Vào sáng hôm sau thì máu ngừng chảy. Tôi ngồi dậy thật chậm rãi và nhận ra mọi thứ vẫn ổn thỏa. Nhưng đã tới lúc tôi phải dừng công việc tại nhà thương Des Anges. Tôi liền sai Fergus chuyển bức thư ngắn giải thích và xin lỗi đến Mẹ Hildegarde. Cậu nhóc quay trở về cùng lời cầu nguyện, những lời chúc tốt đẹp và một chai thuốc màu nâu. Theo như tờ giấy nhắn đi kèm thì đây được cho là thuốc của les maîtresses sage-femme để ngăn ngừa sẩy thai. Sau vụ thuốc bôi của ông Forez, tôi càng thêm nghi ngờ tất cả những loại thuốc không phải tự mình điều chế. Tuy nhiên, khi ngửi mùi thật kĩ, tôi cam đoan với bản thân rằng ít nhất các thành phần trong thuốc này chỉ là thực vật.
Sau một hồi do dự, tôi liền uống một thìa đầy. Dung dịch này có vị đắng và để lại cảm giác ghê miệng, nhưng chỉ cần làm việc nhẹ nhàng - thậm chí những việc tôi cho là vô dụng - cũng giúp tôi cảm thấy khá hơn. Giờ thì tôi dùng phần lớn thời gian của một ngày để nằm trên ghế trong phòng, đọc sách, gà gật, khâu vá hoặc đơn giản là nhìn chằm chằm vào khoảng không, hai tay đặt trên bụng.
Đó là khi tôi ở một mình. Còn lúc Jamie ở nhà, anh dành phần lớn thời gian bên tôi, nói chuyện công việc trong ngày hoặc thảo luận về những bức thư mới nhất của phái Jacobite gửi đến. Có vẻ Vua James đã nghe tin về dự định đầu tư vào rượu vang của con trai và hết lòng ủng hộ “… một kế hoạch hoàn chỉnh, ta chẳng còn gì để nói ngoài việc cảm thấy toại nguyện vì đã tiến được một bước dài trong việc cung cấp nguồn lực cho con, đồng thời ước mong được thấy con ổn định tại Pháp.”
“Vậy James nghĩ mục đích của chỗ tiền đó chỉ đơn thuần là để xây dựng hình tượng Charles như một quý ông và trao cho cậu ta địa vị tại đây,” tôi nói. “Anh nghĩ đó là tất cả những gì ông ta có trong đầu à? Louise đã ở đây chiều nay. Cô ấy kể rằng Charles khăng khăng đòi gặp mặt cô ấy vào tuần trước dù ban đầu cô ấy đã từ chối. Cô ấy kể Charles rất phấn khởi, dương dương tự đắc về chuyện gì đó, nhưng cậu ta không chịu kể; chỉ ám chỉ về chuyện lớn sắp thực hiện được. Cậu ta nói đó là “một cuộc mạo hiểm vĩ đại”. Nghe không giống một vụ đầu tư đơn thuần, đúng không?”
“Đúng vậy.” Jamie đăm chiêu suy nghĩ.
“Hừm,” tôi nói tiếp. “Sau khi xâu chuỗi mọi việc, em cá rằng Charles sẽ không chịu ngồi yên sau khi đã có lợi nhuận từ thương vụ mạo hiểm này và trở thành một thương gia đứng vững chân tại Paris.”
“Nếu là đánh cược, anh sẽ đặt cái bít tất cuối cùng cho nó,” Jamie nói. “Bây giờ, vấn đề là làm thế nào để ngăn cản cậu ta?”
•••
Câu trả lời đến sau đó vài ngày, khi hàng loạt cuộc tranh luận cũng như đề xuất vô ích được đưa ra. Hôm ấy, Murtagh mang về cho tôi mấy súc vải từ bến cảng, ông ở trong phòng ngủ cùng chúng tôi.
“Họ đồn rằng Bồ Đào Nha đã bùng phát dịch đậu mùa,” ông quăng súc lụa có vân đắt tiền lên giường như quăng một đống vải bao bố dùng rồi. “Một con thuyền chở sắt đến từ Lisbon đã cập bến vào sáng nay. Đích thân quản lý bến cảng cùng ba phụ tá đã rà soát nó kĩ lưỡng. Tuy nhiên, không phát hiện được gì.” Murtagh trông thấy chai rượu brandy trên bàn, liền rót ra phân nửa cốc vại, cầm lên uống từng ngụm lớn như uống nước lọc. Tôi há hốc mồm quan sát màn trình diễn trước mặt và chỉ quay trở về thực tế khi nghe thấy Jamie kêu lên.
“Bệnh đậu mùa ư?”
“Phải,” Murtagh tạm ngừng uống, đáp. “Đậu mùa.” Và ông lại nâng ly, tiếp tục phương pháp giải khát của mình.
“Đậu mùa,” Jamie lẩm bẩm một mình. “Đậu mùa.”
Dần dà, vẻ giận dữ không còn trên khuôn mặt anh và nếp nhăn giữa hai lông mày cũng biến mất, thay vào đó là một vẻ trầm mặc suy tư. Anh ngả người ra ghế, hai bàn tay kê sau gáy, ánh mắt dán chặt vào Murtagh, khuôn miệng dãn ra như đang mỉm cười.
Murtagh nhẫn nhịn quan sát quá trình trên, trong lòng hoài nghi vô cùng. Ông uống cạn cốc, chầm chậm khom lưng ngồi xuống ghế, trong khi Jamie nhảy bật dậy và bắt đầu đi vòng quanh người tộc viên nhỏ bé, miệng huýt sáo chẳng theo giai điệu nào.
“Em hiểu rằng anh đã có ý tưởng?” Tôi hỏi.
“Ồ, phải,” anh đáp và bắt đầu cười với chính mình. “Ồ, phải, anh có một ý tưởng.”
Anh quay lại nhìn tôi, ánh mắt sáng lên vừa tinh quái vừa đầy cảm hứng.
