Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
40
Hang cáo

❊ ❊ ❊

“Anh có hiểu rõ về ông nội không?” Tôi vừa hỏi vừa xua đi một con ruồi vàng vô duyên có vẻ như chưa thể quyết định xem tôi hay con ngựa sẽ là bữa ăn tuyệt vời hơn cho nó.

Jamie lắc đầu.

“Không, anh nghe nói ông hành xử như một con quái vật già tồi tệ, nhưng em cũng không nên sợ ông.” Anh cười với tôi khi tôi đập con ruồi bằng cái khăn choàng của mình. “Anh sẽ ở bên cạnh em.”

“Ồ, những quý ông già cộc cằn thường không gây phiền hà gì cho em,” tôi an ủi cho anh yên tâm. “Trong cuộc đời mình, em đã gặp rất nhiều người tốt trong số họ. Phần lớn họ mềm như bơ vậy. Em nghĩ ông của anh cũng như vậy thôi.”

“Ừm, không,” Anh đáp lại một cách trầm tư. “Ông thực sự là một con quái vật già kinh khủng. Chỉ là, nếu em thể hiện là em sợ ông, ông sẽ khiến mọi chuyện tồi tệ hơn. Như con thú đánh hơi được mùi máu ấy, em có hiểu không?”

Tôi ném một cái nhìn lên phía trước, nơi những ngọn đồi che khuất lâu đài Beaufort xa xa đang lờ mờ hiện ra với dáng vẻ có phần hung ác. Lợi dụng một thoáng mất tập trung, con ruồi vàng đã kịp bay vụt qua tai trái của tôi. Tôi rít lên rồi cúi đầu né tránh, con ngựa dường như cũng sửng sốt vì động tác đột ngột này, giật mình chồm lên.

“Này! Cuir stad![1]” Jamie lao sang, chộp lấy dây cương của tôi, thả rơi dây cương của anh. Được huấn luyện tốt hơn, con ngựa của anh thở phì phì nhưng cũng quen ngay với động tác ấy, chỉ giật giật cái tai một cách đầy tự mãn.

Jamie thúc đầu gối vào hai bên sườn con ngựa của anh và kéo con ngựa của tôi dừng lại sát bên cạnh.

“Bây giờ thì,” anh nói, đôi mắt dõi theo đường bay zigzag của con ruồi vo ve. “Để nó đấy, Sassenach, anh sẽ bắt nó.” Anh đợi, tay giơ lên sẵn sàng, hơi nheo mắt trước ánh sáng mặt trời.

Tôi ngồi như một bức tượng đang căng thẳng, gần như bị thôi miên bởi tiếng vo ve đang đe dọa. Một thân hình có cánh nặng nề, chậm chạp đầy giả dối, đang bay qua bay lại giữa tai con ngựa và tôi. Tai con ngựa giật mạnh, khó chịu; tôi hoàn toàn đồng cảm với nó.

“Nếu con ruồi đó đậu lên tai em, Jamie, em sẽ…” Tôi bắt đầu.

“Suỵt!” Anh ra lệnh, rồi ngả người về phía trước chờ đợi, tay trái khum lại như một con báo đang chuẩn bị tấn công. “Một giây nữa, anh sẽ bắt được nó.”

Ngay sau đó, tôi trông thấy một đốm đen hạ xuống trên vai anh. Một con ruồi vàng khác đang tìm kiếm chỗ tắm nắng. Tôi lại mở miệng.

“Jamie…”

“Suỵt!” Anh hân hoan đập mạnh kẻ đã hành hạ tôi, chỉ trong giây lát ngay trước khi con ruồi trên cổ áo chích cái vòi của nó lên cổ anh.

Thành viên của các thị tộc ở Scotland thường chiến đấu theo truyền thống xưa cũ. Chẳng thèm bận tâm đến sách lược, chiến thuật, tài trí, phương pháp tấn công của họ chỉ đơn giản có vậy. Phát hiện ra kẻ thù trong tầm mắt, họ tháo khăn, tuốt gươm tấn công và gào thét ầm ĩ. Gào thét bằng tiếng Gaelic, cách này thường thành công nhiều hơn là thất bại. Những đối thủ dù đáng gờm, chỉ cần nhìn thấy tử thần với một đống râu tóc rậm rì, để lộ chân tay trần trụi đang bổ nhào xuống, cũng đủ mất hết tinh thần và bỏ chạy.

Dẫu cho có được huấn luyện kĩ càng tới đâu, chẳng gì có thể chuẩn bị cho con ngựa của Jamie sẵn sàng nghe tiếng gào thét loại A, tiếng thét số một bằng tiếng Gaelic, bật thốt ra ở âm lượng cao nhất từ một điểm phía sau đầu nó cách chừng nửa mét. Hoảng hồn, nó cụp chặt tai lại và phi đi như bị ma quỷ đuổi theo phía sau.

Tôi cùng con ngựa của mình chết đứng giữa đường, chứng kiến màn phô diễn kỹ thuật cưỡi ngựa ngoạn mục mang đầy chất Scotland khi Jamie gần như bị hất khỏi yên ngựa, cả hai bên bàn đạp và dây cương đều bị tuột khi con ngựa đột ngột lồng lên. Jamie rướn người lên phía trước một cách tuyệt vọng, níu chặt vào bờm ngựa. Chiếc khăn choàng bay phần phật một cách điên cuồng theo cơn gió tạo ra do tốc độ chạy của con ngựa; còn con ngựa lúc này hoàn toàn hoảng sợ, nhìn thấy khối sắc màu ấy thì càng chạy nhanh hơn. Một tay vùi trong đống bờm dài, Jamie dứt khoát kéo mình ngồi thẳng lên, thúc cặp chân dài vào hai bên sườn con ngựa, mặc cho bàn đạp sắt vẫn còn đang đung đưa ngay dưới eo nó. Những tiếng kêu rời rạc mà thậm chí trình độ tiếng Gaelic còn nhiều thiếu sót của tôi cũng nhận ra được là những tiếng chửi thề đang bay vẳng lại cùng cơn gió nhẹ.

Âm thanh lộc cộc chậm chạp khiến tôi nhìn lại phía sau, Murtagh đang cưỡi con ngựa thồ băng qua đoạn dốc nhỏ mà chúng tôi vừa đi xuống. Ông cẩn thận tới chỗ tôi đứng đợi; thong dong kéo ngựa dừng lại, lấy tay che mắt rồi ngẩng đầu nhìn về phía trước, tới nơi Jamie và con ngựa bị hoảng sợ của anh vừa biến mất sau đỉnh đồi kế tiếp.

“Một con ruồi vàng,” tôi giải thích.

“Quá muộn cho họ. Tôi không nghĩ là cậu ấy mong được gặp ông cụ tới mức bỏ cô lại phía sau như vậy,” Murtagh nhấn mạnh, với cái kiểu nói năng khô khốc như thường lệ. “Tôi không có ý nói một cô vợ sẽ làm thay đổi sự đón tiếp dành cho cậu ấy.”

Ông nắm lấy dây cương và thúc ngựa di chuyển một cách miễn cưỡng, con ngựa thồ hòa nhã nhập hội cùng chúng tôi. Con ngựa của tôi cũng phấn khởi lây nhờ người bạn đồng hành và an tâm phần nào bởi sự vắng mặt tạm thời của những con ruồi, vì thế nó bước đi khá hoan hỉ.

“Thậm chí là một cô vợ người Anh?” Tôi tò mò hỏi. Từ vốn hiểu biết ít ỏi của mình, tôi cho rằng mối quan hệ của Lãnh chúa Lovat với bất kỳ người Anh nào cũng đều không vui vẻ gì.

“Anh, Pháp, Hà Lan hay Đức cũng chẳng khác nhau cho lắm, Cáo Già sẽ ăn sáng bằng chính lá gan của anh chàng kia, chứ không phải của cô đâu.”

“Ông có ý gì?” Tôi nhìn chằm chằm vào người đàn ông nhỏ bé khắc khổ dưới lớp bọc lỏng lẻo của chiếc áo choàng len và sơ mi, trông ông cũng giống như một trong những bộ đồ của mình vậy. Theo một cách nào đó thì mọi thước vải Murtagh mang trên người, không quan trọng là mới hay được may đo cẩn thận tới đâu, đều có thể ngay lập tức trông giống như một thứ gì đó được lượm lặt từ đống rác.

“Mối quan hệ của Jamie và Lãnh chúa Lovat là như thế nào?”

Tôi bắt gặp một cái liếc trộm từ con mắt đen, nhỏ đầy sắc sảo, rồi sau đó ông quay đầu hướng về phía lâu đài Beaufort. Ông nhún vai, chẳng biết là muốn khước từ hay như đang dự liệu trước.

“Cho tới lúc này thì chẳng có quan hệ gì cả. Cậu ấy chưa từng nói chuyện với ông ta một lần nào trong đời.”

“Nhưng làm thế nào mà anh có thể hiểu về ông ấy nhiều như vậy khi mà anh thậm chí còn chưa gặp ông ấy?”

Ít nhất thì tôi đã bắt đầu hiểu sự miễn cưỡng của Jamie khi phải tới gặp ông anh để nhờ giúp đỡ. Sau khi gặp lại Jamie và con ngựa của anh, con ngựa có vẻ đã được dạy dỗ lại, còn người cưỡi thì trông có vẻ cáu kỉnh. Murtagh nhìn anh một cách đầy suy tư, rồi đề nghị cưỡi con ngựa thồ tới lâu đài Beaufort trước, để lại Jamie và tôi nghỉ ăn trưa bên lề đường.

Nhấm nháp chút bia và bánh yến mạch để lấy lại tinh thần, cuối cùng anh cũng có thời gian để nói với tôi rằng, ông anh, Lãnh chúa Lovat, không đồng tình với việc chọn vợ của con trai, thậm chí không hợp cũng như chẳng vui vẻ gì với việc gặp mặt hay liên lạc với con trai và các cháu - kể từ cuộc hôn nhân của Brian Fraser và Ellen MacKenzie hơn ba mươi năm trước.

“Dù sao thì theo cách này hay cách khác, anh cũng đã được nghe kể một chút về ông.” Jamie nói tiếp, nhai một chút pho mát. “Ông là người có thể gây ấn tượng với người khác, em hiểu không?”

“Nói vậy là em hiểu rồi.” Tullibardine, một trong số những người Jacobite ở Paris đã giúp tôi tiêu khiển với những nhận xét chưa được kiểm chứng liên quan đến người lãnh đạo của thị tộc Fraser, và tôi cho rằng có thể Brian Fraser đã phải buồn phiền bởi sự lơ là của cha ông. Tôi nói những điều đó, và Jamie gật đầu.

