Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
27
Một buổi yết kiến Bệ hạ

❊ ❊ ❊

Chuồn Chuồn Hổ Phách - Tập 2

Nhiều ngày trôi qua tại Fontainebleau, tôi đã dần lấy lại sức khỏe, mặc dù tâm trí vẫn lãng đãng và các suy nghĩ thường né tránh mọi loại ký ức hay hành động.

Trong thời gian đó, tôi có vài vị khách đến thăm. Biệt thự đồng quê đã trở thành nơi trú ẩn cho tôi, tại đây cuộc sống náo nhiệt của xã hội Paris giống như là một giấc mơ khó chịu, ám ảnh tôi. Khi một người hầu mời tôi đến phòng nhỏ để gặp khách, tôi đã ngạc nhiên. Một ý nghĩ nhanh chóng lướt qua đầu, biết đâu đó là Jamie, nhưng ngay tức thì cơ thể tôi trào lên một cảm giác chóng mặt, buồn nôn. Cuối cùng, lý trí đã đính chính lại; chắc chắn, vào thời điểm này, Jamie đang trên đường tới Tây Ban Nha, anh không thể quay về trước cuối tháng Tám. Vậy anh đã lên đường khi nào?

Tôi không nên suy nghĩ thêm về vấn đề này và quyết định gạt nó vào sâu trong tâm trí. Tuy nhiên, trong lúc thắt những sợi dây buộc để xuống tầng, hai bàn tay tôi bắt đầu run rẩy.

“Vị khách” còn khiến tôi ngạc nhiên hơn, đó chính là Magnus, quản gia của ngôi nhà Jared sở hữu trên Paris.

“Xin thứ lỗi, thưa phu nhân,” ông ta nói, cúi thấp đầu khi trông thấy tôi. “Tôi không muốn làm phiền bà… nhưng tôi không biết vấn đề này có nghiêm trọng không… và ông chủ đã đi rồi…” Tuy là kẻ ngạo mạn trong phạm vi ảnh hưởng của mình nhưng ông lão tỏ ra rất bối rối khi ở một nơi xa xôi. Phải mất một lúc ông ta mới kể chuyện được liền mạch, nhưng rốt cuộc ông ta cũng trình ra một tờ giấy được gập lại và đóng xi, gửi cho tôi.

“Người gửi cái này là ông Murtagh,” Magnus nói bằng âm điệu vừa ghê tởm vừa kính sợ. Tôi cho rằng điều này đã giải thích sự do dự của ông ta. Tất cả những người phục vụ ở Paris đều nhìn Murtagh với thái độ khiếp hãi pha lẫn kính cẩn và hình ảnh đó được thổi phồng bởi các báo cáo cùng những sự kiện ở đường Faubourg St.-Honoré.

Tờ giấy đã đến Paris từ hai tuần trước, Magnus giải thích. Đám người hầu không biết phải làm sao với nó, họ đã run cầm cập bàn bạc với nhau, cuối cùng viên quản gia quyết định phải mang nó đến cho tôi.

“Ông chủ đã đi rồi,” Magnus nhắc lại. Lần này, tôi chú ý tới điều ông ta nói.

“Đã đi ư?” Tôi hỏi. Tờ giấy bị vò nát và ố màu bởi quãng đường vận chuyển, trông nó như một cái lá trên tay tôi. “Ý của ông là Jamie đã đi trước khi tờ giấy này đến ư?” Tôi không thể hiểu nổi chuyện này. Đây chắc hẳn là tin nhắn của Murtagh, ghi tên và ngày cập bến Lisbon của con thuyền chở rượu poóc-tô cho Charles Stuart. Jamie không thể đi Tây Ban Nha trước khi nhận được thông tin.

Tôi bóc xi và mở nó ra để kiểm tra. Bức thư đề gửi cho tôi, bởi Jamie nghĩ thư từ của tôi sẽ ít bị chặn hơn của anh. Từ Lisbon, ngày gửi gần một tháng trước, tờ giấy không ký tên, nhưng cũng không cần thiết.

“Thuyền Scalamandre sẽ nhổ neo từ Lisbon vào ngày Mười tám tháng Bảy”, tất cả chỉ ghi vậy. Tôi ngạc nhiên khi trông thấy chữ viết của Murtagh nhỏ và gọn gàng, bởi tôi đã mong chờ những dòng nguệch ngoạc, không rõ chữ.

Tôi dời mắt khỏi tờ giấy, quan sát Magnus và Louise trao đổi một ánh nhìn rất kỳ lạ.

“Chuyện gì thế?” Tôi hỏi. “Jamie đâu?” Tôi đã tin rằng anh vắng mặt tại nhà thương Des Anges sau vụ sẩy thai là do hối hận khi nhận ra rằng hành động khinh suất của mình đã gây nên cái chết của con chúng tôi, giết Frank và gần như trả giá bằng mạng sống của tôi. Vì thế, tôi không quan tâm, cũng không muốn gặp anh. Giờ thì tôi bắt đầu nghĩ tới một lý do mang nhiều điềm gở hơn về sự vắng mặt của anh.

Cuối cùng, Louise là người lên tiếng, cô ấy đứng thẳng người, nâng đôi vai tròn trĩnh lên để quyết tâm nhận lấy trách nhiệm này.

“Ông ấy ở trong ngục Bastille,” cô ấy nói, hít một hơi thật sâu. “Vì cuộc đấu kiếm.”

Hai đầu gối tôi mềm nhũn, và tôi ngồi lên bề mặt gần nhất có thể.

“Vì chuyện quái gì mà cô không nói với tôi?” Tôi chẳng biết mình cảm thấy thế nào trước tin tức này; choáng váng, kinh hoàng - hay khiếp sợ? Hoặc một chút thỏa mãn?

“Tôi… tôi không muốn cô buồn, chérie,” Louise lắp bắp, lùi bước khi thấy rõ nỗi đau của tôi. “Cô quá yếu… không thể làm gì. Và cô cũng không hỏi,” cô ấy nói thẳng.

“Nhưng… bản… bản án đã bao lâu rồi?” Tôi gặng hỏi. Dù tôi có cảm giác thế nào thì nó cũng được thay thế bằng sự việc cấp bách vừa ập tới. Tờ giấy của Murtagh đã đến đường Tremoulins được hai tuần. Lẽ ra Jamie phải xuất phát ngay khi nhận được nó - nhưng anh đã không thể đi.

Louise gọi người hầu, yêu cầu mang rượu cùng lọ a-mô-ni-ắc và lông cháy đến ngay lập tức. Chắc chắn, vẻ mặt của tôi rất đáng báo động.

“Việc đó vi phạm sắc lệnh của Đức vua,” cô ấy nói tiếp, tạm ngừng run rẩy. “Ông ấy bị nhốt trong ngục theo lệnh của Bệ hạ.”

“Ôi, Jesus H. Roosevelt Christ,” tôi lẩm bẩm, ước rằng mình có thể nói điều gì mạnh mẽ hơn.

“Thật may vì le petit James không giết đối thủ của mình,” Louise vội nói thêm. “Nếu rơi vào trường hợp đó, hình phạt sẽ còn nặng hơn… Ơ!” Cô ấy gạt phắt chiếc váy kẻ sọc sang bên, kịp tránh chỗ sô cô la và bánh quy rơi xuống sau khi tôi va phải những đồ ăn vừa mang đến. Cái khay rơi lạch cạch xuống sàn nhưng tôi chẳng quan tâm, thay vào đó, tôi nhìn chằm chằm vào Louise. Hai bàn tay tôi ghì chặt trên ngực, bàn tay phải ôm lấy và bảo vệ chiếc nhẫn vàng trên bàn tay trái. Chất kim loại lạnh ngắt như đang thiêu đốt làn da tôi.

“Khi đó, hắn ta chưa chết?” Tôi hỏi như trong mơ. “Đại úy Randall… còn sống?”

“Ơ, đúng,” cô ấy đáp, nhìn tôi tò mò. “Cô không biết ư? Ông ta bị thương rất nặng, nhưng nghe nói đang dần hồi phục. Cô ổn chứ, Claire? Trông cô…” Nhưng những lời còn lại của cô ấy đã chuyển thành tiếng thét lấp đầy hai tai tôi.

•••

“Cô phải chịu đựng quá nhiều,” Louise nghiêm khắc nói, kéo tấm rèm lại. “Tôi đã bảo rồi, đúng không?”

“Tôi cũng tưởng vậy,” tôi đáp và ngồi thẳng dậy, thả chân xuống bên giường, kiểm tra kĩ càng những dấu hiệu còn sót lại sau khi ngất xỉu. Đầu không choáng váng, hai tai không ù, không bị hoa mắt hoặc có khuynh hướng ngã xuống sàn. Những dấu hiệu quan trọng đều ổn cả.

