Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7
Cuộc yết kiến

❊ ❊ ❊

Ngôi nhà của Jared ở Paris nằm trên đường Tremoulins. Đó là một quận giàu có với những ngôi nhà mặt tiền bằng đá cao ba, bốn, năm tầng tụ lại nằm kề sát nhau. Thỉnh thoảng lại có một ngôi nhà rất lớn đứng độc lập một mình trong khuôn viên của nó, nhưng hầu hết các ngôi nhà ở đây chỉ cần có một kẻ đột nhập lực lưỡng khỏe mạnh là có thể nhảy từ mái nhà này sang mái nhà khác mà không gặp khó khăn gì.

“Ừmmm” là tiếng nhận xét duy nhất của Murtagh trong khi nhìn ngắm ngôi nhà của Jared. “Bác sẽ tự tìm chỗ ăn ngủ của mình.”

“Và bác đang lo lắng vì có một mái nhà tử tế che trên đầu mình, đúng không ông bạn già, bác có thể ngủ ở chuồng ngựa mà,” Jamie gợi ý. Anh ngoác miệng cười với ông bố đỡ đầu nhỏ con, khắc khổ của mình. “Chúng cháu sẽ nhờ một người hầu đưa món cháo yến mạch tới cho bác trên một cái khay bạc.”

Bên trong ngôi nhà được trang trí nội thất trang nhã dễ chịu, mặc dù về sau tôi nhận ra nó mang phong cách Sparta[1] khi so sánh với đa số các ngôi nhà của tầng lớp quý tộc và giai cấp tư sản giàu có. Tôi cho rằng điều này một phần là vì ngôi nhà không có đàn bà, con gái; Jared chưa bao giờ kết hôn, mặc dù ông không có vẻ gì là cảm thấy thiếu thốn một người vợ cả.

“À, dĩ nhiên ông ấy có một nhân tình,” Jamie giải thích khi tôi suy diễn về đời sống riêng tư của người họ hàng của anh.

“Ồ, dĩ nhiên là thế,” tôi lầm bầm.

“Nhưng bà ta đã kết hôn. Jared đã có lần nói với anh rằng một doanh nhân không bao giờ nên dây dưa với những quý cô chưa chồng. Ông ấy nói họ đòi hỏi quá nhiều chi phí và thời gian. Nếu cưới họ, sẽ bị họ quản lý hết tiền bạc và em sẽ có kết cục là một kẻ nghèo túng.”

“Lựa chọn thật hay ho, thế nên ông ấy đi dan díu với những bà vợ của người khác,” tôi nói. “Ông ấy nghĩ gì về việc kết hôn của anh, bất chấp lời khuyên hữu ích này?”

Jamie cười vang. “À, vì anh không có một xu dính túi cho nên anh chẳng thể khổ sở hơn được nữa. Ông ấy nghĩ em rất tốt để dùng làm cảnh đấy; ông ấy nói anh phải mua cho em một chiếc váy mới.”

Tôi xòe cái váy nhàu nát màu xanh táo ra, nhìn có vẻ hơi tệ thật.

“Em cũng cho là vậy,” tôi tán thành. “Nếu không, sắp tới em sẽ phải đi ra đường trong một chiếc chăn quấn quanh người, cái váy này đã bắt đầu chật eo rồi.”

“Còn cả chỗ khác nữa,” anh nói, cười toe toét khi nhìn lướt khắp người tôi. “Đã lấy lại khẩu vị rồi phải không, Sassenach?”

“Đồ ngốc,” tôi lạnh lùng nói. “Anh biết rõ Annabelle MacRannoch có vóc người trung bình và dáng người hình cái cán xẻng mà. Ngược lại, em thì không như thế.”

“Em không thế,” anh tán đồng, đưa mắt nhìn tôi với vẻ đánh giá. “Tạ ơn Chúa.” Anh quen tay vỗ mông tôi một cái.

“Anh chuẩn bị đến gặp Jared ở nhà kho vào sáng nay để xem qua sổ sách, sau đó bọn anh sẽ ghé thăm vài khách hàng để ông ấy giới thiệu anh. Em ở một mình ổn chứ?”

“Vâng, tất nhiên rồi,” tôi nói. “Em sẽ khám phá ngôi nhà một chút và làm quen với các gia nhân.” Tôi đã gặp toàn thể người hầu khi chúng tôi đến nơi vào chiều tối hôm trước, nhưng vì chúng tôi chỉ dùng bữa tối đơn giản trong phòng mình nên tôi chưa nhìn thấy ai kể từ lúc đó ngoại trừ người hầu mang đồ ăn lên và cô hầu gái đến vào sáng sớm nay để kéo rèm cửa, đốt lò sưởi, mang cái bô nước tiểu đi. Tôi hơi nao núng trước ý nghĩ đột nhiên phải quản lý một đám “nhân viên”, nhưng tự trấn an bản thân bằng cách nghĩ rằng nó chẳng khác mấy so với việc hướng dẫn các hộ lý và y tá cấp dưới, trước đây tôi đã làm công việc đó với tư cách là một y tá có thâm niên ở một trạm quân y của Pháp năm 1943.

Sau khi Jamie rời đi, tôi dành thời gian tìm hiểu xem có thể trang điểm như thế nào với một cái lược và nước, đó là những đồ dùng duy nhất có sẵn để chỉnh trang chải chuốt. Nếu Jared nghiêm túc về việc để tôi chủ trì những bữa tiệc tối thì một chiếc váy dài mới chỉ là sự mở đầu thôi.

Trong ngăn bên cạnh của hộp đựng thuốc có mấy cành liễu tước xơ mà tôi dùng để làm sạch răng miệng, tôi liền lấy ra một cành để dùng, vừa làm vừa suy ngẫm về vận may đáng kinh ngạc đã mang chúng tôi tới đây.

Buộc lòng phải rời khỏi Scotland, chúng tôi đã phải tìm một nơi để xây dựng tương lai cho mình, ở châu Âu hoặc di cư đến Mỹ. Căn cứ vào những gì tôi biết về thái độ của Jamie đối với những con thuyền, tôi không hề ngạc nhiên khi anh có ý định đến Pháp ngay từ đầu.

Người nhà Fraser có những mối liên hệ vững chắc với nước Pháp; nhiều người trong số họ, như Đức cha Tu viện trưởng Alexander và Jared Fraser, đã sinh sống ở đây và hiếm có khả năng trở về quê hương Scotland. Cũng có nhiều người theo phái Jacobite, Jamie đã từng kể với tôi rằng những người đó đã đi theo vị vua bị lưu vong của họ và giờ đây đang cố gắng sống tốt nhất có thể ở Pháp hay Ý, trong khi chờ đợi ông ta quay trở về phục vị.

“Họ luôn nói về nó,” anh đã kể. “Trong các ngôi nhà, hầu hết là thế chứ không phải trong quán rượu. Đó là lý do vì sao không có gì xảy đến. Khi chuyện bị mang ra nói ở các quán rượu, em sẽ biết khi đó mọi thứ đã nghiêm trọng rồi.”

“Nói cho em biết đi,” tôi nói, nhìn anh phủi bụi trên áo khoác của mình, “có phải tất cả người Scot sinh ra là đã hiểu biết về chính trị không, hay chỉ có anh là thế thôi?”