“Em có thứ gì trong hộp thuốc có thể làm cho một người phát sốt? Bị kiết lỵ? Hoặc nổi mụn không?”
“Ừm, có,” tôi từ tốn vừa đáp vừa suy nghĩ. “Có lá hương thảo. Hoặc ớt cayenne. Và vỏ cây cascara, tất nhiên, dùng để gây tiêu chảy. Tại sao chứ?”
Anh toe toét nhìn Murtagh, rồi cười khúc khích vì quá hào hứng với ý tưởng này, sau đó đánh rối mái tóc của ông bạn già, khiến chúng mắc vào nhau và dựng đứng lên. Murtagh trừng mắt nhìn anh, vẻ mặt của ông rất giống con khỉ cưng của Louise.
“Nghe này,” Jamie nói, cúi người vẻ bí ẩn. “Nếu như con thuyền của Bá tước St. Germain quay về từ Bồ Đào Nha cùng bệnh đậu mùa thì sao?”
Tôi nhìn anh chằm chằm. “Anh mất trí sao?” Rồi tôi lễ độ hỏi. “Nếu vậy thì sao?”
“Nếu thế,” Murtagh cắt ngang, “họ sẽ mất hàng hóa. Theo luật, chúng sẽ bị đốt hoặc bị chất đống ở bến cảng.” Một tia thích thú lóe lên trong đôi mắt đen bé nhỏ. “Vậy cháu định làm thế nào, chàng trai?”
Vẻ hồ hởi của Jamie nhanh chóng biến mất, dù ánh sáng trong mắt vẫn còn nguyên.
“Chà,” anh thú nhận. “Cháu chưa nghĩ đầy đủ toàn bộ kế hoạch, nhưng để bắt đầu thì…”
Sau vài ngày bàn bạc và nghiên cứu nhằm hoàn thiện tốt hơn, cuối cùng kế hoạch đã được định rõ. Vỏ cây cascara gây kiết lỵ bị loại bỏ khỏi kế hoạch bởi tác động quá yếu. Song tôi cũng tìm thấy một số món thay thế trong cuốn sách về thảo mộc mà ông chủ Raymond đã cho mượn.
Murtagh, được trang bị một túi nhỏ chứa đầy những tinh chất lá hương thảo, nước ép cây tầm ma và rễ cây thiên thảo, sẽ lên đường vào cuối tuần, tới Lisbon. Tại đó, ông sẽ tán chuyện ở các quán rượu của đám thủy thủ, tìm ra con thuyền được Bá tước St. Germain thuê và dàn xếp để lên thuyền, đồng thời gửi tên thuyền cùng thời gian cập bến về Paris.
“Không, chuyện này là bình thường,” Jamie trả lời khi tôi hỏi liệu thuyền trưởng có nghi ngờ hay không. “Hầu hết các con thuyền chở hàng đều mang theo một ít hành khách, nhiều người trong số họ phải nằm chen chúc trên sàn. Nhưng Murtagh có đủ tiền để được chào đón, thậm chí họ có thể dành cho ông ấy buồng của thuyền trưởng.” Anh vẫy một ngón tay cảnh cáo Murtagh.
“Hãy lấy một buồng, bác nghe rõ chứ? Cháu không bận tâm giá cả. Bác cần không gian riêng tư để lấy thảo mộc ra và nếu bác chỉ nhận được một cái võng mắc dưới đáy thuyền thì chúng cháu không muốn có người trông thấy.” Anh quan sát người cha đỡ đầu bằng ánh mắt phê bình. “Bác có áo khoác tươm tất chứ? Nếu bác bước lên thuyền mà trông như ăn mày thì họ sẽ ném bác ra khỏi bến cảng trước khi kịp nhìn thấy cái túi tiền rủng rỉnh kia.”
“Ừm,” Murtagh đáp. Người tộc viên nhỏ bé thường ít đóng góp cho buổi thảo luận, nhưng lời ông nói lại có sức thuyết phục và trúng trọng tâm. “Vậy khi nào bác dùng đến món đồ này?” Ông hỏi.
Tôi lôi ra một mảnh giấy, trên đó có ghi hướng dẫn sử dụng và liều lượng.
“Hai thìa thiên thảo - là cái này,” tôi gõ lên cái chai nhỏ làm bằng thủy tinh trong suốt đựng đầy dung dịch màu hồng sậm, “uống bốn tiếng, trước lúc ông biểu hiện các triệu chứng của mình. Sau liều đầu tiên thì mỗi hai tiếng, hãy uống thêm một thìa - chúng ta không biết được ông phải giả bệnh bao lâu.”
Tôi đưa cho ông lọ thuốc thứ hai bằng thủy tinh màu xanh lục đựng thứ dung dịch màu tía ngả sang đen. “Đây là tinh chất cô đặc của lá cây hương thảo. Cái này có tác dụng nhanh hơn. Trước khi ông định xuất đầu lộ diện độ nửa tiếng thì uống một phần tư lọ; trong khoảng thời gian này, ông bắt đầu đỏ bừng bừng, nhưng rất nhanh hết tác dụng, nên ông cần kín đáo uống thêm.” Tôi lấy ra một lọ khác nhỏ hơn từ hộp thuốc của mình. “Và ngay khi ông bước sang giai đoạn “sốt” thì có thể xoa nước ép cây tầm ma lên hai cánh tay cùng khuôn mặt, da sẽ nổi những nốt phồng rộp. Ông có muốn giữ tờ hướng dẫn này không?”
Ông lắc đầu dứt khoát. “Không, tôi sẽ nhớ thôi. Nếu bị phát hiện cùng tờ giấy này thì còn nguy hiểm hơn là quên mất liều lượng sử dụng.”
Ông quay sang Jamie.
“Và cháu sẽ đón con thuyền tại Orvieto chứ, chàng trai?”
