viên cho chuyến hành trình này, và trong khi bản thân tôi thấy bia nóng khiến bữa sáng ngon lành một cách đáng ngạc nhiên, tôi cũng nhận ra nó có ảnh hưởng rõ ràng lên thận.

Jamie cười khẩy. “Đúng là đàn bà,” anh nói. “Làm sao em có thể dùng từng đó thời gian để làm một việc đơn giản là đi tiểu nhỉ? Em quá chú ý đến việc đó y như ông nội anh vậy.”

“À, lần tới anh có thể đi cùng và quan sát xem,” tôi chua giọng gợi ý. “Có thể anh sẽ đưa ra được vài gợi ý hữu ích đấy.”

Anh lại chỉ cười khẩy lần nữa, quay ra sau để quan sát đoàn quân đang đi thành hàng, miệng vẫn cười. Ngày hôm đó, trời quang đãng, sáng sủa, kích thích tinh thần của mọi người, và Jamie có tâm trạng đặc biệt tốt. Không nghi ngờ gì nữa, chúng tôi sắp về nhà. Tôi biết anh không tự lừa dối bản thân rằng tất cả rồi sẽ tốt đẹp; cuộc chiến này sẽ có cái giá của nó. Nhưng dù chúng tôi thất bại trong việc ngăn chặn Charles, chúng tôi vẫn có thể cứu được một góc nhỏ của Scotland nằm gần sát với chúng tôi nhất - Lallybroch. Điều đó có lẽ vẫn còn nằm trong khả năng của chúng tôi.

Tôi liếc nhìn hàng quân trải dài.

“Hai trăm người đàn ông làm nên một màn trình diễn đẹp.”

“Một trăm bảy mươi,” Jamie thờ ơ đính chính, với lấy dây cương.

“Anh chắc chứ?” Tôi tò mò hỏi. “Lãnh chúa Lovat nói ông sẽ gửi hai trăm người mà. Em nghe ông ra lệnh viết trong lá thư như vậy.”

“À, ông không làm thế.” Jamie tung người lên yên ngựa, rồi đứng trên bàn đạp, chỉ xuống cái dốc phía trước tới một vị trí tít đằng xa, nơi cờ hiệu nhà Fraser cùng với gia huy hình đầu hươu dập dờn bay ở đầu hàng quân.

“Anh đã đếm số người trong khi đợi em,” anh giải thích. “Ba mươi kỵ binh đi đầu với Simon, sau đó là năm mươi người mang kiếm to bản và khiên nhỏ - đó là những người thuộc đội tuần phòng trong vùng - rồi đến những người nông dân, giắt theo bất cứ thứ gì mà họ có trên thắt lưng, từ cái liềm cho tới cây búa, họ có chín mươi người.”

“Em cho là ông anh hy vọng Hoàng tử Charles không đếm từng người bọn họ,” tôi mỉa mai bình luận. “Vậy nên mới nói khống lên như vậy.”

“Phải, nhưng tên của họ sẽ được ghi vào danh sách quân đội khi họ đến Edinburgh,” Jamie cau mày, nói. “Tốt nhất anh nên đi xem.”

Tôi bám theo sau một cách bình thản hơn. Tôi đoán con ngựa của mình phải xấp xỉ hai mươi tuổi, và nó chỉ có thể đi nước kiệu thong thả, chậm chạp. Còn con ngựa của Jamie thì sung sức hơn, mặc dù vẫn không sánh bằng Donas. Con ngựa đực to lớn ấy đã bị để lại Edinburgh vì Hoàng tử Charles muốn cưỡi nó vào những dịp xuất hiện trước công chúng. Jamie đã đồng ý với yêu cầu này, vì anh ngờ rằng Simon Già có thể chiếm đoạt con ngựa to lớn ấy làm của riêng.

Từ những hoạt cảnh bày ra trước mắt tôi lúc trước, nhận định của Jamie về cá tính của ông nội anh quả không sai chút nào. Jamie đang cưỡi ngựa đi song song với viên thư ký của Simon Trẻ, và nhìn từ vị trí của tôi, có vẻ như trận tranh cãi nóng bỏng đã kết thúc khi Jamie nghiêng người trên yên ngựa, tóm lấy dây cương của viên thư ký và kéo giật con ngựa của người đàn ông đang phẫn nộ đó ra khỏi hàng, lên tới bờ cỏ của con đường mòn lầy lội.

Hai người xuống ngựa và đứng đối mặt nhau, rõ ràng cuộc đối đầu đã đi đến mức dữ dội. Simon Trẻ, nhìn thấy cuộc cãi nhau đó, liền đánh ngựa sang bên đường và ra hiệu cho đoàn quân dừng lại. Mọi người đổ xô về phía đó; chúng tôi cuối cùng đã tới đủ gần để nhìn thấy mặt Simon đỏ hồng vì giận dữ, vẻ mặt của viên thư ký thì nhăn nhó lo lắng, và một loạt cử chỉ giận dữ từ phía Jamie.

