Từ Paris, tôi quay trở lại ngôi nhà của Louise ở Fontainebleau. Tôi không muốn đến đường Tremoulins - hay bất kỳ nơi nào Jamie có thể tìm thấy tôi. Anh sẽ không có thời gian để tìm kiếm, anh phải khởi hành đi Tây Ban Nha gần như ngay lập tức, hoặc kế hoạch sẽ có nguy cơ thất bại.
Louise là một người bạn tốt, cô ấy tha thứ cho tôi và điều đáng khen ngợi là cô ấy không hỏi tôi đã đi đâu, làm gì. Tôi không nói chuyện nhiều với mọi người, chỉ ở trong phòng, ăn chút ít và nhìn chằm chằm lên putti[1] trần truồng, mũm mĩm được trang trí trên trần nhà. Tính cấp thiết của chuyến đi tới Paris đã khuấy động tôi một thời gian. Nhưng giờ đây, khi không còn phải làm việc, không có lịch trình hằng ngày chống đỡ, không có bánh lái, tôi lại bắt đầu trôi dạt vô định.
Nhưng đôi lúc, tôi cũng cố gắng hoạt động. Dưới sự khuyến khích của Louise, tôi sẽ xuống nhà dùng bữa tối thân mật hoặc cùng cô ấy uống trà với một người bạn tới thăm. Tôi cũng cố gắng chú ý tới Fergus, người duy nhất trên thế giới làm tôi còn cảm giác có trách nhiệm.
Do đó, khi đang thực hiện chuyến đi dạo buổi chiều thường ngày và nghe thấy tiếng cậu nhóc cãi lộn bên hông nhà, tôi cảm thấy lòng thôi thúc phải đến xem xét.
Fergus đang đối đầu với một thằng bé chăn ngựa lớn hơn, có vẻ mặt khó chịu và đôi vai to rộng.
“Câm miệng ngay, đồ bất lịch sự,” thằng nhóc chăn ngựa nói. “Mày không biết bản thân đang nói gì đâu!”
“Tao biết nhiều hơn mày - mày, mẹ mày ăn nằm với lợn!” Fergus đút hai ngón tay vào lỗ mũi, kéo mũi lên và nhảy tới nhảy lui, la “Éc, éc!” nhiều lần.
Thằng nhóc chăn ngựa, vốn có cái mũi hếch đặc trưng, đã không lãng phí thời gian, nó siết chặt cả hai nắm tay và vung lên. Trong giây lát, hai đứa lăn ra mặt đất bùn bẩn, kêu gào ầm ĩ như mèo, xé rách quần áo của nhau.
Tôi đang suy nghĩ có nên can thiệp hay không thì thằng nhóc chăn ngựa ngồi lên trên, nắm lấy cổ Fergus bằng cả hai tay, rồi đập đầu cậu nhóc xuống nền đất. Một mặt, tôi lo lắng, sau này Fergus sẽ dính vào những vụ tương tự. Mặt khác, khuôn mặt cậu nhóc đã trở nên đỏ tía, bám đầy đất bụi, tôi sợ phải thấy nó chết đột ngột khi còn quá trẻ. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tôi bước tới sau lưng cặp đôi đang vật lộn kia.
Thằng bé chăn ngựa cưỡi bên trên và bóp cổ Fergus, mông quần nó căng ra trước mặt tôi. Tôi co chân lên và đá vào đường khâu của cái quần. Thằng bé bị mất thăng bằng, liền giật mình thét to, ngã chúi về phía trước, nằm đè lên nạn nhân. Nó lăn người sang bên và nhảy bật dậy, hai tay siết chặt. Sau đó, trông thấy tôi, nó liền chạy biến mà không nói một lời.
“Cháu nghĩ cháu đang chơi đùa ở đâu hả?” Tôi gặng hỏi, kéo Fergus đang thở hổn hển đứng dậy và bắt đầu phủi bụi quần áo cho cậu, đập vào những đám bụi và rơm để chúng rơi khỏi người cậu.
“Nhìn xem,” tôi kết tội. “Cháu đã bị xé cả áo lẫn quần. Chúng ta phải nhờ Berta sửa lại.” Tôi quay cậu một vòng để sờ những chỗ vai rách. Rõ ràng thằng bé chăn ngựa đã bám vào cạp quần và xé toạc theo đường chỉ. Mảnh vai hồ cứng tuột khỏi cái hông mảnh khảnh, gần như để lộ một bên mông.
Tôi im bặt, chăm chú quan sát. Chỗ thu hút ánh mắt tôi không phải một mảng da lớn mà là một dấu nhỏ màu đỏ nổi bật trên đó. Kích cỡ của nó chỉ bằng đồng nửa xu. Nó có màu đỏ sẫm của da non trên vết thương bị đốt. Tôi không thể tin vào mắt mình, bèn chạm vào, khiến Fergus kêu oai oái. Những mép nổi của vết thương như được khắc, cho dù cái gì tạo ra vết thương này thì nó cũng đã ăn sâu vào da thịt. Tôi tóm lấy cánh tay để ngăn cậu nhóc chạy đi và cúi xuống kiểm tra kĩ hơn.
Cách còn khoảng mười lăm phân thì những đường nét của vết thương đã rõ ràng. Nó có hình bầu dục, ở bên trong là các hình bị nhòe, giống như chữ cái.
“Ai làm chuyện này với cháu, Fergus?” Tôi hỏi. Giọng nói có phần kỳ cục với chính tôi, bình tĩnh và xa cách lạ thường.
Fergus giật tay, cố gắng kéo người ra xa, nhưng tôi giữ lại.
“Ai, Fergus?” Tôi gặng hỏi, lắc nhẹ cậu.
“Không có gì đâu, phu nhân! Cháu tự ngã vào cái hàng rào. Chỉ là gỗ vụn làm xước thôi.” Đôi mắt đen to tròn của cậu đảo qua đảo lại để tìm một chỗ trốn.
“Không phải gỗ vụn. Ta biết nó là gì, Fergus. Nhưng ta muốn biết ai làm.” Tôi đã thấy dấu vết tương tự trước kia, vết thương này còn mới, nó đã có thời gian lành lại. Tuy nhiên, dấu vết của sắt nung thì không thể nhầm lẫn được.