Jamie gật đầu. “Phải. Thuyền chắc chắn sẽ cập bến ở đó, tất cả những người chở rượu đều đến đó để lấy nước sạch. Nếu con thuyền không cập bến…” Anh nhún vai. “Cháu sẽ thuê một con thuyền và cố gắng đuổi kịp nó. Miễn là cháu lên được thuyền trước khi chúng ta đến Le Havre thì mọi chuyện sẽ ổn thỏa, nhưng tốt nhất là làm mọi việc khi chúng ta vẫn gần bờ biển Tây Ban Nha. Cháu không định ở trên biển lâu hơn mức cần thiết.” Anh hất cằm về phía cái chai trong tay Murtagh.
“Tốt nhất, bác nên đợi đến khi thấy cháu lên boong. Không có nhân chứng thì thuyền trưởng có thể đưa ra giải pháp đơn giản là chuyển bác xuống đuôi thuyền vào buổi tối.”
Murtagh lẩm bẩm. “Phải, cứ thử xem!” Ông chạm vào cán con dao găm và khẽ nhấn mạnh từ “thử” để biểu hiện ý mỉa mai.
Jamie cau mày nhìn ông. “Đừng quên! Lúc đấy, bác đang nhiễm bệnh đậu mùa. Nếu may mắn, họ sẽ sợ phải chạm vào bác, nhưng đề phòng… hãy đợi tới lúc cháu ở trong tầm có thể can thiệp và chúng ta đã ở xa đất liền.”
“Ừm.”
Tôi nhìn từ người này sang người kia. Câu chuyện quá gượng gạo, thật không thể tin rằng nó sẽ hiệu quả. Nếu thuyền trưởng của con thuyền bị thuyết phục rằng một hành khách của ông ta nhiễm bệnh đậu mùa, ông ta sẽ rơi vào hoàn cảnh không thể đưa thuyền cập bến cảng ở Le Havre, bởi những quy định giới hạn về sức khỏe tại đây sẽ yêu cầu tiêu hủy nó. Ông ta phải đối mặt với hoàn cảnh buộc phải quay thuyền về Lisbon và mất toàn bộ kinh phí dùng cho chuyến đi, hoặc ở lại Orvieto hai tuần trong lúc gửi tin tới Paris, rất có khả năng ông ta sẽ chấp nhận biện pháp thay thế là bán hàng hóa cho thương nhân người Scotland giàu có vừa lên thuyền.
Khả năng nhập vai của người mắc bệnh đậu mùa là yếu tố quyết định của trò lừa đảo này. Jamie đã tình nguyện làm chuột thí nghiệm cho chỗ thảo dược này và chúng mang đến hiệu quả tuyệt vời. Làn da của anh chuyển màu đỏ sậm chỉ trong vòng vài phút, nước ép cây tầm ma khiến da anh phồng rộp ngay tức khắc, có thể dễ dàng khiến tay bác sĩ trên thuyền hoặc ông thuyền trưởng đang hoảng sợ nhìn lầm chúng là những nốt đậu mùa. Và nếu còn chút nghi ngờ nào thì nước tiểu bị tinh chất thiên thảo nhuộm màu sẽ tạo nên hiệu quả y hệt như một người tiểu ra máu khi bệnh đậu mùa tấn công đến thận.
“Chúa ơi!” Jamie giật mình kêu lên, dù chính bản thân là người đầu tiên chứng minh hiệu quả của thảo dược.
“Ồ, tốt quá!” Qua vai anh, tôi liếc cái bô sứ trắng đặt trong phòng ngủ cùng thứ nước đỏ thẫm đựng bên trong. “Tốt hơn em mong đợi.”
“Ồ, vậy sao? Mất bao lâu thì nó hết màu?” Jamie hỏi, ngó xuống đầy lo lắng.
“Vài giờ, em nghĩ vậy,” tôi nói. “Sao chứ? Cảm thấy kỳ quặc à?”
“Chính xác là không,” anh xoa xoa và đáp. “Hơi ngứa một chút.”
“Không phải tại thảo mộc đâu,” Murtagh nói vẻ nghiêm túc. “Đây là tình trạng bình thuờng của một chàng trai vào tuổi cháu.”
Jamie cười toe toét nhìn cha đỡ đầu của mình. “Bác hồi tưởng về ngày xưa, phải không?”
“Xưa hơn cả lúc cháu sinh ra và biết nghĩ, chàng trai ạ,” Murtagh lắc đầu, đáp.
Lúc này, người tộc viên nhỏ bé sắp xếp các chai nhỏ vào chiếc túi to của mình, bọc từng cái một thật cẩn thận trong những miếng da mềm để tránh làm vỡ.
“Bác sẽ gửi tin về con thuyền cùng thời gian khởi hành chừng nào có thể. Và bác sẽ gặp cháu trong vòng một tháng tại Tây Ban Nha. Trước đó cháu sẽ có được đủ tiền chứ?”
Jamie gật đầu. “Ồ, phải rồi. Cháu nghĩ khoảng tuần sau.” Công việc buôn bán của Jared đã phát triển thịnh vượng dưới sự quản lý của Jamie, nhưng tiền dự trữ không đủ để mua lại toàn bộ chuyến hàng rượu poóc-tô, trong khi vẫn phải thực hiện những giao phó từ thị tộc Fraser. Dù vậy, những ván cờ vua đã sinh lợi nhiều mặt, ông Duverney con, một chủ ngân hàng nổi tiếng, đã tự nguyện cam kết cho người bạn của cha mình vay một khoản tiền khá lớn.
“Điều đáng tiếc là chúng ta không thể mang nó vào Paris,” Jamie nhận xét suốt thời gian lập kế hoạch, “St. Germain chắc chắn sẽ tìm ra nó. Anh nghĩ tốt nhất chúng ta nên bán qua một người môi giới ở Tây Ban Nha. Anh biết một người môi giới tốt ở Bilbao. Tuy khoản lợi nhuận thu được nhỏ hơn bán ở Pháp và thuế cũng cao hơn nhưng chúng ta không thể đạt được mọi thứ hoàn mỹ, phải không nào?”