“Ồ, đúng thế. Anh chẳng thể nhớ nổi cha anh có nói được điều gì tốt đẹp về ông cụ không, mặc dù cha cũng sẽ không bất kính với ông ấy. Chỉ là không thường xuyên nhắc đến thôi.” Anh xoa xoa một bên cổ, nơi vết cắn của con ruồi đang dần lộ ra. Thời tiết ấm áp một cách kỳ cục, anh trải chiếc khăn choàng cho tôi ngồi lên. Là người đại diện cho vị trí đứng đầu thị tộc Fraser thì cũng đáng được đầu tư một chút, Jamie mặc một chiếc váy mới, theo kiểu cắt may của quân đội, cùng chiếc khăn choàng tạo thành một dải riêng biệt trên bộ trang phục. Ít khả năng che chắn trước thời tiết hơn bộ cũ, nhưng thuận tiện để mặc trong trường hợp vội vàng.

“Anh có một chút băn khoăn,” anh trầm tư, “phải chăng cha anh là một người cha như vậy bởi cái cách mà ông già Simon đối xử với ông? Dĩ nhiên là vào thời điểm ấy, anh đã không nhận ra điều này, nhưng việc một người đàn ông thể hiện cảm xúc trước con trai mình là không bình thường.”

“Anh đã suy nghĩ rất nhiều về điều đó.” Tôi đưa cho anh một hũ bia khác, anh đón lấy với một nụ cười lưu lại trong tôi, ấm áp hơn ánh nắng mùa thu yếu ớt.

“Ừ, đúng vậy. Anh đã tự hỏi, em biết đấy, anh sẽ trở thành một người cha như thế nào đối với những đứa con của mình, và nhìn lại một chút thì cha anh chính là một ví dụ điển hình. Với những gì anh biết và từ những điều ông hay Murtagh kể lại, ông chẳng giống cha mình chút nào; thế nên anh nghĩ ông đã phải quyết tâm lắm mới có thể làm cho mọi chuyện khác đi hoàn toàn như vậy, ngay khi ông có cơ hội.”

Tôi thở dài, đặt miếng pho mát của mình xuống.

“Jamie,” tôi nói. “Anh có thực sự cho rằng chúng ta sẽ…”

“Anh có,” anh trả lời, đầy chắc chắn, thậm chí còn không để tôi nói hết. Anh cúi người hôn lên trán tôi. “Anh biết, Sassenach, và em cũng vậy. Em được định sẵn sẽ trở thành một người mẹ, và anh đảm bảo sẽ không để một ai khác trở thành cha của con em.”

“Ồ, tốt lắm,” tôi nói. “Em cũng vậy.”

Anh cười, nâng cằm tôi lên để hôn. Tôi hôn lại anh và với tay lên gạt đi một mẩu vụn bánh mỳ vương lại trên chòm râu quanh miệng anh.

“Anh nên cạo râu đi, anh nghĩ thế nào?” Tôi hỏi. “Để tỏ lòng tôn trọng ông anh trong lần gặp đầu tiên.”

“Ồ, trước đây anh đã nhìn thấy ông một lần rồi,” anh nói một cách hững hờ. “Và ông cũng đã nhìn thấy anh rồi. Còn về việc ông nghĩ gì về hình ảnh của anh bây giờ, ông có thể chấp nhận hay chỉ trích, tùy ông.”

“Nhưng Murtagh nói anh chưa bao giờ gặp ông mà!”

“Hừm!” Anh phủi đi chỗ vụn bánh còn dính trên ngực áo, đôi lông mày hơi nhíu lại như thể đang quyết định xem sẽ kể cho tôi nghe bao nhiêu. Cuối cùng, anh nhún vai, nằm ngửa ra trong bóng râm của bụi cây kim tước, hai tay gài sau đầu, nhìn chằm chằm lên trời.

“Đúng là anh và ông chưa bao giờ gặp nhau, như em vừa nói. Hay không thực sự như vậy. Là như thế này...”

Khi mười bảy tuổi, chàng trai Jamie Fraser đã ra khơi đến nước Pháp để hoàn thành việc học hành tại Đại học Paris, và học thêm những thứ không được dạy trong sách vở.

“Anh nhổ neo từ bến cảng ở Beauly,” anh kể, hất đầu qua ngọn đồi kế bên, nơi một dải hẹp màu xám ở chân trời đằng xa đánh dấu bờ rìa của Moray Firth. “Anh có thể xuất phát từ nhiều cảng khác - Inverness chẳng hạn - nhưng cha anh đã đặt chỗ cho anh từ Beauly. Ông đã cùng cưỡi ngựa với anh để tiễn anh lên đường.”

Brian Fraser hiếm khi rời khỏi Lallybroch kể từ cuộc hôn nhân của mình, ông thích thú chỉ cho con trai những chỗ ông từng đi săn hay đi chơi hồi còn là một cậu trai trẻ.

“Nhưng rồi ông trở nên im lặng khi bọn anh tới gần Beaufort. Cha không hề nhắc tới ông nội trong suốt chuyến đi, và anh biết mình cũng không nên đề cập tới ông nội. Nhưng anh hiểu cha có lý do riêng khi gửi anh đi từ Beauly.”

Những con chim sẻ nhỏ thận trọng tiến lại gần hơn, thò ra thụt vào nơi những bụi cây thấp, sẵn sàng lao về chỗ trú ẩn an toàn khi có những dấu hiệu nhỏ nhất của sự nguy hiểm. Trông thấy chúng, Jamie với tay lấy một mẩu bánh mỳ còn sót lại, ném một cách chuẩn xác vào giữa đàn chim, nó cứ như một mảnh đạn nổ tung khiến tất cả lũ chim chạy trốn tán loạn.

“Chúng sẽ quay trở lại hết thôi,” anh nói, ra hiệu về phía lũ chim đang hoảng sợ. Anh vắt một cánh tay qua mặt như để che chắn ánh nắng mặt trời, và tiếp tục câu chuyện.

“Có tiếng ngựa chạy dọc theo con đường dẫn đến lâu đài, khi bọn anh quay lại nhìn thì thấy một nhóm nhỏ đang tới, sáu người cưỡi ngựa cùng với một cỗ xe, một trong số đó giữ cờ hiệu của Lovat, vì thế mà anh biết ông nội đang đi cùng bọn họ. Anh có nhìn thoáng qua cha để xem ông định làm gì, nhưng ông chỉ cười rồi siết nhanh vai anh và nói: “Xuất ngoại nào, con trai!”

“Anh có thể cảm nhận được ánh mắt ông nội đang nhìn mình khi anh đi dọc bờ biển, với mái tóc và chiều cao nổi trội của thị tộc MacKenzie, và anh mừng là mình đã mặc bộ đồ đẹp nhất, trông không giống một người hành khất. Anh không nhìn quanh quất, nhưng cố gắng đứng thẳng nhất có thể; và đã rất tự hào là mình cao hơn nửa cái đầu so với người cao nhất ở đó. Cha đi bên cạnh anh, khá lặng lẽ, ông cũng không nhìn sang bên nhưng anh có thể cảm nhận được ông cũng rất tự hào vì đã sinh ra anh.

Cha cười nửa miệng với anh.

“Đó là lần cuối cùng anh chắc chắn rằng mình đã làm một điều gì đó tốt đẹp cho ông, Sassenach ạ! Anh không chắc lắm về sau này, nhưng anh thực sự vui vì ngày hôm ấy.”

Anh quàng tay quanh đầu gối, nhìn chăm chú về phía trước như thể đang tái hiện cảnh tượng trên bến cảng ngày ấy.

“Anh và cha bước lên thuyền, gặp thuyền trưởng, sau đó đứng bên lan can nói chuyện linh tinh một chút; cả hai cha con đều cẩn thận không nhìn về phía những người đàn ông đến từ Beaufort đang khuân đồ, hay liếc về phía bờ biển, nơi đoàn người ngựa vẫn đang đứng đó. Rồi thuyền trưởng ra lệnh nhổ neo. Anh hôn tạm biệt cha, ông nhảy qua lan can xuống bến đỗ và đi về phía con ngựa của mình. Ông đã không nhìn lại cho tới khi lên ngựa, và ngay sau đó, thuyền rời bến cảng.

Anh vẫy tay chào và ông cũng vậy, sau đó, ông quay đi, dẫn theo con ngựa của anh trở về Lallybroch. Lúc ấy, đoàn người từ Beaufort cũng quay về. Anh có thể trông thấy ông nội đi đầu đoàn người, ngồi thẳng lưng trên yên ngựa. Họ cưỡi ngựa đi - cha và ông nội anh - cách nhau khoảng hai mươi thước, hướng lên đồi và vượt qua nó, khuất khỏi tầm mắt của anh, và không ai trong hai người quay sang nhìn nhau, như thể người kia không hề tồn tại.”

Anh quay đầu nhìn xuôi con lộ, như thể tìm kiếm dấu hiệu của sự sống từ hướng Beaufort.

“Anh đã bắt gặp ánh mắt của ông nội,” anh nói rất khẽ. “Một lần thôi. Anh đã đợi cho tới khi cha đi tới chỗ con ngựa, rồi anh quay người nhìn Lãnh chúa Lovat, một cách bạo dạn nhất có thể. Anh muốn ông biết bọn anh chẳng đòi hỏi gì từ ông, và anh không sợ ông.” Anh cười nửa miệng với tôi. “Dù vậy, anh vẫn sợ.”

Tôi đặt một bàn tay lên tay anh, vuốt ve các khớp ngón tay.

“Vậy ông có nhìn lại anh không?”

Anh cười khẩy.

“Có. Cứ như là ông chưa bao giờ dời mắt khỏi anh kể từ lúc anh đi từ trên đồi xuống cho tới khi thuyền rời bến; anh có thể cảm nhận được ánh mắt ấy ở trên lưng mình như một mũi khoan. Và khi anh nhìn ông, ông cũng đang nhìn chằm chằm vào anh với đôi mắt đen láy.”

Anh bỗng trở nên im lặng, vẫn nhìn về phía lâu đài, cho tới khi tôi nhẹ nhàng huých anh.

“Ông trông như thế nào?”

Anh dời mắt khỏi đám mây đen ở chân trời đằng xa và nhìn xuống tôi, biểu hiện hài hước quen thuộc biến mất khỏi đường cong nơi khóe miệng cũng như sâu trong đôi mắt anh.

“Lạnh như đá, Sassenach,” anh đáp. “Lạnh như đá ấy.”

•••

Chúng tôi đã rất may mắn vì thời tiết có vẻ ấm áp suốt chặng đường từ Edinburgh tới đây.

“Nó sẽ không kéo dài đâu,” Jamie đoán, liếc nhìn về hướng bờ biển phía trước mặt. “Nhìn đám mây đằng kia không? Nó sẽ vào tới đất liền trước đêm nay.” Anh hít một hơi và kéo tấm áo choàng qua vai. “Em ngửi thấy không? Em có thể cảm nhận thấy thời tiết đang thay đổi.”

