Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT - QUA THẤU KÍNH MỊT MỜ, Inverness, 1968 - 1
Tập hợp danh sách

❊ ❊ ❊

Roger Wakefield đứng giữa phòng, cảm thấy như bị bao vây tứ phía. Anh nghĩ cảm giác đó là hiển nhiên khi xung quanh là những chiếc bàn chất kín các món đồ cổ và vật lưu niệm, bộ đồ nội thất nặng nề theo phong cách thời Victoria, hàng đống vải bọc ghế, vải lông và khăn trải giường bằng len, những tấm thảm trải sàn được bện sợi nhỏ xíu trải trên sàn gỗ bóng loáng chờ đợi cơ hội trượt đi ngay khi có một bàn chân hớ hênh bước lên. Bị mười hai căn phòng đầy đồ đạc, vải vóc, quần áo và giấy tờ bao quanh. Rồi còn những cuốn sách nữa - Chúa ơi, những cuốn sách!

Ba mặt của căn phòng làm việc nơi anh đứng kê kín những giá sách thẳng hàng tăm tắp, mỗi cái giá đều bị nhồi chật ních. Những cuốn tiểu thuyết kỳ bí bìa mềm nằm trong đống sách sáng màu rách nát trước mặt những bộ sách nghiên cứu bằng da bê, chen vai thích cánh với những cuốn được hội những người yêu sách lựa chọn, các cuốn cổ thư được chôm chỉa từ những thư viện nay đã không còn tồn tại, và hàng trăm hàng ngàn cuốn sách mỏng, tờ rơi, và bản sách cổ được khâu tay.

Tình trạng tương tự xảy ra ở khắp nơi trong nhà. Sách và giấy tờ nằm la liệt trên mọi bề mặt nằm ngang, và bản lề của mọi chiếc tủ xép đều kêu kẽo kẹt. Ông bố nuôi quá cố của anh đã sống một cuộc đời dài lâu và trọn vẹn, sáu mươi lẻ hai chục tuổi[1]. Và trong tám mươi năm có lẻ đó, mục sư Reginald Wakefield chưa bao giờ vứt đi bất cứ thứ gì.

Roger áp chế nỗi thôi thúc muốn chạy ngay ra ngoài, nhảy lên chiếc xe Morris Minor của anh và phóng thẳng về Oxford, kệ xác ngôi nhà mục sư này cùng với những thứ bên trong nó, mặc cho thời tiết và lũ phá hoại xử lý nó. Bình tĩnh lại nào, anh tự nhủ, hít thở thật sâu! Mày có thể giải quyết việc này mà. Sách là phần dễ nhất rồi; chỉ việc phân loại chúng rồi gọi người đến khuân đi là xong. Cứ cho là sẽ cần đến một chiếc xe tải cỡ lớn đi nữa thì chí ít việc này cũng có thể thực hiện được. Quần áo vải vóc - không vấn đề gì! Oxfam[2] sẽ bao hết cả lố.

Anh không biết Oxfam sẽ làm gì với cả mớ com lê vải xẹc màu đen từ năm 1948, nhưng có lẽ những người nghèo thực sự sẽ không kén cá chọn canh. Anh bắt đầu hít thở dễ dàng hơn một chút. Anh đã xin nghỉ phép một tháng ở khoa Lịch sử trường Oxford để dọn dẹp tư gia của mục sư. Xem ra từng đó thời gian là đủ. Trong một thoáng tuyệt vọng, anh đã tưởng như nhiệm vụ này phải mất tới vài năm mới xong.

Anh tiến đến một chiếc bàn, nhấc lên một cái đĩa sứ. Nó đựng đầy những mẩu kim loại nhỏ hình chữ nhật; những chiếc gaberlunzie bằng chì, thứ huy hiệu mà các linh mục cấp cho những tên ăn mày ở thế kỷ mười tám và được coi như một dạng giấy phép hành nghề. Một bộ sưu tập chai lọ bằng sành đứng bên cây đèn bàn, và cạnh chúng là một chiếc sừng đựng thuốc lá khảm bạc. Tặng chúng cho viện bảo tàng ư? Anh đắn đo. Ngôi nhà này đầy những món đồ tạo tác thời Jacobite[3]; mục sư vốn là một sử gia nghiệp dư, và thế kỷ mười tám là mảnh đất săn lùng tư liệu yêu thích của ông.

Các ngón tay anh vô thức mơn trớn bề mặt chiếc sừng đựng thuốc lá, men theo những dòng chữ khắc thẳng tắp - bao gồm tên và ngày tháng của người trợ tế và người giữ quỹ trong Liên đoàn Thợ may của Canongate, Edinburgh năm 1726. Có lẽ anh nên giữ lại vài món đồ mà mục sư kiếm được… nhưng rồi anh rụt tay lại và lắc đầu quả quyết. “Chẳng để làm gì, đồ ngốc,” anh nói to, “cách sống này thật điên rồ.” Hoặc ít nhất giống cuộc đời của một bầy chuột. Khởi đầu bằng việc tích cóp những món đồ này, và kết thúc cuộc đời trong một ngôi nhà kỳ quái ngập ngụa rác rến. “Lại còn tự nói chuyện với bản thân nữa chứ!” Anh lẩm bẩm.

Ý nghĩ về đống rác gợi cho anh nhớ tới cái ga ra, và đầu gối anh hơi chùng xuống. Mục sư, thực ra là ông trẻ của Roger, đã nhận nuôi anh hồi anh mới năm tuổi khi cha mẹ anh bị giết chết trong Thế chiến thứ II; mẹ anh bị giết ở Blitz, còn cha anh thì bỏ mình trong làn nước đen của eo biển Anh. Với bản tính thích gìn giữ, bảo quản, mục sư đã giữ lại tất cả những vật dụng cá nhân của cha mẹ Roger, niêm kín trong các thùng gỗ và hộp các tông để ở sau ga ra. Roger biết rõ một điều là trong suốt hai mươi năm qua, những cái thùng đó vẫn chưa từng được mở.

Roger bật thốt ra một câu cảm thán trong kinh Cựu ước khi nghĩ đến việc động tay vào những kỷ vật đó của cha mẹ. “Ôi, Chúa ơi,” anh nói lớn. “Bất kỳ chuyện gì cũng được, miễn không phải là việc đó!”

Lời cảm thán ấy không hẳn là một lời cầu nguyện, nhưng chuông cửa bỗng vang lên như thể đáp lại lời anh khiến Roger cắn cả vào lưỡi vì giật mình.