“Em sẽ giải quyết việc trả tiền cho Duverney,” tôi nói. “Mà nhân nói về các khoản vay, ông Manzetti sẽ làm gì với khoản tiền ông ta cho Charles Stuart vay?”
“Không còn trông mong gì,” Jamie vui vẻ nói. “Và chuyện này sẽ phá hủy danh tiếng của nhà Stuart trong lòng mọi ông chủ nhà băng trên toàn lục địa này.”
“Có vẻ sẽ khó khăn đối với ông Manzetti tội nghiệp,” tôi nhận xét.
“Ái chà! Theo lời bà anh từng nói, em không thể làm món trứng ốp lết nếu không đập vỡ quả trứng.”
“Anh không có bà mà,” tôi nói thẳng.
“Đúng vậy,” anh thừa nhận, “nhưng nếu anh có thì bà sẽ nói vậy.” Rồi ngay tức thì anh thôi đùa cợt. “Chuyện này rất không công bằng đối với nhà Stuart. Thực ra, các thủ lĩnh người Scot nên biết chuyện này do anh làm. Anh mong họ sẽ gọi nó là sự phản bội và họ đã đúng.” Anh dụi lông mày, lắc đầu, tôi trông thấy sự nghiêm túc tột cùng đằng sau vẻ khôi hài của anh.
“Điều đó không thể tránh khỏi, Sassenach ạ. Nếu em nói đúng - và anh đặt cược mạng mình vào đó - thì nó là chuyện lựa chọn giữa tham vọng của Charles Stuart và mạng sống của rất nhiều người Scot. Anh không yêu quý Vua Geordie - anh ư, với cái đầu bị treo giá này sao? - nhưng anh thấy mình không thể làm gì khác.”
Anh cau mày, đưa một tay lên vuốt tóc, thói quen mỗi khi anh suy nghĩ hay buồn phiền. “Nếu có một cơ hội để Charles thành công… chà, mọi chuyện sẽ khác. Chấp nhận hiểm nguy vì một sự nghiệp danh giá - nhưng lịch sử của em nói rằng cậu ta không thành công và anh phải thừa nhận, dựa trên những gì anh biết về người đàn ông này thì có vẻ em nói đúng. Dân tộc của anh và gia đình anh đang lâm nguy, nếu cái giá cho mạng sống của họ là tiền của ngân hàng… Chà, nó có vẻ không hơn gì một sự hy sinh thanh danh của chính anh.”
Anh nhún vai, vừa tuyệt vọng vừa hóm hỉnh. “Vậy là anh đã tiến một bước, từ lấy trộm thư của Điện hạ đến cướp nhà băng và cướp trên biển lớn, có vẻ chẳng còn lựa chọn nào khác.”
Anh im lặng một lát, nhìn xuống đôi bàn tay đang siết chặt trên bàn. Sau đó, anh quay đầu nhìn tôi và mỉm cười.
“Hồi còn là một đứa trẻ, anh luôn muốn làm cướp biển,” anh nói. “Đáng tiếc, anh không thể đeo đoản kiếm.”
•••
Tôi nằm trên giường, đầu và hai vai tựa trên gối, đôi tay ôm lấy bụng, ngẫm nghĩ. Từ lúc có dấu hiệu đầu tiên, tôi chảy máu rất ít và cảm thấy khỏe mạnh. Nhưng bất kỳ dạng chảy máu nào vào giai đoạn này đều đáng báo động. Tôi âm thầm lo lắng nếu tình trạng nguy cấp tái diễn trong thời gian Jamie đi Tây Ban Nha thì sao, nhưng khả năng này quá thấp để đặt nặng lo lắng. Anh phải đi, có quá nhiều vấn đề trọng yếu liên quan tới lô hàng này và không một nỗi lo cá nhân nào được phép xen vào. Nếu mọi việc thuận buồm xuôi gió thì anh sẽ trở về an toàn trước khi đứa bé chào đời.
Và như thế, tất cả những băn khoăn cá nhân đều được đặt sang bên, dù có nguy hiểm hay không. Charles chẳng kìm nổi phấn khích đã kể với Jamie rằng cậu ta sẽ sớm cần đến hai con thuyền - có thể còn nhiều hơn - và hỏi lời khuyên của anh về thiết kế thân thuyền cũng như giá đỡ đại bác đặt trên đó. Những bức thư của cha cậu ta vừa được gửi tới từ Rome đã tỏ giọng điệu có phần thắc mắc về lựa chọn của con trai - với cái mũi nhạy bén của dòng họ Bourbon, James Stuart đánh hơi thấy một con chuột phản bội, nhưng rõ ràng chưa biết nó ở đâu. Sau khi nghiên cứu bức thư được mã hóa, Jamie nghĩ có khả năng Vua Philip của Tây Ban Nha chưa từng nhắc đến lời đề nghị của Charles, hay mong muốn của Giáo hoàng, nhưng James Stuart có gián điệp riêng.
Một lát sau, tôi nhận ra tư thế của Jamie thay đổi. Tôi liếc anh và phát hiện dù vẫn giữ một cuốn sách mở trên đầu gối nhưng anh đã ngừng lật trang - hay thậm chí nhìn vào nó. Thay vào đó, đôi mắt của anh khóa chặt vào tôi, hay chính xác hơn là vào một điểm, nơi chiếc áo choàng ngủ hé mở, thấp hơn vài phân so với điểm nhìn của một ánh mắt đứng đắn, nhưng sự đứng đắn dường như không cần thiết khi ở trên giường cùng chồng mình.
Cái nhìn chăm chú của anh thật khó hiểu, đôi mắt xanh thẫm chất chứa nỗi khát khao. Và tôi nhận ra, nếu không phải quy định xã hội thì ít nhất sự đứng đắn khi ở trên giường cùng chồng là để thận trọng, trong nhiều hoàn cảnh. Tất nhiên, có thể chọn một trong hai.
Jamie chợt bắt gặp tôi đang quan sát, anh đỏ mặt, hấp tấp quay đầu, giả bộ rất tập trung vào cuốn sách. Tôi liền nghiêng người, đặt bàn tay lên đùi anh.