Không có quá nhiều kinh nghiệm về việc dự đoán khí tượng qua khứu giác, nhưng tôi vẫn cho rằng có lẽ tôi có thể ngửi thấy nó; sự ẩm ướt trong không khí làm nồng hơn thứ mùi thường thấy của cây thạch nam khô và nhựa thông, quyện lẫn với mùi ngột ngạt, ẩm ướt của tảo bẹ từ bờ biển phía xa.

“Em tự hỏi không biết những người đàn ông đã trở về Lallybroch chưa,” tôi nói.

“Anh ngờ là chưa.” Jamie lắc đầu. “Quãng đường họ phải đi ngắn hơn chúng ta, nhưng tất cả bọn họ đều đi bộ, và tốc độ của họ khá chậm khi lên đường cùng một lúc…” Anh nhổm người lên từ bàn đạp, che mắt, nhìn chăm chú về đám mây phía xa. “Anh mong sẽ chỉ có mưa thôi; nếu như vậy thì họ sẽ không gặp rắc rối lớn. Dù thế nào thì nó cũng không thể là một cơn bão lớn. Có lẽ nó cũng sẽ không tiến quá xa về phía bắc.”

Tôi kéo chiếc khăn choàng len kẻ ca rô chặt hơn quanh vai khi một cơn gió nhẹ nổi lên. Tôi đã nghĩ chuỗi ngày ấm áp kéo dài thế này là một điềm báo tốt lành; mong là nó không đánh lừa tôi.

Jamie đã ngồi cả đêm bên cạnh cửa sổ ở Holyrood sau khi nhận được lệnh của Charles. Vào buổi sáng, anh đã tới gặp Charles để nói với Hoàng tử rằng chúng tôi sẽ đi một mình tới Beauly, chỉ cùng với Murtagh, để truyền đạt lời thăm hỏi của Hoàng tử tới Lãnh chúa Lovat cũng như yêu cầu Lovat thực hiện lời hứa về việc cung cấp người và sự giúp đỡ.

Sau đó, Jamie đã gọi người thợ rèn Ross tới phòng chúng tôi để trao mệnh lệnh với một âm lượng thấp tới mức tôi chẳng thể hiểu được một từ nào từ vị trí của mình đang ngồi gần đống lửa. Dẫu vậy, tôi vẫn trông thấy đôi vai lực lưỡng của anh ta vươn thẳng lên thể hiện sự kiên quyết như thể đang nuốt xuống từng lời.

Đội quân cao nguyên di chuyển khá vô kỷ luật, một đám đông hỗn tạp không thể xứng đáng gọi là hàng ngũ. Trong quá trình di chuyển, những người từ Lallybroch phải lần lượt rời đi từng người một. Lúc bước sang bên, lẩn vào các đám cây bụi như để nghỉ ngơi một chút hay đi tiểu, rồi không quay trở lại đội ngũ chính mà lặng lẽ lẻn đi đường riêng, từng người một, để rồi tập hợp lại với những người khác đến từ Lallybroch. Và một khi đã tập hợp đầy đủ theo lệnh của thợ rèn Ross, đó là lúc họ trở về nhà.

“Anh ngờ rằng họ sẽ bị lỡ một vài lần, nếu không phải là tất cả,” Jamie nói, lúc bàn bạc với tôi về kế hoạch này. “Đào ngũ là chuyện phổ biến trong quân đội. Ewan Cameron nói rằng chỉ trong tuần trước, trung đoàn của họ đã mất hai mươi người. Bây giờ đang là mùa đông, và những người đàn ông muốn về nhà để chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho đợt trồng trọt mùa xuân. Dù sao chắc chắn sẽ không có ai rảnh để đi tìm họ, kể cả khi họ bị phát giác.”

“Anh có bỏ cuộc không, Jamie?” Tôi hỏi, đặt bàn tay mình lên cánh tay anh. Anh đưa tay xoa lên mặt một cách mệt mỏi trước khi trả lời.

“Anh không biết, Sassenach ạ! Có thể là quá muộn rồi, có thể chưa. Anh chẳng thể nói điều gì cả. Thật ngốc nghếch khi đi về phương bắc khi mùa đông đang tới gần; và thậm chí còn ngốc nghếch hơn nữa khi lãng phí thời gian vào việc bao vây Stirling. Nhưng Charles không thể thất bại, và một vài thủ lĩnh đang tới theo lời kêu gọi của cậu ta. Đó là nhà MacKenzie và những nhà khác theo đuôi họ. Hiện tại, cậu ta đã có gấp đôi số người mà chúng ta có ở Preston. Điều đó sẽ có ý nghĩa như thế nào chứ?” Anh hất tay lên một cách chán nản.

“Anh không biết nữa. Không có sự chống cự nào, người Anh đang sợ hãi. Em biết đấy, em đã trông thấy những tờ rơi.” Anh cười, trông chẳng hài hước chút nào. “Chúng nói rằng chúng ta xiên những đứa bé và nướng trên lửa, làm nhục vợ và con gái của những người đàn ông lương thiện.” Anh cười khẩy, vẻ nhăn nhó ghê tởm. Trong khi những tội như trộm cắp hay không phục tùng thường xuyên xảy ra trong quân đội vùng cao nguyên, nhưng hiếp dâm lại gần như không có.

Anh thở một hơi ngắn và đầy tức giận. “Cameron nghe đồn rằng Vua Geordie đã sẵn sàng cao chạy xa bay khỏi London, bởi sợ rằng quân đội của Hoàng tử sẽ nhanh chóng chiếm được thành phố.” Đó là tin đồn mà Cameron được nghe tôi kể, đến từ Jack Randall. “Chúng ta có Kilmarnock, Cameron, Lochiel, Balmerino và Dougal cùng với những người nhà MacKenzie của ông ấy. Tất cả đều là những chiến binh mạnh mẽ. Và nếu Lovat cử những người mà ông đã hứa sẽ đưa đến - Trời, như thế có thể sẽ đủ đấy. Chúa ơi, nếu chúng ta tiến vào London...” Anh khom vai xuống, rồi bất thình lình duỗi căng ra, nhún vai như thể đang cố kháng cự để thoát khỏi chiếc áo nghẹt thở.

“Nhưng anh không thể mạo hiểm được,” anh đơn giản nói. “Anh không thể đi đến Beauly và bỏ lại người của mình ở đây. Nếu anh ở đó để lãnh đạo họ thì lại là chuyện khác. Nhưng thật khốn nạn nếu anh để mặc Charles hay Dougal ném họ ra trận với người Anh, còn anh thì ở Beauly, cách xa họ cả trăm dặm.”

Vì thế mọi thứ đã được an bài. Những người đàn ông Lallybroch, bao gồm cả Fergus, kẻ đã phản kháng om sòm nhưng cuối cùng vẫn bị đàn áp, sẽ đào ngũ và kín đào rời đi để quay về nhà. Khi chúng tôi kết thúc công chuyện ở Beauly và quay lại tham gia cùng Charles - chà, khi đó sẽ có đủ thời gian để xem mọi vấn đề diễn biến như thế nào.

“Đó là lý do anh đưa Murtagh đi cùng chúng mình,” Jamie giải thích. “Nếu mọi chuyện có vẻ ổn thỏa, anh sẽ cử ông ấy tới Lallybroch để đưa họ quay lại.” Một nụ cười thoáng qua làm sáng lên gương mặt ảm đạm của anh. “Ngồi trên một con ngựa thì trông chẳng ra sao, nhưng Murtagh vẫn là một tay điều khiển ngựa cừ khôi. Nhanh như một tia chớp.”

Trông ông lúc này chẳng giống như vậy chút nào, tôi thầm nghĩ, nhưng dù sao cũng không có gì khẩn cấp. Thực tế, ông di chuyển còn chậm hơn bình thường, khi chúng tôi leo tới đỉnh đồi, tôi có thể thấy ông đã ở tít dưới chân đồi và đang ghìm ngựa lại. Trước khi chúng tôi đuổi kịp thì ông đã xuống ngựa và đang nhìn trừng trừng vào yên con ngựa thồ.

“Có chuyện gì không ổn vậy?” Jamie hỏi khi đang trèo xuống ngựa, nhưng Murtagh vẫy tay xua đi một cách cáu kỉnh.

“Không, không, không phải phiền đến cháu. Một sợi dây buộc bị đứt, thế thôi! Lên ngựa đi!”

Chỉ gật đầu xác nhận, Jamie giật dây cương, tôi cũng đi theo anh.

“Hôm nay, ông ấy không vui vẻ cho lắm thì phải?” Tôi nhận xét, khẽ hất tay về phía Murtagh. Thực tế, người đàn ông nhỏ bé ấy càng lúc càng trở nên gắt gỏng và cáu kỉnh trên mỗi bước đường hướng về Beauly. “Em hiểu rồi, ông ấy không thích thú gì với viễn cảnh phải tới thăm Lãnh chúa Lovat phải không?”

Jamie cười, với một cái liếc mắt về phía hình thù u ám, nhỏ con mải miết với chiếc dây thừng mà ông đang buộc.

“Ừ, Murtagh chắc chắn không bạn bè gì với ngài Simon Già rồi. Ông ấy quý mến cha anh một cách chân thành” - miệng anh nhếch lên một bên đầy châm biếm - “và cả mẹ anh nữa. Ông ấy không thích sự đối đãi của Lãnh chúa Lovat với họ. Hay những cách mà Lãnh chúa Lovat lấy vợ. Bà của Murtagh là người Ireland, nhưng ông ấy cũng có mối liên hệ với Primrose Campbell về đằng ngoại,” anh giải thích, như thể điều đó khiến mọi chuyện trở nên dễ hiểu.

“Primrose Campbell là ai?” Tôi lúng túng hỏi.

“Ồ!” Jamie gãi mũi, suy nghĩ. Cơn gió biển thổi vào mạnh dần lên, mái tóc của anh đang cố thoát khỏi cái dây buộc, những mớ tóc hung đỏ đang phất phơ qua mặt anh.

“Primrose Campbell là vợ thứ ba của Lãnh chúa Lovat - và bây giờ vẫn còn là vợ, anh nghĩ vậy,” anh thêm vào, “mặc dù bà đã rời khỏi ông vài năm và quay trở về nhà cha bà.”

“Ông ấy rất được phụ nữ yêu mến nhỉ?” Tôi thì thầm.

Jamie cười khẩy. “Anh nghĩ em có thể nói như vậy. Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông là một cuộc hôn nhân ép buộc. Ông đã giành lấy Quý bà Lovat ngay ở trên giường của bà vào nửa đêm, cưới bà ngay tại đó, và đưa thẳng người phụ nữ ấy lên giường. Tuy nhiên,” anh thêm vào một cách công bằng, “sau đó thì bà xác định rằng mình có yêu ông, vì thế có lẽ ông cũng không quá tệ.”