Anh cười lớn, nhưng nhanh chóng trở nên nghiêm túc khi mở chiếc tủ trong phòng ngủ và treo áo khoác lên. Trông chiếc áo đã sờn cũ và khá thảm hại, một mình nó được treo trong một khoảng không gian rộng rãi, sực mùi cây tuyết tùng.

“À, anh sẽ nói cho em biết, Sassenach, anh không muốn biết về chính trị đâu, nhưng được sinh ra với tư cách là một kẻ mang huyết thống của nhà MacKenzie và nhà Fraser, anh có rất ít sự lựa chọn trong vấn đề này. Và em không thể nào tiêu phí thời gian một năm ở giới xã giao Pháp và hai năm trong quân đội mà lại không học cách lắng nghe những gì họ nói và ý nghĩa của nó, cũng như cách nói ra được sự khác nhau giữa hai thứ đó. Mặc dù trong những quãng thời gian này, không chỉ mình anh mà cả lãnh chúa hay nông dân trên vùng cao nguyên Scotland đều không thể không dính dáng gì với những điều sắp xảy đến.”

“Điều sắp xảy đến.” Điều gì sắp xảy đến? Tôi thắc mắc. Điều sẽ đến, nếu những nỗ lực của chúng tôi ở đây không thành công, là một cuộc nổi dậy có vũ trang, là sự cố gắng quay trở về phục vị của vương triều Stuart, được dẫn dắt bởi người con trai của ông vua lưu vong, Hoàng tử Charles Edward (Casimir Maria Sylvester) Stuart.

“Hoàng tử Charlie Xinh đẹp,” tôi khẽ nói với bản thân, nhìn hình ảnh của mình trong tấm gương lớn có giá đỡ. Ông ta đang ở đây, ngay lúc này, trong cùng một thành phố và có lẽ không quá xa đây. Ông ta trông như thế nào? Tôi có thể nghĩ đến ông ta chỉ trong giới hạn bức chân dung lịch sử thường thấy, đại khái vẽ một thiếu niên mười sáu tuổi, đẹp trai, hơi nữ tính, với cặp môi phớt hồng, mái tóc rắc phấn, mặc bộ đồ thời trang của thời trước. Hoặc những bức tranh tưởng tượng, bày ra một phiên bản trông giống thế nhưng có vẻ cường tráng hơn, vung một thanh gươm tuốt trần khi ông ta bước ra khỏi con thuyền nhỏ, đặt chân lên bờ biển Scotland.

Một đất nước Scotland mà ông ta sẽ hủy hoại và làm lãng phí khi nỗ lực giành lại nó cho người cha của mình và cho chính bản thân ông ta. Đã bị định trước là thất bại, ông ta sẽ kêu gọi được đủ sự ủng hộ để chia rẽ đất nước này, để dẫn dắt những người đi theo ông ta trải qua một cuộc nội chiến tới một kết cục đẫm máu trên chiến trường Culloden. Rồi sau đó ông ta cao chạy xa bay an toàn trở lại nước Pháp, nhưng sự trừng phạt đến từ kẻ thù của ông ta sẽ đổ ập xuống đầu những con người mà ông ta bỏ lại phía sau.

Để ngăn chặn một thảm kịch như thế nên chúng tôi mới tới đây. Nghĩ về những chuyện này trong ngôi nhà bình yên, xa hoa của Jared có vẻ là điều lạ thường không thể tin nổi. Làm sao một người có thể ngăn lại cả một cuộc nổi dậy? À, nếu những cuộc nổi loạn bị xúi bẩy, kích động trong các quán rượu thì có lẽ họ có thể kết thúc nó trên bàn ăn bữa tối. Tôi nhún vai với mình trong gương, thổi một lọn tóc quăn lang thang lầm chỗ đang cản trở mắt mình và đi xuống dưới lầu để dụ dỗ người đầu bếp.

•••

Đội ngũ gia nhân ban đầu có xu hướng nhìn tôi với vẻ hoài nghi sợ hãi, rồi nhanh chóng nhận ra rằng tôi không có ý định can thiệp vào công việc của họ, liền thả lỏng, chuyển sang trạng thái ân cần giúp đỡ nhưng đầy cảnh giác. Lúc đầu, trong tình trạng lờ đờ vì mệt mỏi, tôi đã nghĩ rằng ít nhất có một tá người hầu xếp hàng trong tiền sảnh để ra mắt tôi. Thực tế, có mười sáu người, tính cả người giữ ngựa, người phụ việc trong chuồng ngựa và cậu bé rửa dao, những người tôi không để ý trong khi tập hợp chung tất cả gia nhân. Tôi vẫn rất ấn tượng với thành công của Jared trong kinh doanh, cho tới lúc nhận ra những người hầu được trả tiền công ít đến mức nào: một đôi giày mới và hai đồng livre[2] mỗi năm cho người hầu, hầu gái và phụ bếp còn được trả ít hơn thế, những người có vai vế hơn, chẳng hạn như thợ may, đầu bếp, quản gia, vệ sĩ thì nhiều hơn một chút.

Trong khi tôi khám phá cơ chế hoạt động của ngôi nhà và tích lũy những thông tin mà tôi có thể lượm lặt được từ lời bàn tán của các cô hầu thì Jamie ra ngoài với Jared mỗi ngày, thăm các khách hàng, gặp gỡ mọi người, tự chuẩn bị cho mình để “phụ giúp Điện hạ” bằng cách tạo ra các mối quan hệ xã hội có thể chứng minh được giá trị của bản thân anh với vị hoàng tử lưu vong kia. Chính từ trong số những vị khách đến ăn tối mà chúng tôi có thể tìm thấy đồng minh - hoặc kẻ thù.

“St. Germain ư?” Tôi hỏi, đột nhiên bắt được một cái tên quen thuộc giữa cuộc nói chuyện huyên thuyên của Marguerite khi cô này đánh bóng sàn phòng lát gỗ. “Ngài Bá tước St. Germain ư?”

“Vâng, thưa bà.” Đó là một cô gái béo, thấp bé với gương mặt bèn bẹt lạ lùng và đôi mắt lồi khiến cô ta trông giống một con cá thờn bơn, nhưng cô gái này khá thân thiện và nhiệt tình vui vẻ. Giờ cô ta đang chu môi thành một vòng tròn nhỏ, điều này báo hiệu trước cô ta sắp kể về một tin đồn thực sự thú vị. Tôi nhìn cô ta bằng ánh mắt đầy vẻ khuyến khích cổ vũ.

“Ông Bá tước, thưa bà, có tai tiếng rất xấu,” cô ta nói, ra vẻ quan trọng.

Vì đây là sự thật - theo như Marguerite - đối với hầu hết tất cả mọi người đến dự bữa tối, nên tôi nhướng mày và chờ đợi các chi tiết sâu xa hơn.

“Ông ta đã bán linh hồn cho quỷ dữ, bà biết đấy,” cô ta giãi bày, hạ giọng và liếc nhìn xung quanh như thể quý ông kia có khả năng ẩn núp đằng sau ống khói để nghe trộm. “Ông ta tổ chức Dạ Tiệc Đen, ở đó máu và thịt của những đứa trẻ vô tội được chia cho những kẻ xấu xa độc ác!”