“Cuốn sách thú vị chứ?” Tôi hỏi, đưa tay vuốt ve.
“Ừm. Ừ, phải.” Khuôn mặt càng đỏ hơn trước, nhưng anh không dời mắt khỏi cuốn sách.
Tôi cười tươi, đưa tay xuống dưới tấm chăn. Ngay lập tức, anh đánh rơi cuốn sách.
“Sassenach!” Anh kêu lên. “Em biết em không thể…”
“Vâng,” tôi đáp, “nhưng anh có thể. Hay đúng hơn là em có thể làm cho anh.”
Anh kiên quyết gỡ bàn tay ra và trả nó về chỗ tôi.
“Không, Sassenach. Không đúng đâu.”
“Không ư?” Tôi ngạc nhiên. “Tại sao không?”
Anh tỏ ra lúng túng, lảng tránh ánh mắt tôi.
“Thì, anh… anh sẽ cảm thấy không đúng, Sassenach ạ. Được em trao cho sự sung sướng nhưng không thể đáp lại… thì anh sẽ cảm thấy không đúng, thế đó.”
Tôi bật cười ha hả, gối đầu lên đùi anh.
“Jamie ơi, anh nói ngọt ngào quá!”
“Anh không ngọt ngào,” anh bực mình nói. “Anh không phải kẻ ích kỷ như thế. Claire này, dừng lại đi!”
“Anh định đợi vài tháng nữa ư?” Tôi hỏi, vẫn không dừng lại.
“Anh có thể,” anh đáp với vẻ nghiêm túc nhất trong hoàn cảnh này. “Anh đã đợi h-hai mươi hai năm và anh có thể…”
“Không, anh không thể,” tôi đáp, kéo tấm chăn ra, ngắm nhìn khối hình hiện rõ bên trong áo ngủ của anh. Tôi chạm vào nó và nó nhúc nhích, háo hức cọ vào tay tôi. “Dù Chúa muốn anh là gì, Jamie Fraser, thì cũng không phải là thầy tu.”
Tôi dứt khoát kéo áo anh lên.
“Nhưng...” Anh ấp úng.
“Hai chọi một,” tôi nói và cúi xuống. “Anh thua.”
•••
Mấy ngày sau đó, Jamie bận rộn chuẩn bị để công việc kinh doanh rượu có thể tự vận hành khi anh vắng mặt. Mặc dù vậy, hầu như ngày nào anh cũng dành một khoảng thời gian ngắn đến ngồi cùng tôi sau bữa trưa, vì vậy lúc vị khách đó tới, anh đang ở bên tôi. Khách khứa là điều không phải hiếm thấy ở ngôi nhà này; Louise thường đến thăm tôi cách nhật, để nói chuyện về việc mang thai và than vãn về mối tình đánh mất của mình - thế nhưng, tôi cho rằng cô ấy thích Charles khi từ bỏ tước vị quý tộc hơn một Charles người tình rất nhiều. Cô ấy đã hứa sẽ mang cho tôi ít mứt kẹo Thổ Nhĩ Kỳ nên tôi đã chờ khuôn mặt phúng phính hồng hào ấy ngó trộm qua cánh cửa.
Nhưng ngoài sự mong đợi của tôi, vị khách là ông Forez. Đích thân Magnus dẫn ông ta vào phòng khách, rồi nhận mũ và áo choàng không tay với vẻ sùng kính mê tín.
Jamie cũng ngạc nhiên vì chuyến viếng thăm này, nhưng anh vẫn đứng lên chào người đao phủ một cách lịch sự và mời ông ta đồ uống.
“Theo nguyên tắc, tôi không uống rượu mạnh.” Ông Forez mỉm cười, nói. “Nhưng tôi sẽ không xúc phạm lòng mến khách của người bạn đồng nghiệp quý mến.” Ông ta cúi đầu khách sáo về phía cái ghế nằm tôi đang tựa. “Tôi tin rằng bà vẫn khỏe, thưa phu nhân Fraser?”
“Vâng,” tôi thận trọng đáp. “Cảm ơn ông.” Tôi tự hỏi không biết mình mắc nợ ai để có vinh dự nhận được chuyến viếng thăm này. Tuy ông Forez thích thú tận hưởng uy thế lớn lao cùng sự giàu có xứng đáng với những nhiệm vụ do chính quyền giao phó, nhưng tôi nghĩ ông ta sẽ không nhận được nhiều lời mời dùng bữa tối, vì tính chất công việc. Đột nhiên tôi thắc mắc, liệu người đao phủ này có đời sống xã hội hay không.
Ông ta bước ngang qua căn phòng, đặt một gói nhỏ lên chiếc ghế bên cạnh tôi, giống như chim bố mang bữa tối về cho chim non. Bởi trong đầu vẫn nghĩ về mỡ của người chết treo nên tôi cẩn thận cầm gói đồ lên, ước lượng sức nặng của nó trong bàn tay; nhẹ hơn vẻ bề ngoài và có thoang thoảng mùi của chất làm se.
“Một món quà kỷ niệm của Mẹ Hildegarde,” ông ta giải thích. “Theo tôi hiểu thì nó là thứ thuốc ưa thích của les maîtresses sage-femme. Bà ấy cũng viết cả hướng dẫn sử dụng.” Ông ta lôi ra một tờ giấy gấp kín và trao cho tôi.
Tôi hít hà cái gói. Lá cây mâm xôi và cỏ tai hùm; cùng một mùi khác tôi không nhận ra. Tôi hy vọng Mẹ Hildegarde cũng viết cả danh sách thành phần nguyên liệu.
“Làm ơn gửi lời cảm ơn của tôi đến Mẹ Hildegarde,” tôi nói. “Mọi người ở bệnh viện thế nào?” Tôi rất nhớ công việc cũng như các xơ và các y sĩ tại đó. Chúng tôi ngồi tán chuyện về bệnh viện và các nhân viên một lúc, thi thoảng Jamie có đóng góp nhận xét, nhưng phần lớn thời gian, anh chỉ lắng nghe và mỉm cười lịch sự, hoặc chúi mũi vào cốc rượu khi chủ đề chuyển sang việc điều trị.