Cánh cửa của ngôi nhà này thường xuyên bị kẹt khi thời tiết ẩm thấp, có nghĩa là hầu như lúc nào nó cũng bị kẹt. Roger giật mở cánh cửa khiến nó kêu kẽo kẹt và thấy có một người phụ nữ đang đứng trên bậc thềm.

“Tôi có thể giúp gì cho bà?”

Người phụ nữ có chiều cao trung bình và rất xinh đẹp. Anh cảm thấy choáng ngợp trước dáng vóc đẹp đẽ, làn da trắng nõn và mái tóc xoăn màu nâu được búi hờ sau gáy. Và nổi bật nhất giữa tất cả những đường nét ấy là cặp mắt sáng lạ thường có màu của rượu sherry[4] ủ lâu năm.

Đôi mắt ấy quét từ đôi giày đế mềm cỡ mười một lên đến khuôn mặt cao hơn bà chừng ba chục phân của anh. Nụ cười nửa miệng biến thành nụ cười tươi tắn hết cỡ. “Cô ghét phải mở đầu bằng một câu nói khuôn sáo,” bà nói, “nhưng trời ạ, sao cháu lớn thế này, nhóc Roger!”

Roger cảm thấy mặt mình đỏ bừng. Người phụ nữ cười to và chìa tay ra. “Cháu Roger, đúng không? Cô là Claire Randall; một người bạn cũ của mục sư. Nhưng cô đã không gặp cháu từ hồi cháu lên năm.”

“Ờ, bà nói bà một người bạn cũ của cha tôi? Vậy, bà hẳn đã biết…”

Nụ cười tươi tắn biến mất, thay vào đó là vẻ mặt tiếc nuối.

“Phải, cô vô cùng lấy làm tiếc khi nghe tin ấy. Là bệnh tim, đúng không?”

“Đúng vậy. Rất đột ngột. Tôi vừa từ Oxford về đây để xử lý… mọi thứ.” Anh vẫy tay một cách bâng quơ, bao hàm cả cái chết của mục sư, ngôi nhà đằng sau và tất cả những gì chứa trong đó.

“Từ những gì cô còn nhớ về thư viện của cha cháu, chút việc vặt vãnh đó có thể kéo dài tới tận Giáng sinh,” Claire nhận xét.

“Trong trường hợp đó, có lẽ chúng tôi không nên quấy rầy anh,” một giọng Mỹ nhẹ nhàng vang lên.

“Ồ, cô quên mất,” Claire nói, hơi quay người về phía cô gái đứng khuất tầm nhìn ở góc hiên nhà. “Roger Wakefield - con gái cô, Brianna.”

Brianna Randall bước tới, một nụ cười thẹn thùng nở trên mặt. Roger thất thần trong thoáng chốc, rồi nhớ ra phép cư xử của mình. Anh bước lùi lại, mở rộng cánh cửa, trong giây lát tự hỏi không biết lần cuối cùng anh thấy chiếc áo sơ mi là lúc nào.

“Không có gì, không có gì!” Anh vồn vã nói. “Tôi đang muốn nghỉ giải lao một chút. Hai người vào chứ?”

Anh dẫn hai người phụ nữ đi xuôi hành lang tới phòng làm việc của mục sư. Anh nhận thấy cùng với vẻ hấp dẫn vừa phải, cô con gái còn là cô gái cao lớn nhất mà anh từng thấy ở cự ly gần thế này. Cô nàng dễ phải cao hơn một mét tám, anh nghĩ, nhìn đầu cô ngang với cái giá treo mũ khi cô đi ngang qua. Anh bất giác rướn thẳng thân mình, vươn hết toàn bộ chiều cao một mét chín mươi hai của mình. Thế nhưng vào phút cuối, anh lại phải cúi vội cúi vàng để tránh bị đụng đầu vào rầm cửa khi theo sau hai người phụ nữ vào phòng làm việc.

•••

“Cô đã định đến từ trước cơ,” Claire nói, thả người lọt thỏm vào lòng chiếc ghế bành to tướng. Bức tường thứ tư trong phòng làm việc của mục sư được lắp cửa sổ từ sàn tới trần, nên ánh mặt trời bắt sáng lóng lánh lên chiếc kẹp tóc đính ngọc trai trên mái tóc màu nâu nhạt của bà. Những lọn tóc quăn đang tuột khỏi sự kiềm giữ, và bà đưa tay vén một lọn tóc ra sau tai trong khi nói chuyện.

“Thực ra cô đã sắp xếp để có thể đến từ năm ngoái, nhưng rồi có một ca cấp cứu ở bệnh viện Boston - cô là bác sĩ mà,” bà giải thích, khóe miệng hơi cong lên trước cái nhìn ngạc nhiên của Roger, anh chàng không hề cố gắng che giấu nó. “Nhưng cô lấy làm tiếc là đã không đến được; cô rất muốn gặp lại cha cháu.”

Roger thắc mắc tại sao họ lại đến vào lúc này, khi biết mục sư đã chết, nhưng hỏi vậy thì bất lịch sự quá. Thay vào đó, anh hỏi: “Các vị có thưởng thức các thắng cảnh không?”

“Có, mẹ con cô lái xe từ London tới,” Claire trả lời. Bà mỉm cười với cô con gái. “Cô muốn Bree được nhìn ngắm đất nước này; cháu sẽ không nghĩ thế khi nghe con bé nói, nhưng con bé là người Anh giống như cô vậy, mặc dù nó chưa từng sống ở đây.”

“Thật ư?” Roger liếc sang Brianna. Cô gái thật sự trông không giống người Anh; ngoại trừ chiều cao, cô ấy có mái tóc đỏ, dày, buông xõa xuống hai vai, khuôn mặt có đường nét mạnh mẽ, góc cạnh, với chiếc mũi dài và thẳng - có lẽ hơi quá dài.

“Tôi được sinh ra ở Mỹ,” Brianna giải thích, “nhưng cả mẹ và cha tôi đều là - đã từng là - người Anh.”

“Đã từng?”

“Chồng cô qua đời hai năm trước,” Claire giải thích. “Cháu biết ông ấy đấy, cô nghĩ vậy - Frank Randall.”