“Tôi cần cái váy dài màu vàng và cô sẽ yêu cầu chuẩn bị xe cho tôi chứ, Louise?” Tôi hỏi.

Louise hoảng hốt nhìn tôi. “Cô không định ra ngoài đấy chứ? Nhảm nhí! Ông Clouseau đang tới đây thăm bệnh cho cô! Tôi đã cử người đưa tin đi mời ông ấy ngay lúc đó!”

Tin tức về vị bác sĩ thượng lưu nổi tiếng Clouseau đang từ Paris đến khám bệnh cho tôi sẽ là lý do đủ để giúp tôi đứng dậy và tôi cần nó.

Mười ngày nữa sẽ là Mười tám tháng Bảy. Với một con ngựa chạy nhanh, thời tiết tốt và đủ sức khỏe thì chuyến đi từ Paris tới Orvieto có thể mất sáu ngày. Tức là tôi còn bốn ngày để tìm cách thả Jamie khỏi ngục Bastille, không có thời gian để lãng phí với ông Clouseau.

“Hừm,” tôi ngẫm nghĩ, đưa mắt khắp căn phòng. “Dù sao, tôi cần người hầu chuẩn bị trang phục. Tôi không muốn ông Clouseau thấy tôi trong chiếc váy lót này.”

Mặc dù Louise vẫn tỏ vẻ nghi ngờ nhưng lý do ấy nghe có vẻ thuận tai. Dù sắp lìa đời, phần lớn các phu nhân trong triều vẫn sẽ ngồi dậy, yêu cầu được mặc bộ đồ phù hợp.

“Được rồi,” cô ấy đồng ý và quay đi. “Thế nhưng cô phải ở trên giường cho đến khi Yvonne tới, nghe chưa?”

Chiếc váy dài màu vàng là bộ đồ đẹp nhất của tôi. Nó duyên dáng, không bó sát và được may theo phong cách sacque hợp thời, với cái cổ tròn, rộng, tay áo dài, cùng phần váy trùm kín đằng trước đính hạt ngọc trai. Sau khi đánh phấn, chải tóc, mặc đồ và cuối cùng là xức nước hoa, tôi nhìn ngắm đôi giày Yvonne đã đặt ra cho tôi xỏ chân vào. Tôi quay đầu sang trái, sang phải, cau mày không vừa lòng.

“Ừm, không,” cuối cùng, tôi nói. “Tôi thấy không đẹp. Tôi muốn mang đôi khác, đôi giày bằng da dê thuộc màu đỏ.”

Cô hầu gái nhìn cái váy của tôi với vẻ ngờ vực, như thể đang thầm đánh giá hiệu quả của đôi giày da dê thuộc màu đỏ và chiếc váy vàng bằng lụa moiré, nhưng vẫn vâng lời, quay sang lục lọi trong tủ giày lớn.

Rón rén tiến tới đằng sau, tôi ấn đầu Yvonne vào trong chiếc tủ giày, sau đó đóng sầm cánh cửa trước tiếng la hét ầm ĩ của cô ta khi bị váy vóc rơi xuống từ trên móc phủ lên người. Sau khi vặn chìa khóa, tôi thả nó lọt thỏm vào trong túi của mình và cảm thấy tự đắc. Gọn ghẽ đấy, Beauchamp, tôi thầm nghĩ. Tất cả những mưu đồ chính trị này đang dạy bạn những điều mà bạn chẳng bao giờ mơ sẽ học được trong trường đào tạo y tá, đó là điều hiển nhiên.

“Đừng lo lắng,” Tôi nói với cái tủ đang rung lắc thô bạo. “Tôi nghĩ sẽ có người đến thả cô sớm thôi. Và cô có thể báo với Công nương rằng cô đã không để tôi đi.”

Một tiếng thét tuyệt vọng phát ra từ trong cái tủ lớn, hình như nhắc đến tên của ông Clouseau.

“Bảo ông ta thăm khám cho con khỉ,” tôi nói vọng qua vai. “Nó bị ghẻ.”

•••

Thành công trong vụ đối đầu với Yvonne đã cứu vớt tâm trạng của tôi. Tuy nhiên, khi ngồi thu lu trong chiếc xe ngựa chạy rầm rập trở về Paris, tinh thần tôi lại chùng xuống.

Tôi chẳng còn giận Jamie, nhưng tôi vẫn mong không phải gặp anh. Tuy cảm xúc bị xáo trộn hoàn toàn nhưng tôi không có ý định xem xét lại kĩ càng, bởi vì chúng đã gây tổn thương quá nhiều. Đó là sự đau buồn, là cảm giác khủng khiếp của việc thất bại và trên tất cả là cảm giác bị phản bội, của anh cũng như của tôi. Lẽ ra anh không nên đến rừng Boulogne, lẽ ra tôi không bao giờ nên đi theo anh.

Nhưng cả hai chúng tôi đều làm theo những gì mà nhu cầu tự nhiên và cảm xúc của mình sai khiến, và chúng tôi đã cùng nhau - có lẽ vậy - gây ra cái chết của con chúng tôi. Tôi không muốn gặp tòng phạm của mình, không muốn chia sẻ nỗi đau và cảm giác tội lỗi của mình với anh. Tôi đã chạy trốn khỏi những điều nhắc tôi nhớ đến buổi sáng ướt đẫm nước mưa trong khu rừng và hiển nhiên, tôi cũng chạy trốn khỏi mọi kỷ niệm với Jamie. Bởi vào lần cuối tôi trông thấy anh, anh đang đứng bên nạn nhân, khuôn mặt ngời sáng mong muốn báo thù và chẳng mấy chốc, nó đã đòi sự trả giá từ chính gia đình của anh.

Tôi không thể nghĩ về điều đó mà không cảm thấy ruột gan bị siết chặt, nó sẽ đem bóng ma của nỗi đau bị sẩy thai quay lại với tôi. Tôi ấn hai nắm tay vào lớp vải nhung xanh của chiếc ghế, vươn người lên để làm dịu sức ép tưởng tượng trên lưng mình.

Tôi quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, hy vọng sẽ làm sao nhãng tâm trí, nhưng các khung cảnh trở nên mờ ảo trong khi tâm trí tôi tự động quay trở lại, không hề bị cấm đoán, với những ý nghĩ về cuộc hành trình của mình. Nhưng dù cảm giác của tôi đối với Jamie là gì, chúng tôi có gặp lại nhau hay không, chúng tôi có thể là gì hay không là gì của nhau - thì hiện thực vẫn còn đó, anh đang ở trong ngục. Và tôi cho rằng mình hiểu được hình phạt bỏ tù có ý nghĩa gì đối với anh, với ký ức về Wentworth mà anh mang theo; đôi tay dò dẫm vuốt ve anh trong giấc mơ, cả những bức tường bằng đá anh đập vỡ trong lúc ngủ.

Quan trọng hơn, còn có vấn đề của Charles và con thuyền đến từ Bồ Đào Nha, khoản vay từ ông Duverney và việc Murtagh chuẩn bị lên tàu từ Lisbon đến điểm hẹn ở Orvieto. Quá nhiều vấn để cản trở tôi thể hiện cảm xúc cá nhân. Vì lợi ích của các thị tộc tại Scotland, của chính những người dân vùng cao nguyên, của gia đình Jamie và các tá điền ở Lallybroch, và của hàng ngàn người sẽ chết tại Culloden và chết vì hậu quả của nó, chúng tôi cần cố gắng thực hiện việc này. Và để thành công, Jamie phải được tự do, bởi tôi không thể tự mình đảm đương nó.

Không, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi sẽ làm mọi việc cần thiết để anh được thả khỏi nhà ngục Bastille.

Và tôi có thể làm gì?

Tôi quan sát những người ăn mày bò lê trên đất, ra hiệu về phía cửa sổ, lúc chúng tôi đi tới đường Faubourg St.-Honoré. Nếu không nắm chắc thành công, tôi nghĩ mình phải tìm tới sự giúp đỡ của người có quyền lực cao hơn.

Tôi đập vào tấm gỗ bên dưới chỗ ngồi của xà ích. Chiếc xe dừng lại, kêu một tiếng chói tai và khuôn mặt có ria của tay xà ích nhà Louise nhìn tôi chăm chú.

“Vâng, thưa phu nhân?”

“Rẽ trái,” tôi đáp. “Tới nhà thương Des Anges.”

•••

Mẹ Hildegarde gõ những ngón tay to bè lên mảnh giấy chép nhạc và trầm ngâm suy nghĩ, như thể bà đang gõ ra một bản xê-căng rắc rối. Bà ngồi bên chiếc bàn khảm tranh ghép mảnh trong phòng làm việc riêng, đối diện với ngài Gerstmann, được mời đến tham dự hội nghị khẩn cấp của chúng tôi.