“Tiếc quá,” tôi buồn rầu kêu lên khi ông Forez kết thúc việc miêu tả ca mổ xương vai bị vỡ. “Tôi chưa bao giờ quan sát ca này. Tôi nhớ công việc phẫu thuật quá!”
“Phải, tôi sẽ nhớ nó như bà.” Ông Forez gật đầu, uống một ngụm rượu nhỏ. Nhưng cái cốc vẫn còn hơn phân nửa; hình như ông ta không nói đùa về chuyện tránh uống rượu mạnh.
“Ông sẽ rời Paris sao?” Jamie ngạc nhiên thốt lên.
Ông Forez nhún vai, các nếp gấp trên chiếc áo khoác dài kêu sột soạt như tiếng lông vũ.
“Chỉ một thời gian thôi,” ông ta đáp. “Tôi sẽ đi ít nhất hai tháng. Vì thế thưa bà,” ông ta cúi đầu về phía tôi thêm lần nữa, “đó là lý do chính cho chuyến viếng thăm ngày hôm nay.”
“Vậy là?”
“Vâng. Tôi sẽ đến nước Anh như bà đã biết và tôi chợt nảy ra suy nghĩ, giả như bà muốn, thưa phu nhân, sẽ chẳng còn gì dễ dàng hơn nếu để tôi mang theo những lời nhắn của bà. Nói rõ hơn thì chắc chắn bà muốn liên lạc với một vài người,” ông ta thêm vào, theo kiểu chính xác thường thấy.
Tôi liếc Jamie, gương mặt anh đột nhiên biến đổi, từ biểu hiện cởi mở lịch sự sang chiếc mặt nạ mỉm cười dịu dàng, che giấu mọi suy nghĩ bên trong. Một người lạ có thể không chú ý điểm khác biệt ấy, nhưng tôi thì có.
“Không,” tôi đáp. “Tôi không có bạn hay người thân tại nước Anh; tôi e rằng mình chẳng có mối liên hệ nào với nơi đó, từ khi tôi… góa chồng.” Tôi cảm thấy cơn đau nhói thường xuất hiện mỗi khi nhắc đến Frank nên cố gắng kìm nén nó.
Nếu ông Forez có thấy kỳ quặc thì ông ta cũng không để lộ ra ngoài. Ông ta chỉ gật đầu và đặt cốc rượu chưa uống xuống.
“Tôi hiểu rồi. Thật tốt vì bà đã có bạn ở đây.” Giọng nói của ông ta như đang cảnh báo điều gì, nhưng ông ta không nhìn tôi mà cúi người để kéo thẳng đôi tất dài trước khi đứng dậy. “Tôi sẽ ghé thăm bà khi trở về và hy vọng được thấy bà vẫn khỏe mạnh.”
“Việc gì đưa ông đến nước Anh vậy?” Jamie hỏi thẳng.
Ông Forez nhìn anh, cười nhạt. Ông ta hất đầu lên, hai mắt sáng bừng và một lần nữa, tôi bị ấn tượng trước hình ảnh giống một con chim lớn của ông ta. Nhưng lần này, không phải một con quạ ăn xác chết mà là một con chim ăn thịt, một con chim săn mồi.
“Một người trong lĩnh vực của tôi có thể đi sang đó làm việc gì, thưa ông Fraser?” Ông ta hỏi. “Tôi được thuê thực hiện công việc thông thường tại Smithfield.”
“Tôi đoán đó là một dịp quan trọng,” Jamie nói. “Nên cần mời đến một người có kỹ năng như ông.” Mặc dù biểu hiện của anh cho thấy không có ý gì khác, ngoài một câu hỏi lịch sự, nhưng đôi mắt lại có vẻ đề phòng.
Hai mắt của ông Forez còn sáng hơn trước. Ông ta chậm rãi đứng dậy, nhìn xuống Jamie đang ngồi gần cửa sổ.
“Đúng vậy, ông Fraser,” ông ta ôn tồn nói. “Đó là vấn đề kỹ năng, không được sai sót. Để siết chặt một người nơi cuối sợi dây cho đến chết - chà! Không ai có thể làm được. Để dễ dàng bẻ gãy một cái cổ với một cú rơi nhanh gọn, yêu cầu phải tính toán những giới hạn của cân nặng và độ rơi, cũng như phải luyện tập một số lần nhất định với sợi dây. Nhưng để duy trì sự cân bằng giữa các phương pháp này, để thực thi chính xác bản án tử hình của một kẻ phản bội, thì cần phải có kỹ năng khéo léo.”
Miệng tôi bỗng trở nên khô khốc, tôi cầm lấy cốc của mình. “Án tử hình của một kẻ phản bội ư?” Tôi nhắc lại nhưng không muốn nghe câu trả lời.
“Treo cổ, mổ bụng, phanh thây,” Jamie nói ngắn gọn. “Ông muốn nhắc đến điều đó, phải không, ông Forez?”
Người đao phủ gật đầu. Jamie đứng dậy như bị ép buộc trái với mong muốn của anh, mặt đối mặt với vị khách gầy gò, mặc nguyên bộ đồ đen. Họ có cùng chiều cao nên nhìn thẳng vào mặt nhau không chút khó khăn. Ông Forez tiến một bước về phía Jamie, biểu cảm của ông ta đột nhiên biến chuyển một cách khó hiểu, giống như ông ta định trình bày ý kiến y khoa nào đó.
“Ồ, phải,” ông ta nói. “Đúng vậy, đó chính là án tử hình của một kẻ phản bội. Đầu tiên, hắn ta phải bị treo cổ, như ông vừa nói, nhưng để trừng phạt thích đáng thì cái cổ không được gãy và khí quản không bị ép - nghẹt thở không phải là kết quả chúng ta mong muốn, ông hiểu chứ?”