Tôi say sưa quan sát màn kịch câm này khi viên thư ký nhún vai vẻ cam chịu, tháo cái túi treo trên yên ngựa, mò mẫm sâu trong túi và lấy ra vài tờ giấy da. Jamie giật lấy những tờ giấy này và lướt nhanh qua chúng, ngón trỏ lần theo các dòng chữ viết tay. Anh chộp lấy một tờ, thả rơi phần còn lại trên mặt đất, và lắc nó trước mặt Simon Fraser. Cáo Trẻ có vẻ sững sờ. Hắn đón lấy tờ giấy, nhìn vào nó rồi ngước lên vẻ hoang mang bối rối. Jamie giật lại tờ giấy và bất ngờ xé ngang xé dọc tờ giấy da dai nhách đó, rồi nhét những mảnh giấy vụn vào túi của anh.

Tôi đã dừng ngựa lại, nó tận dụng ngay giờ phút giải lao ấy để gí mũi sục sạo quanh những bụi cây còn sống nhưng xác xơ mà nó tìm được. Phần gáy của Simon Trẻ đỏ bừng khi quay trở về chỗ con ngựa của mình. Và tôi quyết định tránh thật xa. Jamie, lại lên ngựa, chạy nước kiệu trở lại ven đường chỗ tôi đứng, mái tóc đỏ tung bay như một ngọn cờ hiệu trong gió, hai mắt long lanh vì giận dữ, đôi môi mím chặt.

“Lão già bẩn tưởi,” anh nói chẳng cần mào đầu.

“Ông ta đã làm gì?” Tôi hỏi.

“Liệt kê tên người của anh trong danh sách của ông ta,” Jamie nói. “Coi bọn họ như một phần của đội quân nhà Fraser. Đồ mọt già keo bẩn!” Anh liếc lại phía sau, ngược lên con đường mòn với vẻ mong ngóng. “Tiếc là chúng ta đã đi từng ấy đường, đã quá xa để có thể quay lại và dần cho lão ăn mày ấy một trận.”

Tôi kháng cự lại cám dỗ muốn xúi giục Jamie gọi ông anh bằng nhiều cái tên khác nữa, thay vào đó bèn hỏi: “Tại sao ông ta lại làm thế? Chỉ để có vẻ như ông ta đang đóng góp nhiều hơn mức thực tế cho nhà Stuart à?”

Jamie gật đầu, cơn thủy triều giận dữ hơi dịu đi trên hai má anh.

“Đúng thế đấy! Khiến cho ông ta có vẻ hào phóng hơn mà không phải trả giá. Nhưng không chỉ có thế thôi đâu. Lão quái già xấu xa ấy còn muốn lấy lại đất của anh - ông ta đã muốn làm thế ngay từ lúc bị buộc phải từ bỏ nó khi cha mẹ anh kết hôn. Giờ đây, ông ta nghĩ nếu mọi việc ổn thỏa và ông ta trở thành Công tước Inverness, ông ta có thể tuyên bố Lallybroch cũng thuộc quyền sở hữu của ông ta và anh chỉ là tá điền của ông ta - bằng chứng là ông ta đã dâng lên những nguời đàn ông của vùng đất đó để đáp lại lời hiệu triệu của nhà Stuart với các thị tộc.”

“Chẳng lẽ ông ta có thể thực sự làm được trò đó ư?” Tôi nghi ngờ hỏi.

Jamie hít thật sâu rồi thở ra, đám hơi nước bốc lên giống như khói rồng phun ra từ hai cánh mũi của anh. Anh cười một cách dứt khoát và vỗ vỗ lên cái túi đeo ở thắt lưng.

“Không, bây giờ thì ông ta không thể làm được nữa,” anh nói.

•••

Hành trình từ Beauly tới Lallybroch chỉ mất hai ngày nếu thời tiết tốt, ngựa khỏe và đường đất khô ráo, và chỉ dừng lại để làm những việc tối cần thiết như ăn, ngủ và vệ sinh cá nhân. Nhưng vì một con ngựa đã bị khập khiễng khi ra khỏi Beauly sáu dặm, trời đổ tuyết và mưa, gió thổi trở lại, mặt đất lầy lội đông cứng thành từng mảng băng trơn trượt, rồi hết chuyện này đến chuyện khác, cuối cùng mất gần một tuần lễ chúng tôi mới xuống được con dốc cuối cùng dẫn tới nông trại ở Lallybroch - lạnh giá, mệt mỏi, đói ngấu và cực kỳ kém vệ sinh.

Chúng tôi chỉ còn lại hai người. Murtagh đã được cử đến Edinburgh với Simon Trẻ và đội quân của Beaufort để đánh giá tình hình của quân đội vùng cao.