Thật là một hình mẫu hay ho về cách gây thù chuốc oán, tôi thầm nghĩ.

“Ồ, mọi người đều biết cả, thưa bà,” Marguerite cam đoan với tôi. “Nhưng chuyện đó không thành vấn đề; đàn bà vẫn phát cuồng vì ông ta; bất cứ nơi nào ông ta tới, họ đều quăng mình ra trước mặt ông ta. Nhưng mà ông ta giàu có.” Phẩm chất cuối cùng này ít nhất đã đủ cân bằng mọi thứ, nếu không nói là rất nặng ký, khi đem so với chuyện uống máu và ăn thịt người.

“Thật thú vị làm sao,” tôi nói. “Nhưng tôi tưởng Bá tước là đối thủ của ông Jared; không phải ông ta cũng nhập khẩu rượu vang à? Vậy vì sao ông Jared lại mời ông ta tới đây?”

Marguerite ngước nhìn lên từ cái sàn nhà bóng loáng mà cô ta đang đánh và cười lớn.

“Tại sao á, thưa bà! Là để cho ông Jared có thể phục vụ thứ rượu Beaune thượng hạng trên bàn ăn bữa tối, nói với ông Bá tước rằng mình vừa kiếm được mười thùng và đến cuối bữa ăn thì hào phóng tặng ông Bá tước một chai mang về nhà!”

“Tôi hiểu rồi,” tôi cười hết cỡ, đáp. “Và có phải ông Jared cũng được mời tới ăn tối cùng Bá tước tương tự thế không?”

Cô ta gật đầu, chiếc khăn trùm đầu màu trắng đung đưa trên chai dầu và mớ giẻ của cô ta. “Ồ, đúng thế thưa bà. Nhưng không thường xuyên!”

May mắn là Bá tước St. Germain không được mời tới ăn tối hôm nay. Chúng tôi chỉ đơn giản dùng bữa tối trong gia đình để Jared có thể nhắc nhở Jamie vài chi tiết còn lại cần được sắp xếp trước khi ông ta lên đường. Lẽ dĩ nhiên, chuyện quan trọng nhất là lễ thức dậy của Đức vua ở Versailles.

Để được mời tham dự lễ thức dậy của Đức vua là một dấu hiệu cho thấy ân sủng to lớn, Jared đã giải thích như thế trên bàn ăn tối.

“Không phải là đối với cháu, chàng trai ạ,” ông ta hiền từ nói, hất hất chiếc dĩa về phía Jamie. “Mà là dành cho ta. Đức vua muốn chắc chắn là ta sẽ quay về từ Đức - hoặc ít nhất là Duverney, Bộ trưởng Tài chính muốn thế. Làn sóng thuế má cuối cùng đánh vào các thương nhân quá mạnh nên nhiều thương nhân nước ngoài đã rời đi - kèm theo đó là những ảnh hưởng xấu đến quốc khố mà các vị có thể tưởng tượng được.” Ông ta nhăn nhó khi nghĩ đến thuế má, quắc mắt với con lươn nhỏ trên dĩa của mình.

“Ta dự định sẽ lên đường trong tuần tới. Ta chỉ đợi một thông báo để biết chiếc Wilhelmina đã đến Calais an toàn là ta đi ngay.” Jared lại cắn một miếng lươn khác và gật đầu với Jamie, mồm nhồm nhoàm vừa nhai vừa nói: “Ta sẽ giao công việc kinh doanh vào những bàn tay giỏi giang, chàng trai ạ; ta không có gì lo lắng về món tiền đó cả. Dù vậy, chúng ta có thể nói chuyện đôi chút trước khi ta đi vào những vấn đề khác nữa. Ta đã dàn xếp với Bá tước Marischal rằng chúng ta sẽ đi cùng với ngài ấy tới Montmartre trong hai ngày nữa để cháu bày tỏ lòng kính trọng với Điện hạ, Hoàng tử Charles Edward.”

Tôi cảm thấy một sự kích động như cú đấm giáng thẳng vào bụng mình và trao đổi nhanh một ánh nhìn với Jamie. Anh gật đầu với Jared, như thể điều này chẳng có gì đáng giật mình, nhưng trong mắt lại lóe lên một tia đề phòng khi nhìn tôi. Vậy đây chính là sự khởi đầu.

“Điện hạ sống một cuộc đời ẩn dật ở Paris,” Jared nói trong khi đuổi theo những con lươn cuối cùng xung quanh mép đĩa, trơn mượt vì phủ bơ. “Sẽ không hay ho cho cậu ta nếu công khai xuất hiện trong đời sống xã giao ở đây, cho tới khi và trừ khi Đức vua tiếp nhận cậu ta một cách chính thức. Vì vậy Điện hạ rất hiếm khi ra khỏi nhà, chỉ gặp gỡ một vài người, trừ những người ủng hộ cha cậu ta đến để bày tỏ lòng kính trọng.”

“Đó không phải là những gì tôi nghe nói,” tôi xen ngang.

“Gì cơ?” Hai cặp mắt kinh ngạc cùng lúc hướng sang phía tôi và Jared đặt dĩa của mình xuống, bỏ mặc con lươn cuối cùng kia.

Jamie nhướng mày với tôi. “Em đã nghe được gì hả, Sassenach, và từ ai?”

“Từ những người hầu,” tôi nói, tập trung vào mấy con lươn của mình. Nhìn thấy vẻ cau có của Jared, lần đầu tiên tôi thấy rõ rằng việc một bà chủ nhà tán gẫu với những cô hầu gái có vẻ như không được họ cân nhắc tới. Thế thì cũng mặc xác, tôi nổi loạn nghĩ. Cũng chẳng còn mấy việc cho tôi làm.

“Các cô hầu nói rằng Hoàng tử Điện hạ Charles đang có những chuyến viếng thăm Công nương Louise de La Tour de Rohan,” tôi nói, cắn đứt một con lươn ra khỏi dĩa và từ từ nhai. Quả là ngon thật, nhưng tôi cảm thấy khá bối rối nếu nuốt cả con, như thể sinh vật này vẫn còn đang sống. Tôi cẩn thận nuốt xuống. Tới bây giờ mọi việc đều tốt lành.

“Trong khi vắng mặt chồng của quý bà đó,” tôi cố ý nói thêm.

Jamie có vẻ thích thú, còn Jared thì kinh hãi.

“Công nương de Rohan?” Jared hỏi. “Marie-Louise-Henriette-Jeanne de La Tour d’Auvergne? Nhà chồng của bà ta rất thân cận với Đức vua.” Ông ta chà mấy ngón tay lên môi, để lại một vệt bơ quanh miệng. “Điều đó có thể rất nguy hiểm,” ông ta lầm bầm, như thể nói với chính mình. “Ta tự hỏi nếu tên ngốc nhỏ bé đó… nhưng không. Rõ ràng cậu ta khôn ngoan hơn thế. Điều đó chỉ có thể là do thiếu kinh nghiệm; cậu ta không xã giao nhiều lắm, và nhiều điều rất khác với ở Rome. Tuy thế...” Ông ta ngừng lẩm bẩm và quay sang Jamie với vẻ quyết đoán.