“Ồ, tôi hiểu.” Giọng của Jamie tuy nhẹ nhàng nhưng có phần mỉa mai. Tôi nhìn anh, bối rối.
“Vậy ư, thưa ông?” Ông Forez cười nhạt, nhưng không đợi câu trả lời, ông ta tiếp tục nói. “Đây là vấn đề về thời gian, ông phải phán đoán bằng mắt. Khuôn mặt sẽ tím tái gần như tức thì - nhanh hơn nếu đối tượng có nước da trắng - cùng với quá trình nghẹt thở, cái lưỡi bị đẩy ra khỏi miệng. Tất nhiên, điều này làm đám đông thích thú, cũng như lúc hai con mắt lồi ra. Nhưng ông phải quan sát dấu hiệu đỏ lên ở các khóe mắt, khi các mạch máu bị vỡ. Ngay lúc đó, ông phải lập tức ra lệnh thả đối tượng xuống - một trợ lý đáng tin là điều không thể thiếu, ông hiểu chưa,” ông ta hơi quay đầu, để ngỏ ý bao hàm cả tôi trong cuộc trao đổi rùng rợn này và tôi gật đầu, bất chấp tâm trạng của bản thân.
“Sau đó,” ông ta tiếp tục, quay lại với Jamie, “ông phải cho hắn dùng chất kích thích luôn, để làm đối tượng hồi sinh, trong khi cởi áo sơ mi - chiếc áo phải được mở ra ở đằng trước theo đúng quy định, thường thì rất khó để cởi qua đầu.” Một ngón tay dài, mảnh khảnh chỉ vào chiếc khuy ở chính giữa áo sơ mi của Jamie, nhưng không chạm vào mặt vải vừa được hồ bột.
“Tôi cũng đoán vậy,” Jamie nói.
Ông Forez thu ngón tay về, gật đầu tán thành bằng chứng rằng anh đã lĩnh hội.
“Đúng vậy. Tay trợ lý sẽ đốt lửa trước, vì việc đó không xứng với phẩm giá của một đao phủ. Và đến lúc dao cầm trong tay.”
Sự im lặng chết chóc bao trùm căn phòng. Tuy biểu hiện của Jamie khó lòng nhìn thấu, nhưng cổ anh đã rịn mồ hôi.
“Đây là lúc yêu cầu kỹ năng cực kỳ cao,” ông Forez giải thích, giơ một ngón tay lên, nhấn mạnh. “Ông phải làm thật nhanh, đừng để đối tượng chết trước khi hoàn thành. Nếu pha thuốc cùng chất kích thích thì các mạch máu sẽ co lại, ông sẽ có thêm chút ít thời gian, nhưng không nhiều.”
Ông ta trông thấy con dao mở thư trên bàn, liền cầm nó lên. Bàn tay nắm quanh cán, trong khi ngón trỏ chống trên phần sống dao và chọc mũi dao vào quả óc chó sáng màu trên mặt bàn.
“Ngay đây,” ông ta nói như đang mơ. “Từ cuối xương ức. Và thật nhanh, xuống đến đỉnh háng. Phần lớn trường hợp, ông có thể trông thấy cái xương này dễ dàng. Một lần nữa” - con dao mở thư lóe sáng từ mặt bên này đến mặt bên kia, nhanh và gọn như đường bay zigzag của chim ruồi - “chạy theo đường cong của xương sườn. Đây,” ông ta nói với vẻ thỏa mãn, nhìn chằm chằm vào hình ảnh phản chiếu của chính mình trên mặt bàn, “là nghệ thuật.”
Ông ta nhẹ nhàng đặt con dao xuống bàn, quay lại với Jamie và nhún vai thân mật.
“Rốt cuộc, vấn đề là tốc độ và sự khéo léo. Nhưng nếu ông làm chính xác theo phương pháp thì sẽ ít khó khăn hơn.”
Mặc dù đang ngồi, tôi vẫn cảm thấy choáng váng. Tôi chắc chắn mặt mình cũng trắng bệch như khuôn mặt của Jamie. Tuy đã tái nhợt nhưng anh vẫn mỉm cười, như để chiều lòng vị khách đang nói chuyện.
“Bà đang tái nhợt kìa, phu nhân! Tôi đã bắt bà nghe câu chuyện nhàm chán này quá lâu rồi!” Ông ta thốt lên, cầm lấy bàn tay tôi. Tôi kìm nén thôi thúc mạnh mẽ muốn thu cánh tay về. Tuy bàn tay của ông ta lạnh giá nhưng đôi môi lại ấm áp, ông ta bất ngờ lướt môi hôn lên tay tôi, làm tôi ngạc nhiên siết chặt nắm tay. Ông Forez nắm bàn tay tôi nhẹ tới mức khó nhận ra, rồi quay đầu cúi chào Jamie một cách lịch sự.
“Đến lúc tôi phải đi rồi, thưa ông Fraser! Tôi hy vọng sẽ gặp lại ông cùng phu nhân duyên dáng đây… trong một hoàn cảnh vui vẻ, như chúng ta có ngày hôm nay.” Đôi mắt của hai người đàn ông chạm nhau một giây. Sau đó, ông Forez nhớ ra mình vẫn cầm con dao mở thư. Ông ta thốt lên ngạc nhiên và xòe bàn tay. Jamie nhướng một bên lông mày, cầm lấy mũi dao.
“Bon voyage[1], ông Forez,” anh nói. “Và cảm ơn ông” - miệng anh trề xuống chế giễu - “vì chuyến viếng thăm đem đến nhiều kiến thức này.”
Anh đòi đích thân tiễn vị khách của chúng tôi ra cửa. Còn lại một mình trong phòng, tôi đứng dậy, đi đến bên cửa sổ, hít thở sâu, tới khi trông thấy chiếc xe màu xanh thẫm biến mất ở khúc quanh của phố Gamboge.