“Frank Randall! Ôi, tất nhiên rồi!” Roger vỗ tay lên trán, rồi cảm thấy hai má mình nóng bừng trước tiếng cười khúc khích của Brianna. “Chắc cô nghĩ tôi thật ngố, nhưng chỉ là tôi vừa mới nhận ra các vị là ai thôi.”

Cái tên này giải thích rất nhiều điều; Frank Randall là một sử gia lỗi lạc, và là bạn tốt của mục sư; họ đã trao đổi về bí mật của những người Jacobite trong nhiều năm qua, mặc dù ít nhất cũng mười năm rồi kể từ lần cuối cùng Frank Randall đến thăm ngôi nhà này.

“Thế hai người sẽ đến thăm các di tích lịch sử gần Inverness chứ?” Roger đánh bạo hỏi. “Các vị đã tới Culloden chưa?”

“Vẫn chưa,” Brianna trả lời. “Trong tuần này, chúng tôi sẽ đi.” Nụ cười đáp lại của cô thật lịch sự, nhưng không có gì hơn nữa.

“Bọn cô đã đặt lịch đi xuống vùng hồ Ness[5] vào chiều nay,” Claire giải thích. “Và có thể sẽ lái xe tới Fort William vào ngày mai, hoặc là mò mẫm đến Inverness, nơi đó đã thay đổi rất nhiều kể từ lần cuối cùng cô ở đây.”

“Đó là khi nào thế?” Roger băn khoăn liệu có nên xung phong làm hướng dẫn viên cho chuyến du lịch này không. Anh thật sự không nên lãng phí thời gian, nhưng gia đình Randall là những người bạn tốt của mục sư. Ngoài ra, một chuyến đi bằng xe ô tô tới Fort William với hai người phụ nữ hấp dẫn này có vẻ cuốn hút hơn viên cảnh dọn dẹp cái ga ra kia - công việc kế tiếp trong danh sách của anh.

“Ồ, hơn hai mươi năm trước. Lâu lắm rồi.” Có một nốt nhấn kỳ lạ trong giọng Claire khiến Roger phải liếc nhìn bà, nhưng bà đón ánh mắt anh bằng một nụ cười.

“Thế thì,” anh thử thăm dò, “nếu có bất cứ việc gì cháu có thể làm, trong khi hai người ở vùng cao này[6]…”

Claire vẫn mỉm cười, nhưng có gì đó trên gương mặt bà đã thay đổi. Anh gần như có thể nghĩ bà vẫn chờ đợi một lời mở đầu. Bà liếc nhìn Brianna rồi quay lại phía Roger.

“Vì cháu đã đề cập đến việc này,” bà nói, nụ cười càng nở rộng hơn.

“Ôi, mẹ!” Brianna thốt lên, ngồi thẳng người trên ghế. “Mẹ đừng có làm phiền anh Wakefield! Hãy xem tất cả những việc anh ấy phải làm này!” Cô vẫy tay về phía căn phòng làm việc chật ních, với những chiếc thùng các tông đầy tràn và các chồng sách bất tận.

“Ôi, không phiền chút nào cả!” Roger phản đối. “À… việc gì thế ạ?”

Claire ném cho cô con gái cái nhìn đe nẹt. “Mẹ không định đánh vào đầu cậu ấy rồi lôi đi đâu,” bà nói một cách văn hoa. “Nhưng có lẽ cậu ấy biết rõ ai có thể giúp được. Đó là một công trình nghiên cứu lịch sử nho nhỏ,” bà giải thích với Roger. “Cô cần ai đó thông thạo về thời kỳ những người Jacobite thế kỷ mười tám - Hoàng tử Charlie Xinh đẹp[7] và tất cả những người đó.”

Roger nhoài người tới trước, hào hứng. “Những người Jacobite ư?” Anh nói. “Thời kỳ đó không phải là chuyên môn của cháu, nhưng cháu có biết đôi chút - khó mà không biết gì khi sống rất gần Culloden như thế. Đó là nơi diễn ra trận đánh cuối cùng, cô biết đấy,” anh chàng giải thích với Brianna. “Nơi người của Hoàng tử Xinh đẹp chống lại Công tước Cumberland và bị tàn sát.”

“Đúng thế,” Claire nói. “Thực ra sự kiện đó có liên quan tới những gì cô muốn khám phá.” Bà thò tay vào túi xách, lôi ra một tờ giấy gấp nếp.

Roger mở nó ra, lướt qua thật nhanh nội dung bên trong. Đó là một danh sách những cái tên - có lẽ là ba mươi người, đều là đàn ông. Trên cùng tờ giấy là một tiêu đề: “CUỘC NỔI DẬY CỦA JACOBITE, 1745 - CULLODEN.”

“Ồ, năm 45 à?” Roger nói. “Những người đàn ông này đã chiến đấu ở Culloden, đúng không?”

“Đúng vậy,” Claire đáp. “Điều cô muốn tìm hiểu là có bao nhiêu người đàn ông trong danh sách này còn sống sót sau trận chiến đó?”

Roger xoa cằm trong khi đọc kĩ lại tờ danh sách. “Đó là một câu hỏi đơn giản,” anh nói, “nhưng câu trả lời có thể khó tìm đấy. Có quá nhiều người của các thị tộc trên vùng cao nguyên đi theo Hoàng tử Charles và bị giết trên cánh đồng Culloden mà không được an táng riêng. Họ được đặt vào những ngôi mộ lớn, còn không có đến một phiến đá ghi lại danh tính để đánh dấu nữa cơ.”

“Cô biết,” Claire nói. “Brianna chưa từng đến đó, nhưng cô thì đến rồi - rất lâu trước đây.” Roger nghĩ anh đã nhìn thấy một thoáng u tối lướt qua đáy mắt bà, dù nó nhanh chóng được giấu đi khi bà với lấy chiếc túi xách tay của mình. Chả trách được, anh nghĩ. Cánh đồng Culloden là một địa danh khiến người ta xúc động; chính đôi mắt anh cũng từng đẫm lệ khi nhìn bao quát dải đất rộng hoang vu mọc đầy thạch nam và nhớ tới những chiến binh vùng cao nguyên Scotland gan dạ đã mãi mãi nằm xuống dưới lớp cỏ này.