Cậu nhóc thấy tôi kiên quyết nên ngừng chống đối. Cậu liếm môi, ngần ngại, hai vai rũ xuống. Tôi biết giờ cậu sẽ nói.
“Đó là… một người Anh. Với một cái nhẫn.”
“Khi nào?”
“Rất lâu rồi, thưa phu nhân! Từ tháng Năm.”
Tôi hít một hơi thở sâu, nhẩm tính. Ba tháng. Ba tháng trước, khi Jamie rời nhà để đến nhà thổ, tìm tay quản đốc nhà kho. Và Fergus đi cùng. Ba tháng từ khi Jamie chạm trán Jack Randall, ở nhà thổ của bà chủ Elise và thấy điều gì đó khiến mọi lời hứa trở nên vô hiệu và không còn giá trị, khiến anh quyết định giết Jack Randall. Ba tháng từ khi anh rời khỏi nhà - không bao giờ quay lại.
Tôi vô cùng nhẫn nại, nắm chặt cánh tay của Fergus và cuối cùng đã thành công trong việc ép cậu khai ra câu chuyện.
Khi họ đến nhà thổ của bà chủ Elise, Jamie đã bảo Fergus đợi anh trong lúc anh lên gác thu xếp chuyện tiền nong. Từ những kinh nghiệm trước kia, Fergus biết rằng sẽ mất một lúc lâu nên đi thơ thẩn vào phòng khách lớn, ở đó có nhiều quý cô trẻ mà cậu biết đang “nghỉ ngơi”. Cậu nói chuyện với họ, sửa lại tóc cho mỗi người để đợi khách.
“Vào buổi sáng thường rất ít khách,” cậu giải thích với tôi. “Nhưng vào thứ Ba và thứ Sáu, đám dân chài sẽ đi ngược sông Seme để bán sản vật thu được ở chợ sáng. Sau đó, họ có tiền và bà chủ Elise làm ăn thuận lợi, nên les jeunes filles[2] phải sẵn sàng ngay sau bữa sáng.”
Trên thực tế, phần lớn “các cô gái” ở đó đã lâu. Đám dân chài không phải khách sộp nên họ được mặc định dành cho những gái điếm kém hấp dẫn. Giữa những người bạn cũ, Fergus đã trải qua mười lăm phút dễ chịu trong phòng khách, được âu yếm và chơi đùa. Một vài khách đến sớm, lựa chọn và lên các phòng trên gác, không quấy rầy buổi trò chuyện của các cô gái còn lại - ngôi nhà kiêu hãnh của bà chủ Elise chỉ có bốn tầng chật hẹp.
“Thế rồi gã người Anh đi vào cùng bà chủ Elise.” Fergus dừng lại, nuốt nước bọt, yết hầu của cậu nhấp nhô khó khăn bên dưới lớp da cổ.
Fergus đã nhìn thấy đàn ông trong mọi trạng thái say rượu và kích dục nên cậu biết rõ tay Đại úy đã trong tình trạng như vậy cả đêm. Hắn phấn khích và xộc xệch, hai mắt đỏ ngầu. Hắn phớt lờ nỗ lực giới thiệu mấy cô gái điếm của bà chủ Elise và đi lang thang khắp phòng, không ngừng đưa mắt xem xét tỉ mỉ các món hàng được bày ra. Sau khi nhìn thấy Fergus, mắt hắn sáng bừng.
“Gã bảo: “Mày! Đi theo tao,” rồi tóm lấy cánh tay cháu. Cháu đã níu lại, thưa phu nhân - cháu bảo với gã rằng ông chủ ở trên gác và cháu không thể đi theo hắn - nhưng hắn không nghe. Bà chủ Elise thì thầm vào tai cháu rằng cháu nên đi với gã và bà ấy sẽ chia tiền cho cháu.” Fergus nhún vai, nhìn tôi bằng ánh mắt vô vọng. “Cháu biết những người chơi bé trai thường không làm lâu. Cháu nghĩ gã sẽ xong việc trước khi ông chủ rời đi.”
“Ôi, Chúa Jesus,” tôi nói. Những ngón tay nới lỏng và trượt xuống dưới cổ tay cậu nhóc. “Ý cháu là - Fergus ơi, cháu từng làm việc đó rồi?”
Cậu nhóc nhìn như thể muốn khóc. Tôi cũng vậy.
“Không thường xuyên, thưa phu nhân,” cậu đáp, gần như một lời van xin được thấu hiểu. “Có một ngôi nhà chuyên phục vụ việc này và đám đàn ông thường đến đó. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, một khách hàng thấy cháu và nổi lòng ham muốn…” Hai lỗ mũi bắt đầu chảy nước, cậu nhóc lấy mu bàn tay quệt ngang.
Tôi lục trong túi ra một cái khăn tay và đưa nó cho Fergus. Cậu nhóc bắt đầu xì mũi trong lúc nhớ về buổi sáng thứ Sáu đó.
“Hắn to hơn cháu tưởng. Hắn muốn…”
Tôi kéo Fergus lại, áp chặt đầu cậu vào vai, giọng nói của cậu bị bóp nghẹt trong lớp vải áo của tôi. Hai mảnh xương dẹt trên vai cậu rung lên như đôi cánh dưới tay tôi.
“Đừng kể thêm,” tôi nói. “Đừng! Được rồi, Fergus. Ta không giận đâu. Nhưng đừng kể nữa.”
Yêu cầu là vô ích. Cậu nhóc không thể ngừng nói sau nhiều ngày sợ hãi và im lặng.