Ngôi nhà chính đứng vững chãi giữa các ngôi nhà phụ, trắng toát y như những cánh đồng vằn vện tuyết xung quanh. Tôi nhớ như in những cảm xúc của mình khi lần đầu tiên nhìn thấy nơi này, mặc dù lúc đó nó nằm dưới ánh vàng rực rỡ của một ngày mùa thu đẹp trời chứ không phải giữa màn gió tuyết lạnh buốt, nhưng dường như nó vẫn là một nơi trú ẩn đầy chào đón. Ấn tượng về sức mạnh và sự bình yên của ngôi nhà lúc này càng tăng thêm nhờ ánh đèn ấm áp hắt qua những ô cửa sổ thấp, thứ màu vàng êm ái trong sắc xám đậm của buổi chiều tối.

Cảm giác chào đón thậm chí còn trở nên mạnh mẽ hơn khi tôi bám theo Jamie qua cửa trước, mùi thơm ngào ngạt của thịt nướng và bánh mỳ mới làm khiến người ta thèm nhỏ dãi.

“Bữa tối,” Jamie nói, nhắm mắt lại trong dáng vẻ sung sướng ngất ngây khi hít hà mùi thơm nức mũi ấy. “Chúa ơi, anh có thể ăn hết cả một con ngựa.” Băng tan chảy nhỏ giọt xuống từ viền áo khoác của anh, tạo thành những vết ướt trên sàn nhà gỗ.

“Em đã nghĩ chúng ta sẽ phải ăn thịt ngựa thật cơ đấy,” tôi bình luận, tháo dây buộc áo choàng và giũ tuyết tan bám trên tóc. “Con vật tội nghiệp mà anh đã mua ở Kirkinmill chỉ còn đi tập tễnh được thôi.”

Tiếng nói chuyện của chúng tôi vẳng vào qua hành lang và một cánh cửa phía trên đầu mở ra, theo sau là tiếng chân chạy rầm rập và tiếng reo vui sướng khi nhóc Jamie phát hiện người trùng tên với mình đang ở dưới nhà.

“Thật tuyệt khi được thấy em, em thân yêu!” Jenny nói đến lần thứ ba, kiễng chân lên để hôn Jamie. “Bọn chị đã nghe tin về quân đội và sợ là vài tháng nữa em mới về nhà.”

“Đúng thế,” Ian nói, “em có mang người về cùng không, hay đây chỉ là một chuyến thăm nhà?”

“Mang họ về ư?” Bị giam hãm trong vòng tay chào đón của cô cháu gái lớn, Jamie nhìn chằm chằm vào anh rể, nhất thời quên mất cô gái nhỏ trên tay mình. Sực nhận ra sự hiện diện của cô bé khi bị nó kéo tóc, Jamie lơ đãng hôn cô bé và đưa nó cho tôi.

“Ý anh là gì, Ian?” Anh hỏi. “Người của chúng ta phải trở về từ một tháng trước rồi chứ? Một số người không trở về nhà ư?”

Tôi ôm Maggie bé nhỏ chặt hơn, và một linh tính đáng sợ ập đến khi tôi quan sát nụ cười nhạt dần trên gương mặt Ian.

“Không người nào trở về cả, Jamie,” anh chậm rãi nói, khuôn mặt dài, hài hước đột nhiên phản chiếu nét u buồn đang hiện lên trên mặt Jamie. “Bọn anh không thấy tăm hơi của bất cứ người nào, kể từ khi họ hành quân ra đi cùng em.”

Có một tiếng hét từ sân trước, nơi Rabbie MacNab đang nhốt những con ngựa vào chuồng. Jamie quay ngoắt sang và mở cửa, ngó nhìn ra cơn bão.

Qua vai anh, tôi trông thấy một người cưỡi ngựa đang phóng tới xuyên qua màn gió tuyết. Tầm nhìn không rõ nên không nhận ra được khuôn mặt, nhưng vóc người nhỏ con, dẻo dai đang bám chặt vào yên ngựa như con khỉ ấy thì không thể nhầm được. “Nhanh như tia chớp,” Jamie đã nói thế và rõ ràng anh đã đúng; để đi từ Beauly tới Edinburgh rồi lại tới Lallybroch trong vòng một tuần quả là một kỳ tích thực sự về khả năng chịu đựng. Người kỵ sĩ đang đến là Murtagh, không cần đến tài tiên tri của Maisri, chúng tôi cũng biết tin tức ông mang đến là rất xấu.

[1] Amedeo Clemente Modigliani (1884-1920): là một nghệ sĩ người Italia, họa sĩ kiêm nhà điêu khắc. Ông có một phong cách hội họa chuyên vẽ chân dung người rất khác lạ.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.