Bà giở ra thêm vài tờ giấy đánh máy nữa và đưa chúng cho anh. Ngón tay dài trắng muốt lướt dọc theo lề một tờ giấy. Đôi bàn tay thật đẹp, Roger nghĩ, được cắt tỉa tỉ mỉ, chăm sóc cẩn thận, trên mỗi bàn tay đeo một chiếc nhẫn. Chiếc bằng bạc trên bàn tay phải của bà đặc biệt gây chú ý; một dải hoa văn theo phong cách thời Vua James I với nền phong cảnh vùng cao nguyên bện kết lại với nhau, điểm thêm những bông hoa kế trên quốc huy Scotland.

“Đây là tên của những người vợ theo như cô biết. Cô nghĩ cái đó có thể giúp ích, vì nếu những người chồng bị giết ở Culloden, cháu có thể tìm thấy thông tin những người phụ nữ này tái hôn hoặc di cư sau đó. Những ghi chép đó chắc chắn sẽ có trong sổ đăng ký của xứ đạo, phải không? Tất cả bọn họ đều đến từ một xứ đạo; nhà thờ ở Broch Mordha - nó nằm về phía nam của chỗ này.”

“Đây quả là một ý tưởng rất hay,” Roger nói, hơi ngạc nhiên. “Đó là cách phân loại mà một sử gia sẽ nghĩ đến.”

“Cô không phải một sử gia,” Claire Randall lạnh nhạt nói. “Nhưng khi cháu sống với một sử gia, thỉnh thoảng cháu sẽ lượm lặt được những ý nghĩ kì quái như thế.”

“Dĩ nhiên rồi.” Một ý nghĩ ập tới khiến anh nhổm dậy trên ghế. “Cháu thật là một chủ nhà bất lịch sự; xin để cháu lấy đồ uống cho hai người, và sau đó cô có thể kể cho cháu thêm một chút về công trình nghiên cứu này không? Có lẽ cháu có thể giúp cô trong khả năng của mình.”

Mặc dù căn phòng lộn xộn, anh vẫn biết chỗ cất rượu ở đâu và nhanh chóng phục vụ các vị khách của mình những ly whisky. Anh cho thêm khá nhiều soda vào ly của Brianna, nhưng anh để ý thấy cô nhấm nháp món đồ uống này như thể chiếc ly của cô chứa thuốc xịt kiến chứ không phải loại rượu mạch nha Glenfiddich hảo hạng nhất vậy. Claire đón lấy ly whisky nguyên chất của bà và có vẻ thích nó hơn.

“Xem nào.” Roger trở về chỗ ngồi, lại cầm tờ giấy lên. “Đây là một vấn đề thú vị đấy, về khía cạnh tra cứu lịch sử. Cô nói những người đàn ông này đến từ cùng một xứ đạo? Cháu cho rằng họ đến từ cùng một thị tộc hoặc bộ lạc - cháu thấy một số người trong bọn họ đều mang họ Fraser.”

Claire gật đầu, hai bàn tay xếp lại trong lòng. “Họ đến từ một điền trang; một nông trại nhỏ ở vùng cao nguyên tên là Broch Tuarach - ở vùng đó nó được gọi là Lallybroch. Họ là một phần của thị tộc Fraser, dù họ chưa bao giờ chính thức tuyên thệ trung thành với Lãnh chúa Lovat với tư cách là thủ lĩnh của họ. Những người đàn ông này gia nhập vào cuộc nổi dậy rất sớm; họ chiến đấu trong trận Prestonpans - còn người của Lovat mãi tới trước trận Culloden mới đến.”

“Vậy ư? Thật thú vị.” Trong điều kiện bình thường ở thế kỷ mười tám, những người nông dân - tá điền sẽ qua đời ở chính nơi họ sống, và được sắp xếp ngay ngắn nối tiếp nhau trong nghĩa địa nhà thờ của làng, được ghi vào sổ của xứ đạo[8]. Tuy nhiên, việc Hoàng tử Charlie Xinh đẹp cố gắng giành lại ngai vàng của Scotland năm 1745 đã phá vỡ cái chu trình ấy.

Trong nạn đói sau thảm họa Culloden, nhiều người dân vùng cao đã phải di cư tới Tân Thế Giới; những người khác trôi dạt từ thung lũng này tới bãi hoang khác, hướng về phía các thành thị để tìm kiếm thức ăn và làm thuê làm mướn. Vài người tiếp tục ở lại, bướng bỉnh bám trụ đất đai và truyền thống từ ngàn xưa của họ.

“Nó sẽ là một bài báo hấp dẫn,” Roger nói ra suy nghĩ của mình. “Lần theo vận mệnh của một số cá nhân, xem xem điều gì đã xảy đến với tất cả bọn họ. Sẽ ít hấp dẫn hơn nếu bọn họ đều đã bị giết ở Culloden, nhưng cơ hội chính là do một vài người tạo ra.” Anh cảm thấy muốn thực hiện công trình nghiên cứu này như là một kỳ nghỉ ngơi được mong đợi, cho dù Claire Randall không đề nghị.

“Vâng, cháu nghĩ mình có thể giúp cô chuyện này,” anh nói, cảm thấy hài lòng trước nụ cười ấm áp bà dành tặng mình.

“Cháu nói thật chứ? Điều đó thật tuyệt!” Bà nói.

“Đó là vinh hạnh của cháu,” Roger đáp. Anh gấp tờ giấy lại và đặt nó lên bàn. “Cháu sẽ bắt đầu từ danh sách này. Nhưng xin hãy kể cho cháu, hai người đã tận hưởng chuyến đi bằng xe tự lái từ London lên đây như thế nào?”

Cuộc trò chuyện bắt đầu chuyển sang chủ đề chung chung khi hai mẹ con nhà Randall thết đãi anh những câu chuyện về hành trình vượt qua Đại Tây Dương và chuyến lái xe từ London tới đây. Sự chú ý của Roger hơi phân tán khi anh bắt đầu lên kế hoạch tra cứu công trình nghiên cứu này. Anh cảm thấy hơi tội lỗi khi nhận thực hiện nó; anh thật sự không nên phí phạm thời gian. Thế nhưng đó thật sự là một vấn đề thú vị. Và có lẽ anh có thể kết hợp công trình nghiên cứu này với việc dọn dẹp mớ tư liệu của mục sư; anh biết rằng trong ga ra có bốn mươi tám thùng các tông, tất cả đều được dán nhãn JACOBITE, TẠP NHAM. Nghĩ đến đó đã đủ khiến anh muốn ngất rồi.

Anh bứt tâm trí mình ra khỏi cái ga ra ấy, để rồi nhận ra cuộc trò chuyện đã đột ngột chuyển chủ đề.