“Nhưng đó là lỗi của cháu, phu nhân ơi!” Cậu nhóc thốt lên, thoát khỏi vòng tay tôi. Môi cậu run rẩy và những giọt nước mắt trào ra. “Lẽ ra cháu nên im lặng. Cháu không nên thét to! Nhưng cháu không kìm được và ông chủ nghe thấy, và… và ông ấy xông vào… và... Ôi, phu nhân ơi, đáng lẽ ra không nên, nhưng cháu rất mừng khi thấy ông ấy, và cháu chạy tới, ông ấy đẩy cháu ra sau và đấm vào mặt gã người Anh. Rồi gã người Anh đứng dậy với cái ghế đẩu trong tay và ném nó, còn cháu thì sợ hãi, chạy ra khỏi phòng và trốn trong cái tủ cuối hành lang. Rồi có rất nhiều tiếng la hét và đánh nhau, cả tiếng đổ vỡ ầm ĩ, thêm nhiều tiếng la hét nữa. Sau đó, mọi chuyện dừng lại, và chẳng mấy chốc ông chủ mở cửa tủ, đưa cháu ra. Ông ấy cầm quần áo của cháu và tự mình mặc đồ cho cháu, bởi vì cháu không thể cài khuy - ngón tay cháu cứ run lẩy bẩy.”
Cậu nhóc túm lấy váy tôi bằng cả hai tay, sự khẩn thiết ấy khiến tôi tin rằng mặt cậu đang co rúm lại, như một cái mặt nạ khỉ đau khổ.
“Đó là lỗi của cháu, thưa phu nhân, nhưng cháu không biết! Cháu không biết ông ấy sẽ đi đánh nhau với gã người Anh. Và giờ thì ông chủ đi rồi, sẽ không bao giờ quay lại, đó là lỗi của cháu!”
Giờ thì cậu nhóc than vãn, rồi ngã úp mặt xuống nền đất dưới chân tôi. Cậu đang khóc rất to nên tôi nghĩ cậu sẽ không nghe thấy lời tôi nói trong khi tôi cúi người đỡ cậu dậy, nhưng tôi phải nói điều đó bằng bất cứ giá nào.
“Chuyện đó không phải lỗi của cháu, Fergus. Cũng không phải lỗi của ta - nhưng cháu nói đúng. Ông ấy đã đi rồi.”
•••
Từ sau lời tiết lộ của Fergus, tôi càng chìm sâu vào lãnh đạm. Đám mây xám xịt bủa vây tôi từ hồi sẩy thai dường như kéo đến gần hơn. Nó bao bọc nhiều lớp quanh tôi, biến ánh sáng của những ngày tươi đẹp nhất trở nên mù mịt. Bởi vậy, các âm thanh khi chạm đến tôi đều yếu ớt, như tiếng chuông báo hiệu trên phao cứu sinh xuyên qua màn sương mù trên biển.
Louise đứng trước mặt tôi, cau có vì lo lắng và quan sát tôi.
“Cô gầy quá đi thôi,” cô ấy trách mắng. “Và trắng như đĩa lòng bò vậy. Yvonne nói rằng cô lại không ăn sáng!”
Tôi không thể nhớ lần cuối cùng mình đói là khi nào. Mà chuyện đó hầu như không quan trọng. Từ rất lâu trước vụ đọ kiếm ở rừng Boulogne, từ trước chuyến đi tới Paris của tôi. Tôi nhìn trân trân mặt lò sưởi và bị cuốn vào trong những vòng xoắn chạm khắc theo phong cách rococo[3]. Giọng của Louise tiếp tục, nhưng tôi không chú ý, nó chỉ như tiếng ồn trong phòng, như âm thanh của những cành cây cọ vào bức tường đá của lâu đài hay tiếng vo vo của đám ruồi đang kéo đến vì ngửi thấy mùi thức ăn thừa trong bữa sáng của tôi.
Tôi quan sát một con ruồi, nó bay khỏi miếng trứng vì Louise bất ngờ vỗ tay. Nó bay thành những vòng tròn trước khi đậu trở lại chỗ ăn của mình. Tiếng bước chân vội vã tiến tới sau lưng tôi. Một giọng yêu cầu dứt khoát của Louise, một giọng đáp phục tùng “Oui[4], thưa phu nhân,” và một tiếng phật vang lên khi người giúp việc xua chổi đuổi ruồi, nhát nọ nối tiếp nhát kia. Cô gái nhặt từng cái xác bé xíu cho vào túi, sau đó chùi chỗ bị bẩn trên bàn bằng một góc tạp dề.
Louise cúi xuống, gí mặt vào trong tầm nhìn của tôi.
“Tôi có thể trông thấy mọi cái xương trên mặt cô! Nếu cô không ăn thì ít nhất hãy đi ra ngoài một chút!” Cô ấy sốt ruột nói. “Cơn mưa đã tạnh; đi thôi, biết đâu chúng ta sẽ tìm thấy mấy quả nho xạ trong bụi rậm. Có thể cô sẽ ăn vài quả.”
Dù là bên trong hay bên ngoài, tôi đều cảm thấy nỗi buồn nhẹ nhàng và chết lặng ở bên, xóa nhòa những đường nét và biến mọi nơi chốn trở nên giống nhau. Tuy nhiên, đây là vấn đề với Louise, nên tôi ngoan ngoãn đứng dậy, đi với cô ấy.
Gần cổng vườn, Louise bị đầu bếp chặn lại, thắc mắc và phàn nàn về thực đơn bữa tối. Khách đã được mời với mục đích làm tôi sao nhãng, và việc hối hả chuẩn bị đã gây ra nhiều mối bất hòa trong nhà suốt sáng hôm nay.
Louise thở dài mệt mỏi, sau đó vỗ nhẹ vào lưng tôi.
“Cô hãy đi tiếp,” cô ấy giục tôi tiến về phía cổng. “Tôi sẽ gửi người hầu và áo choàng đến.”
Hôm đó là một ngày mát trời giữa tháng Tám, vì cơn mưa đã trút xuống suốt đêm hôm trước. Những vũng nước nhỏ nằm trên con đường rải sỏi và các hạt nước nhỏ liên tiếp rơi xuống từ cành cây ướt đẫm, giống như một cơn mưa.
Bầu trời vẫn nguyên màu xám xịt, nhưng nó đã nhạt bớt từ màu đen sì giận dữ của những đám mây õng nước. Tôi ôm lấy hai khuỷu tay. Có vẻ mặt trời sẽ sớm ló ra trở lại, nhưng trời vẫn lạnh đủ để cần có một chiếc áo khoác.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân tiến tới từ phía sau, liền quay người và thấy François, người hầu bậc hai, nhưng ông ta không mang theo thứ gì. Ông ta nhìn tôi ngần ngại một cách kỳ quặc, dường như muốn chắc chắn tôi là người cần tìm.