“Đó sẽ là nhiệm vụ đầu tiên của cháu đó, chàng trai, trong công việc phục vụ Điện hạ. Tuổi tác của cháu tương đương với Điện hạ, nhưng cháu đã có trải nghiệm và óc xét đoán trong thời gian sống ở Paris trước đây cùng với sự rèn giũa của ta, ta lại tự thổi phồng bản thân rồi.” Ông ta thoáng cười với Jamie. “Cháu có thể làm bạn với Điện hạ; làm con đường cậu ta đi bằng phẳng dễ dàng hết mức có thể cùng với những người đàn ông đó, như thế sẽ rất hữu dụng với cậu ta; đến giờ cháu đã gặp hầu hết bọn họ rồi đấy. Và hãy giải thích cho Điện hạ - một cách khéo léo nhất có thể - rằng chuyện tán tỉnh yêu đương lầm đường lạc lối có thể tạo nên tổn hại đáng kể đối với những mục tiêu của phụ thân cậu ta.”

Jamie lơ đãng gật đầu, rõ ràng đang nghĩ đến một chuyện gì đó khác.

“Làm thế nào mà cô hầu của chúng ta lại biết về những chuyến viếng thăm của Điện hạ vậy, Sassenach?” Anh hỏi. “Cô ta không rời khỏi ngôi nhà này nhiều hơn một lần mỗi tuần, để đi dự lễ Misa, đúng vậy không?”

Tôi lắc đầu, nuốt một miệng đầy thức ăn để trả lời:

“Theo những gì em khai thác được, chị phụ bếp của chúng ta nghe được chuyện đó từ cậu bé rửa dao, cậu bé này lại nghe được nó từ anh chàng làm việc trong chuồng ngựa, người này lại biết được từ cậu giữ ngựa nhà bên. Em không biết có bao nhiêu người ở giữa nữa, nhưng nhà Rohan cách đây có ba ngôi nhà. Em đoán Công nương cũng biết về chúng ta theo cách đó,” tôi vui vẻ bổ sung thêm. “Ít nhất bà ấy sẽ biết nếu nói chuyện với chị phụ bếp của mình.”

“Các quý bà không tán gẫu với phụ bếp của họ,” Jared lạnh lùng nói. Ông ta nheo mắt nhìn Jamie trong sự khẩn cầu lặng lẽ ý bảo anh phải quản thúc vợ mình tốt hơn.

Tôi thấy khóe miệng Jamie giần giật, nhưng anh chỉ nhấp món rượu Montrachet của mình và chuyển chủ đề sang thảo luận về vụ đầu tư gần đây nhất của Jared; một chuyến hàng rượu rum, đang trên đường đến từ Jamaica.

Khi Jared rung chuông để dọn bàn đi và rượu brandy được mang ra, tôi liền lấy cớ cáo lui. Một trong những sở thích của Jared là tận hưởng những điếu xì gà dài màu đen đã được cắt xén gọn cùng với rượu brandy, còn tôi đang cảm giác rõ ràng rằng dù có cẩn thận nhai kĩ hay không, những con lươn tôi đã ăn cũng sẽ không mang lại ích lợi gì nếu tôi còn hít vào khói thuốc.

Tôi nằm trên giường mình và cố gắng, tuy chẳng mấy thành công, để không nghĩ về những con lươn ấy. Tôi nhắm mắt và thử nghĩ đến Jamaica - những bãi cát trắng dễ chịu dưới ánh mặt trời nhiệt đới. Nhưng ý nghĩ về Jamaica lại dẫn tới ý nghĩ về Wilhelmina và rồi lại khiến tôi nghĩ đến biển, thứ này trực tiếp dẫn tôi quay trở lại hình ảnh tưởng tượng về những con lươn khổng lồ đang cuộn mình, quằn quại giữa những con sóng xanh nhấp nhô. Tôi vui mừng chào đón sự xuất hiện của Jamie để làm mình sao nhãng đi và thấy nhẹ nhõm hẳn, liền ngồi dậy khi anh bước vào phòng.

“Kinh quá!” Anh dựa người vào cánh cửa đóng chặt, tự quạt cho mình bằng vạt ren trên chiếc áo sơ mi đã nới lỏng trước ngực. “Anh cảm thấy mình như một cái xúc xích hun khói ấy. Anh thích Jared thật đấy, nhưng anh sẽ rất vui mừng khi ông ấy mang mớ xì gà xén hai đầu chết tiệt ấy tới Đức.”

“Thế thì đừng có đến gần em nếu anh có mùi như một điếu xì gà,” tôi nói. “Mấy con lươn không thích khói thuốc.”

“Anh không trách chúng đâu.” Anh cởi áo khoác và mở cúc áo sơ mi. “Anh nghĩ nó là một kế hoạch, em biết đấy,” anh giãi bày, hất đầu về phía cánh cửa khi anh cởi sơ mi ra. “Giống những con ong ấy.”

“Ong ư?”

“Cách em làm để di chuyển một cái tổ ong,” anh giải thích, mở cửa sổ và treo chiếc sơ mi ra ngoài trên cái khung xộc xệch của nó. “Em lấy một cái ống tẩu nhồi đầy loại thuốc lá nặng nhất có thể tìm được, hướng về phía tổ ong và thổi khói vào những cái lỗ trên tổ. Tất cả lũ ong đềụ rơi xuống bất tỉnh, và thế là em có thể mang chúng đến nơi nào em muốn. Anh nghĩ đó là điều Jared làm với các khách hàng của mình; ông ấy hun khói họ đến mức lú lẫn, và họ ký các đơn đặt hàng gấp ba lần số rượu mà họ định mua trước khi tỉnh táo trở lại.”

Tôi cười như nắc nẻ và anh cười toe toét, đặt một ngón tay lên môi ra hiệu khi tiếng bước chân nhẹ nhàng của Jared vọng đến dọc hành lang, đi ngang qua cửa phòng chúng tôi trên đường về phòng ông ta.

Nguy cơ bị phát hiện qua đi, anh tiến đến, nằm duỗi dài bên cạnh tôi, chỉ mặc mỗi chiếc váy len truyền thống và đi tất chân.

“Không quá tệ chứ?” Anh cất tiếng hỏi. “Anh có thể ngủ trong phòng thay quần áo, nếu vẫn còn ám mùi. Hoặc thò đầu ra ngoài cửa sổ để cho thoát mùi.”

Tôi ngửi tóc anh, mùi thuốc lá vẫn còn vảng vất giữa những nếp gợn sóng màu hung đỏ. Ánh nến hắt lên màu đỏ ấy, biến những sợi tóc thành vàng kim, tôi luồn những ngón tay mình vào đó khiến chúng lộn xộn, tận hưởng sự mềm mại dày dặn của nó và cảm giác cứng rắn của khung xương sọ bên dưới các ngón tay tôi.

“Không, không tệ quá mức. Anh không lo lắng chuyện Jared rời đi quá sớm sao?”

Anh hôn lên trán tôi và nằm xuống, gối đầu lên cái gối ôm. Anh mỉm cười với tôi, lắc đầu.

“Không. Anh đã gặp tất cả các khách hàng lớn và các thuyền trưởng, anh biết tất cả nhân viên kho hàng và văn phòng, anh đã ghi nhớ các bảng giá và bảng kiểm kê. Những thứ còn lại phải học trong kinh doanh, anh phải học bằng cách tự mình cố gắng; Jared không thể dạy anh thêm nữa.”