“Chà chà, được rồi,” ngài Gerstmann nghi ngại nói. “Tôi nghĩ tôi có thể sắp xếp một buổi yết kiến bí mật với Bệ hạ, nhưng… bà có chắc rằng chồng bà… ừm…” Hình như ông nhạc trưởng bị rối loạn khi phát biểu ý kiến cá nhân, điều này khiến tôi nghi ngờ việc cầu xin nhà vua thả Jamie có thể phức tạp hơn tôi nghĩ. Mẹ Hildegarde liền hành động để kiểm tra nghi ngờ của mình.

“Johannes!” Bà quát lớn và vô cùng bối rối khi bỏ qua cách gọi trang trọng thường lệ. “Bà ấy không thể làm việc đó! Bà Fraser đây không giống những phu nhân trong triều đình - bà ấy là một người đức hạnh!”

“Ơ, cảm ơn,” tôi lịch sự nói. “Nếu hai người không phiền… chính xác thì phẩm chất đức hạnh của tôi có liên quan gì với việc gặp Đức vua và cầu xin ông ấy thả Jamie?”

Bà xơ và nhạc trưởng nhìn nhau, vừa khiếp sợ bởi sự ngây thơ của tôi vừa ngần ngại với việc cứu vãn vấn đề. Cuối cùng, Mẹ Hildegarde là người dũng cảm hơn, nên đành nhẫn nhịn giải thích.

“Nếu bà gặp riêng Đức vua để cầu xin ân huệ như thế, ông ấy sẽ nghĩ được ăn nằm với bà,” bà nói thẳng thừng. Sau tất cả những điều ồn ào họ nói, tôi hầu như không ngạc nhiên, nhưng tôi liếc nhìn ngài Gerstmann để xác nhận, ông ta đáp lại bằng một cái gật đầu miễn cưỡng.

“Bệ hạ là người dễ bị ảnh hưởng bởi yêu cầu từ các phu nhân có sức mê hoặc,” ông ta tế nhị nói và đột nhiên tỏ ra có hứng thú với một món đồ trang trí trên bàn.

“Tuy nhiên, đó là cái giá cho một yêu cầu như vậy,” Mẹ Hildegarde nói theo cách không tế nhị cho lắm. “Hầu hết các cận thần chỉ muốn vợ của họ nhận được ân sủng hoàng gia, lợi ích của họ được đánh đổi bằng việc hiến tế đức hạnh của các bà vợ.” Khuôn miệng rộng của bà uốn cong, tỏ thái độ khinh miệt, sau đó lại ngậm chặt hóm hỉnh như thường lệ.

“Tuy nhiên, chồng của bà,” bà ấy nói, “trong mắt tôi, không phải kiểu đức ông chồng dễ tính khi bị cắm sừng.” Đôi lông mày ngang nhướng lên để nhấn mạnh vào ý hỏi ở cuối câu và tôi lắc đầu để đáp lại.

“Tôi không nghĩ vậy.” Thực ra, đây là một cách nói giảm nói tránh. Nếu “dễ tính” không phải là điều cuối cùng tôi nghĩ về Jamie thì nó cũng đứng áp chót trong bảng danh sách đó. Tôi thử hình dung Jamie sẽ nghĩ gì, nói gì hay hành động thế nào nếu anh biết tôi đã ăn nằm với người đàn ông khác, tùy vào người kia là ai và bao gồm cả vua của nước Pháp.

Từ đó, tôi nhớ lại niềm tin đã tồn tại giữa chúng tôi gần như bắt đầu từ ngày cưới và cảm giác cô độc ập đến. Tôi nhắm mắt một lát để chiến đấu với trạng thái ốm yếu của cơ thể, nhưng vẫn phải đối mặt với viễn cảnh trước mắt.

“Chà,” tôi hít một hơi thở sâu, “có cách khác không?”

Mẹ Hildegarde cau mày nhìn ngài Gerstmann, tựa như đang trông chờ câu trả lời từ ông ta. Nhạc trưởng bé nhỏ nhún vai, nhăn mặt nhìn lại.

“Bà có người bạn quan trọng nào có thể cầu xin hộ cho chồng bà trước Bệ hạ không?” Ông ta ướm hỏi.

“Chắc là không,” tôi đã tự mình xem xét kĩ càng tất cả những khả năng tương tự khi ngồi trên chiếc xe ngựa trở về từ Fontainebleau và buộc phải kết luận rằng tôi không thể nhờ một người nào đảm nhận vị trí đại diện. Bởi tính chất bất hợp pháp và tai tiếng của cuộc thách đấu - cũng như những tin đồn đã được Marie d’Arbanville lan truyền khắp Paris - nên không một người Pháp nào mà chúng tôi quen biết sẵn sàng đảm nhận vụ này. Ông Duverney đã đồng ý gặp tôi, ông ấy tuy tử tế nhưng làm tôi nản lòng. Chờ đợi chính là lời khuyên của ông ấy. Sau vài tháng, vụ bê bối sẽ lắng xuống và có thể tiếp cận Bệ hạ. Nhưng giờ thì…

Công tước Sandringham cũng vậy. Vì bị trói buộc bởi những phép tắc tế nhị của ngoại giao, ông ta phải sa thải thư ký riêng của mình chỉ vì dính líu đến một vụ tai tiếng. Do đó, Công tước sẽ không thỉnh cầu Louis ban một ân huệ cho trường hợp này.

Tôi nhìn chòng chọc vào mặt bàn được khảm hoa văn, nhưng không để ý những đường cong phức tạp của nước sơn bóng bên trên các họa tiết hình học và màu sắc trừu tượng. Ngón trỏ của tôi chạy theo các vòng lặp cùng vòng xoáy ốc trước mặt, chúng là điểm tựa tạm thời khi các suy nghĩ đang lao vun vút trong đầu. Nếu việc thả Jamie ra khỏi ngục thực sự cần thiết để ngăn chặn cuộc xâm lược của những người Jacobite ở Scotland thì có vẻ tôi phải thực hiện bằng mọi cách và bất chấp mọi hậu quả.

Cuối cùng, tôi ngước nhìn, bắt gặp ánh mắt của nhạc trưởng. “Tôi sẽ làm,” tôi dịu dàng nói. “Không có cách nào khác.”

Sự im lặng bao trùm một lúc. Sau đó, ngài Gerstmann liếc Mẹ Hildegarde.

“Bà ấy sẽ ở đây,” Mẹ Hildegarde tuyên bố. “Ông có thể nhắn bà ấy thời gian buổi yết kiến ngay khi ông sắp xếp được, Johannes.”

Bà quay sang tôi. “Xét cho cùng, nếu bà thực sự dấn sâu vào con đường này, bạn thân mến...” Đôi môi của bà mím chặt, sau đó, bà tiếp tục nói: “Bà có thể phạm phải tội làm trái luân thường đạo lý. Tuy nhiên, tôi sẽ tham gia. Tôi biết bà có những lý do đúng đắn, cho dù nó là gì. Và có lẽ tội lỗi của bà sẽ giảm bớt bởi có sự giúp đỡ từ bạn bè.”

“Ôi, Mẹ!” Tôi nghĩ mình có thể bật khóc nếu nói thêm lời nào. Do đó, tôi chỉ siết chặt bàn tay to lớn, xù xì đang đặt trên vai tôi. Bỗng nhiên tôi khao khát được gục đầu trong vòng tay của bà và vùi mặt vào bầu ngực an ủi bên dưới chiếc áo vải xẹc màu đen, nhưng bà đã thu tay về, cầm lấy tràng hạt dài màu đen huyền, nó kêu lách cách giữa các nếp váy mỗi khi bà di chuyển.

“Tôi sẽ cầu nguyện cho bà,” bà nói, một nụ cười bẽn lẽn nở trên khuôn mặt có những đường nét khá cứng rắn. Biểu cảm của bà thay đổi ngay lập tức, chuyển sang vẻ nghiêm túc. “Dẫu vậy, tôi không biết,” bà trầm ngâm nói, “vị thánh bảo hộ cho lời thỉnh cầu trong trường hợp này là ai?”

•••

Tôi đã nghĩ đến cái tên Mary Magdalene khi giơ tay qua đầu trong dáng vẻ của một người cầu nguyện để cái khung váy nhỏ trượt qua hai vai, đặt cố định trên hông. Hoặc Mata Hari, nhưng tôi không biết bà này đã được xếp vào danh sách các vị thánh hay chưa. Tôi không chắc lắm về Magdalene trong trường hợp này, nhưng một cô gái điếm biết hối cải trong hội đồng các thánh trên thiên đường có nhiều khả năng đồng cảm nhất với công việc mạo hiểm tôi sắp làm.