“Phu nhân,” ông ta nói, “có khách đến thăm bà.”
Tôi thầm thở dài. Tôi không muốn bị làm phiền với việc phải lên tinh thần để tiếp chuyện họ, theo phép lịch sự.
“Làm ơn nói với họ rằng tôi mệt,” tôi đáp, quay người tiếp tục đi dạo. “Khi nào họ đi, hãy mang cho tôi áo khoác.”
“Nhưng thưa phu nhân,” ông ta nói vọng tới từ sau lưng tôi, “là Lãnh chúa Broch Tuarach - chồng của bà.”
Tôi giật mình, quay lại nhìn ngôi nhà. Là thật, tôi có thể thấy dáng người cao lớn của Jamie sắp rẽ ở góc ngoặt. Tôi quay đi, giả bộ không trông thấy và tiến về phía rặng cây. Những bụi cây rậm rạp rủ xuống thấp, có lẽ tôi có thể trốn kịp.
“Claire!” Giả bộ là vô ích. Anh cũng nhìn thấy tôi và đang đi xuống con đường mòn theo sau tôi. Tôi rảo bước nhanh hơn, nhưng không sánh kịp với đôi chân dài kia. Vừa đi được nửa đường, tôi đã thở hắt ra, do đó bước chậm dần. Tình trạng sức khỏe của tôi không cho phép vận động mệt nhọc.
“Đợi đã, Claire!”
Tôi hơi quay người, anh đã đuổi gần tới nơi. Bức màn màu xám mềm mại tê liệt bao quanh tôi bắt đầu rung rinh, tôi hoảng hốt khi nghĩ rằng hình ảnh của anh sẽ xé toạc nó khỏi tôi. Nếu chuyện đó xảy ra, tôi sẽ chết, tôi đã nghĩ vậy, giống như một con ấu trùng bị đào lên khỏi mặt đất, bị ném lên một tảng đá để teo lại, trần truồng và không phòng bị dưới ánh mặt trời.
“Không!” Tôi đáp. “Em không muốn nói chuyện với anh. Đi đi!”
Anh do dự một lúc và tôi quay đi, bắt đầu bước nhanh xuống con đường dẫn đến rặng cây. Tôi nghe tiếng chân anh đi theo trên con đường rải sỏi, nhưng tôi vẫn quay lưng và đi thật nhanh, gần như bỏ chạy.
Khi tôi dừng lại để chui vào dưới rặng cây, anh bất ngờ lao tới, túm lấy cổ tay tôi. Tôi cố gắng vùng vẫy nhưng anh giữ chặt.
“Claire!” Anh nói. Tôi chống cự nhưng vẫn quay mặt đi. Nếu không nhìn anh, tôi có thể giả bộ anh không ở đây. Tôi có thể ở lại trong cảm giác an toàn.
Anh thả cổ tay tôi, tóm lấy hai vai. Vì thế, tôi phải ngẩng đầu lên để giữ thăng bằng. Khuôn mặt anh bị cháy nắng và gầy gò, với nhiều vết cắt xù xì bên cạnh miệng, đôi mắt sẫm lại chất chứa đau thương. “Claire,” anh nói, dịu dàng hơn, giờ anh có thể thấy tôi đang nhìn anh. “Claire - nó cũng là con anh.”
“Phải, đúng vậy - và anh đã giết nó!” Tôi đẩy anh ra, lao mình qua mái vòm hẹp. Tôi đứng bên trong, thở hổn hển như một con chó hoảng sợ. Tôi không nhận ra cái cổng vòm dẫn vào một công trình bỏ hoang bị bao phủ bởi giàn nho. Những bức tường mắt cáo bao quanh tứ phía - tôi đã bị bẫy. Ánh sáng phía sau tôi tắt dần bởi cơ thể anh đứng chắn lối vào.
“Đừng chạm vào em!” Tôi lùi lại, nhìn chăm chú xuống đất. Đi đi! Tôi điên cuồng nghĩ. Làm ơn, vì Chúa, để em yên! Tôi có thể cảm thấy màu xám bao phủ quanh mình đang biến mất, rồi những vệt sáng đau đớn chiếu xuyên qua tôi như tia chớp xuyên qua đám mây.
Anh dừng lại, cách tôi vài bước. Tôi sẩy chân, trượt về phía trước, nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế dài bằng gỗ. Tôi nhắm mắt và ngồi run rẩy. Trời ngừng mưa, một làn gió lạnh, ẩm ướt thổi qua ô mắt cáo, khiến cổ tôi ớn lạnh.
Anh không tiến tới gần hơn. Tôi có thể cảm thấy anh đang đứng đó, nhìn tôi. Tôi có thể nghe thấy hơi thở đứt quãng của anh.
“Claire,” anh gọi lần nữa, giọng có phần tuyệt vọng, “Claire, em không nhìn ư… Claire, em phải kể anh nghe! Vì Chúa, Claire, anh thậm chí không biết nó là gái hay trai!”
Tôi cứng người, hai bàn tay nắm lấy lớp vỏ gỗ xù xì của cái ghế. Một lúc sau, có tiếng lạo xạo nặng nề trên mặt đất trước mặt tôi. Tôi hé mắt, vừa đúng lúc thấy anh ngồi xuống trên nền sỏi ướt dưới chân tôi. Anh cúi đầu, nước mưa đã để lại những giọt lóng lánh trên mái tóc ướt thẫm.
“Em bắt anh cầu xin ư?” Anh nói.
“Nó là con gái.” Lát sau, tôi cất lời. Giọng nói của tôi nghe vui vẻ và khàn khàn. “Mẹ Hildegarde đã đặt tên thánh cho nó. Faith[5]. Faith Fraser. Mẹ Hildegarde có khiếu hài hước thật kỳ quặc.”
Cái đầu cúi thấp không chuyển động. Một lúc sau, anh nói nhỏ: “Em đã thấy con chưa?”