“Ít nhất ông cũng phải khá đặc biệt khi ở trên giường,” tôi cợt nhả nói. “Một đặc điểm di truyền.”

Anh ném cho tôi cái nhìn hơi sửng sốt, rồi nở nụ cười ngượng ngùng.

“Ái chà,” anh nói. “Dù có đặc biệt hay không thì điều đó cũng chẳng giúp ích cho ông lắm. Những người hầu gái của bà quả phụ được thừa kế đó vẫn lên tiếng chống lại ông, và Simon bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và phải chạy sang Pháp.”

Những cuộc hôn nhân cưỡng ép và bị sống ngoài vòng pháp luật ư? Tôi cố kìm nén lời bình luận về sự giống nhau của những thành viên trong gia đình họ, nhưng cũng kín đáo tin tưởng rằng Jamie sẽ không nối bước ông nội anh trong việc có thêm vài người vợ. Một thì hiển nhiên là không đủ đối với Simon.

“Ông tới thăm Vua James ở Rome và thề trung thành với nhà Stuart,” Jamie tiếp tục, “sau đó thì trở mặt và tới phục tùng William xứ Orange, Vua nước Anh, người đang viếng thăm nước Pháp. Ông đã có được lời hứa của James trả lại tước hiệu và đất đai, sau đó - chỉ có Chúa mới biết chuyện gì đã xảy ra - ông lại có được sự xá tội hoàn toàn từ William, và có thể trở về quê nhà ở Scotland.”

Bây giờ thì đến lượt tôi nhướng mày. Hiển nhiên ông ta không chỉ có sự hấp dẫn đối với người khác giới.

Simon tiếp tục những chuyến phiêu lưu của mình bằng việc quay trở lại Pháp, lần này là để do thám phái Jacobite. Bị bại lộ, ông ta bị tống vào ngục nhưng trốn thoát được và trở về Scotland, vạch ra kế hoạch tập hợp các thị tộc dưới vỏ bọc của đoàn người đi săn trên ngọn đồi Mar năm 1715 - sau đó xoay xở để hưởng hết công trạng với Vua nước Anh trong việc đàn áp cuộc nổi dậy đã được định trước.

“Một lão già bịp bợm đúng nghĩa, phải không?” Tôi nói, hoàn toàn bị kích thích. “Dù em cho rằng khi đó ông ta không thể quá già; chỉ là già so với độ tuổi bốn mươi của ông ta thôi.” Tôi từng nghe nói Lãnh chúa Lovat bây giờ khoảng hơn bảy mươi tuổi, vì thế tôi đã nghĩ ông ta khá lập cập và hom hem, nhưng rồi rất nhanh sau đó, tôi phải sửa lại nhận định ấy, khi nghe những chuyện này.

“Theo đánh giá từ tất cả các nguồn tin khác nhau,” Jamie nhận xét một cách công bằng, “ông anh có một tính cách có thể giúp ông ẩn nấp thoải mái đằng sau một chiếc cầu thang xoắn ốc. Dù sao thì,” anh tiếp tục, phẩy tay gạt đi chuyện tính cách của ông nội, “sau đó ông đã cưới Margaret Grant, con gái của nhà Grant o’ Grant. Rồi sau khi bà mất, ông lấy Primrose Campbell. Khi ấy bà chỉ khoảng mười tám tuổi.”

“Lần này thì Simon Già có đầy đủ điều kiện để buộc gia đình bà ấy ép bà ấy vào cuộc hôn nhân đó không?” Tôi hỏi đầy thông cảm.

“Tuyệt nhiên là không, Sassenach!” Anh tạm dừng để vuốt mái tóc ra khỏi mặt, gài những sợi tóc đi lạc ra sau tai. “Ông thừa biết là bà sẽ chẳng chịu lấy ông, kể cả ông có giàu như Croesus[2] - mà trên thực tế là ông đâu có được như vậy - thế nên ông đã gửi cho bà một lá thư, nói rằng mẹ của bà đang bị ốm ở Edinburgh, và cho bà địa chỉ để bà đến.”

Vội vã đi tới Edinburgh, tiểu thư Campbell trẻ trung xinh đẹp phát hiện ra rằng ở đó không có mẹ mình mà chỉ có ông già mưu mẹo Simon Fraser, ông đã nói với bà rằng bà đang ở trong một ngôi nhà nổi tiếng là trụy lạc, và cách duy nhất để bà bảo vệ danh dự của mình là cưới ông ngay lập tức.

“Bà hẳn phải là một người ngốc nghếch khi bị lừa bịp bởi điều đó.” Tôi nhận xét đầy giễu cợt.

“À, khi ấy bà còn rất trẻ,” Jamie nói vẻ bênh vực, “và đó cũng chẳng phải một lời đe dọa suông; nếu bà từ chối, Simon Già có thể phá hoại danh tiết của bà mà chẳng cần suy nghĩ tới một giây. Dù sao thì bà cũng đã kết hôn với ông - và cũng hối hận vì điều đó.”

“Hừm!” Tôi còn đang bận tổng kết vài chuyện trong đầu. Theo lời anh kể, cuộc gặp gỡ với Primrose Campbell mới chỉ diễn ra vài năm trước. Vậy thì… “Vậy thì bà nội của anh là bà quả phụ Lovat hay Margaret Grant?” Tôi tò mò hỏi.

Hai gò má cao bị nẻ bởi nắng và gió chợt đỏ ửng lên.

“Cả hai đều không phải,” anh nói. Anh không nhìn tôi mà nhìn chăm chăm về phía trước, hướng lâu đài Beaufort. Môi anh mím chặt lại.

“Cha anh là con hoang,” sau cùng, anh nói. Anh ngồi thẳng tắp trên yên ngựa như một thanh kiếm, các đốt ngón tay trắng bệch nắm chặt dây cương. “Được thừa nhận, nhưng vẫn là con hoang. Bà nội anh là một trong những người hầu gái của lâu đài Downie.”

“Ồ!” Tôi thốt lên. Chẳng biết phải nói thêm điều gì.

Anh nặng nề nuốt khan; tôi có thể thấy cổ họng anh như gợn sóng.

“Đáng lẽ anh nên kể cho em nghe trước.” Anh nói một cách cứng nhắc. “Anh xin lỗi!”

Tôi với tay ra để chạm vào cánh tay anh; nó cứng như sắt vậy.

“Không có vấn đề gì cả, Jamie!” Tôi nói, và biết rằng kể cả tôi có nói như vậy thì cũng chẳng thể thay đổi được điều gì. “Em không bận tâm chút nào đâu.”

“Vậy ư?” Cuối cùng, anh nói, vẫn nhìn thẳng về phía trước.

“Nhưng… anh thì có.”

•••

Cơn gió tươi mát nhẹ nhàng thổi xuống Moray Firth, mang theo những tiếng xào xạc qua một sườn đồi thông âm u. Vùng nông thôn ở đây là một sự kết hợp kỳ lạ giữa dốc núi và bãi biển. Những khóm tống quán sủi, thông rụng lá và bu lô phủ kín hai bên con đường hẹp mà chúng tôi đang đi qua, thế nhưng càng tiến gần tới bóng đen to lớn của lâu đài Beaufort, bao trùm lên vạn vật lại là thứ mùi nồng nặc của bùn và tảo bẹ trôi nổi trong không khí.

Trên thực tế, chúng tôi cũng được mong đợi; những người lính gác mặc váy, tay cầm rìu ở cổng không gây khó dễ gì khi chúng tôi đi qua. Họ nhìn chúng tôi với vẻ tò mò nhưng không có vẻ thù địch. Jamie ngồi thẳng tắp trên yên ngựa như một ông vua. Anh gật đầu với một người đàn ông đứng bên, và nhận lại một cái gật đầu tương tự. Tôi có cảm giác rõ ràng rằng chúng tôi tiến vào lâu đài với một lá cờ trắng thể hiện sự đình chiến; và tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu thì chẳng ai đoán trước được.

Chúng tôi cưỡi ngựa đi thẳng vào sân trong của lâu đài Beaufort, một công trình nhỏ so với một tòa lâu đài, nhưng gây ấn tượng mạnh mẽ bởi tất cả mọi thứ đều được xây dựng từ đá tự nhiên. Không được gia cố nặng nề như một vài tòa lâu đài mà tôi đã trông thấy ở phương Nam, nhưng nó vẫn có khả năng chịu đựng một sự bào mòn đáng kể. Những lỗ châu mai rộng miệng cách đều nhau chạy dọc chân những bức tường ở vòng ngoài cùng, và tòa tháp canh vẫn lấy làm kiêu hãnh là một sự mở đầu vững vàng trên đường tiến vào sân lâu đài.

Một vài chú ngựa nhỏ của vùng cao nguyên được nhốt ở đây, thò đầu qua cánh cửa lửng bằng gỗ để hí chào ngựa của chúng tôi. Gần bức tường có một vài kiện hàng vừa được dỡ xuống từ những con ngựa trong chuồng.

“Lãnh chúa Lovat đã cử một vài người tới gặp chúng ta,” Jamie nhận xét khi nhìn thấy những kiện hàng. “Anh mong họ là họ hàng.” Anh nhún vai. “Ít nhất thì ban đầu họ cũng sẽ đủ thân thiện.”

“Làm sao anh biết được?”

Anh trượt xuống từ trên lưng ngựa rồi giơ tay giúp tôi.

“Họ đã bỏ lại kiếm to bản ở chỗ hành lý.”

Jamie đưa dây cương cho người giữ ngựa vừa bước ra khỏi chuồng ngựa để tới gặp chúng tôi, rồi phủi bụi trên chiếc quần ống túm của mình.

“Ờ, bây giờ thì sao?” Tôi thì thầm với Jamie. Không có dấu hiệu gì của một bà chủ nhà hay quản gia; chẳng có dấu vết nào của một hình dáng đầy uy quyền, hân hoan như của bà FitzGibbons đã từng chào đón chúng tôi ở lâu đài Leoch hai năm trước.

Có vài người dắt ngựa và coi chuồng thỉnh thoảng liếc nhìn chúng tôi, nhưng vẫn tiếp tục công việc của họ; vài người hầu băng qua sân cũng vậy, họ đang kéo lê những giỏ đựng đồ giặt, những bó than, và tất cả những đồ dùng cổng kềnh cần thiết trong lâu đài đá. Tôi hài lòng nhìn người đầy tớ trông có vẻ lực lưỡng đang đổ mồ hôi dưới gánh nặng của hai cái bình đựng nước bằng đồng cỡ hai mươi lít. Dẫu có thiếu sót lòng hiếu khách thì ít nhất lâu đài Beaufort cũng có một cái bồn tắm ở đâu đó.