Cánh cửa mở ra sau lưng tôi và Jamie bước vào. Anh vẫn cầm con dao mở thư trên tay. Anh thong thả bước tới chỗ lọ hoa lớn làm bằng sứ tráng men đặc biệt bên cạnh lò sưởi và thả con dao vào trong, phát ra âm thanh lanh lảnh. Tiếp theo, anh quay lại nhìn tôi và nở nụ cười tươi nhất.
“Chà, khi những lời đe dọa đi rồi,” anh nói, “thì âm thanh này có tác dụng ghê gớm.”
Tôi khẽ rùng mình.
“Không phải chứ?”
“Em nghĩ ai sai ông ta tới đây?” Jamie hỏi. “Mẹ Hildegarde ư?”
“Em nghĩ vậy. Khi chúng ta giải mã đoạn nhạc, bà ấy từng cảnh báo em. Bà ấy nói điều anh đang làm rất nguy hiểm.” Thực ra, hiểm nguy thế nào đã không còn nữa, cho tới khi người đao phủ đến thăm. Một thời gian đã trôi qua, tôi không phải chịu đựng cơn buồn nôn mỗi sáng, nhưng lúc này thức ăn trong bụng lại dâng cao. Nếu các thủ lĩnh người Scot biết việc anh đang làm, họ sẽ gọi đó là sự phản bội. Nếu đã phát hiện thì họ sẽ làm gì tiếp theo?
Nhìn bề ngoài, Jamie được coi là một người ủng hộ phái Jacobite. Với vỏ bọc đó, anh đến thăm Charles, tiếp đón Bá tước Marischal, dùng bữa tối và vào triều. Từ trước đến nay, trong các ván cờ vua, trong những lần đến quán rượu hay các bữa tiệc rượu của mình, anh luôn khéo léo giảm bớt phe phái của nhà Stuart, trong khi bề ngoài thì ủng hộ. Bên cạnh chúng tôi, chỉ có Murtagh biết rằng cả hai đang tìm cách ngăn cản cuộc nổi dậy của Stuart - thậm chí ông cũng không biết lý do, chỉ chấp nhận mệnh lệnh của chủ nhân như một lẽ phải. Khi hoạt động tại Pháp, anh cần phải đóng giả là người Jacobite. Nhưng cũng chính sự giả bộ đó sẽ quy Jamie vào tội danh phản bội nếu anh đặt chân lên đất Anh.
Tất nhiên, tôi đã biết chuyện này. Nhưng vì ngu dốt nên tôi nghĩ chẳng có gì khác nhau là mấy giữa việc bị treo cổ như một kẻ sống ngoài vòng pháp luật với việc bị kết tội là phản bội. Chuyến viếng thăm của ông Forez đã cho thấy, suy nghĩ này thật khờ khạo.
“Anh cực kỳ bình tĩnh,” tôi nói, trái tim đập loạn nhịp và hai lòng bàn tay lạnh băng nhưng ướt sũng mồ hôi. Tôi lau chúng vào chiếc váy dài, dúi vào giữa hai đầu gối để sưởi ấm.
Jamie nhún vai và cười nhếch mép.
“Đúng thế, có hằng hà sa số cách chết đau đớn, Sassenach ạ! Nếu bị một trong số đó rơi trúng, anh cũng chẳng thích chút nào. Nhưng vấn đề là: Anh có sợ hãi đến mức ngừng công việc mình đang làm để thoát khỏi nó hay không?” Anh ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh và cầm lấy hai bàn tay tôi. Lòng bàn tay ấm áp của anh cùng thân hình rắn chắc kề bên đã giúp tôi vững tâm trở lại.
“Anh đã nghĩ điều này từ lâu, Sassenach, trong những tuần anh trị thương ở tu viện, và một lần nữa, khi chúng ta tới Paris. Một lần nữa, khi anh gặp Charles Stuart.” Anh lắc đầu, khom người.
“Phải, anh có thể trông thấy mình đứng trên đoạn đầu đài. Anh thấy những giá treo cổ ở Wentworth - anh đã kể với em chưa?”
“Chưa. Anh chưa nói gì.”
Anh gật đầu, đôi mắt đờ đẫn đắm chìm trong hồi tưởng.
“Chúng dẫn bọn anh xuống khu sân trong, tất cả cùng ở một xà lim. Chúng bắt bọn anh đứng thành hàng trên đá để theo dõi buổi hành hình. Chúng treo cổ sáu người trong ngày hôm đó, những người anh biết. Anh quan sát từng người leo lên các bậc thang - mười hai bậc tất cả - và đứng, hai tay bị trói sau lưng, nhìn xuống sân, trong lúc chúng thắt thòng lọng vào cổ. Anh đã tự hỏi, liệu khi đến lượt, mình sẽ bước lên đó thế nào? Sẽ khóc lóc thảm thiết và cầu nguyện như John Sutter hay có thể đứng thẳng như Willie MacLeod và mỉm cười với người bạn ở dưới kia?”
Anh đột ngột lắc đầu, như chú chó giũ sạch nước trên người và mỉm cười dứt khoát. “Dù sao, Forez không nói điều gì mà anh chưa từng nghĩ tới. Nhưng mọi chuyện quá muộn rồi, mo duinne.” Anh đặt tay lên tay tôi. “Phải, anh có sợ. Nhưng lúc trước, anh không quay đầu nhận lấy cơ hội về nhà và được tự do thì lần này, anh sẽ không làm thế vì sợ hãi. Không, mo duinne. Quá muộn rồi!”
[1] Nguyên văn: The Best-laid Plans of Mice and Men… Đây là một câu thơ được trích trong bản dịch tiếng Anh To A Mouse của bài thơ gốc Tae a Moose tiếng Scotland. Bài thơ được viết bởi Robert Burn vào năm 1785 và được in trong tập thơ Kilmarnock Volume. Hai câu trong tiếng Anh là: “The best-laid plans of mice and men/ Go often askew” có nghĩa: Dù bạn đã lên kế hoạch vô cùng hoàn hảo thì vẫn có khả năng sẽ gặp chuyện không may nên hãy luôn đề phòng bất trắc.
[2] Tiếng Pháp: Thượng lộ bình an.