Tôi mở to mắt, nhìn trân trân vào đầu gối, một vài giọt nước rơi xuống từ những cây nho sau lưng tôi khiến lớp áo lụa bị ướt lấm chấm.
“Có. Các mâitresse sage-femme bảo em nên nhìn, họ trao nó cho em.” Tôi hồi tưởng giọng nói trầm trầm và thản nhiên của bà Bonheur, người có thâm niên và được kính trọng nhất trong số các bà mụ ghé đến nhà thương Des Anges.
“Trao cho cô ấy đứa bé đi, nếu họ được nhìn thấy thì tốt hơn. Sau đó, họ sẽ không phải tưởng tượng.”
Do vậy, tôi không tưởng tượng. Tôi nhớ lại.
“Con bé thật hoàn hảo,” tôi nói nhỏ như tự nhủ. “Rất nhỏ. Em có thể ôm đầu nó trong lòng bàn tay. Hai tai nhô ra một chút - em còn thấy ánh sáng chiếu xuyên qua chúng.”
Ánh sáng cũng chiếu xuyên qua da con bé, ánh sáng lung linh trên đường cong tròn trịa của má và cái mông giống như ánh sáng ngọc trai, bất động và trầm tĩnh với một chút nước còn lưu lại trên đó.
“Mẹ Hildegarde bọc nó trong mảnh vải xa tanh,” tôi nhìn xuống hai nắm tay siết chặt trong lòng. “Đôi mắt của con bé không mở, nó cũng không có lông mi, nhưng đôi mắt thì xếch. Em bảo mắt nó giống anh, nhưng các bà ấy nói đứa bé nào cũng thế.”
Mười ngón chân và mười ngón tay. Không có móng nhưng có các khớp xương sáng mờ, xương bánh chè và xương ngón chân giống như ngọc mắt mèo, giống như những cái xương được nạm đá quý của lòng đất. Nhớ lại thì…
Tôi nhớ cả tiếng loảng xoảng từ đằng xa của nhà thương, nơi cuộc sống vẫn tiếp diễn và nhớ tiếng bàn bạc khẽ khàng của Mẹ Hildegarde cùng bà Bonheur, họ đang nói chuyện với giáo sĩ, ông ấy đọc một lời cầu nguyện đặc biệt do Mẹ Hildegarde yêu cầu. Tôi nhớ ánh mắt điềm tĩnh xem xét của bà Bonheur khi bà ấy quay sang nhìn tôi, quan sát tình trạng yếu ớt của tôi. Có thể bà ấy còn quan sát ánh sáng báo trước cơn sốt đang tới gần. Bà ấy lại quay sang Mẹ Hildegarde, giọng còn nhỏ hơn trước - có thể bà ấy đề nghị họ đợi, có thể cần đến hai đám tang.
Và cát bụi sẽ trở về với cát bụi.
Tuy nhiên, tôi đã quay lại từ cõi chết. Chỉ có Jamie mới đủ sức mạnh kéo tôi trở về từ ranh giới cuối cùng và ông Raymond biết điều đó. Tôi hiểu chỉ có Jamie mới có thể kéo tôi đi nốt con đường, trở về mảnh đất của người sống. Đó là lý do tôi chạy trốn khỏi anh, làm mọi việc để giữ anh tránh xa mình, để đảm bảo anh sẽ không đến gần tôi nữa. Tôi không muốn quay về, không khát khao cảm nhận nó lần nữa. Tôi không muốn biết yêu chỉ để rồi muốn xé bỏ nó thêm một lần nữa.
Thế nhưng đã quá muộn. Tôi biết, cho dù tôi đã chiến đấu để giữ lấy tấm màn xám bao quanh mình. Chống cự chỉ càng đẩy nhanh sự tan rã của nó. Việc đó giống như nắm lấy những mảnh vụn của đám mây, và nó tan biến trong làn sương lạnh giữa các ngón tay tôi. Tôi cảm nhận được ánh sáng đang đến, chói lòa và tinh tế.
Anh đứng dậy trước mặt tôi. Cái bóng của anh đổ lên hai đầu gối tôi, chắc chắn điều này có nghĩa là đám mây đã tan biến. Một cái bóng không thể che phủ mặt đất nếu thiếu ánh sáng.
“Claire,” anh thì thầm. “Làm ơn để anh an ủi em.”
“An ủi ư?” Tôi đáp. “Anh sẽ làm thế nào? Anh có thể trả lại con cho em không?”
Anh quỳ xuống trước mặt tôi, nhưng tôi vẫn cúi gằm mặt, nhìn vào hai bàn tay úp trong lòng. Tôi cảm thấy chuyển động của anh khi anh đưa tay ra để chạm vào tôi, do dự, rụt lại rồi đưa ra một lần nữa.
“Không,” anh nói, giọng chỉ đủ nghe. “Không, anh không thể. Nhưng… nhờ ơn Chúa… anh có thể cho em một đứa con khác.”
Đôi tay anh dừng lại, lơ lửng bên trên người tôi, đủ gần để tôi cảm nhận được hơi ấm của da anh. Tôi cũng cảm thấy những điều khác: nỗi buồn anh đang kiềm chế thật chặt, cơn giận và sợ hãi đã siết cổ anh, cả sự dũng cảm giúp anh cất tiếng nói bất chấp cản trở. Tôi tập hợp can đảm quanh mình, điều thay thế mong manh cho tấm màn xám dày đặc. Sau đó, tôi cầm tay anh và ngẩng đầu, để nhìn trọn vẹn khuôn mặt của mặt trời.
•••
Chúng tôi ngồi, tay đan tay, áp chặt vào nhau trên ghế dài, không cử động, không nói chuyện, cứ như thế hàng tiếng đồng hồ, chỉ có cơn gió lạnh thì thầm những suy nghĩ của chúng tôi trong vòm lá nho phía trên. Nước nhỏ giọt bắn tung tóe trên người chúng tôi khi cơn gió thổi qua, khóc thương vì sự mất mát và chia cách.