“Các tín đồ Druid ư?” Roger cảm thấy mơ hồ. Anh ngờ vực ngó vào ly rượu của mình, kiểm tra xem có phải thật sự đã thêm soda rồi hay không.

“Cháu đã bao giờ nghe nói về họ chưa?” Claire trông có vẻ hơi thất vọng. “Cha cháu - mục sư - ông ấy biết họ, dù chỉ là không chính thức. Có thể ông ấy nghĩ rằng việc đó không đáng để kể cho cháu biết; ông ấy cho đó là một trò đùa thôi.”

Roger vò đầu, làm rối tung mái tóc đen dày. “Không, cháu thật sự không nhớ. Nhưng cô nói đúng, có thể ông không nghĩ đó là chuyện nghiêm túc.”

“Chà, cô không biết nữa.” Bà bắt tréo chân. Một vệt nắng chiếu xuống cẳng chân mặc quần tất của bà, làm nổi bật đường nét tinh tế của đôi chân dài ấy.

“Lần cuối cùng cô ở đây với Frank - Chúa ơi, đã hai mươi ba năm rồi cơ đấy! - mục sư nói với chồng cô rằng vùng này có một nhóm - gì nhỉ, tín đồ Druid hiện đại, cô cho là người ở đây gọi họ như thế. Cô không biết bọn họ đáng tin tới mức nào; hầu như khả năng đáng tin là không nhiều lắm.” Brianna giờ đang nhoài người tới trước, dáng vẻ hứng thú, ly rượu whisky bị bỏ quên trên tay.

“Mục sư không thể đường đường chính chính thu thập thông tin về họ - những người ngoại giáo hay đại loại thế cháu biết đấy - nhưng quản gia của ông ấy, bà Graham, có dính líu với nhóm này, vậy nên thỉnh thoảng ông ấy nghe ngóng được hoạt động của họ và bảo cho Frank biết rằng có một nghi thức nào đó vào lúc bình minh trong lễ Beltane[9] - chính là lễ May Day[10].”

Roger gật đầu, cố thích nghi với ý nghĩ bà Graham già cả, con người cực kỳ lề lối nguyên tắc đó, lại dính dáng đến những nghi lễ của kẻ ngoại giáo và nhảy múa xung quanh những vòng tròn đá vào lúc bình minh. Tất cả những gì bản thân anh có thể nhớ về các nghi lễ của người Druid là một số trong đó có việc hỏa thiêu các nạn nhân hiến tế trong những chiếc lồng làm bằng cây liễu gai, điều này có vẻ là hành vi khó tưởng tượng nổi đối với một quý bà thuộc Giáo hội Trưởng lão Scotland vào thời đại tiến bộ này.

“Có một vòng tròn đá dựng đứng trên đỉnh một ngọn đồi khá gần đây. Bọn cô đã lên đó từ trước bình minh, ờ, để do thám họ,” bà tiếp tục kể, nhún vai vẻ hối tiếc. “Cháu biết các học giả là thế nào rồi đấy; không có lương tâm gì cả khi chuyện có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của họ, mặc xác cảm xúc tao nhã của xã hội.” Roger hơi cau mày trước câu nói này nhưng lại gật đầu tán đồng một cách hài hước.

“Và họ ở đấy,” Claire kể tiếp. “Bà Graham cũng ở trong số đó, tất cả đều khoác những tấm chăn, ngâm nga cầu tụng và nhảy múa trong sương mù quanh vòng tròn đá. Frank đã thích mê,” bà nói thêm kèm theo một nụ cười tủm tỉm. “Chuyện ấy đã thật ấn tượng, ngay cả đối với cô.”

Bà ngừng lại một lát, nhìn Roger vẻ suy đoán.

“Cô nghe nói bà Graham đã qua đời vài năm trước. Nhưng cô thắc mắc… cháu có biết liệu bà ấy còn có người nhà nào không? Cô tin thành viên trong những hội nhóm như thế thường là cha truyền con nối; có lẽ có một người con gái hay cháu gái nào đó có thể kể cho cô nghe chút ít về họ.”

“A,” Roger chậm rãi nói. “Bà ấy có một người cháu gái - tên cô ấy là Fiona, Fiona Graham. Thực ra, cô ấy có đến giúp việc ở đây sau khi bà của cô ấy qua đời; mục sư quá cao tuổi nên không thể để ông sống một mình được.”

Nếu có bất cứ thứ gì có thể thay thế được hình ảnh tưởng tượng của anh về bà Graham đang nhảy múa với một chiếc chăn quấn quanh người thì đó chính là ý nghĩ về cô Fiona mười chín tuổi, với tư cách là người bảo vệ cho tri thức cổ xưa huyền bí, nhưng Roger trấn tĩnh lại và tiếp tục.

“Cháu e là ngay lúc này thì cô ấy không ở đây. Dù vậy, cháu có thể hỏi cô ấy hộ cô.”

Claire xua xua bàn tay mảnh mai ra hiệu bỏ qua. “Không cần phải phiền phức thế đâu. Để lần khác đi, bọn cô đã chiếm mất quá nhiều thời gian của cháu rồi.”

Trước sự thất vọng của Roger, bà đặt cái ly trống không của mình xuống chiếc bàn nhỏ kê ở giữa và Brianna cũng đặt ly rượu còn đầy nguyên của mình lên đó với dáng vẻ sốt sắng. Anh phát hiện ra Brianna Randall cắn móng tay. Đây là một bằng chứng nhỏ chứng minh sự kém hoàn hảo, điều này khiến anh có thêm can đảm tiến thêm bước nữa. Cô đã hấp dẫn anh, và anh không muốn cô đi, khi mà không có gì bảo đảm rằng anh sẽ còn được gặp lại cô.

“Nói về những vòng tròn đá,” anh nói nhanh. “Cháu tin là mình biết cái vòng tròn mà cô nhắc tới. Nơi đó khá yên tĩnh, không quá xa thị trấn.” Anh chàng mỉm cười với Brianna Randall, tự động ghi nhận rằng cô có ba nốt tàn nhang nhỏ trên một gò má. “Cháu đã nghĩ có lẽ mình nên bắt đầu thực hiện công trình nghiên cứu này bằng một chuyến đi xuống Broch Tuarach. Nó cùng hướng với vòng tròn đá kia, thế nên có lẽ… A… a… a!”