Tôi ngẫm nghĩ, có lẽ tu viện nữ này chưa bao giờ trông thấy chiếc áo choàng nào đẹp như của tôi. Mặc dù các thỉnh nữ ở đây đã thề sẽ ăn mặc thật lộng lẫy như cô dâu của Chúa, nhưng lụa đỏ và bột gạo không phù hợp với hình ảnh trong các nghi lễ.

Khi những nếp vải đỏ thẫm trượt qua đầu, tôi đã nghĩ màu đỏ là một màu có tính biểu tượng. Nếu màu trắng đại diện cho sự thanh khiết thì màu đỏ đại diện… cho tất cả những gì nó đại diện. Xơ Minèrve, một xơ trẻ xuất thân từ gia đình quý tộc giàu có, được chọn là người chuẩn bị trang phục cho tôi. Với độ thành thạo và sự tự tin, cô ấy làm tóc cho tôi, cài những mảnh lông đà điểu nhỏ xíu được cắt tỉa và đính thêm các hạt ngọc trai nhỏ. Cô ấy chải lông mày của tôi thật cẩn thận, tô đậm nó bằng những cái lược chì nhỏ và vẽ môi tôi bằng một cọng lông nhúng vào lọ son hồng. Môi tôi ngứa ngáy không chịu nổi, độ nhạy cảm tăng lên đến mức bật cười khúc khích. Nhưng đó chỉ là tiếng cười đơn thuần, không có cảm xúc vui vẻ.

Xơ Minèrve toan lấy chiếc gương cầm tay, nhưng tôi ra hiệu ngăn cô ấy lại. Tôi không muốn nhìn vào mặt mình. Tôi hít thở sâu và gật đầu.

“Tôi đã sẵn sàng,” tôi nói. “Chuẩn bị xe ngựa đi!”

•••

Tôi chưa bao giờ tới khu vực này trong lâu đài. Thú thật, sau nhiều khúc lượn quanh co và chỗ rẽ, đi qua những hành lang toàn gương dưới ánh nến lung linh, tôi chẳng còn nhớ chính xác mình tới đây bao nhiêu lần và tới những địa điểm nào.

Một quý ông thận trọng và vô danh thường phục vụ cho nhà vua đã dẫn tôi tới trước cánh cửa nhỏ trong một hốc tường. Ông ta gõ cửa, cúi đầu chào tôi, rồi quay người đi, không đợi trả lời. Cánh cửa mở vào trong và tôi bước tới.

Nhà vua đang mặc quần lửng. Sau khi nhận ra điều này, trái tim tôi đập chậm dần đến một nhịp có thể chấp nhận được và chẳng mấy chốc tôi cũng từ bỏ cảm giác muốn rời khỏi đây.

Tôi không biết mình mong chờ điều gì, nhưng sự thật trước mắt đã an ủi tôi phần nào. Ông ta không ăn mặc trang trọng, chỉ có áo sơ mi và quần lửng, cùng một chiếc áo bằng lụa màu nâu khoác trên vai để giữ ấm. Bệ hạ mỉm cười, chạm vào cánh tay tôi, giục tôi tiến tới. Lòng bàn tay của ông ta ấm áp - dù trong tiềm thức, tôi đã nghĩ nó ẩm ướt và lạnh ngắt - tôi nở một nụ cười đẹp nhất có thể để dáp lại.

Nỗ lực của tôi không thành công lắm, ông ta vỗ nhẹ vào cánh tay tôi và bảo: “Đừng sợ ta, phu nhân thân mến. Ta không cắn đâu.”

“Không,” tôi đáp. “Tất nhiên là không.”

Ông ta tỏ ra đĩnh đạc hơn tôi rất nhiều. Chà, tất nhiên, tôi nhủ thầm, bởi lúc nào ông ta cũng cư xử như vậy. Tôi hít thở sâu, cố gắng thả lỏng.

“Bà uống chút rượu chứ, phu nhân?” Ông ta hỏi. Chúng tôi đang ở riêng với nhau, không có người hầu, nhưng rượu đã được rót sẵn ra một cặp ly có chân cỡ lớn trên bàn, lấp lánh như hai viên hồng ngọc dưới ánh nến. Căn phòng được trang hoàng lộng lẫy nhưng rất nhỏ, bên cạnh chiếc bàn làm việc cùng đôi ghế tựa có lưng hình bầu dục là chiếc ghế nằm sang trọng được bọc bằng vải nhung màu xanh lá. Tôi cố gắng tránh nhìn vào nó trong lúc nhận lấy ly rượu và lầm bầm lời cảm ơn.

“Ngồi đi!” Louis ngồi xuống một trong hai chiếc ghế, ra hiệu cho tôi ngồi xuống cái còn lại. “Giờ thì,” ông ta nói, mỉm cười nhìn tôi, “nói xem ta có thể làm gì cho bà.”

“Ch-chồng của tôi,” tôi bắt đầu, lắp bắp bởi lo sợ. “Anh ấy ở trong ngục Bastille.”

“Tất nhiên,” Đức vua lẩm bẩm. “Vì đọ kiếm tay đôi. Theo ta nhớ.” Ông ta cầm lấy bàn tay còn lại của tôi, mấy ngón tay đặt nhẹ lên các mạch đập. “Bà có gì cho ta vậy, phu nhân thân mến? Bà biết đây là một tội nghiêm trọng, chồng của bà đã vi phạm sắc lệnh của ta.” Một ngón tay vuốt ve phía dưới cổ tay tôi, làm cả cánh tay nhồn nhột.

“P-phải, tôi hiểu. Nhưng anh ấy… bị khiêu khích.” Tôi nảy ra một ý tưởng. “Ngài biết mà, anh ấy là người Scotland. Đàn ông ở xứ đó” - tôi thử tìm một từ thật hay, đồng nghĩa với “dữ tợn” - “rất hung hăng khi danh dự của họ bị đe dọa.”

Louis gật đầu, rõ ràng ông ta đã nghiêng hẳn về phía bàn tay tôi. Tôi có thể thấy lớp mồ hôi bóng nhẫy và ngửi mùi nước hoa trên người ông ta. Violet. Một mùi hương ngọt ngào và mạnh mẽ, nhưng không đủ để giấu đi toàn bộ mùi đàn ông chua gắt trên người.

Nhà vua uống hai ngụm lớn hết ly rượu rồi vứt nó đi. Ông ta siết cả hai tay quanh bàn tay của tôi. Một cái móng ngắn ngủn lần theo những đường viền trên chiếc nhẫn cưới, gồm các móc xoắn và những bông hoa kế.

“Đúng vậy,” ông ta nói, kéo bàn tay tôi lại gần hơn, giống như để nghiên cứu chiếc nhẫn. “Đúng vậy, phu nhân. Dẫu sao…”

“Tôi… vô cùng biết ơn, Bệ hạ,” tôi cắt ngang. Ông ta ngẩng đầu lên và tôi bắt gặp một đôi mắt đen thách thức. Trái tim tôi đập như cái búa máy. “Vô cùng… biết ơn.”

Ông ta có đôi môi mỏng và hàm răng xấu xí. Tôi còn ngửi thấy hơi thở nồng nặc mùi tỏi và mùi thối rữa. Tôi cố gắng nín thở, nhưng chỉ là cách trước mắt.

“Chà...” Ông ta từ tốn nói, tựa như đang suy nghĩ kĩ càng. “Bản thân ta cũng muốn dung thứ…”

Tôi thở ra trong một hơi ngắn và gấp. Những ngón tay của ông ta siết chặt lấy tôi, cảnh cáo. “Nhưng bà thấy đấy, chuyện này có vài rắc rối.”

“Chúng là gì?” Tôi yếu ớt nói.

Ông ta gật đầu, hai con mắt chăm chú nhìn ngắm khuôn mặt tôi. Trong khi đó, mấy ngón tay nhẹ nhàng mơn trớn, lần theo mạch máu trên mu bàn tay tôi.

“Gã người Anh bất hạnh đã chọc tức ngài Broch Tuarach,” ông ta nói. “Hắn là người làm của… một người không thể nêu danh - một quý tộc người Anh khá quan trọng.”

Sandringham. Trái tim tôi chao đảo khi nghe nhắc đến ông ta, một cách gián tiếp.

“Vị quý tộc này tham gia vào - nói thế nào nhỉ, những vụ đàm phán không thể tiết lộ và ông ta là người có quyền quyết định.” Đôi môi mỏng của nhà vua mỉm cười, làm nổi bật chóp mũi hống hách bên trên. “Và chính vị quý tộc này cũng hứng thú với vụ đọ kiếm giữa chồng bà và Đại úy Randall người Anh. Ta e rằng ông ấy sẽ đòi hỏi chồng bà phải trải qua đủ các hình phạt cho sự tùy tiện kia.”