“Em đang lạnh,” cuối cùng, Jamie lẩm bẩm, kéo một vạt áo choàng trùm lên người tôi. Tôi chầm chậm tựa vào anh trong nơi trú ẩn này, hơi ấm từ người anh đột ngột truyền sang tôi, chỗ dựa vững chắc và bất ngờ đó khiến tôi càng run hơn khi bị lạnh.
Tôi đặt tay lên lồng ngực anh, tựa như việc chạm vào anh làm tôi bị thiêu cháy trong sự thật và chúng tôi ngồi thêm một lúc lâu nữa, để những chiếc lá nho nói chuyện thay mình.
“Jamie,” cuối cùng, tôi nói khẽ. “Ôi, Jamie. Anh đã ở đâu?”
Cánh tay anh siết chặt hơn quanh người tôi, một lúc sau, anh trả lời.
“Anh đã nghĩ là em chết rồi, mo duinne,” anh nói quá nhỏ, tôi hầu như không nghe thấy, chỉ có tiếng rặng cây xào xạc trên đầu.
“Anh đã thấy em ở đó - trên nền đất vào lần cuối cùng. Chúa ơi! Em trắng bệch và váy của em thì đẫm máu… Anh đã cố gắng tới chỗ em, Claire, ngay khi anh trông thấy - anh đã chạy tới với em, nhưng đội cảnh vệ đã bắt anh đi.”
Anh nuốt khan một cách khó khăn. Tôi cảm thấy cơn rùng mình chạy xuống khắp người anh qua tấm lưng dài và cong.
“Anh chống trả họ… anh đã chống trả, và phải, anh đã cầu xin… nhưng họ không ở lại, họ đưa anh đi cùng. Họ nhốt anh vào ngục, để anh ở đó… nghĩ rằng em đã chết, Claire; anh tưởng rằng anh đã giết em.”
Cơn rùng mình tiếp tục. Tôi biết anh đang rơi nước mắt, dù tôi không thể trông thấy khuôn mặt anh. Jamie đã ngồi một mình trong ngục Bastille bao lâu, một mình với mùi máu tanh và vỏ ngoài trống rỗng của việc báo thù?
“Mọi chuyện ổn rồi,” tôi nói, ấn bàn tay mạnh hơn vào lồng ngực của anh, như muốn làm nhịp tim đập nhanh của anh trở nên bình lặng. “Jamie, mọi chuyện ổn rồi. Đó… đó… không phải lỗi của anh.”
“Anh đã thử đập đầu vào tường - chỉ để ngừng suy nghĩ,” anh nói như thì thầm. “Nên họ trói tay và chân anh lại. Ngày hôm sau, de Rohan tìm anh, bảo rằng em vẫn còn sống, mặc dù không biết được bao lâu.”
Sau đó, anh im lặng, nhưng tôi cảm nhận được nỗi đau bên trong anh, sắc nhọn như cái xiên bằng băng đá.
“Claire,” cuối cùng, anh lẩm bẩm. “Anh xin lỗi.”
Anh xin lỗi. Những lời này được viết trên tờ giấy anh để lại cho tôi, trước khi thế giới vỡ tan. Nhưng giờ, tôi mới hiểu chúng.
“Em biết,” tôi đáp. “Jamie ơi, em biết. Fergus đã kể em nghe. Em biết tại sao anh đến đó.”
Anh hít vào một hơi thở sâu và run rẩy.
“Phải, chà…” Anh đáp, rồi ngừng lời.
Tôi thả tay mình xuống đùi anh, nó lạnh lẽo và ẩm ướt bởi cơn mưa, chiếc quần cưỡi ngựa của anh thô ráp dưới lòng bàn tay tôi.
“Họ có nói cho anh biết - lúc họ thả anh ra - lý do anh được phóng thích không?” Tôi cố gắng giữ hơi thở đều đặn, nhưng thất bại.
Đùi anh căng ra dưới bàn tay tôi, nhưng giọng anh bây giờ đã điềm tĩnh.
“Không,” anh đáp. “Họ chỉ nói… ơn huệ của Bệ hạ.” Từ “ơn huệ” được nhấn rất nhẹ, với âm điệu hung dữ thoáng qua, điều này cho thấy rõ anh hiểu ý nghĩa của việc phóng thích, cho dù cai ngục có nói hay không.
Tôi cắn môi dưới, cố gắng quyết định xem nên nói với anh điều gì vào lúc này.
“Chính là Mẹ Hildegarde,” anh nói tiếp bằng giọng kiên định. “Anh đã đến nhà thương Des Anges ngay lập tức để tìm em. Và anh thấy Mẹ Hildegarde cùng mẩu giấy nhỏ em viết cho anh. Bà ấy đã… nói với anh.”
“Đúng,” tôi nói, nuốt nước miếng. “Em đã tới gặp Đức vua.”
“Anh biết!” Bàn tay anh siết chặt người tôi và từ tiếng thở của anh, tôi biết anh đang nghiến răng.
“Nhưng Jamie… khi em đến…”
“Chúa ơi!” Anh thốt lên, đột nhiên ngồi thẳng dậy, quay sang tôi. “Em không biết rằng anh… Claire.” Anh nhắm mắt, hít thở sâu. “Anh đã cưỡi ngựa thẳng tới Orvieto mà vẫn nhìn thấy nó; thấy bàn tay của ông ta trên làn da trắng trẻo của em, môi của ông ta trên cổ em, thứ… thứ đó của ông ta - anh đã nhìn thấy nó trong lễ thức dậy - thứ chết tiệt, bẩn thỉu vừa to vừa ngắn ấy trượt vào… Chúa ơi, Claire! Lúc ngồi trong tù thì anh nghĩ em đã chết và rồi anh cưỡi ngựa đến Tây Ban Nha, lòng thầm ước nguyện với Chúa rằng giá mà em đã chết thật!”
Các khớp của bàn tay đang cầm tay tôi chuyển sang màu trắng, tôi có thể cảm thấy những ngón tay mình kêu răng rắc trong cái nắm siết của anh.
Anh buông tay tôi.
“Jamie, nghe này!”
“Không!” Anh nói. “Không, anh không muốn nghe…”
“Nghe đi, đồ chết tiệt!”