Jamie đứng giữa sân, khoanh tay, quan sát địa điểm này như một người mua bất động sản tiềm năng đang có nghi ngại về hệ thống thoát nước.

“Bây giờ chúng ta sẽ đợi, Sassenach,” anh nói. “Những người lính gác sẽ đi báo lại rằng chúng ta đã tới nơi. Sẽ có ai đó xuống gặp chúng ta… hoặc không.”

“Ừ,” tôi nói. “Em mong là họ quyết định nhanh chóng; em đói rồi, và cần rửa ráy một chút.”

“Ừ, đúng là em đang cần rửa ráy đấy,” Jamie đồng ý với một nụ cười thoáng qua khi anh nhìn lướt cả người tôi. “Em có một vết nhọ trên mũi, và những bông tục đoạn trên tóc. Không, để mặc nó đi,” anh nói thêm, khiến bàn tay đang đưa lên đầu của tôi khựng lại. “Trông rất duyên dáng, em chủ định làm thế phải không?”

Chắc chắn là không rồi, nhưng tôi vẫn để kệ chúng. Dù vậy, tôi vẫn lén đi tới một máng nước gần đó để kiểm tra lại vẻ bề ngoài và tìm cách khắc phục trong chừng mực nào đó khi chẳng có gì để dùng ngoài nước lạnh.

Đây quả là một tình huống tế nhị đối với Simon Già, tôi nghĩ khi cúi người trên cái máng, cố gắng phân biệt xem những đốm tròn trên cái bóng phản chiếu của mình là vết bẩn thực sự hay chỉ là vương phải những mẩu cỏ khô bay trong không trung.

Một mặt, Jamie là đặc phái viên chính thức của nhà Stuart. Dẫu lời hứa hỗ trợ của Lovat là chân thành hay chỉ là lời nói đãi bôi thì đây cũng là cơ hội để ông ta thực hiện nghĩa vụ chào đón người đại diện của Hoàng tử, dù chỉ vì lịch sự.

Mặt khác, người đại diện này là một người cháu trai không chính thống của ông ta, tuy không bị ông ta chối bỏ nhưng hiển nhiên cũng không phải là một thành viên thân thiết trong gia đình. Và cho tới giờ, tôi đã hiểu quá rõ những mối thù hận ở vùng cao nguyên để biết rằng loại cảm giác tồi tệ này không có vẻ gì là sẽ tiêu biến qua thời gian.

Tôi xoa bàn tay ướt nhẹp của mình lên đôi mắt đang nhắm rồi vuốt ngược lại nơi thái dương, ép mấy sợi tóc lơ phơ xuống. Nhìn chung, tôi không cho rằng Lãnh chúa Lovat sẽ để mặc chúng tôi đứng trên sân thế này. Tuy nhiên, ông ta có thể mặc cho chúng tôi đứng ở đó đủ lâu để dấy lên nỗi hoài nghi về sự tiếp đãi dành cho chúng tôi.

Sau đó - ồ, ai mà biết được? Rất có thể chúng tôi sẽ được giao cho Quý bà Frances, một trong những người cô của Jamie, một góa phụ - và theo tất cả những gì mà chúng tôi nghe được từ Tullibardine - cô là người giúp cha mình quản lý những công việc trong gia đình. Hoặc, nếu ông ta lựa chọn đón tiếp chúng tôi như sứ giả ngoại giao hơn là người thân trong gia đình, tôi cho rằng đích thân Lãnh chúa Lovat sẽ xuất hiện cùng với một dàn hộ tống trang trọng gồm thư ký, lính gác và người hầu.

Dường như khả năng cuối cùng này dễ xảy ra nhất, căn cứ vào khoảng thời gian đã trôi qua; xét cho cùng, người ta không giữ một đoàn tùy tùng ăn mặc chỉnh tề ở bên mình mọi nơi mọi lúc - sẽ mất một chút thời gian để tập hợp số người cần thiết. Trong lúc hình dung ra sự xuất hiện đột ngột của một vị bá tước ăn vận lịch lãm, tôi lại suy nghĩ về việc có nên để mặc những bông tục đoạn bám trên tóc mình không, và lại cúi người xuống máng nước.

Đúng lúc đó, có tiếng bước chân trên lối vào phía sau những cái máng. Một ông già béo lùn mặc áo sơ mi để mở và chiếc quần đã tháo dây nịt bước vào sân, đẩy một con ngựa cái bụ bẫm màu hạt dẻ sang bên bằng một cú huých khuỷu tay sắc bén và tiếng kêu cáu kỉnh “Tcha!” Bất chấp tuổi tác, ông ta có một tấm lưng thẳng tắp và đôi bờ vai rộng gần bằng vai của Jamie.

Dừng lại trước máng ngựa, ông ta liếc nhìn xung quanh sân như thể đang tìm kiếm ai đó. Đôi mắt ông ta lướt qua tôi mà không thèm dừng rồi sau đó bất chợt đảo lại và giật mình một cách rõ rệt. Ông ta bước về phía trước, hếch khuôn mặt như muốn gây gổ lên, bộ râu xám không được cạo dựng đứng như lông nhím.

“Cô là ai?” Ông ta hỏi.

“Claire Fraser, à, ý tôi là phu nhân Broch Tuarach,” tôi nói, chậm trễ nhớ ra tước vị của mình. Tôi cố lấy lại bình tĩnh, gạt một giọt nước đọng trên cằm. “Còn ông là ai?” Đến lượt tôi hỏi.

Một bàn tay rắn chắc nắm lấy khuỷu tay tôi từ phía sau, và một giọng nói nhẫn nại phát ra từ nơi nào đó phía trên đầu tôi. “Sassenach, đây là ông nội anh. Thưa ông, cháu có thể giới thiệu vợ của mình chứ?”

•••

“À!” Lãnh chúa Lovat nói, nhìn tôi với ánh mắt xanh thẳm lạnh lùng. “Ta có nghe nói mày đã lấy một cô vợ Anh.” Giọng nói của ông ta thể hiện rõ rằng hành động này đã xác nhận cho những nghi ngờ tồi tệ nhất của ông ta về người cháu trai mà ông ta chưa bao giờ gặp.

Ông ta nhướng một bên lông mày rậm màu xám về phía tôi, và chuyển ánh nhìn chòng chọc như mũi khoan về phía Jamie. “Có vẻ cũng chẳng khôn ngoan hơn cha mày.”

Tôi thấy hai bàn tay Jamie khẽ giật giật, như đang chống cự lại thôi thúc muốn siết chặt nắm tay.

“Ít nhất cháu cũng không cần cưỡng bức hay lừa bịp để lấy được vợ,” anh đáp trả.

Ông anh làu bàu, không mảy may bối rối bởi lời lăng mạ ấy. Tôi nghĩ mình đã thấy khóe miệng nhăn nheo của ông ta giần giật, nhưng không chắc chắn lắm.

“À, đúng vậy, và mày chẳng được lợi mấy từ vụ đổi chác này,” ông ta nhận xét. “Nhưng con bé này rẻ hơn so với con đĩ Mackenzie đã mê hoặc Brian. Dù con bé ngoại tộc này chẳng mang lại lợi ích gì cho mày, ít nhất nó cũng chẳng tốn của mày mấy xu.” Đôi mắt xếch màu xanh, thật giống mắt của Jamie, lướt qua chiếc áo choàng đã đổi màu do di chuyển nhiều của tôi, nhìn vào đường viền áo đã sứt chỉ và những vệt bùn bắn trên váy.

Tôi có thể cảm nhận được một sự rung động mạnh từ Jamie, nhưng lại không chắc chắn liệu đó là một cơn giận hay một tiếng cười.

“Cảm ơn ông,” tôi nói, mỉm cười thân thiện với ngài Lãnh chúa. “Cháu cũng không ăn nhiều. Nhưng cháu cần rửa ráy một chút. Chỉ nước thôi, không cần xà phòng đâu, nếu nó quá đắt đỏ.”

Lần này thì tôi chắc chắn rằng khóe miệng ông ta khẽ giật giật.

“Đúng vậy, ta có thể thấy điều đó.” Ngài Lãnh chúa lên tiếng. “Ta sẽ bảo một người hầu dẫn cô tới phòng của cô. mang cho cô xà phòng nữa. Bọn ta sẽ gặp lại mày trong thư viện trước bữa tối… cháu trai,” ông ta nói thêm với Jamie, rồi quay gót biến mất dưới cái cổng tò vò.

“Bọn ta là ai vậy?” Tôi hỏi.

“Simon Trẻ, anh nghĩ vậy,” Jamie trả lời. “Người thừa kế tước vị của ông. Có thể một, hai người họ hàng nào đó nữa. Và một vài người trương đất, anh cho là vậy khi nhìn thấy lũ ngựa trong sân. Nếu Lãnh chúa Lovat cân nhắc về việc gửi lính tới gia nhập quân đội của nhà Stuart thì những người trương đất và tá điền có thể sẽ có vài điều để nói đấy.”

•••

“Em đã bao giờ trông thấy một con sâu nhỏ giữa bầy gà chưa?” Anh thì thầm khi chúng tôi tiến vào đại sảnh theo sau những người hầu sau đó một giờ. “Đó là anh - hay đúng hơn là chúng ta. Đi sát vào anh đi!”

Những mối liên kết đa dạng của thị tộc Fraser quả nhiên đã được tập hợp lại; khi chúng tôi tới thư viện của lâu đài Beaufort, có tới hai mươi người đang ngồi xung quanh căn phòng.

Jamie được chính thức giới thiệu, và phát biểu một cách trang trọng dưới danh nghĩa nhà Stuart, bày tỏ sự kính trọng của Hoàng tử Charles và Vua James tới Lãnh chúa Lovat, cũng như kêu gọi sự giúp đỡ của Lovat. Ông già ấy đáp lại một cách ngắn gọn, hùng hồn và nước đôi. Cũng như phép xã giao cần có, tôi được dẫn lên phía trước và giới thiệu, không khí chung trở nên dễ thở hơn rất nhiều.

Vây quanh tôi là những quý ông vùng cao nguyên, họ lần lượt ra chào hỏi tôi trong khi Jamie nói chuyện với một người nào đó tên là Graham, có vẻ như đó là họ hàng của Lãnh chúa Lovat. Những người trương đất quan sát tôi với sự dè chừng nhất định, nhưng tất cả vẫn đủ lịch sự - chỉ duy có một ngoại lệ.

Simon Trẻ, trông rất giống cha hắn ở ngoại hình béo lùn nhưng trông trẻ hơn đến gần năm mươi tuổi, bước tới và nắm lấy tay tôi, cúi chào. Khi đứng thẳng người dậy, hắn chăm chú quan sát tôi với vẻ thô lỗ.