Bằng một cú giật mạnh đột ngột chiếc túi to kềnh của mình, Claire Randall đã gạt cả hai ly whisky rơi khỏi bàn, tưới ướt hai bắp đùi Roger bằng thứ rượu whisky lúa mạch cùng với khá nhiều soda.

“Cô vô cùng lấy làm tiếc,” bà thốt lên lời xin lỗi, rõ ràng đang hết sức bối rối. Bà cúi xuống, bắt đầu nhặt các mảnh pha lê vỡ lên, bất chấp những cố gắng của Roger để ngăn bà lại.

Brianna đi đến trợ giúp cùng với một nắm khăn ăn bằng vải lanh vừa tiện tay tóm được từ chỗ tủ ly, miệng nói: “Mẹ, thật là, làm sao mà họ lại để cho mẹ làm bác sĩ phẫu thuật được nhỉ, con không hiểu nổi nữa! Bất cứ thứ gì nhỏ hơn cái hộp đựng bánh mỳ đều không an toàn với mẹ. Nhìn xem, mẹ làm giày anh ấy ướt sũng rượu whisky rồi đấy!” Cô quỳ xuống sàn nhà và bắt đầu bận rộn lau dọn hết rượu Scotch cùng những mảnh pha lê vỡ. “Và cả quần anh ấy nữa.”

Vắt một chiếc khăn ăn sạch lên cánh tay mình, cô cần mẫn lau sạch bóng các ngón chân của Roger, mái tóc buộc vổng kiểu đuôi ngựa đung đưa qua lại quanh hai đầu gối anh. Cô ngẩng lên săm soi hai bắp đùi anh, hăng hái chấm nhẹ để thấm rượu ở từng vết ẩm trên chiếc quần nhung kẻ. Roger nhắm mắt và điên cuồng lái suy nghĩ của mình tới những vụ tai nạn khủng khiếp trên đường cao tốc và các mẫu biểu thuế của Cơ quan Thuế vụ Anh, rồi cả hố đen vũ trụ - bất cứ thứ gì có thể khiến anh không tự làm mình bẽ mặt khi hơi thở ấm áp của Brianna Randall cứ thoảng nhẹ xuyên thấu qua lớp vải ướt trên quần anh.

“À, có lẽ anh muốn tự làm nốt phần còn lại chăng?” Giọng nói phát ra ngay gần mũi anh, Roger mở mắt và thấy một đôi mắt màu lam thẫm đang chiếu tướng mình cùng một nụ cười tinh quái. Anh yếu ớt nhận lấy chiếc khăn ăn cô đưa, hít thở như thể anh vừa bị cả một đoàn tàu đuổi theo.

Cúi đầu để chùi vết bẩn trên quần, anh thoáng bắt được ánh mắt quan sát của Claire Randall kèm theo một biểu cảm pha trộn cả cảm thông và thích thú.

Từ nét mặt bà không còn thấy được gì khác; nhưng có một lúc thoáng qua anh nghĩ là mình đã nhìn thấy điều gì đó trong mắt bà ngay trước khi tai họa này xảy ra. Anh bối rối, nghĩ đó có thể chỉ là tưởng tượng của anh mà thôi. Bà ấy cố ý gây ra chuyện này để làm cái quái gì chứ?

•••

“Từ khi nào mà mẹ lại có hứng thú với các tín đồ Druid vậy, Mama?” Dường như Brianna đã phát hiện ra điều thú vị trong ý tưởng này; tôi để ý thấy con bé cắn má trong, khi tôi đang trò chuyện với Roger Wakefield, và nụ cười tinh quái mà con bé cố giấu giờ đây tươi rói trên gương mặt nó. “Mẹ sắp sửa quấn một cái chăn và gia nhập hội này à?”

“Chắc chắn là thú vị hơn các cuộc họp của toàn thể nhân viên bệnh viện vào mỗi thứ Năm,” tôi nói. “Dù hơi lạnh lẽo một tí.” Con bé cười rú lên, làm hai chú chim sẻ trên đường đi trước mặt chúng tôi giật mình bay lên.

“Không,” tôi nói, điều chỉnh lại dáng vẻ nghiêm túc. “Không phải mẹ theo đuổi chuyện các quý bà quý cô ở hội Druid. Mẹ chỉ muốn tìm một người từng quen biết ở Scotland này, nếu có thể. Mẹ không có địa chỉ của bà ấy - mẹ đã không liên lạc với bà ấy hơn hai mươi năm rồi - nhưng bà ấy thích mấy chuyện kỳ quái như thế: phù thủy, những tín ngưỡng cổ xưa, văn hóa dân gian. Tất cả những thứ kiểu như thế. Bà ấy từng sống gần đây; mẹ nghĩ nếu vẫn ở đây, bà ấy có thể liên quan tới một nhóm hội giống thế.”

“Tên bà ấy là gì?”

Tôi lắc đầu, túm lấy cái kẹp tóc đã lỏng ra và đang tuột xuống khỏi mấy lọn tóc. Nó sượt qua ngón tay tôi và rơi xuống thảm cỏ dày chạy dọc đường đi.

“Khỉ thật!” Tôi kêu lên, cúi xuống tìm nó. Những ngón tay tôi run rẩy khi mò mẫm giữa những đám cỏ rậm rạp, tôi gặp rắc rối khi nhặt chiếc kẹp tóc lên, nó trơn trượt vì hơi ẩm của cỏ ướt. Ý nghĩ về Geillis Duncan khiến tôi lo lắng, ngay cả lúc này đây.

“Mẹ không biết,” tôi nói, gạt mấy lọn tóc ra khỏi khuôn mặt đỏ ửng của mình. “Ý mẹ là - đã một thời gian dài như thế, mẹ không biết bà ấy giờ có phải đã mang một cái tên khác hay không. Bà ấy là một góa phụ; có thể bà ấy đã tái hôn, hoặc đang dùng tên thời con gái của mình.”

“Ồ.” Brianna mất hứng với chủ đề này, dạo bước trong im lặng mất một lúc. Đột nhiên con bé nói: “Mẹ nghĩ gì về Roger Wakefield, Mama?”

Tôi liếc con bé; hai má nó đã ửng hồng, nhưng có thể là do gió xuân thôi.

“Cậu ấy có vẻ là một thanh niên tốt,” tôi thận trọng nói. “Tất nhiên cậu ấy thông minh; là một trong những giáo sư trẻ tuổi nhất ở Oxford.” Trí thông minh mà tôi đã biết rõ; tôi tự hỏi liệu thằng bé có trí tưởng tượng hay không. Vì tip học giả như thế thường không có thứ đó. Nhưng trí tưởng tượng sẽ giúp ích rất nhiều.