Giọng tôi đủ kiên quyết để bắt anh im lặng trong chốc lát. Khi anh không nói nữa, tôi bắt đầu kể thật nhanh câu chuyện trong căn phòng của nhà vua, những người đội mũ trùm đầu, căn phòng tối, vụ quyết đấu giữa hai pháp sư và cái chết của Bá tước St. Germain.
Trong lúc tôi kể chuyện, đôi má đỏ ửng của anh dần phai màu. Biểu hiện đau đớn cùng giận dữ được xoa dịu và trở thành vẻ hoang mang, dần dần, nó chuyển thành niềm tin tưởng không ngờ.
“Jesus,” anh thở hắt ra. “Ôi, Chúa linh thiêng!”
“Anh không biết mình sẽ gây ra chuyện gì với câu chuyện ngớ ngẩn đó, phải không?” Tuy đã mệt lả nhưng tôi vẫn cố gắng nở nụ cười. “Thế là… thế là Bá tước… Ổn rồi, Jamie ạ! Hắn ta… đã chết rồi.”
Anh không đáp lại, nhưng nhẹ nhàng kéo tôi vào, để trán tôi tựa lên vai anh và những giọt nước mắt của tôi thấm vào áo sơ mi của anh. Một phút sau, tôi ngồi thẳng người, nhìn anh chằm chằm, rồi quệt mũi.
“Em vừa nghĩ ra, Jamie ơi! Chỗ rượu poóc-tô - vụ đầu tư của Charles Stuart! Nếu Bá tước chết thì…”
Anh lắc đầu, mỉm cười yếu ớt.
“Không, mo duinne. Nó an toàn.”
Cảm giác nhẹ nhõm dâng lên trong tôi.
“Ôi, tạ ơn Chúa! Anh đã làm được ư? Mấy loại thuốc có công hiệu với Murtagh không?”
“Không,” anh đáp, cười tươi, “nhưng có hiệu quả với anh.”
Ngay khi nỗi sợ hãi cùng sự tức giận nguôi ngoai, tôi cảm thấy uể oải và choáng váng. Mùi nho ướt nước mưa nồng nàn và ngọt ngào. Dựa vào anh trong lúc lắng nghe câu chuyện cướp rượu poóc-tô trên biển, cảm nhận hơi ấm của anh giống như sự an ủi chứ không phải sự hăm dọa, tôi cảm thấy thanh thản và hạnh phúc.
“Có những người sinh ra để ở trên biển, Sassenach ạ,” anh bắt đầu, “nhưng anh e rằng mình không phải một trong số họ.”
“Em biết,” tôi đáp. “Anh bị say sóng ư?”
“Anh hiếm khi nào ốm yếu hơn,” anh nhăn nhó, cam đoan với tôi.
Biển ngoài khơi Orvieto đang động. Chỉ trong một tiếng, Jamie đã chắc chắn mình không thể đảm nhận nhiệm vụ của anh theo kế hoạch.
“Anh không thể làm một việc gì ngoài nằm trên võng và rên rỉ,” anh nhún vai, nói, “nên anh cũng có thể làm người mắc bệnh đậu mùa.”
Anh và Murtagh vội vàng đổi vai. Sau hai mươi tư tiếng kể từ khi rời khỏi bờ biển Tây Ban Nha, thuyền trưởng chiếc Scalamandre kinh hoàng phát hiện ra bệnh dịch đã bùng phát bên dưới đáy thuyền.
Jamie đưa tay gãi cổ theo phản xạ, như thể anh vẫn cảm thấy tác dụng của nước cây tầm ma.
“Lúc phát hiện, họ đã nghĩ đến việc quẳng anh xuống biển,” anh kể, “và anh phải công nhận đó là một ý tưởng rất tuyệt vời.” Anh cười nửa miệng. “Em đã bao giờ say sóng khi mang trên người những nốt phát ban do tác dụng của nước cây tầm ma chưa, Sassenach?”
“Chưa, tạ ơn Chúa!” Tôi rùng mình, tưởng tượng. “Murtagh đã ngăn họ ư?”
“Ồ, phải. Ông ấy trông rất dữ tợn, Murtagh ấy! Ông ấy ngủ bên kia ngưỡng cửa, một tay đặt lên dao găm, cho tới khi cả hai đã an toàn tới cảng ở Bilbao.”
Đúng như dự liệu, sau khi phải đối diện với lựa chọn giữa việc tiếp tục đến Le Havre và chịu thiệt hại hay lãng phí thời gian quay trở lại Tây Ban Nha và gửi thư đến Paris, thuyền trưởng chiếc Scalamandre đã chộp lấy cơ hội, vứt toàn bộ số rượu poóc-tô giá trị của mình cho người mua mới tình cờ chen vào.
“Ông ta mặc cả rất ác liệt,” Jamie nhận xét, gãi cẳng tay. “Ông ta thương lượng mất nửa ngày - và anh chết dần chết mòn trên cái võng, tè ra máu, nôn thốc nôn tháo.”
Tuy nhiên, cuộc thương lượng đã kết thúc, cả rượu poóc-tô và bệnh nhân đậu mùa đều được đưa xuống giải quyết tại Bilbao. Ngoài việc đi tiểu ra màu đỏ, Jamie phục hồi nhanh chóng.
“Bọn anh bán chỗ rượu cho một người môi giới tại Bilbao,” anh nói. “Anh sai Murtagh về Paris ngay lập tức, trả tiền cho ông Duverney - rồi sau đó… anh đến đây.”
Anh nhìn xuống hai bàn tay nằm gọn gàng trong lòng. “Anh không thể quyết định,” anh nói khẽ. “Đến hay không. Em thấy đấy, anh đi bộ để có thời gian suy nghĩ. Anh đi bộ từ Paris đến Fontainebleau. Và gần như quay trở về. Anh quay về nửa tá lần, nghĩ rằng mình là một kẻ giết người và là một thằng ngốc, không ngờ rằng chính mình đã gần như giết chết em…”
Sau đó, anh thở dài, nhìn tôi, đôi mắt tôi sẫm phản chiếu hình ảnh những chiếc lá rung rinh.
“Anh phải đến,” anh nói ngắn gọn.