“Còn Hoàng tử Charles?”

Anh khép hờ mắt và phát ra một tiếng cằn nhằn cam chịu. “Ây dà. Về chuyện đó, anh phải trông cậy vào ơn Chúa thôi, không phải Jared. Và anh dám nói nó sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu Jared không ở đây để xem anh đang làm gì.”

Tôi nằm xuống, anh liền quay sang phía tôi, luồn một cánh tay vòng qua eo tôi để chúng tôi có thể nằm sát cạnh nhau.

“Chúng ta sẽ làm gì?” Tôi hỏi. “Anh có ý tưởng gì không, Jamie?”

Hơi thở của anh âm ấm phả vào mặt tôi, cùng với mùi brandy, tôi nghiêng đầu hôn anh. Khuôn miệng rộng mềm mại của anh mở ra và anh nấn ná trong nụ hôn một lúc lâu trước khi trả lời.

“Ồ, anh có dự tính chứ,” anh nói, chấm dứt nụ hôn kèm theo một tiếng thở dài. “Chúa biết rằng rốt cuộc họ sẽ ra sao, nhưng anh đã có ý tưởng rồi.”

“Nói cho em biết đi!”

“Ừm.” Anh ổn định tư thế cho thoải mái hơn, nằm ngửa người ra và một tay ôm tôi lại gần để đầu tôi đặt trên hõm vai anh.

“Thế này,” anh bắt đầu, “như anh thấy, nó là vấn đề tiền bạc, Sassenach ạ.”

“Tiền bạc? Em lại nghĩ nó là vấn đề chính trị chứ. Không phải người Pháp muốn James phục vị bởi vì đó sẽ là nguyên nhân khiến người Anh gặp rắc rối à? Từ những gì ít ỏi em nhớ được, Louis đã muốn - sẽ muốn” - tôi tự sửa lại - “Charles Stuart làm sao nhãng sự chú ý của Vua George vào những gì Louis sắp làm với Bỉ.”

“Anh dám chắc ông ta định làm thế đây,” anh nói, “nhưng việc đưa các ông vua trở lại phục vị rất tốn kém. Và bản thân Louis cũng chẳng có nhiều tiền bạc trong tay để dùng cho cuộc chiến tranh ở Bỉ, và mặt khác, để đối phó với sự xâm lược tài chính của nước Anh. Em đã nghe Jared nói gì về quốc khố và vấn đề thuế má rồi đúng không?”

“Rồi, nhưng…”

“Không, Louis sẽ không để chuyện đó xảy ra đâu,” anh nói, chỉ dẫn cho tôi. “Mặc dù ông ta cũng có vài điều để nói về nó, dĩ nhiên là thế. Không, còn có những nguồn tiền khác mà James và Charles sẽ cố gắng thử lôi kéo nữa, đó chính là những gia tộc kinh doanh ngân hàng của Pháp, Vatican và triều đình Tây Ban Nha.”

“James làm việc với Vatican và Tây Ban Nha, còn Charles lôi kéo các chủ ngân hàng Pháp, anh nghĩ sao?” Tôi hỏi, cảm thấy thú vị.

Anh gật đầu, đăm chiêu nhìn lên những tấm ván chạm khắc ốp trên trần. Ván làm từ gỗ óc chó có màu nâu nhạt mềm mại dưới ánh nến sáng lung linh, những hình chạm hoa hồng tối màu và ruy băng vặn xoắn lại ở mỗi góc trần.

“Ừ, anh cũng nghĩ thế. Bác Alex đã cho anh xem thư tín do Vua James gửi, và anh thấy Tây Ban Nha chính là cơ hội tốt nhất của ông ta, căn cứ theo những gì anh đọc được trong đó. Đức Giáo hoàng bị buộc phải ủng hộ ông ta, em biết đấy, với tư cách là một vị vua theo Thiên Chúa giáo; Giáo hoàng Clement đã ủng hộ James nhiều năm và giờ Clement đã chết, Benedict tiếp tục làm việc đó, nhưng không phải ở mức độ cao như trước đây. Tuy thế, cả Philip của Tây Ban Nha và Louis đều là họ hàng của James; đó là bổn phận của dòng máu Bourbon mà ông ta kêu gọi.” Anh mỉm cười giễu cợt với tôi, bóng gió nói. “Và từ những gì anh đã thấy, anh có thể nói với em rằng dòng máu hoàng gia chảy rất mong manh khốn nạn khi nó có liên quan tới vấn đề tiền bạc, Sassenach ạ.”

Cùng lúc nâng một bàn chân lên, anh cởi đôi bít tất dài bằng một tay và ném nó lên chiếc ghế đẩu trong phòng ngủ.

“Ba mươi năm trước, James đã lấy được một ít tiền từ Tây Ban Nha,” anh nhận xét. “Một hạm đội nhỏ và vài người nữa. Đó là cuộc nổi dậy năm 1715. Nhưng ông ta đã không gặp may, quân của James bị đánh bại ở Sheriffsmuir trước khi bản thân James kịp đến nơi. Nên anh mới nói người Tây Ban Nha có lẽ không quá hào hứng rót tài chính lần thứ hai cho sự nghiệp phục vị của người nhà Stuart, trừ phi có một ý tưởng cực kỳ hay ho khả dĩ thành công.”

“Vậy nên Charles đến Pháp để vận động Louis và các chủ ngân hàng,” tôi trầm ngâm nói. “Và theo những gì em biết từ lịch sử, ông ta sẽ thành công. Còn có chỗ nào cho chúng ta ra tay chứ?”

Cánh tay Jamie rời khỏi bờ vai tôi khi anh duỗi người, trọng lượng cơ thể anh làm nghiêng tấm đệm bên dưới.

“Còn, ở chỗ anh bán rượu vang cho các chủ ngân hàng, Sassenach ạ,” anh vừa ngáp vừa nói. “Và em thì nói chuyện với mấy cô hầu. Và nếu thổi đủ khói, có lẽ chúng ta sẽ khiến lũ ong choáng váng bất tỉnh đấy.”

•••

Ngay trước khi Jared lên đường, ông ta đưa Jamie tới một ngôi nhà nhỏ ở Montmartre nơi Điện hạ, Hoàng tử Charles Edward Louis Philip Casimir vân vân và vân vân Stuart đang cư ngụ, chờ thời cơ trong khi đợi xem những gì Louis sẽ làm hoặc không làm cho một người họ hàng túng quẫn có khát vọng mạnh mẽ với một ngai vàng.

Tôi nhìn họ đi xa dần, cả hai đều ăn vận đẹp đẽ nhất. Trong khi họ đi, tôi dành thời gian để hình dung về cuộc chạm trán đó, rồi băn khoăn không biết nó sẽ trôi qua như thế nào.

“Nó thế nào?” Tôi hỏi Jamie, ngay giây phút được ở một mình với anh khi anh quay lại. “Charles Stuart trông thế nào?”

Anh cào cào tóc, suy tư.

“À thì,” cuối cùng anh nói, “cậu ta bị đau răng.”

“Gì cơ?”