“Vợ của Jamie phải không?” Hắn hỏi. Hắn có đôi mắt xếch của cha mình và cháu mình, nhưng chúng lại mang màu nâu xám xịt của vùng đầm lầy. “Ta chắc hẳn phải gọi cô là “cháu dâu”, phải không?” Hắn chỉ tầm tuổi Jamie, và rõ ràng trẻ hơn tôi vài tuổi.

“A ha,” tôi thốt ra một cách lịch sự, trong khi hắn cười như nắc nẻ với câu nói tưởng như hóm hỉnh của mình. Tôi cố thu tay lại, nhưng hắn vẫn giữ chặt nó. Thay vào đó, hắn cười vui vẻ với tôi, và một lần nữa dò xét tôi.

“Cô biết đấy, ta đã nghe kể về cô,” hắn nói, “cô có một chút tiếng tăm trên vùng cao nguyên này đấy, phu nhân ạ!”

“Ồ, thật vậy sao? Quý hóa quá!” Tôi giật mạnh tay lại một cách kín đáo, đáp lại, hắn nắm chặt tay tôi với một cú siết mạnh khiến tôi cảm thấy hơi đau.

“Ồ, đúng vậy. Ta nghe nói cô rất nổi tiếng với những người đàn ông dưới trướng của chồng mình,” hắn nói, cười to đến nỗi đôi mắt híp lại thành hai cái khe hẹp màu nâu tăm tối. “Họ gọi cô là neo-geimnidh meala. Có nghĩa là “Bà chủ có đôi môi ngọt ngào”. Hắn dịch nghĩa khi trông thấy vẻ hoang mang của tôi trước thứ tiếng Gaelic xa lạ.

“Tại sao, cảm ơn…” Tôi bắt đầu, nhưng chưa kịp nói gì thêm ngoài mấy chữ ấy thì nắm đấm của Jamie đã dộng vào cằm Simon Trẻ khiến hắn loạng choạng ngã vào cái bàn chứa đầy bánh nướng, khiến chúng cùng với những chiếc thìa rơi tung tóe khắp mặt sàn đá đen bóng loáng, gây ra tiếng loảng xoảng chói tai.

Hắn ăn vận như một quý ông nhưng có bản năng của một kẻ chuyên đi gây sự. Simon Trẻ cuộn người bật dậy trên hai đầu gối, tay nắm chặt và bất động ở đó. Jamie đứng phía trên hắn, những nắm tay đã nới lỏng hơn, sự im lặng của anh còn có khả năng uy hiếp lớn hơn lời đe dọa công khai.

“Không,” anh nói với giọng đều đều, “cô ấy không hiểu tiếng Gaelic mấy đâu. Và vì ông đã chứng minh điều đó trước sự thỏa mãn của tất cả mọi người, hãy xin lỗi vợ tôi một cách chân thành trước khi tôi đá bay hết đống răng của ông xuống cổ họng.”

Simon Trẻ bừng bừng nhìn lên Jamie, sau đó liếc nhanh sang cha mình, người kín đáo gật đầu vẻ thiếu kiên nhẫn vì sự gián đoạn này. Mái tóc đen bù xù của Fraser trẻ tuột ra khỏi dây buộc, lòe xòe vương trên mặt. Hắn dè chừng nhìn Jamie, nhưng với ánh mắt kỳ lạ như thể chế giễu pha lẫn kính trọng. Hắn lấy tay quệt miệng và trang trọng cúi đầu với tôi, vẫn quỳ trên hai đầu gối.

“Xin thứ lỗi, phu nhân Fraser, xin lỗi về bất kỳ sự xúc phạm nào mà cô đã phải chịu đựng.”

Tôi chẳng thể làm gì hơn ngoài một cái gật đầu độ lượng trước khi Jamie ôm lấy tôi, bước ra hành lang. Chúng tôi gần đi tới cửa trước thì tôi mới lên tiếng, liếc nhìn lại phía sau để xem chúng tôi đã bỏ lỡ điều gì.

“Neo-geimnidh meala có nghĩa là gì vậy?” Tôi hỏi, giật mạnh tay áo anh để bảo anh đi chậm lại. Anh nhìn xuống tôi, như thể tôi đã kéo lại sự tập trung đang lang thang ở một nơi nào đó của anh.

“À! Chỉ là đôi môi ngọt ngào thôi. Không ít thì nhiều.”

“Nhưng…”

“Điều ông ta nói chẳng liên quan gì tới môi của em cả, Sassenach,” Jamie nói một cách khô khan.

“Tại sao, điều đó…” Tôi làm như định quay lại để hỏi cho ra, nhưng Jamie siết chặt tay tôi.

“Chậc, chậc,” anh thì thầm bên tai tôi. “Đừng lo, Sassenach! Họ chỉ muốn nhắm vào anh thôi. Sẽ ổn thôi mà.”

Tôi phải rời đi trong sự trông chừng của phu nhân Frances, chị gái của Simon Trẻ, trong khi Jamie quay lại thư viện, bờ vai thẳng tắp kiên quyết như sẵn sàng cho một trận chiến. Tôi mong anh sẽ không đánh nhau với bất kỳ người họ hàng nào nữa; mặc dù những người Fraser ở đây nhìn chung không to lớn như nhà MacKenzie, song họ có sự cảnh giác bền bỉ báo trước điềm gở cho bất kỳ kẻ nào cố gắng làm điều gì đó trước mặt họ.

Phu nhân Frances khá trẻ, có thể chỉ khoảng hai mươi hai, và đang nghiêng đầu nhìn tôi chằm chằm, cứ như tôi có thể nhảy xổ vào cô ấy nếu không được xoa dịu liên tục bằng trà và đồ ăn ngọt. Tôi cố bắt bản thân mình tỏ ra vui vẻ và vô hại nhất có thể, sau một khoảng thời gian, cô ấy đã đủ thoải mái để thú nhận rằng chưa bao giờ gặp một người phụ nữ Anh nào trước đây. “Phụ nữ Anh”, tôi có thể kết luận, là một giống loài ngoại quốc nguy hiểm.

Tôi cẩn thận không di chuyển một cách đột ngột, và sau một lúc, cô ấy trở nên thoải mái hơn khi bẽn lẽn giới thiệu tôi với con trai của cô, một ông tướng con cứng cáp khoảng ba tuổi, được giữ gìn sạch sẽ bởi sự trông chừng không dời mắt của một người hầu gái có khuôn mặt nghiêm nghị.

Tôi đang kể với Frances và em gái Aline của cô về Jenny và gia đình chị ấy, những người mà họ chưa bao giờ gặp, thì bất ngờ có một tiếng rơi và tiếng khóc ở hành lang bên ngoài. Tôi đứng phắt dậy và tới cửa phòng khách đúng lúc trông thấy một đống lộn xộn vải vóc đang vật lộn đứng dậy trên hành lang đá. Cánh cửa nặng nề dẫn tới thư viện đang mở, và thân hình ục ịch của Simon Fraser già đứng tựa vào đó, xấu xí như một con cóc.

“Cô sẽ nhận lấy hậu quả còn tệ hơn thế này, cô gái của ta, và cô chẳng thể làm việc tốt hơn được,” ông ta nói. Giọng ông ta không có vẻ đe dọa; chỉ như đang diễn giải một sự thật. Thân hình trong đống lộn xộn vươn đầu lên, và tôi trông thấy một khuôn mặt góc cạnh đáng yêu đến kỳ quặc, đôi mắt đen mở to bên trên đốm đỏ hằn sâu trên má. Bà ta trông thấy tôi, nhưng chẳng tỏ vẻ gì là đã nhìn thấy sự hiện diện của tôi, chỉ đứng dậy và không nói một lời, chạy biến đi. Bà ta khá cao và rất gầy, di chuyển với một dáng điệu kỳ lạ và có phần lóng ngóng như một con sếu.

Tôi đứng nhìn chằm chằm vào Simon Già, ông ta đang được ánh sáng lò sưởi từ thư viện đằng sau chiếu rọi. Cảm nhận được ánh mắt của tôi trên người mình, ông ta quay đầu lại nhìn tôi. Ánh mắt màu xanh già nua dừng lại trên người tôi, lạnh như đá sa phia.

“Xin chào, cưng,” ông ta nói và đóng cửa lại.

Tôi đứng ngây người nhìn cánh cửa gỗ tối màu.

“Tất cả những điều đó là gì vậy?” Tôi hỏi Frances, người đã tiến tới sau lưng tôi.

“Không có gì,” cô ta nói, liếm môi một cách lo lắng. “Đi nào, người họ hàng.”

Tôi để mặc cô ta kéo mình đi, nhưng quyết định sẽ hỏi Jamie chuyện đã diễn ra trong thư viện.

•••

Khi chúng tôi tới phòng ngủ được dành cho mình vào đêm nay, Jamie vỗ nhẹ lên đầu người dẫn đường nhỏ của chúng tôi, ra hiệu cho cậu ta lui đi.

Tôi thả người xuống giường, bất lực nhìn chăm chú xung quanh.

“Bây giờ chúng ta sẽ làm gì đây?” Tôi hỏi. Bữa tối đã trôi qua mà chẳng có gì đáng nói, nhưng đôi khi tôi cảm thấy sức nặng từ ánh nhìn của Lovat trên người mình.

Jamie nhún vai, kéo áo qua đầu.

“Giá mà anh biết, Sassenach,” anh nói. “Họ hỏi anh về tình hình quân đội vùng cao, điều kiện của binh lính và những điều mà anh biết về kế hoạch của Hoàng tử. Anh kể cho họ. Sau đó, họ hỏi lại tất cả những điều đó một lần nữa. Ông nội anh cho rằng bất kỳ ai cũng không thể cho ông một câu trả lời thẳng thắn,” anh nói thêm một cách khô khốc. “Ông nghĩ ai cũng thối nát như mình chắc, với hàng tá động cơ; mỗi cái cho mỗi dịp.”

Anh lắc đầu và quăng chiếc áo lên giường cạnh tôi.

“Ông chẳng thể biết được liệu anh có nói dối về tình hình quân đội vùng cao hay không. Nếu anh muốn ông gia nhập với nhà Stuart, anh chắc chắn sẽ nói quá lên về mọi thứ, còn nếu anh thực sự chẳng quan tâm, theo cách này hay cách khác, anh sẽ nói sự thật. Ông không có ý định cam kết điều gì cho tới khi biết rõ lập trường của anh.”

“Và ông ấy định làm thế nào để biết anh có nói thật hay không?” Tôi hoài nghi hỏi.

“Ông có một nhà tiên tri,” anh tỉnh bơ đáp, như thể đó là một trong những vật dụng bình thường của một lâu đài vùng cao nguyên. Theo những gì tôi biết thì đúng là như vậy.

“Thật sao?” Tôi ngồi dậy trên giường, bị kích thích vì tò mò. “Có phải là người phụ nữ mà ông ấy đã ném ra khỏi phòng không?”