“Anh ấy có đôi mắt rất cuốn hút.” Brianna nói, mơ màng bỏ qua vấn đề liên quan đến bộ não của cậu ta. “Đấy không phải đôi mắt xanh lục đẹp nhất mà mẹ từng thấy sao?”

“Phải, chúng rất nổi bật,” tôi tán đồng. “Chúng vẫn như thế, mẹ nhớ mẹ đã để ý đến chúng ngay từ lần đầu tiên gặp Roger, khi cậu ấy vẫn còn là một đứa trẻ.”

Brianna cúi nhìn tôi rồi nhăn mặt.

“Phải, mẹ thật là hết chỗ nói! Có phải mẹ đã bảo “Trời ạ, sao cháu lớn thế này?” khi anh ấy ra mở cửa không? Xấu hổ chết đi được!”

Tôi cười to.

“Thế nếu là con, khi lần cuối cùng thấy ai đó còn lượn lờ cao đến rốn con, và rồi đột nhiên con phát hiện mình đang phải ngước nhìn lên cái mũi của cậu ta, thì con có thể không choáng váng vì sự khác biệt đó không?” Tôi tự biện hộ cho mình.

“Mẹ!” Rồi con bé phì cười thành tiếng.

“Cậu ấy cũng có cặp mông rất đẹp nữa,” tôi nhận xét, để tiếp tục chọc cười con bé. “Mẹ để ý thấy khi cậu ấy cúi người lấy whisky.”

“MẸ… Ẹ… Ẹ… Ẹ! Người ta nghe thấy đây!”

Chúng tôi đang ở gần trạm xe buýt. Có hai, ba phụ nữ và một quý ông cao tuổi trong bộ đồ may bằng phải tuýt đang đứng bên cạnh tấm biển dừng xe; họ quay sang nhìn chằm chằm khi chúng tôi đi tới.

“Đây có phải là bến xe buýt đi vùng hồ không ạ?” Tôi hỏi, bối rối quét mắt nhìn một hàng thông báo và quảng cáo dán trên tấm biển.

“Ồ, phải,” một quý bà tử tế nói. “Xe buýt sẽ đến trong khoảng mười phút nữa.” Bà ấy quét mắt nhìn Brianna, quá dễ dàng nhận ra con bé là người Mỹ trong chiếc quần jean xanh da trời và cái áo gió trắng. Dấu hiệu ái quốc cuối cùng ấy được bổ sung thêm bằng một gương mặt đỏ gay vì nín cười. “Các vị đến xem hồ Ness ư? Lần đầu tiên phải không?”

Tôi mỉm cười với bà ấy. “Tôi đã đi thuyền trên cái hồ ấy cùng với chồng mình vào hai mươi năm trước, nhưng đây là chuyến đi đầu tiên của con gái tôi tới Scotland.”

“Ồ, vậy sao?” Câu chuyện thu hút sự chú ý của các quý bà khác và họ vây lại xung quanh, đột nhiên trở nên thật thân thiện, đưa ra những lời khuyên và hỏi han cho tới khi chiếc xe buýt màu vàng to lớn bình bịch quành ra từ góc đường.

Brianna dừng lại một lát trước khi leo lên xe, say sưa ngắm nhìn những cánh rừng xanh biêng biếc quanh co uốn khúc, nhấp nhô gợn sóng qua một hồ nước xanh như vẽ, quanh bờ hồ là những rặng thông đen sẫm.

“Sẽ vui lắm đây!” Con bé cười, nói. “Cứ tưởng tượng chúng ta sẽ trông thấy con quái vật đó mà xem!”

“Ai mà biết được,” tôi nói.

•••

Thời gian còn lại của ngày hôm đó, Roger rơi vào trạng thái lơ đãng, tha thẩn làm hết việc này tới việc khác mà chẳng làm xong được việc nào. Những cuốn sách được đóng gói để hiến tặng cho hội Bảo tồn đồ cổ nằm tràn cả ra khỏi thùng các tông, chiếc xe tải cổ sàn phẳng của mục sư nằm trên đường, nắp ca-pô dựng lên, mới được kiểm tra nửa chừng, và bên khuỷu tay anh là một tách trà uống dở, sữa đóng thành váng, khi anh đờ đẫn nhìn chằm chằm ra màn mưa lúc trời sẩm tối.

Anh biết mình nên làm gì, chính là công việc dỡ bỏ hết lớp che đậy “trái tim” trong căn phòng làm việc của mục sư. Không phải là những cuốn sách; dù đó là một khối lượng công việc khổng lồ, nhưng đó chỉ là vấn đề quyết định xem cuốn nào nên giữ lại cho mình, cuốn nào nên gửi đến SPA hay thư viện trường đại học cũ của mục sư. Không, sớm hay muộn anh cũng sẽ phải xử lý cái bàn làm việc khổng lồ ấy, nơi giấy tờ chất đầy tràn mỗi cái ngăn kéo lớn và thò ra từ hàng tá hộc bàn. Và anh sẽ phải dỡ xuống và sắp xếp cả đống đồ trang trí hỗn tạp đính kín một bức tường gỗ xốp của căn phòng; một nhiệm vụ làm nhụt lòng thoái chí ngay cả những trái tim kiên cường nhất.

Ngoài sự miễn cưỡng nói chung khi bắt đầu công việc nhàm chán đó, Roger còn bị cản trở bởi một thứ khác nữa. Anh không muốn làm những việc này, dù chúng cần thiết đến mức nào; anh muốn tiến hành công trình nghiên cứu của Claire Randall, lần theo dấu vết những tộc viên tham gia trận Culloden ấy.

Bản thân công trình nghiên cứu này đã đủ thú vị rồi, mặc dù có lẽ nó không phải là một công việc nghiên cứu quan trọng. Nhưng đó không phải là nguyên do. Không, anh nghĩ, nếu thành thật với chính mình thì lý do anh muốn tiến hành công trình nghiên cứu của Claire Randall là vì anh muốn đi đến nhà trọ của bà Thomas để đặt thành quả đạt được dưới chân Brianna Randall, giống như người ta cho rằng hiệp sĩ thì phải lấy được đầu của những con rồng. Cho dù không có thành quả to lớn đó thì anh cũng muốn có một cái cớ để được gặp và nói chuyện với cô ấy lần nữa.