“Cậu ta nói vậy và trông có vẻ rất đau đớn; cậu ta cứ nhăn một bên mặt với cái hàm hơi sưng phồng lên. Anh không biết được là có phải lúc nào cậu ta cũng có thái độ cứng nhắc thế, hay chỉ vì chỗ sưng đó làm cậu ta bị đau khi nói chuyện, nhưng cậu ta không nói nhiều lắm.”

Thực tế là, sau màn giới thiệu chính thức, quý ông lớn tuổi, Jared, Bá tước Marischal và một kẻ trông xác xơ được tùy tiện nhắc tới với cái tên “Balhaldy” đã tụ lại cùng nhau và bắt đầu trò chuyện về các vấn đề chính trị của Scotland, hầu như bỏ mặc Jamie và vị Điện hạ kia.

“Bọn anh mỗi người có một cốc brandy,” Jamie ngoan ngoãn báo cáo, dưới sự thúc giục của tôi. “Và anh hỏi cậu ta cảm thấy Paris thế nào, cậu ta nói đang thấy nó khá là tù túng, buồn chán, vì cậu ta không thể kiếm được một cuộc đi săn nào. Và thế là bọn anh nói về săn bắn. Cậu ta thích săn với chó hơn là săn với người xua thú, và anh nói anh cũng vậy. Sau đó, cậu ta kể cho anh nghe đã bắn được bao nhiêu con chim trĩ trong một chuyến đi săn ở Ý. Cậu ta kể về nước Ý cho tới khi nói rằng không khí lạnh đang lùa vào qua cửa sổ làm cổ họng cậu ta bị đau - nó không phải là một ngôi nhà được xây dựng rất tốt; chỉ là một biệt thự nhỏ. Rồi cậu ta uống thêm rượu brandy cho cái răng đỡ đau, và anh kể cho cậu ta nghe về chuyện săn hươu trên cao nguyên, cậu ta nói một lúc nào đấy cũng muốn thử đi săn và hỏi anh có giỏi bắn cung không. Anh nói mình giỏi món đó, và cậu ta bảo hy vọng sẽ có cơ hội được mời anh đi săn cùng cậu ta ở Scotland. Rồi sau đó Jared nói ông ấy cần ghé qua kho hàng trên đường trở về nên Điện hạ đưa tay cho anh hôn và bọn anh rời đi.”

“Hừm,” tôi lầm bầm. Mặc dù hiển nhiên là người nổi tiếng - hoặc sắp nổi tiếng, hoặc có thể nổi tiếng, ở bất kỳ mức độ nào - thì trong cách hành xử hằng ngày họ đều giống với mọi người khác, nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi thấy báo cáo về vị Hoàng tử Xinh đẹp này có hơi khiến tôi thất vọng. Nhưng dù sao Jamie đã được mời quay trở lại. Điều quan trọng, như anh đã nêu rõ, là đã làm quen được với Điện hạ, để có thể để mắt đến những kế hoạch của Điện hạ khi có bất cứ sự tiến triển nào. Tôi băn khoăn không biết liệu Đức vua Pháp sẽ là một nhân vật gây ấn tượng hơn hay không.

•••

Không lâu sau, chúng tôi đã khám phá được điều băn khoăn này. Một tuần lễ sau, Jamie dấn thân mình vào trong giá lạnh và màn đêm đen kịt, ăn vận đàng hoàng cho một chuyến cưỡi ngựa đường dài tới Versailles để tham dự lễ thức dậy của Đức vua. Louis thức dậy vào đúng sáu giờ hằng sáng. Vào giờ này, vài nhân vật được ban ân chọn là người tham dự vào việc vệ sinh trang điểm của Đức vua sẽ tập hợp trong phòng chờ để hầu ông ta chào đón một ngày mới.

Bị quản gia Magnus đánh thức dậy từ lúc còn sớm tinh mơ, Jamie ngái ngủ va chỗ này vấp chỗ kia rời khỏi giường và sửa soạn ăn mặc, vừa ngáp vừa lầm bầm. Vào giờ này, bụng dạ tôi vẫn chưa bị quấy đảo và tôi hưởng thụ cảm giác sung sướng đó trong khi quan sát ai đấy phải làm một việc không thoải mái còn bản thân mình lại không bắt buộc phải làm điều đó.

“Cẩn thận quan sát nhé,” tôi nói, giọng khàn khàn vì ngái ngủ. “Để sau đó anh có thể kể lại cho em mọi chuyện.”

Với một tiếng càu nhàu đồng ý đầy vẻ ngái ngủ, anh cúi xuống hôn tôi, rồi lê bước, nến cầm trên tay, để đi giám sát việc đóng yên cương cho con ngựa của anh. Âm thanh cuối cùng tôi nghe thấy trước khi chìm lại vào giấc ngủ là tiếng Jamie ở dưới lầu, đột nhiên rõ ràng và biến thành khô khốc trong không khí ban đêm, anh đang trao đổi mấy lời tạm biệt với người giữ ngựa ở ngoài phố.

Căn cứ vào khoảng cách tới Versailles, và cơ hội - mà Jared đã báo trước - là sẽ được mời ăn bữa trưa, tôi không ngạc nhiên khi tới buổi trưa anh vẫn chưa quay trở về, nhưng tôi không thể ngăn được sự tò mò, và phải chờ đợi trong khi sự nôn nóng càng lúc càng tăng thêm cho tới khi cuối cùng anh cũng về vào lúc gần tới giờ trà chiều.

“Vậy lễ thức dậy của Đức vua ra sao?” Tôi hỏi, đi tới để giúp Jamie cởi áo choàng. Vì bắt buộc phải đeo đôi găng tay bó chặt bằng da lợn khi vào cung điện nên anh không thể xoay xở được với mấy cái khuy bằng bạc mang gia huy trên chất vải nhưng trơn tuột.

“Ồ, cảm giác tốt hơn rồi,” anh nói, cử động bờ vai rộng trong sự nhẹ nhõm khi những chiếc khuy áo đã được giải phóng. Chiếc áo khoác bó quá chặt ở hai vai; cởi nó ra đối với anh giống y như bóc vỏ một quả trứng vậy.

“Thú vị lắm, Sassenach,” anh nói, trả lời câu hỏi của tôi, “ít nhất là khoảng một tiếng đồng hồ đầu tiên.”

Khi đoàn quý tộc đi vào phòng ngủ hoàng gia, mỗi người mang một vật dụng theo nghi thức - khăn tắm, dao cạo, cốc rượu, con dấu hoàng gia, v.v… - các quý ông hầu ngủ[3] kéo mở những tấm rèm cửa nặng nề ngăn ánh bình minh ở bên ngoài, rồi vén màn xếp của chiếc giường lớn để lộ ra khuôn mặt của Louis mặt trời[4] trước con mắt hứng thú của vầng thái dương mới mọc.

Được giúp đỡ ngồi vững trên mép giường, Đức vua ngáp và gãi cái cằm lởm chởm râu trong khi những người tham gia nghi thức choàng một chiếc áo choàng bằng lụa nặng nề với họa tiết thêu bằng bạc và vàng lên bờ vai vương giả của ông ta, rồi quỳ xuống để cởi đôi bít tất nặng nề mà Đức vua mang khi đi ngủ, thay thế bằng đôi bít tất dài làm bằng lụa nhẹ hơn và đi vào chân ông ta đôi dép mềm được viền bằng lông thỏ.