“Đúng thế! Bà ta tên là Maisri, và bà ta có khả năng tiên tri từ khi sinh ra. Nhưng bà ta lại chẳng thể nói cho ông nghe bất kỳ điều gì - hoặc đúng hơn là sẽ không nói,” anh thêm vào. “Rõ ràng là bà ta biết điều gì đó, nhưng bà ta chỉ lắc đầu và nói không thể thấy gì cả. Đó là khi ông anh mất kiên nhẫn và ném bà ta ra ngoài.

“Lão già tàn bạo!” Tôi phẫn nộ.

“Chà, ông ấy không chiều chuộng phụ nữ chút nào cả,” Jamie đồng ý.

Anh đổ nước ra chậu và bắt đầu lấy tay vốc nước lên mặt. Anh ngẩng đầu, giật mình, để mặc nước chảy trước tiếng thở hắt ra của tôi.

“Hả?”

“Bụng anh…” Tôi nói, chỉ chỉ. Ở giữa xương ức và váy len của anh hằn lên một vết bầm lớn còn mới, nó đang lan ra như một đóa hoa lớn khó coi trên làn da trắng trẻo.

Jamie nhìn xuống, nói: “Ồ, cái đó” một cách thờ ơ, và quay lại với việc rửa ráy.

“Đúng vậy, cái đó,” tôi nói, tới gần để nhìn kĩ hơn. “Có chuyện gì vậy?”

“Không vấn đề gì đâu,” anh nói một cách khó khăn qua chiếc khăn mặt. “Chiều nay anh đã hơi nóng nảy, và ông anh đã để Simon Trẻ dạy anh một bài học nhỏ về sự tôn trọng.”

“Vậy là hắn đã sai hai thanh niên nhà Fraser giữ anh trong khi đấm vào bụng anh hả?” Tôi nói, bắt đầu cảm thấy tồi tệ.

Quăng cái khăn sang một bên, Jamie với lấy chiếc áo ngủ.

“Hơi tâng bốc quá khi em nghĩ rằng phải hai người mới giữ được anh đấy,” anh nói, toét miệng cười khi đang chui đầu qua cổ áo. “Thực ra là ba người, một đứng đằng sau tóm cổ anh.”

“Jamie!”

Anh cười, lắc đầu một cách ảo não khi kéo lại cái chăn trên giường.

“Anh không biết ở em có điều gì, Sassenach, mà khiến anh luôn muốn thể hiện trước em. Một ngày nào đó anh sẽ khiến mình bị giết bởi cố gắng gây ấn tượng với em mất.” Anh thở dài, cẩn thận kéo cái áo len qua bụng. “Chỉ là đóng kịch thôi mà, Sassenach; em không cần lo lắng đâu.”

“Đóng kịch! Chúa nhân từ, Jamie!”

“Em đã từng nhìn thấy một con chó lạ gia nhập bầy đàn chưa, Sassenach? Những con còn lại sẽ đánh hơi, cắn vào chân nó và gầm gừ để xem nó sẽ thu mình hay gầm gừ lại. Đôi khi chúng sẽ cắn nhau, đôi khi thì không, nhưng cuối cùng, mọi con chó trong đàn sẽ biết vị trí của nó và ai là kẻ đứng đầu. Simon Già muốn chắc chắn rằng anh biết ai là người dẫn đầu bầy chó; vậy thôi.”

“Ồ, vậy anh có biết không?” Tôi ngồi xuống, chờ anh bước tới giường. Anh cầm nến lên và cười toe toét với tôi, ánh sáng lập lòe gợi lên một tia hy vọng trong mắt anh.

“À hú,” anh đáp và thổi tắt nến.

•••

Trong hai tuần sau đó, tôi chỉ gặp Jamie rất ít, chủ yếu là về đêm. Ban ngày, anh luôn ở cùng ông nội, săn bắn hay cưỡi ngựa - Loval là một người đàn ông tràn trề sinh lực dù ở độ tuổi đó - hay uống say sưa trong phòng làm việc, khi Cáo Già chậm rãi đưa ra kết luận và bố trí kế hoạch.

Tôi dành phần lớn thời gian với Frances và những người phụ nữ khác. Thoát khỏi cái bóng đáng sợ của cha mình, Frances đã lấy đủ dũng khí để nói lên suy nghĩ của mình, chứng minh mình là một người bạn thông minh và thú vị. Cô có trách nhiệm đảm bảo mọi việc của lâu đài luôn được vận hành suôn sẻ, nhưng khi cha mình xuất hiện thì cô thu mình lại, trở nên không quan trọng, hiếm khi ngước mắt lên hay nói to hơn một lời thầm thì. Cũng chẳng trách cô về điều đó được.

Hai tuần sau khi chúng tôi đến, Jamie tới đón tôi từ phòng vẽ tranh nơi tôi đang ngồi với Frances và Aline, và nói rằng Lãnh chúa Lovat muốn gặp tôi.

Simon Già tùy tiện vẫy tay về phía những cái bình cổ thon đặt trên chiếc bàn sát tường, sau đó ngồi xuống chiếc ghế rộng chạm khắc từ gỗ cây óc chó, với tấm đệm cũ kỹ bằng nhung màu xanh đã sờn; tôi tự hỏi liệu nó vốn dĩ là như vậy hay do sử dụng lâu ngày, ông ta ngồi vừa khít với hình dáng của cái ghế.

Tôi nhẹ nhàng ngồi xuống trong góc với ly rượu poóc-tô của mình, giữ im lặng cho tới khi Simon hỏi Jamie một lần nữa về tình hình và những triển vọng của Charles Stuart.

Lần thứ hai mươi trong một tuần, Jamie vẫn kiên nhẫn kể lại số lượng binh sĩ sẵn sàng và ban chỉ huy - y như bộ máy đó vốn có - vũ khí được trang bị và điều kiện của nó - phần lớn còn nghèo nàn - những viễn cảnh khi Charles có thêm sự gia nhập của Lãnh chúa Lewis Gordon hay nhà Farquharson, những gì mà Glengarry đã nói về địa hình vùng Prestonpans, những gì Cameron biết hay suy luận về động tĩnh của quân Anh, tại sao Charles quyết định tiến quân về phía nam, và những thứ tương tự như thế, vân vân. Tôi thấy mình đang gật gù trên cái ly cầm ở tay, và cố lấy lại sự tỉnh táo đúng lúc giữ cho thứ chất lỏng màu đỏ ruby không sánh vào áo mình.

“… Và Lãnh chúa George Murray cùng Kilmarnock đều nghĩ Hoàng tử sẽ nghe theo lời khuyên tốt nhất là kéo quân quay trở lại vùng cao nguyên vào mùa đông,” Jamie kết luận, há miệng ngáp. Cảm thấy tù túng trên chiếc ghế hẹp, anh đứng lên và duỗi người, bóng anh lập lòe trên những tấm màn bao phủ bức tường đá.

“Và cá nhân anh nghĩ gì?” Mắt Simon Già lấp lánh dưới hàng mi đã cụp xuống một nửa khi ông ta ngả người trên ghế. Đám lửa cháy cao và bừng sáng trong lò sưởi; Frances đã thắp lửa trong sảnh chính bằng than bùn nhưng ngọn lửa này lại được thắp bằng củi theo lệnh của Lovat. Mùi nhựa thông từ đống củi cháy rất hắc, quyện lẫn với mùi nồng hơn của khói.

Ánh sáng hắt bóng Jamie thật cao trên bức tường khi anh quay người không ngừng, như thể không muốn ngồi trên ghế thêm nữa. Căn phòng làm việc nhỏ bé này thật ngột ngạt và tối tăm, với một ô cửa sổ được che rèm chắn đi màn đêm - rất khác biệt với nghĩa trang nhà thờ đầy nắng nơi Colum đã hỏi anh những câu hỏi tương tự. Và tình cảnh bây giờ đã thay đổi; không còn là nhân vật được yêu thích mà những thủ lĩnh thị tộc phục tùng nữa, giờ đây Charles đang gửi tới các thủ lĩnh lời kêu gọi, yêu cầu họ thực hiện nghĩa vụ với cậu ta. Nhưng hình dạng của vấn đề thì vẫn vậy - một hình bóng vô hình, đen tối đang treo lơ lửng như một bóng đen trên đầu chúng tôi.

“Cháu đã nói với ông những gì cháu nghĩ - hàng tá lần rồi.” Jamie nói một cách xấc xược. Anh cựa quậy vai vẻ thiếu kiên nhẫn, nhún nhún như thể áo quá chật.

“Ồ, đúng vậy, anh đã nói với ta. Nhưng lần này ta nghĩ là chúng ta sẽ nói lên sự thật.”

Ông già ngồi thoải mái hơn trên chiếc ghế có đệm, tay chắp lại trên bụng.

“Vậy ông sẽ nói thật chứ?” Jamie phát ra một tiếng cười ngắn, quay ra nhìn thẳng vào ông mình. Anh ngả người ra sau, tựa vào bàn, tay chống đằng sau. Bất chấp sự khác nhau trong tư thế và hình dáng, vẫn có một sự căng thẳng giữa hai người đàn ông làm nổi lên sự giống nhau thoáng qua giữa họ. Một người cao và một người béo lùn, nhưng cả hai bọn họ đều mạnh mẽ, ngang bướng và quyết giành chiến thắng trong cuộc đối đầu này.

“Ta không phải người đồng tộc với anh à? Không phải thủ lĩnh của anh à? Ta có nên yêu cầu sự trung thành của anh không nhỉ?”

Vậy đây chính là mấu chốt. Colum, người quá quen thuộc với sự yếu đuối của cơ thể nên biết bí quyết xoay chuyển sự yếu đuối của một người đàn ông để phục vụ mục đích của mình. Simon Fraser, người mạnh mẽ và đầy khí lực thậm chí ở vào độ tuổi này, đã quá quen với việc làm theo ý mình bằng những phương pháp trực tiếp hơn. Tôi có thể nhìn thấy nụ cười chua chát trên gương mặt Jamie, anh đang so sánh sự cầu xin giúp đỡ của Colum với mệnh lệnh của ông nội anh.

“Ông có thể không? Cháu không nhớ là mình đã từng tuyên thệ với ông.”

Vài sợi lông mày dài thô cứng mọc chĩa ra trên lông mày của Simon, kiểu của người già. Chúng rung rung trong ánh lửa, và tôi chẳng thể nói liệu đó là sự phẫn nộ hay chế giễu.

“Một lời tuyên thệ ư? Không phải là dòng máu Fraser đang chảy trong huyết quản của mày sao?”

Miệng Jamie giật giật một cách châm biếm khi anh trả lời. “Họ luôn nói rằng một đứa trẻ khôn ngoan là đứa trẻ hiểu về cha của mình, phải không? Mẹ cháu là một người nhà MacKenzie; và cháu biết rõ điều đó.”