Lão béo chết tiệt, tôi thầm nghĩ. Dĩ nhiên - từ lúc Jamie từ chối nhận hối lộ của ông ta, cách tốt hơn cả để ngăn cản anh “tự mình dính líu” vào công việc của nhà Stuart là đảm bảo anh ở yên trong ngục Bastille vài năm, phải không? Chắc chắn rồi, vừa đơn giản lại không tốn kém, cách này đồng nghĩa với việc tôi phải cầu xin ngài Công tước.

Tuy nhiên, Louis đang thở hồng hộc ở đây và tôi nhận ra rằng mọi chuyện chưa chắc đã uổng phí. Nếu Louis không đáp ứng được yêu cầu này thì chắc chắn ông ta không thể ngủ với tôi - còn nếu ông ta chấp nhận thì sẽ được một phen sửng sốt.

Tôi lại đem cái bộ phận phái nữ của mình ra để thử lần nữa.

“Vậy Bệ hạ sẽ chấp nhận yêu cầu từ người Anh ư?” Tôi đánh liều hỏi.

Ông ta mở choàng mắt bởi cú sốc nhẹ, mỉm cười tinh quái vì nhìn thấu ý định của tôi. Nhưng tôi không sợ hãi nữa. Tôi trông thấy đôi vai của nhà vua giần giật khi ông ta lấy lại sự tự tin từ quyền lực, tựa như có một chiếc áo choàng vô hình khoác lên người.

“Không, phu nhân, ta không chấp nhận,” ông ta lạnh nhạt nói. “Ta phải tính đến… nhiều nhân tố khác.” Hai hàng mi cụp xuống ủ rũ trong chốc lát, nhưng ông ta vẫn nắm tay tôi.

“Ta có nghe về mối quan tâm của chồng bà với công việc của người họ hàng của ta,” ông ta nói.

“Bệ hạ thật sáng suốt,” tôi lịch sự đáp. “Tuy nhiên, cũng từ đó, Bệ hạ sẽ biết rằng chồng tôi không ủng hộ nhà Stuart khôi phục vương quyền ở Scotland.” Tôi cầu mong đây là điều ông ta muốn.

Chuyện đó khá rõ ràng. Ông ta mỉm cười, nâng tay tôi lên hôn.

“À! Ta đã nghe… nhiều câu chuyện trái ngược về chồng bà.”

Tôi hít thở sâu, cố gắng không rút tay lại.

“Đúng vậy, đó là vấn đề công việc,” tôi cố gắng nói bằng giọng thản nhiên. “Người họ hàng của chồng tôi, Jared Fraser, tự nhận mình là một Jacobite. Jamie, chồng tôi - không thể công khai chính kiến cá nhân khi anh ấy cộng tác với Jared.” Vẻ nghi ngờ dần biến mất trên khuôn mặt của ông ta, tôi vội vàng nói thêm. “Xin ngài hỏi ông Duverney,” tôi đề nghị. “Ông ấy hiểu rõ về quan điểm thực sự của chồng tôi.”

“Ta biết.” Louis dừng lại một lúc, quan sát những ngón tay mũm mĩm và sẫm màu của mình. Sau đó, ông ta phát hiện ra những vòng tròn mảnh trên mu bàn tay của tôi.

“Rất nhạt màu,” ông ta lẩm bẩm. “Rất đẹp. Ta tin có thể nhìn thấy máu chảy bên dưới làn da của bà.”

Ông ta thả tay tôi và bắt đầu quan sát khuôn mặt. Tôi rất giỏi trong việc đọc biểu cảm nhưng hoàn toàn không thể dò được Louis vào lúc này. Tôi chợt nhận ra ông ta làm vua từ khi mới năm tuổi. Do đó, khả năng che giấu suy nghĩ cũng là một phần quan trọng của ông ta, cũng như cái mũi của dòng họ Bourbon và đôi mắt đen lim dim.

Suy nghĩ này khiến tôi tỉnh mộng và cảm giác ớn lạnh xuất hiện ở nơi sâu nhất trong bụng. Ông ta là vua. Trong khoảng bốn mươi năm tới, thị dân của Paris vẫn chưa nổi dậy. Và từ giờ cho đến lúc đó, luật của ông ta là tuyệt đối tại nước Pháp. Ông ta có thể thả Jamie - hoặc giết anh ấy - chỉ bằng một từ. Ông ta có thể làm thế với tôi nếu muốn, sẽ chẳng có ai để nhờ cậy. Chỉ cần một cái gật đầu của ông ta thì các kho bạc của nước Pháp có thể đổ tiền vàng tràn trề tới chỗ Charles Stuart, ném cậu ta đi như một tia chớp chí tử xuyên qua trái tim của Scotland.

Ông ta là một vị vua. Ông ta sẽ làm những gì ông ta muốn. Tôi quan sát đôi mắt đen huyền, được che phu bởi suy nghĩ, và run rẩy chờ đợi, quan sát xem mong muốn của nhà vua là gì.

“Nói ta nghe, phu nhân thân mến,” cuối cùng, ông ta lên tiếng, rời khỏi thế giới nội tâm. “Nếu ta chấp thuận yêu cầu của bà, thả tự do cho chồng bà...” Ông ta dừng lại, ngẫm nghĩ.

“Vâng?”

“Ông ta sẽ phải rời khỏi nước Pháp,” Louis nói, một bên lông mày rậm nhướng cao vẻ cảnh cáo. “Đó sẽ là điều kiện cho việc thả ông ta.”

“Tôi hiểu.” Trái tim tôi đập mạnh đến mức át đi lời ông ta nói. Xét cho cùng, việc Jamie rời khỏi Pháp là hoàn toàn đúng lúc. “Nhưng anh ấy bị đuổi khỏi Scotland…”

“Ta nghĩ việc đó có thể được thu xếp.”

Tôi do dự, nhưng đành chấp nhận, nhân danh Jamie. “Tôi đồng ý.”

“Tốt.” Nhà vua gật đầu hài lòng. Sau đó, đôi mắt của ông ta quay lại nhìn khuôn mặt tôi, lần xuống cổ, bộ ngực và thân thể. “Để đáp lại, ta muốn bà làm một việc nhỏ, phu nhân,” ông ta khẽ khàng nói.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta vài giây rồi cúi đầu. “Xin Bệ hạ tùy ý sai bảo,” tôi đáp.

“À.” Ông ta đứng dậy, cởi chiếc áo khoác, vắt nó chênh vênh trên lưng ghế. Ông ta mỉm cười, đưa tay cho tôi. “Très bien, ma chère[1]. Đi với ta nào!”

Tôi nhắm mắt thật nhanh, buộc hai đầu gối hoạt động. Dù sao mày đã cưới hai lần, tôi tự nhủ, chấm dứt thái độ quan trọng hóa vấn đề.

Tôi đứng dậy và cầm lấy tay ông ta. Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, ông ta không hướng đến chiếc ghế dài bọc nhung, thay vào đó, ông ta dẫn tôi đến cái cửa ở phía bên kia căn phòng.

Khi ông ta thả tay tôi ra để mở cửa, tôi chợt thông suốt.

Chết tiệt, Jamie Fraser, tôi nghĩ. Xéo xuống địa ngục đi!

•••

Tôi đứng yên trên ngưỡng cửa và chớp mắt. Những suy nghĩ của tôi về lễ nghi cởi đồ của hoàng gia đã nhạt nhòa, chuyển thành sự kinh ngạc tột độ.

Nơi đây tối đen như mực, chỉ có ánh sáng tỏa ra từ những ngọn đèn dầu bé xíu được đặt thành từng cụm năm ngọn trong các hốc tường. Ở giữa căn phòng hình tròn có một cái bàn lớn bằng gỗ đen bóng loáng với những hình ảnh phản chiếu rất chính xác. Có người ngồi bên bàn, nhưng chỉ là hình dáng lom khom mờ ảo giữa bóng đen của căn phòng.

Một giọng nói lầm bầm vang lên khi tôi bước vào, nhưng yên lặng ngay tức khắc vì sự góp mặt của nhà vua. Khi đôi mắt dần quen với bóng tối, tôi bàng hoàng nhận ra những người ngồi bên bàn đang đội mũ trùm đầu; kẻ ngồi gần nhất quay về phía tôi, một tia sáng yếu ớt phát ra từ đôi mắt bên dưới hai cái lỗ được khoét trên chiếc mũ. Nơi này trông giống hội nghị của những kẻ treo cổ.