Các quý tộc trong triều lần lượt đến quỳ trước chân vương thượng của họ để kính cẩn chào và hỏi xem Bệ hạ đã trải qua một đêm như thế nào.

“Không phải rất tốt, anh nên nói thế,” Jamie ngắt ngang lời kể để đưa ra nhận xét. “Ông ta trông giống như là ngủ ít hơn một, hai tiếng và cùng với nó là những giấc mơ tồi tệ.”

Mặc dù mắt đỏ vằn và cằm chảy xệ, Bệ hạ vẫn gật đầu một cách hòa nhã với các cận thần của mình, rồi từ từ đứng dậy, cúi chào các vị khách được ban ân đang đứng quanh quất ở phía cuối buồng ngủ. Một cái vẫy tay uể oải gọi tới một quý ông hầu ngủ, người này dẫn Bệ hạ tới ghế đợi, nơi ông ta ngồi đó và nhắm mắt, tận hưởng sự chăm sóc của những người tham dự lễ, trong khi các vị khách được Công tước d’Orléans dẫn tới quỳ gối trước Đức vua và dâng lên những lời chào mừng chúc tụng. Những lời thỉnh cầu chính thức sẽ được đưa ra muộn hơn một chút, vào thời điểm Louis đủ tỉnh táo để nghe họ trình bày.

“Anh không đến đó để thỉnh cầu gì cả mà chỉ để bày tỏ thiện ý,” Jamie giải thích, “vậy nên anh chỉ quỳ xuống và nói: “Chúc người buổi sáng tốt lành, thưa Bệ hạ,” trong khi ngài Công tước nói với Đức vua anh là ai.”

“Đức vua có nói gì với anh không?” Tôi hỏi.

Jamie nhăn răng cười, hai bàn tay đan vào nhau đặt sau đầu khi anh duỗi thẳng người nằm. “Ồ, có. Ông ta mở một con mắt và nhìn anh như thể không tin vào điều đó.”

Mở một mắt, Louis quan sát người khách đến thăm mình với vẻ hơi hứng thú, rồi nhận xét: “To con nhỉ?”

“Anh nói: “Vâng, thưa Bệ hạ”,” Jamie nói. “Sau đó, ông ta bảo: “Ngươi có thể khiêu vũ không?” và anh nói anh có thể. Thế rồi ông ta nhắm mắt lại lần nữa và ngài Công tước ra hiệu cho anh lui.”

Việc giới thiệu hoàn tất, các quý ông hầu ngủ, được các quý tộc đứng đầu dẫn dắt theo đúng nghi thức, bắt đầu giúp Đức vua trang điểm ăn mặc. Trong khi họ làm công việc đó, những người tới thỉnh cầu đủ thứ tiến lên khi có sự ra hiệu của Công tước d’Orléans, để thì thầm vào tai Đức vua trong khi ông ta xoay đầu theo con dao cạo râu, hoặc cúi xuống để người ta chỉnh bộ tóc giả cho ngay ngắn.

“Ồ! Và anh có vinh dự là người được phép hỉ mũi cho Bệ hạ hử?” Tôi hỏi.

Anh cười toe toét, duỗi hai bàn tay đan vào nhau cho tới khi các khớp tay kêu lục khục.

“Không, ơn Chúa! Anh lẩn ra đứng ở bên cạnh cái tủ, cố ẩn mình đi giống như các món đồ gỗ ở đó, những ngài bá tước và công tước nhỏ thó ấy tất cả đều liếc nhìn anh từ khóe mắt như thể chất Scot trong con người anh sắp sửa chộp lấy bọn họ vậy.”

“À, ít nhất là anh đủ cao để có thể nhìn được hết mọi thứ đúng không?”

“Ồ, đúng thế! Anh quan sát được hết, thậm chí khi ông ta thả lỏng trên chiếc ghế thư giãn[5] của mình.”

“Ông ta thực sự làm chuyện đó á? Ngay trước mặt mọi người?” Tôi ngớ người. Dĩ nhiên, tôi đã đọc thấy nó trong sách nhưng thấy thật khó mà tin được.

“Ồ, đúng mà, và mọi người hành xử như họ vẫn làm khi ông ta rửa mặt hay hỉ mũi thôi. Ngài Công tước de Neve có vinh hạnh không thể nói nổi thành lời,” anh mỉa mai thêm, “đó là chùi đít cho Bệ hạ. Anh không để ý họ làm gì với cái khăn tắm; nó được đưa ra ngoài và có mạ vàng nữa, không nghi ngờ gì cả.”

“Một công việc vô cùng chán ngắt,” anh bổ sung thêm, cúi người đặt hai tay chống xuống sàn nhà và duỗi các cơ ở hai chân. “Ông ta cứ ngồi thế mãi, cái vẻ cau có của người đàn ông đó y như một con cú vậy.”

“Cau có như con cú?” Tôi hỏi, hứng thú trước sự ví von này. “Bị táo bón, ý anh là thế đúng không?”

“Phải rồi, táo bón. Không nghi ngờ gì, căn cứ vào những thứ bọn họ ăn trong cung điện,” anh nghiêm nghị nói thêm, tiếp tục duỗi người tới trước. “Chế độ ăn uống ấy thật kinh khủng, toàn kem và bơ. Ông ta nên ăn ngũ cốc vào bữa sáng hằng ngày - cái đó sẽ giải quyết được vấn đề. Rất tốt cho hệ tiêu hóa, em biết rồi đấy.”

Nếu người Scot có ngoan cố về bất cứ điều gì - và trong thực tế, họ có xu hướng ngoan cố với khá nhiều thứ, sự thật là thế - thì đó chính là thói quen tốt ăn cháo yến mạch vào bữa sáng. Qua bao nhiêu đời, sống trên một mảnh đất quá nghèo nàn, chẳng có gì ăn ngoài yến mạch, họ luôn luôn biến hoàn cảnh bị bắt buộc này thành một thói quen tốt và khăng khăng rằng họ thích thứ đó.

Jamie lúc này đã quăng mình xuống sàn nhà và đang tập những bài thể dục của Không lực Hoàng gia mà tôi đã gợi ý cho anh tập để làm tăng sức mạnh cho các cơ ở lưng.

Trở lại với lời bình luận lúc trước của anh, tôi nói: “Tại sao anh lại nói “cau có như con cú” chứ? Trước đây em đã nghe nói về nó nhưng để ám chỉ việc uống say, chứ không phải là táo bón. Chẳng lẽ những con cú cũng bị táo bón à?”

Hoàn thành xong bài tập của mình, anh lật người nằm trên tấm thảm trải sàn dày dặn, thở hổn hển.

“Ồ, đúng thế.” Anh thổi ra một hơi dài và lại hít vào. Anh ngồi dậy và gạt mớ tóc lòa xòa ra khỏi mắt. “Hoặc không hẳn thế nhưng đó là câu chuyện mà anh đã được nghe. Dân gian thường nói rằng những con cú không có hậu môn, cho nên chúng không thể chuyển những thứ chúng đã ăn ra ngoài - giống chuột vậy, hiểu không? Bởi thế xương, lông và những thứ đại loại thế, tất cả đều biến thành một trái cầu và con cú nôn chúng ra chứ không thể thải ra ngoài theo đường kia.”