Khuôn mặt của Simon trở nên tím tái, lông mày ông ta nhíu lại. Sau đó, miệng ông ta mở thật to và ông ta cười phá lên. Ông ta cười cho tới khi phải ngồi thẳng dậy trên ghế và gập người về đằng trước, phì phò và nghẹt thở. Cuối cùng, ông ta phải đập một tay lên thành ghế vì không kìm được cơn cười, một tay khác thò vào trong miệng, lôi ra hàm răng giả.

“Khặc,” ông ta lắp bắp nói, thở hổn hển và khò khè. Mặt đầy nước mắt và nước miếng, ông ta mò mẫm tới cái bàn nhỏ cạnh ghế và vứt hàm răng giả vào đĩa bánh. Những ngón tay xương xẩu nắm chặt chiếc khăn ăn bằng vải lanh, và ông ta ấn nó lên mặt, vẫn phát ra những tiếng cười nhỏ trong khi cố kiểm soát những gì còn lại.

“Chúa ơi, chàng trai trẻ,” cuối cùng ông ta nói, giọng khá ngọng. “Đưa cho ta bình whisky.”

Lông mày nhướng lên, Jamie lấy chiếc bình trên bàn phía sau lưng anh và đưa nó cho ông nội, ông ta bỏ nút chai và tu ừng ực một lượng rượu đáng kể mà chẳng thèm bận tâm đến phép lịch sự là phải dùng một cái ly.

“Mày nghĩ rằng mày không phải là một người Frather[3] à?” Ông ta nói, hạ thấp cái bình xuống và thở ra một cách nóng nảy. “Ha!” Ông ta ngả ra sau một lần nữa, bụng phập phồng mạnh khi hít vào một hơi. Ông ta chỉ một ngón tay dài, xương xẩu vào Jamie.

“Cha mày đã đứng đúng ở vị trí mà mày đang đứng bây giờ, cháu trai ạ, và nói với ta cũng chính những lời mày vừa nói vào cái ngày nó rời lâu đài Beaufort mãi mãi.”

Ông già dần trở nên bình tĩnh hơn. Ông ta ho vài lần và lau sạch mặt lần nữa.

“Mày có biết rằng ta đã từng cố gắng ngăn cản cuộc hôn nhân của cha mẹ mày bằng cách thuyết phục rằng con của Ellen MacKenzie không phải là của Brian không?”

“Đúng vậy, cháu biết.” Jamie tựa người vào bàn lần nữa, quan sát ông nội anh qua đôi mắt nheo lại.

Lãnh chúa Lovat khịt mũi. “Ta sẽ không nói rằng luôn luôn có một sự thiện chí giữa ta và những đứa con của ta, nhưng ta hiểu rõ con trai mình. cả cháu trai của ta nữa.” Ông ta nhấn mạnh. “Quỷ bắt ta đi, ta cho rằng bất cứ ai trong số chúng đều có thể bị cắm sừng, nhiều hơn là ta nữa.”

Jamie chẳng biểu lộ cảm xúc, nhưng tôi thì chẳng thể ngăn mình không liếc nhìn đi chỗ khác. Tôi đang nhìn chằm chằm vào hàm răng giả bị vứt ra ngoài, thứ gỗ sồi đã đổi màu đang phát ra ánh lập lòe ướt nhoẹt nước giữa những mẩu vụn bánh. May mắn là Lãnh chúa Lovat không để ý thấy tia nhìn của tôi thay đổi.

Ông ta tiếp tục, lại trở nên nghiêm túc. “Bây giờ thì Dougal MacKenzie của Leoch đã bày tỏ lòng trung thành với Charles. Mày có gọi hắn ta là thủ lĩnh không? Đó là những gì mà mày đang cố gắng nói với ta đấy sao? Rằng mày đã tuyên thệ với hắn ta?”

“Không, tôi không tuyên thệ với bất kỳ ai.”

“Kể cả Charles?” Ông già nhanh nhạy thình lình chộp lấy điều đó như mèo vồ chuột. Tôi như trông thấy đuôi ông ta ngoe nguẩy khi nhìn Jamie, đôi mắt xếch sâu hoắm phát ra những tia sáng dưới mi mắt đầy vết nhăn.

Đôi mắt Jamie dán chặt vào ngọn lửa lập lòe, bóng anh bất động in trên bức tường phía sau.

“Điện hạ không yêu cầu cháu.” Đó là sự thật. Charles thực sự không cần một lời tuyên thệ từ Jamie - cậu ta đã ngăn chặn điều cần thiết đó bằng cách ký thay Jamie trong danh sách những người ủng hộ mình. Tôi biết rằng trên thực tế anh đã không hứa gì với Charles, và điều đó rất quan trọng đối với Jamie. Nếu anh buộc phải phản bội lại người đàn ông ấy, thì tốt nhất hãy để cậu ta là một người thủ lĩnh không được thừa nhận. Cái ý nghĩ cả thế giới đều cho rằng một lời tuyên thệ như vậy có tồn tại là một vấn đề ít để bận tâm hơn nhiều.

Simon lại làu bàu. Không có hàm răng giả, mũi và cằm của ông ta trở nên gần nhau hơn, khiến cho nửa dưới của khuôn mặt ông ta rút ngắn lại.

“Vậy thì chẳng gì có thể cản trở mày thề trung thành với ta, như là với thủ lĩnh của thị tộc mày,” ông ta lặng lẽ nói. Cái đuôi ngoe nguẩy trở nên ít lộ liễu hơn, nhưng vẫn ở đó. Tôi có thể gần như nghe được những suy nghĩ trong đầu ông ta đang lướt quanh trên những bàn chân êm như độn bông. Nếu Jamie tuyên thệ dâng tặng lòng trung thành cho ông ta thay vì cho Charles, sức mạnh của Lovat có thể được nhân lên. Của cải của ông ta cũng sẽ tăng lên theo vì ông ta có thể đòi hỏi quyền được hưởng một phần thu nhập từ Lallybroch với tư cách một thủ lĩnh. Viễn cảnh có được địa vị công tước kéo lại gần hơn một chút, phát ra những tia sáng qua màn sương mù.

“Chẳng gì cả ngoại trừ ý chí của cháu,” Jamie vui vẻ tán đồng. “Nhưng đó là một trở ngại nho nhỏ, không phải sao?” Khóe mắt anh nhăn lại khi đôi mắt nheo hẹp hơn.

“Hừm!” Mắt của Lovat cũng gần như nhắm lại, và ông ta lắc đầu chậm rãi từ bên này sang bên kia. “Ồ, đúng vậy, mày là con trai của cha mày. Ương bướng như một tảng đá, đần độn, ngốc nghếch. Ta đã biết rằng Brian sẽ chẳng được gì ngoài một lũ ngốc từ ả gái điếm đó mà.”

Jamie với tay chộp lấy hàm răng bằng gỗ sồi trên đĩa. “Tốt hơn hết là ông nên rút lại những lời đó, lão già ngu ngốc.” Anh thô lỗ nói. “Tôi chẳng thể hiểu nổi một từ ông nói.”

Miệng ông nội anh nới rộng ra thành một nụ cười chẳng hài hước chút nào, phô bày chân răng vàng úa của một chiếc răng đã gãy trơ trọi ở hàm dưới.

“Không ư?” Ông ta nói. “Mày có hiểu một cuộc mặc cả không?” Ông ta ném một cái liếc nhanh sang tôi, như thể chẳng nhìn thấy gì ngoài một tấm thẻ khác chuẩn bị được đưa lên bàn cược. “Lời tuyên thệ đổi lấy danh dự cho vợ mày, thế nào?”

Jamie cười thành tiếng, vẫn cầm hàm răng trên tay.

“Ồ, vậy ư? Ông định cưỡng bức cô ấy ngay trước mắt tôi hả, ông nội?” Anh uể oải ngồi ngả người lại một cách khinh bỉ, đặt tay lên bàn. “Vậy thì cứ việc, khi cô ấy xong chuyện với ông, tôi sẽ gọi cô Frances tới quét dọn những gì còn sót lại.”

Ông anh nhìn anh một cách điềm tĩnh. “Không phải ta, cháu trai!” Một bên miệng móm mém nhếch lên khi ông ta quay hẳn đầu sang nhìn tôi. “Mặc dù ta cũng vui lòng làm điều đó nếu nó có giá trị.” Sự thâm hiểm đến ớn lạnh trong đôi mắt tối tăm khiến tôi muốn kéo áo choàng qua ngực để bảo vệ, nhưng không may là lúc này tôi không mặc nó.

“Có bao nhiêu người đàn ông ở Beaufort, Jamie? Có bao nhiêu kẻ có đầu óc sẽ nể mặt mày? Mày chẳng thể bảo vệ cô ta cả ngày lẫn đêm.”

Jamie chậm rãi ngồi thẳng người lên, cái bóng to lớn phản chiếu những chuyển động của anh trên tường. Anh nhìn chằm chằm xuống ông nội mình, không biểu lộ chút cảm xúc nào.

“Ồ, tôi nghĩ là tôi không cần lo lắng đâu, ông nội ạ,” anh nhẹ nhàng nói. “Vợ tôi là một người phụ nữ hiếm gặp. Một phù thủy, ông biết đấy. Một Quý Bà Trắng, như Quý bà Aliset.”

Tôi chưa bao giờ nghe nói tới Quý bà Aliset, nhưng Lãnh chúa Lovat thì rõ ràng đã nghe rồi; đầu ông ta quay ngoắt qua, nhìn chằm chằm vào tôi, đôi mắt trợn trừng trong dáng vẻ kinh sợ. Miệng ông ta há hốc, nhưng trước khi ông ta kịp cất tiếng thì Jamie đã tiếp tục, một suy nghĩ xấu xa hiển hiện rõ trong lời nói trôi chảy của anh.

“Người đàn ông dám ôm lấy cô ấy một cách tục tĩu thì vùng kín của hắn ta sẽ bị nguyền rủa biến thành một quả táo thối,” anh nói, với sự thích thú, “và tâm hồn hắn ta sẽ bị thiêu đốt vĩnh viễn dưới địa ngục.” Anh nhe răng về phía ông nội mình và rụt tay lại. “Như thế này này.” Hàm răng bằng gỗ sồi đáp xuống giữa đống lửa với một tiếng bộp, và ngay lập tức cháy xèo xèo.

[1] Tiếng Gaelic: Dừng lại!

[2] Croesus (595 tr. CN - 547 tr. CN): vua nước Lydia từ năm 560 tr. CN cho đến khi bị quân Ba Tư đánh bại. Nhờ chinh phạt các miền đất láng giềng, ông trở nên nổi tiếng vì sự giàu sang của mình.

[3] Vì Simon bỏ răng giả nên nói ngọng Fraser thành Frather.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.