Tôi không đáp, chỉ đặt tay mình lên tay anh và ngồi bên cạnh. Những quả nho rụng khắp nơi trên đất, bên dưới rặng cây, mùi chua gắt của quá trình lên men hứa hẹn chỗ rượu này đã bị lãng quên hoàn toàn.
Tuy còn vài vệt mây che ngang nhưng mặt trời đã ló dạng. Một cái bóng mờ màu vàng đổ xuống theo hình dáng đáng kính của Hugo, ông ta hiện ra, đen sì trên lối vào rặng cây.
“Xin thứ lỗi, thưa phu nhân,” ông ta nói. “Bà chủ muốn biết le seigneur[6] có ở lại dùng bữa tối hay không?”
Tôi nhìn Jamie. Anh ngồi yên, chờ đợi, mặt trời xuyên qua kẽ lá nho, chiếu ánh nắng màu hổ phách rực rỡ lên mái tóc anh, đổ bóng lên khuôn mặt anh.
“Em nghĩ tốt hơn anh nên ở lại,” tôi nói. “Anh gầy quá!”
Anh nhìn tôi, gượng cười. “Em cũng vậy, Sassenach.”
Anh đứng lên, giơ cánh tay ra. Tôi bám lấy nó, chúng tôi cùng nhau đi vào dùng bữa tối, để lại đám lá nho thì thầm cuộc trò chuyện không lời của chúng tôi.
•••
Tôi nằm bên cạnh Jamie, sát bên anh, bàn tay của anh đặt trên đùi tôi trong lúc ngủ. Tôi nhìn chăm chú lên khoảng tối trong phòng ngủ, lắng nghe hơi thở bình lặng của anh và tự mình tận hưởng mùi hương trong lành, mới được gột rửa của bầu không khí ẩm ướt ban đêm, thoảng mùi hoa đậu tía.
Đối với tất cả mọi người có mặt, cái chết của Bá tước St. Germain đã kết thúc tối hôm đó, ngoại trừ Louis. Khi mọi người trong căn phòng rời đi, phấn khích và thì thầm với nhau, Louis cầm lấy cánh tay tôi, dẫn tôi qua căn phòng nhỏ ban đầu. Mặc dù giỏi ra lệnh nhưng lúc này ông ta không nói gì.
Tôi được dẫn đến chiếc ghế nằm bằng lụa xanh, ngả lưng xuống và cái váy tốc lên trước khi tôi kịp nói gì. Ông ta không hôn tôi, ông ta không thèm muốn tôi. Đây chỉ là một trình tự để hoàn tất cuộc ngã giá lúc trước. Louis là kẻ mặc cả gian xảo, không tha cho một người nào mà ông ta nghĩ rằng mắc nợ mình, cho dù việc trả món nợ ấy có giá trị với ông ta hay không. Nhưng xét cho cùng, có lẽ việc này đáng giá. Tôi đã thấy không chỉ một dấu hiệu thể hiện sự kích động, có phần sợ hãi, khi ông ta chuẩn bị - có ai ngoài nhà vua dám ôm La Dame Blanche trong vòng tay?
Khi đó, tôi đang khép chặt và khô khốc, không hề sẵn sàng. Tuy nhiên, ông ta đánh mất sự kiên nhẫn, vội vàng chộp lấy lọ dầu hương hoa hồng trên bàn và xoa giữa hai chân tôi. Tôi nằm im, không động đậy, không phát ra âm thanh nào, chờ đợi những cú thúc gấp gáp qua đi. “Khó chịu” không phải là từ miêu tả chính xác, bởi tôi chẳng thấy đau đớn, cũng không có cảm giác bị làm nhục. Đây chỉ là một vụ đổi chác. Sau đó, ông ta đứng dậy, mặt đỏ bừng phấn chấn, hai bàn tay sờ soạng cài lại quần. Ông ta sẽ không mạo hiểm sinh ra một nghiệt chủng có dòng máu nửa hoàng gia, nửa phù thủy. Nhưng với bà de La Tourelle thì lại khác - tôi hy vọng khả năng của bà ta cao hơn tôi - bà ta đang sẵn sàng đợi trong phòng riêng ở cuối hành lang.
Tôi đã cho đi điều mình ngầm hứa hẹn. Bây giờ, ông ta vinh hạnh chấp nhận yêu cầu của tôi, như thể ông ta chưa từng đề cập đến ngụ ý trước đó. Tôi thấy ông ta lịch sự đáp lại cái cúi đầu của tôi, nắm lấy khuỷu tay tôi để dẫn tôi ra cửa một cách lịch thiệp. Thời gian tôi bước vào và ra khỏi căn phòng yết kiến chỉ mất vài phút, nhà vua đã đảm bảo rằng lệnh trả tự do cho Jamie sẽ được ban ra vào sáng hôm sau.
Quý ông phục vụ trong phòng riêng đang đứng ngoài sảnh, chờ đợi. Ông ta cúi đầu chào tôi, tôi cúi đầu đáp lại. Sau đó, tôi theo ông ta đi xuôi Hành Lang Gương, cảm nhận rõ hai bắp đùi trơn nhẫy của mình khi chúng cọ vào nhau và ngửi thấy mùi hoa hồng sực nức tỏa ra từ chỗ đó.
Đến khi nghe thấy tiếng cổng cung điện khép lại sau lưng, tôi liền nhắm mắt và nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp lại Jamie nữa. Nếu có cơ hội, tôi sẽ xoa mùi hương hoa hồng vào mũi anh, tới lúc phát ốm và chết mới thôi.
Thế mà, bây giờ, tôi đang giữ tay anh trên đùi mình, lắng nghe hơi thở của anh, trầm thấp và đều đặn trong bóng tối bên cạnh tôi. Và buổi yết kiến Bệ hạ đã khép lại mãi mãi.
[1] Tiếng Ý: tiểu thiên sứ.
[2] Tiếng Pháp: các cô gái trẻ.
[3] Phong cách trang trí cầu kỳ phổ biến ở châu Âu trong thế kỷ mười tám.
[4] Tiếng Pháp: Vâng.
[5] Tiếng Anh: Niềm tin.
[6] Tiếng Pháp: lãnh chúa.