Hình như tôi là khách mời danh dự. Trong một phút lo sợ, tôi đã tự hỏi họ mong chờ điều gì ở tôi. Từ những lời ám chỉ của Raymond và Marguerite, tôi đã có nhiều cơn ác mộng về những nghi lễ huyền bí liên quan đến hiến tế trẻ con, cưỡng hiếp và những nghi thức xấu xa khác. Tuy vậy, hiếm có thế lực siêu nhiên nào thực sự sống dậy sau vụ hiến tế và tôi hy vọng dịp này cũng không ngoại lệ.

“Chúng tôi đã được nghe về tài năng tuyệt vời của phu nhân, cũng như… danh tiếng của bà.” Louis mỉm cười, tuy nhiên ánh mắt có chút thận trọng khi nhìn tôi, tựa như ông ta không chắc chắn tôi có thể làm được. “Chúng tôi vô cùng biết ơn, thưa phu nhân yêu quý, bà nên sẵn sàng biểu diễn tài năng của mình tối nay.”

Tôi gật đầu. Vô cùng biết ơn à? Chà, chuyện này là việc tốt, tôi muốn ông ta biết ơn tôi. Tuy nhiên, ông ta muốn gì ở tôi? Một người hầu đặt cây nến lớn trên bàn, nó tỏa ra một quầng sáng dịu êm trên chiếc bàn bóng loáng. Cây nến được trang trí bằng những biểu tượng mà tôi từng thấy tại căn phòng bí mật của ông Raymond.

“Regardez[2], hỡi phu nhân!” Nhà vua chạm vào khuỷu tay tôi, hướng sự chú ý của tôi tới chiếc bàn. Giờ thì cây nến đã sáng lên, tôi có thể trông thấy hai dáng người đứng yên lặng trong bóng tối chập chờn. Tôi bắt đầu nhìn, còn nhà vua nắm chặt cánh tay tôi.

Bá tước St. Germain và ông Raymond đang đứng kia, cách nhau khoảng một mét. Raymond tỏ ra không quen biết, chỉ đứng yên lặng, nhìn chằm chằm sang bên cạnh bằng đôi mắt màu đen ánh tím của một con ếch trong cái giếng không đáy.

Bá tước thì nhìn tôi, hai con mắt mở lớn vì không tin nổi. Sau đó, hắn quắc mắt với tôi. Hắn mặc bộ đồ lộng lẫy toàn màu trắng như thường lệ; một cái áo khoác bằng vải xa tanh trắng được hồ cứng phủ bên ngoài chiếc áo lót lụa màu kem và chiếc quần lửng. Một mảng họa tiết đính hạt trai trang trí cho hai cổ tay áo cùng ve áo, sáng lấp lánh dưới ánh nến. Tuy bộ đồ lộng lẫy nhưng tôi thấy Bá tước mặc vào khiến nó xấu xí hơn - khuôn mặt của hắn đầy căng thẳng, phần đăng ten ở ngực áo xẹp xuống và cổ áo thẫm lại vì mồ hôi.

Raymond thì ngược lại, điềm tĩnh như một con cá bơn nằm trên băng đá. Ông ta đứng bất động, hai bàn tay nắm lại trong ống tay áo choàng nhung bẩn thỉu. Khuôn mặt to bẹt toát lên vẻ điềm tĩnh, khó đoán định.

“Hai người đàn ông đứng kia bị buộc tội, thưa phu nhân,” Louis nói, ra hiệu về phía Raymond và Bá tước. “Tội dùng ma thuật, tội phù thủy, tội lầm lạc trong quá trình tìm kiếm kiến thức một cách hợp pháp thông qua việc nghiên cứu những nghệ thuật bí hiếm.” Giọng của ông ta lạnh lùng và nham hiểm. “Những hành động này đã phát triển mạnh mẽ suốt thời kỳ trị vì của ông nội ta, nhưng chúng ta sẽ không chấp nhận gánh chịu thứ xấu xa này trong vương quốc của chúng ta.”

Nhà vua búng ngón tay về phía một người đội mũ trùm đầu có bút mực cùng một xấp giấy. “Nếu không phiền, hãy đọc các bản cáo trạng,” ông ta nói.

Người đội mũ trùm đầu ngoan ngoãn đứng dậy và bắt đầu đọc một tờ giấy: những lời buộc tội giao cấu với động vật, hiến tế trái luật, làm đổ máu người lương thiện, xúc phạm nghi lễ thần thánh tối cao là lễ Misa bằng cách báng bổ các vị thánh, thực hiện các nghi thức yêu đương trên bàn thờ Chúa. Trong chớp nhoáng, tôi nghĩ đến cách thức chữa trị mà Raymond đã làm trên người tôi tại nhà thương Des Anges chắc hẳn cũng giống vậy và cảm thấy biết ơn sâu sắc vì không có ai phát hiện ra ông ta.

Tôi nghe thấy cái tên “du Carrefours” được nhắc đến, vội nuốt xuống đợt dịch mật đột ngột trào dâng. Mục sư Laurent đã kể gì nhỉ? Phù thủy du Carrefours bị thiêu tại Paris, chỉ mới hai mươi năm trước, vì những tội lỗi mà tôi đang nghe: “… triệu tập ác quỷ và sức mạnh bóng tối, gây ra bệnh tật và cái chết” - tôi đặt một tay lên bụng, nhớ lại vị vỏ cascara đắng ngắt - “yểm bùa các quan lại trong triều đình, hãm hiếp các trinh nữ…” Tôi ném ánh mắt về phía Bá tước, khuôn mặt hắn lạnh như đá, đôi môi mím chặt trong lúc lắng nghe.

Raymond vẫn đứng im phăng phắc, mái tóc bạc đổ xuống hai vai, tựa như đang nghe những thứ tầm thường, chẳng khác gì bài ca của con chim hét trong bụi cây. Tôi đã trông thấy những biểu tượng bí hiểm trên tủ của ông ta, nhưng tôi không thể tin người đàn ông này - kẻ bán thuốc độc giàu lòng trắc ẩn, người bào chế thuốc hữu ích - phạm phải những tội lỗi mà cái danh sách ghê tởm kia nêu ra.

Cuối cùng, bản cáo trạng kết thúc. Người đội mũ trùm đầu liếc nhìn nhà vua và được ra hiệu cho phép ngồi xuống ghế.

“Một cuộc điều tra đã được thực hiện trong phạm vi rộng khắp,” nhà vua quay sang tôi, nói. “Bằng chứng đã bày ra và nhân chứng đã được lấy lời khai. Chuyện này đã rõ ràng.” Ông ta nhìn xoáy vào hai kẻ bị kết tội phù thủy. “Cả hai người đàn ông này đảm nhận việc nghiên cứu những ghi chép của các triết gia cổ đại, sử dụng thuật tiên tri, tính toán sự chuyển động của các thiên thể. Thế nhưng…” Ông ta nhún vai. “Bản thân việc này không phải tội lỗi. Ta đã được truyền dạy để hiểu rằng” - ông ta liếc về phía người đàn ông chắc nịch trong chiếc mũ trùm đầu, tôi đoán người đó là Giám mục của Paris - “việc này không mâu thuẫn với những lời dạy của nhà thờ, ngay cả Thánh Augustine thiêng liêng cũng được biết đến là có tìm hiểu về những điều huyền bí của thuật chiêm tinh.”

Tôi nhớ mang máng rằng Thánh Augustine đã thực sự nghiên cứu về thuật chiêm tinh và đã vứt bỏ, khinh bỉ nó như rác rưởi. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ Louis đã đọc Những lời thú tội của Augustine và luận cứ này trở thành một điểm có lợi cho các bị cáo phù thủy, quan sát các vì sao đúng là vô hại so với việc hiến tế trẻ con và các cuộc trụy lạc đáng ghê tởm.

Tôi bắt đầu thắc mắc và vô cùng sợ hãi khi nghĩ đến vai trò của mình trong hội nghị này. Có người đã thấy ông Raymond ở cạnh tôi trong bệnh viện ư?

“Chúng tôi không đổ lỗi cho cách sử dụng kiến thức đúng đắn, cũng như việc tìm kiếm sự thông thái,” nhà vua tiếp tục bằng âm điệu nhịp nhàng. “Chắc chắn các ghi chép của những triết gia cổ đại sẽ dạy chúng ta nhiều điều, nếu họ tiếp cận bằng sự thận trọng thích đáng cùng tinh thần khiêm tốn. Tuy nhiên, sự thật là có nhiều điều tốt và cũng có quá nhiều điều xấu. Con đường tìm kiếm sự thông thái thuần khiết sẽ bị bóp méo thành những ham muốn quyền lực và tiền tài - cùng nhiều thứ khác trên thế giới này.”

Một lần nữa, ông ta liếc qua liếc lại giữa hai người bị buộc tội phù thủy, rõ ràng đang rút ra kết luận xem ai là người trụy lạc theo kiểu kia nhiều hơn. Bá tước vẫn đổ mồ hôi, chúng lấm chấm trên chiếc áo khoác bằng lụa của hắn.