“Thật á?”

“Đúng thế, đó là sự thật mà. Lúc nào thấy một cái cây có cú, em hãy nhìn xuống mặt đất bên dưới, sẽ thấy ngay những viên tròn tròn như thế. Cả một đống kinh khủng lộn xộn, cú là thế mà,” anh nói thêm, kéo nới cổ áo ra cho không khí lùa vào.

“Nhưng chúng có lỗ hậu môn,” anh cho tôi biết. “Có lần anh đã bắn hạ một con cú khỏi cái cây nó đang đậu bằng một phát súng cao su và kiểm tra chỗ đó.”

“Một cậu bé tò mò nhỉ?” Tôi nói và cười to.

“Hẳn rồi, Sassenach.” Anh nhe răng cười. “Và chúng cũng bài tiết ra theo cái lỗ đó. Anh đã dành cả một ngày ngồi dưới cái cây đó với Ian, một lần, chỉ để chắc chắn điều đó.”

“Chúa ơi, chắc anh phải tò mò ghê lắm.” Tôi nhận xét.

“À thì anh muốn biết mà. Ian không muốn ngồi bất động quá lâu, anh đã phải thụi cho anh ấy một cú để bắt anh ấy không sốt ruột nhấp nhổm nữa.” Jamie cười vang, nhớ lại. “Thế cho nên anh ấy đã ngồi im thin thít cùng anh cho tới khi chuyện đó xảy ra, rồi anh ấy chộp lấy một vốc đầy những viên tròn tròn của cú, nhét chúng vào cổ áo sơ mi của anh và phóng đi như tên bắn. Chúa ơi, anh ấy có thể chạy nhanh như gió ấy.” Một thoáng đau buồn lướt qua mặt anh, kỷ niệm về người bạn chạy nhanh như gió trong thời trẻ đang va chạm với những ký ức gần đây hơn về người anh rể đôn hậu, có dáng đi tập tễnh cứng nhắc trên chiếc chân gỗ do trúng đạn đại bác trong một trận chiến ở nước ngoài.

“Nghe có vẻ là một lối sống khủng khiếp nhỉ,” tôi bình luận, muốn đánh lạc hướng anh khỏi những ý nghĩ không vui. “Không phải việc quan sát lũ cú, em không ám chỉ chúng - mà là Đức vua. Không có sự riêng tư, ngay cả trong lúc đi vệ sinh.”

“Anh sẽ chẳng thích chuyện đó đâu,” Jamie đồng ý. “Nhưng dù sao thì ông ta cũng là vua mà.”

“Hừm. Còn em thì cho rằng tất cả quyền lực, sự xa hoa và những thứ tương tự như thế đã bù đắp cho điều đó.”

Anh nhún vai. “À, cái đó có thể có mà cũng có thể không, đó là cuộc mặc cả mà Chúa Trời dành cho ông ta, và ông ta có rất ít lựa chọn nhưng đã làm được điều tốt nhất.” Anh nhặt chiếc áo choàng len của mình lên và kéo đuôi áo xuyên qua thắt lưng lên tới vai.

“Đây, để em!” Tôi lấy chiếc ghim tròn bằng bạc từ tay anh và đính chặt lớp vải lồng phồng ấy vào cầu vai của anh. Anh sắp xếp lại nếp áo, vuốt ve chất len sặc sỡ ấy giữa những đầu ngón tay.

“Bản thân anh đã có một cuộc mặc cả như thế, Sassenach ạ,” anh khẽ nói, nhìn xuống tôi. Anh thoáng mỉm cười. “Mặc dù tạ ơn Chúa, điều đó không có nghĩa là anh sẽ mời Ian tới chùi đít cho anh. Nhưng anh được sinh ra để làm lãnh chúa. Anh là người cai quản đất đai và những người sống ở trên đó, và anh phải làm điều tốt nhất cho cuộc mua bán của mình với họ.”

Anh đưa tay khẽ chạm vào tóc tôi.

“Đó là lý do vì sao anh thấy mừng khi em nói chúng ta đến đây để cố gắng xem xem liệu chúng ta có thể làm gì. Vì một phần trong anh sẽ không mong gì hơn là đưa em và đứa bé này đi thật xa, để dành phần đời còn lại làm lụng đồng áng và chăn nuôi gia súc, để đến nằm bên cạnh em vào những buổi tối, lặng im trải qua một đêm dài.”

Cặp mắt xanh sâu thẳm đắm chìm trong suy nghĩ, trong khi bàn tay anh lại lần lên những nếp gấp trên tấm áo choàng len, vuốt ve những ô kẻ sáng màu đan chéo là biểu trưng của nhà Fraser, với sọc trắng nhạt để phân biệt Lallybroch với những bộ lạc và gia tộc khác.

“Nhưng nếu anh làm thế,” anh tiếp tục, như thể nói với chính bản thân hơn là nói với tôi, “thì một phần trong tâm hồn anh sẽ cảm thấy mình là kẻ bội thề, và anh nghĩ… anh nghĩ mình sẽ luôn nghe thấy giọng nói của những người đồng tộc gọi với theo sau anh.”

Tôi đặt một bàn tay lên vai anh, và anh ngước lên nhìn, một nụ cười nửa miệng yếu ớt nở trên môi.

“Em cũng nghĩ anh sẽ như vậy,” tôi nói. “Jamie… cho dù điều gì xảy ra đi nữa, cho dù chúng ta có thể làm gì…” Tôi dừng lại, tìm kiếm từ ngữ. Và như thường lệ, sự tàn khốc tuyệt đối của nhiệm vụ mà chúng tôi đang theo đuổi lại khiến tôi do dự và không thốt nên lời. Chúng tôi là ai mà lại đi thay đổi dòng chảy của lịch sử, thay đổi các tiến trình sự kiện không vì bản thân mình mà vì những vị hoàng thân và tá điền, vì toàn bộ đất nước Scotland?

Jamie đặt tay lên vai tôi và siết lấy nó, tỏ vẻ trấn an.

“Không ai có thể đòi hỏi ở chúng ta nhiều hơn những gì tốt nhất mà chúng ta có thể làm được, Sassenach ạ! Không, nếu có đổ máu, tối thiểu nó sẽ không phải do chúng ta gây nên, và hãy cầu Chúa để nó đừng đi đến nước đó.”

Tôi nghĩ đến những tấm bia mộ gia tộc xám xịt cô độc trên bãi hoang Culloden, và những người đàn ông vùng cao nguyên có thể phải nằm bên dưới mặt đất nơi đó nếu chúng tôi không thành công.

“Hãy cầu nguyện Chúa,” tôi lặp lại lời anh nói.

[1] Người Sparta có phong cách sống khắc khổ, thanh đạm.

[2] Một đơn vị tiền tệ từng được sử dụng tại Pháp khoảng thế kỷ mười tám.

[3] Nguyên văn: Gentleman of the bedchamber: Là một danh hiệu trong hoàng gia dành cho những nhân vật quan trọng hầu cận nhà vua.

[4] Nguyên văn tiếng Pháp: le roi Louis - biệt hiệu của Vua Louis XIV nước Pháp.

[5] Tiếng Pháp: chaise percée, là loại ghế khoét lỗ để ngồi đi vệ sinh.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.