“Không, tâu Bệ hạ!” Hắn kêu lên, hất mái tóc đen ra sau và dán chặt ánh mắt rực lửa vào ông Raymond. “Đúng là có những thế lực bóng tối đang hoạt động ở vùng đất này - điều ghê tởm mà ngài vừa kể đang len lỏi giữa chúng ta, nhưng thứ xấu xa đó không nằm trong những lồng ngực trung thành.” Hắn đấm mạnh vào lồng ngực mình, sợ rằng chúng tôi không hiểu ý. “Không, thưa Bệ hạ! Nếu nói về sự lầm lạc trong nhận thức cũng như việc sử dụng những cấm thuật, ngài hãy nhìn ra ngoài triều đình của mình.” Hắn không kết tội trực tiếp ông Raymond nhưng ánh mắt của hắn đã nói lên tất cả.

Nhà vua không bị lay chuyển bởi cơn bùng nổ này. “Thứ ghê tởm này đã phát triển mạnh mẽ suốt thời kỳ trị vì của ông nội ta,” ông ta nhẹ nhàng nói. “Chúng ta sẽ nhổ rễ chúng ở bất cứ nơi nào tìm thấy, phá hủy mối đe dọa xấu xa này ở bất kỳ nơi nào nó tồn tại trên vương quốc. Pháp sư, phù thủy, những kẻ xuyên tạc lời dạy của nhà thờ… Các ngài, chúng ta sẽ không để điều xấu xa đó nảy sinh một lần nữa.”

“Vậy nên.” Ông ta đập nhẹ hai lòng bàn tay lên bàn, vươn thẳng người, nhưng vẫn nhìn chăm chú vào Raymond và Bá tước, sau đó giơ một bàn tay về phía tôi.

“Ta đã mang tới đây một nhân chứng,” ông ta tuyên bố. “Một thẩm phán không thể nói sai sự thật, một trái tim thuần khiết.”

Tôi khẽ kêu líu ríu, khiến nhà vua quay lại nhìn tôi.

“Một Quý Bà Trắng,” ông ta nói khẽ. “La Dame Blanche không thể nói dối. Bà ấy nhìn thấu trái tim và linh hồn của con người, có thể biến đổi chúng thành điều tốt… hoặc phá hủy vĩnh viễn.”

Bầu không khí siêu thực treo lơ lửng trên cao bỗng vỡ tan. Cảm giác phấn chấn nhè nhẹ như lúc uống rượu đã biến mất, tôi đột nhiên rơi vào trạng thái tỉnh táo lạnh lùng. Tôi mở miệng, rồi lại ngậm tăm, nhận ra mình không thể nói điều gì một cách chính xác.

Nỗi kinh hoàng trườn xuống theo sống lưng và ruột gan tôi như cuộn lại khi nhà vua trình bày sự sắp đặt của ông ta. Hai phù thủy sẽ đứng trong hai ngôi sao năm cánh được vẽ trên sàn nhà. Mỗi người trong số họ sẽ nêu bằng chứng và lý do cho các hoạt động sai trái. Quý Bà Trắng sẽ phán quyết lời nào là sự thật.

“Ôi, Jesus H. Christ,” tôi lầm bầm.

“Ngài Bá tước?” Nhà vua ra hiệu về phía ngôi sao năm cánh đầu tiên được vẽ bằng phấn trên thảm. Chỉ nhà vua mới có thể đối xử với một tấm thảm Aubusson chính công theo cách này.

Bá tước lướt qua tôi khi đi tới chỗ của mình. Tôi nghe thấy giọng thì thầm rất khẽ: “Cẩn thận đấy, phu nhân! Tôi không chỉ có một mình.” Hắn đứng vào vị trí, rồi quay mặt về phía tôi, cúi đầu chào mỉa mai và vẻ bề ngoài tỏ ra kiềm chế.

Lời ngụ ý của hắn hoàn toàn rõ ràng. Nếu tôi kết tội hắn, đám thuộc hạ của hắn sẽ sẵn sàng đi cắt hai núm vú của tôi và đốt cháy kho hàng của Jared. Tôi liếm đôi môi khô khốc, thầm nguyền rủa Louis. Tại sao ông ta không thể chỉ ham muốn cơ thể tôi?

Raymond điềm nhiên bước tới vị trí của mình và gật dầu chào tôi một cách thân mật. Không có gợi ý chỉ đạo nào từ đôi mắt đen tròn xoe kia.

Tôi chẳng biết nên làm gì tiếp theo. Nhà vua gợi ý để tôi tới đứng đối diện ông ta, giữa hai ngôi sao năm cánh. Những người đội mũ trùm đầu đứng dậy và tới đứng phía sau nhà vua, một đám đông vô diện đầy hăm dọa.

Không gian vô cùng im ắng. Khói nến bốc lên cao tạo thành một lớp màn che sát trần nhà mạ vàng, những cuộn khói trôi bồng bềnh theo các dòng không khí uể oải trong phòng. Mọi con mắt đều đổ dồn vào tôi. Cuối cùng, trong cơn tuyệt vọng, tôi quay sang Bá tước và gật đầu.

“Ông có thể bắt đầu, ngài Bá tước,” tôi nói.

Hắn mỉm cười - ít ra thì tôi nghĩ vậy - và bắt đầu giải thích nền móng của pháp thuật bí truyền, rồi chuyển sang bình luận về hai mươi ba ký tự Hebrew, cũng như ý nghĩa uyên thâm của chúng. Bài diễn thuyết có vẻ sâu sắc, hoàn toàn vô hại và buồn tẻ kinh khủng. Nhà vua ngáp mà không buồn che miệng.

Trong lúc đó, tôi tính toán tất cả các trường hợp trong đầu. Kẻ này đã hăm dọa và tấn công tôi, cố gắng ám sát Jamie - cho dù vì mục đích cá nhân hay chính trị cũng chỉ khác nhau chút xíu. Rất có khả năng, hắn là kẻ lãnh đạo nhóm cưỡng hiếp đã mai phục tôi và Mary. Hơn thế nữa, ngoài những tin đồn tôi đã nghe về hoạt động của hắn, hắn còn là một mối đe dọa lớn đối với nỗ lực ngăn chặn Charles Stuart của chúng tôi. Tôi sẽ để hắn thoát tội ư? Để hắn truyền bá ảnh hưởng tới nhà vua, thay mặt gia đình Stuart, để hắn lang thang trên những con phố tối tăm của Paris cùng băng đảng du côn đeo mặt nạ?

Tôi có thể thấy hai núm vú của mình cứng lên vì sợ hãi, nhô lên rõ rệt trên chiếc váy lụa. Tôi đứng thẳng người, trừng mắt nhìn hắn.

“Xin dừng một phút,” tôi nói. “Tất cả những điều ông nói cho đến lúc này đều đúng, ngài Bá tước, tuy nhiên, tôi trông thấy một điểm không ổn trong lời của ông.”

Bá tước há hốc miệng. Louis bỗng trở nên hứng thú, chuyển từ dáng vẻ uể oải dựa vào bàn sang dáng đứng thẳng. Tôi nhắm mắt và chạm lên mi, giống như đang nhìn vào sâu bên trong.

“Tôi thấy một cái tên trong đầu ông, ngài Bá tước,” tôi nói như hết hơi, phần nào nghẹn lời vì sợ hãi, nhưng chẳng thể ngăn được nó. Tôi thả tay xuống, nhìn thẳng vào hắn. “Les Disciples du Mal,” tôi nói. “Ông có liên quan gì với Les Disciples, thưa ngài Bá tước?”

Đúng là hắn ta không giỏi che giấu cảm xúc. Hai con mắt hắn lồi ra và khuôn mặt trở nên trắng bệch. Tôi cảm thấy lòng thỏa mãn của mình đang cuộn trào dữ dội bên dưới nỗi sợ hãi.

Cái tên Les Disciples du Mal cũng quen thuộc với nhà vua, đôi mắt đen lim dim chợt nheo lại thành hai khe hẹp.

Bá tước là một tên quỵ lụy và bịp bợm, nhưng hắn không phải kẻ nhát gan. Hắn dồn hết can đảm, trừng mắt nhìn tôi, hất đầu ra sau.

“Người phụ nữ này nói dối,” giọng hắn khẳng định rõ ràng như lúc giới thiệu với người nghe những ký tự Hebrew là biểu tượng cho bình đựng máu của Chúa. “Bà ta không phải Quý Bà Trắng thực sự, mà là kẻ tôi tớ của quỷ Satan! Bà ta cấu kết với chủ nhân của mình, pháp sư khét tiếng, kẻ học trò của du Carrefours!” Hắn ta chỉ thẳng vào Raymond, ông ta trông hơi ngạc nhiên.

Một người đội mũ trùm đầu làm dấu thánh giá. Tôi nghe thấy tiếng cầu nguyện khe khẽ giữa những cái bóng.

“Tôi có thể chứng minh lời nói của mình,” Bá tước tuyên bố không để ai kịp nói thêm một lời. Hắn cho tay vào trong ngực áo. Tôi nhớ đến con dao găm hắn đã rút ra vào đêm tiệc và theo phản xạ cúi xuống. Thế nhưng, hắn không lôi ra một con dao.

“Kinh Thánh có ghi: Họ cầm lấy con rắn mà không bị tổn hại,” hắn la lớn. “Và với dấu hiệu này, ta sẽ biết họ là tôi tớ của Chúa Trời!”

Tôi nghĩ đó là một con rắn con, dài gần một mét. Một con rắn màu vàng nâu, trơn mượt và sáng bóng, uốn lượn như sợi dây thừng nhúng dầu, đôi mắt vàng khè làm người khác bối rối.

Trước sự xuất hiện của nó, đám đông cùng đồng thanh thở hắt ra. Hai người đội mũ trùm đầu lùi lại một bước. Bản thân Louis cũng lùi lại, vội vàng nhìn sang tay lính canh bên cạnh cửa đang trợn tròn mắt quan sát.

Con rắn thè lưỡi ra một, hai lần để nếm vị không khí. Nhưng dường như nó quyết định hỗn hợp sáp nến và trầm hương không ăn được. Nó quay trở vào, cố gắng lục tìm cái túi ấm áp mà từ đó nó bị thô lỗ lôi ra. Bá tước thành thạo túm lấy chỗ sau đầu nó và dúi về phía tôi.

“Mọi người thấy không?” Hắn hân hoan reo lên. “Người đàn bà này đang co rúm vì sợ hãi! Bà ta là phù thủy!”

Trên thực tế, nếu căn cứ vào vị trí để phán xét thì so với những kẻ đang rúc vào tường đằng kia, tôi là một tượng đài của lòng dũng cảm. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận bản thân có bước lùi về phía sau khi hắn giơ con rắn ra. Bây giờ, tôi bước tới phía trước, để tước con rắn khỏi tay hắn. Rốt cuộc, những thứ hung hăng thì không có độc. Có thể ta sẽ thấy nó vô hại khi quấn nó quanh cổ.

Trước khi tôi tới được chỗ hắn, ông Raymond đã lên tiếng sau lưng tôi. Giữa những chuyện ồn ào này, tôi đã quên bẵng ông ta.

“Kinh Thánh không nói điều đó, thưa ngài Bá tước,” Raymond nhận xét. Ông ta không cao giọng và khuôn mặt như loài ếch mềm mại như bánh pút đinh. Đám đông ồn ào ngừng xáo động và nhà vua quay sang lắng nghe.

“Vậy sao, quý ông?” Nhà vua hỏi.

Raymond gật đầu và biết mình được phép phát biểu. Ông ta cho cả hai tay vào trong túi áo choàng, lấy ra một chai bẹt nhỏ từ một túi và một cái cốc bé từ túi còn lại.

“Họ cầm lấy con rắn mà không bị tổn hại,” ông ta trích dẫn, “và nếu họ uống thuốc độc, họ sẽ không chết.” Ông ta đặt cái cốc lên lòng bàn tay, bề mặt bằng bạc của nó sáng lấp lánh dưới ánh nến. Cái chai nhỏ giơ lơ lửng phía trên, sẵn sàng rót ra.

“Vì cả phu nhân Broch Tuarach và tôi đều bị kết tội,” Raymond nói, liếc mắt nhìn tôi. “Tôi xin đề nghị cả ba chúng tôi cùng tham gia bài kiểm tra này. Với sự cho phép của người, thưa Bệ hạ!”

Louis trông khá sửng sốt bởi chuỗi sự kiện diễn ra chóng vánh, nhưng ông ta gật đầu. Một dòng chất lỏng màu hổ phách đổ tung tóe vào cốc, ngay lập tức nó chuyển sang màu đỏ và bắt đầu sủi bọt, giống như đang sôi sùng sục.

“Máu rồng,” Raymond giới thiệu, lắc cái cốc. “Hoàn toàn không gây hại đến trái tim thuần khiết.” Ông ta mỉm một nụ cười động viên và đưa tôi cái cốc.

Hình như tôi không thể làm gì khác ngoài uống nó. Máu rồng trông giống một dạng sô đa. Vị của nó tương tự rượu brandy pha nước khoáng. Tôi uống hai, ba ngụm vừa phải và đưa trả.

Raymond tỏ thái độ khách sáo đúng mực, cũng uống thứ trong cốc. Sau đó, ông ta hạ thấp cái cốc, trưng ra đôi môi nhuốm màu hồng và quay sang nhà vua.

“Liệu tôi có thể yêu cầu La Dame Blanche trao cái cốc này cho ngài Bá tước không?” Ông ta nói, chỉ xuống những đường kẻ phấn quanh chỗ đứng, ngụ ý rằng ông ta không thể bước ra ngoài khu vực bảo vệ của ngôi sao năm cánh.

Khi nhà vua gật đầu chấp thuận, tôi cầm lấy cái cốc và quay sang phía Bá tước một cách máy móc. Để đi qua đó mất khoảng sáu bước chân. Tôi tiến bước đầu tiên, rồi bước nữa, hai đầu gối run lập cập, hơn cả lúc ở riêng với nhà vua ngoài phòng chờ nhỏ.

Quý Bà Trắng nhìn thấu bản chất thật của con người. Tôi ư? Tôi thực sự hiểu hai người họ, Raymond hay Bá tước?

Tôi có thể làm gì để dừng lại? Tôi chất vấn bản thân cả trăm lần, cả ngàn lần - sau đó. Tôi có thể làm cách khác không?

Tôi nhớ đến suy nghĩ sai lầm của mình trong buổi gặp mặt Charles Stuart; thật tiện cho mọi người nếu cậu ta chết đi. Nhưng không ai có thể giết người vì niềm tin của người đó, cho dù niềm tin đó được vận dụng đồng nghĩa với cái chết của những người vô tội - đúng không?

Tôi không biết. Tôi không biết Bá tước có tội, tôi cũng không biết Raymond vô tội. Tôi không biết liệu việc theo đuổi điều đúng đắn có phải là nguyên nhân xứng đáng để dùng cách thức đê tiện không. Tôi không biết một mạng người đáng giá hay mạng của ngàn người đáng giá. Tôi không biết giá trị thực sự của việc báo thù.

Nhưng tôi biết cái cốc mình đang cầm trong tay là cái chết. Sức nặng của viên pha lê trắng đeo trên cổ tôi đã báo hiệu thuốc độc. Tôi không trông thấy Raymond thêm gì vào đó; không ai thấy. Tuy nhiên, tôi không cần nhúng viên pha lê vào chất lỏng đỏ như máu ấy để biết nó chứa thứ gì.

Bá tước hiểu những gì hiện trên khuôn mặt tôi; La Dame Blanche không nói dối. Hắn ngần ngại nhìn vào cái cốc sủi bọt.

“Uống đi, Bá tước,” nhà vua giục. Một lần nữa, đôi mắt nheo lại mà không thể hiện điều gì. “Hay là ông sợ?”

Có thể Bá tước sở hữu nhiều tai tiếng, nhưng nhát gan không nằm trong số đó. Khuôn mặt hắn tái nhợt và nghiêm túc, nhưng hắn nhìn thẳng vào mắt nhà vua, miệng hơi mỉm cười.

“Không, thưa Bệ hạ,” hắn đáp.

Hắn nhận lấy cái cốc từ tay tôi và uống cạn, hai mắt gắn chặt vào tôi. Chúng vẫn gắn chặt và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt tôi, ngay khi chúng trông thấy cái chết. Quý Bà Trắng có thể biến bản chất của một con người trở nên tốt hơn hoặc phá hủy nó.

Cơ thể của Bá tước đổ phịch xuống sàn, quằn quại. Những người quan sát đội mũ trùm đầu đồng thanh la hét và kêu thét lên, nhấn chìm mọi âm thanh hắn phát ra. Hai gót chân hắn gõ xuống liên hồi, nhưng không có âm thanh nào phát ra từ tấm thảm hoa. Cơ thể hắn uốn cong, rồi trở nên bất động. Con rắn, cực kỳ bực tức, thoát ra khỏi đống nếp áo xa tanh trắng lộn xộn của hắn và vội vàng trườn đi, hướng tới chỗ Louis đang đứng.

Tất cả trở nên hỗn loạn.

[1] Tiếng Pháp: Rất tốt, phu nhân thân mến của ta.

[2] Tiếng Pháp: Nhìn đi!

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.