Brianna gợi cho anh nhớ đến một bức họa của Bronzino[11]. Không hiểu sao, cô ấy và mẹ mình đều tạo cho anh một ấn tượng kỳ lạ rằng vóc dáng của họ như được vẽ nên bằng những đường nét rực rỡ, những chi tiết tinh tế khiến họ như nổi bật hẳn lên so với phông nền bức họa, như thể được chạm khắc vào đó. Nhưng Brianna có sắc màu chói lọi ấy và bầu không khí của sự hiện diện hoàn toàn sống động khiến cho những chị em gái của Bronzino như đang dõi mắt nhìn theo bạn, và trò chuyện từ trong những khung tranh của họ. Anh chưa bao giờ thấy bức chân dung nào của Bronzino nhăn nhó khó chịu với ly rượu whisky cả, nhưng nếu có, anh dám chắc nó sẽ giống hệt Brianna Randall.

“Thật là quỷ tha ma bắt,” anh nói thành tiếng. “Sẽ chẳng mất nhiều thời gian để xem qua các ghi chép ở Tòa nhà Culloden vào ngày mai, đúng vậy không? Mày,” anh nói với cái bàn và những chồng tài liệu lộn xộn mà nó đang gánh, “có thể đợi một ngày. Mày cũng vậy,” anh nói với bức tường gỗ xốp và ngang ngược lôi mạnh một cuốn tiểu thuyết huyền bí từ trên giá xuống. Anh hầm hầm liếc nhìn quanh, như thể đang thách thức bất cứ món đồ nào dám phản đối, nhưng chẳng có tiếng động nào ngoại trừ tiếng lò sưởi điện kêu vo vo. Anh tắt lò sưởi, kẹp cuốn sách vào nách, tắt công tắc đèn.

Một phút sau, anh quay lại, đi ngang qua phòng trong bóng tối, lấy tờ danh sách để trên bàn.

“Được rồi, quỷ tha ma bắt!” Roger làu bàu, đút nó vào túi áo. “Đừng có quên thứ chết tiệt này vào sáng mai đấy!” Anh vỗ nhẹ lên túi áo, nghe thấy tiếng tờ giấy sột soạt ngay phía trên tim mình, rồi anh lên giường đi ngủ.

•••

Chúng tôi từ hồ Ness quay về trong màn mưa gió lạnh buốt, để rồi được tận hưởng sự ấm áp dễ chịu của bữa tối nóng hổi và chiếc lò sưởi lớn trong phòng khách. Brianna đã bắt đầu ngáp khi ăn món trứng bác, và nhanh chóng xin phép rời khỏi bàn ăn để đi tắm nước nóng. Tôi ở lại dưới nhà một lát để trò chuyện với bà Thomas, bà chủ nhà, đến gần mười giờ tôi mới đi tắm và thay áo ngủ.

Brianna là một người ngủ sớm, dậy sớm; hơi thở nhè nhẹ của con bé chào đón tôi khi tôi đẩy cửa bước vào phòng ngủ. Vì ngủ sớm nên con bé cũng thính ngủ; mặc dù tôi rón rén di chuyển quanh phòng để treo quần áo lên và xếp gọn mấy thứ, nhưng vẫn có nguy cơ làm con bé thức giấc. Ngôi nhà càng trở nên yên tĩnh hơn khi tôi tiếp tục công việc của mình, tiếng sột soạt do tôi cử động dường như càng lớn hơn.

Tôi đã mang theo vài cuốn sách của Frank, định quyên tặng chúng cho thư viện Inverness. Chúng được xếp gọn gàng dưới đáy va li của tôi, làm nền vững chắc cho các món đồ khác đè lên trên. Tôi lấy ra từng cuốn một, đặt lên giường. Năm cuốn sách bìa cứng dày, tựa đề nổi bật bắt sáng trên bìa sách bụi bặm. Những cuốn sách đẹp đẽ, chắc chắn; mỗi cuốn dày năm, sáu trăm trang, chưa tính chỉ mục và tranh minh họa.

Các công trình sưu tầm của người chồng quá cố của tôi, đó là những bản biên soạn được chú giải đầy đủ. Những bài phê bình khen ngợi dày tới vài phân, những bài bình luận của các chuyên gia có tiếng trong ngành lịch sử. Không tệ đối với một tác phẩm để đời. Một thành quả đáng tự hào. Cô đọng, súc tích, có tầm ảnh hưởng lớn và căn cứ chính xác đáng tin cậy.

Tôi đặt chồng sách gọn gàng bên cạnh chiếc túi xách của mình ở trên bàn, để sáng mai không bỏ quên chúng. Các tựa đề trên gáy sách khác nhau, dĩ nhiên là thế, nhưng tôi đã xếp sao cho dòng chữ “Frank W. Randall” đồng loạt cùng hướng lên trên, cái nọ nằm trên cái kia. Chúng bắt sáng lấp lánh từ luồng ánh sáng nhẹ của chiếc đèn ngủ cạnh giường.

Căn nhà nghỉ thật yên tĩnh; thời điểm này trong năm vẫn còn sớm nên chưa có nhiều khách trọ và mọi người cũng đã đi ngủ từ lâu. Trên chiếc giường đôi, Brianna đang phát ra tiếng thở phì phì rất nhỏ và cuộn tròn say ngủ, để mặc những sợi tóc đỏ vắt ngang qua khuôn mặt đang chìm sâu vào giấc mơ. Một bàn chân trần thò ra khỏi bộ đồ ngủ, tôi nhẹ nhàng kéo chăn đắp kín cho nó.

Thôi thúc muốn chạm vào một đứa trẻ đang ngủ say chưa bao giờ phai nhạt, cho dù đứa trẻ đó cao lớn hơn mẹ nó rất nhiều, và một người phụ nữ - nếu còn trẻ - có quyền làm thế. Tôi vén mái tóc ra sau để chúng khỏi xòa xuống mặt con bé và vuốt ve đỉnh đầu nó. Brianna mỉm cười trong giấc ngủ, một phản xạ biểu hiện trạng thái mãn nguyện, rồi nó biến mất nhanh như lúc xuất hiện. Tôi vẫn mỉm cười khi ngắm nhìn con bé, rồi thì thầm vào tai nó trong khi nó say ngủ như vẫn thường làm bao nhiêu lần trước: “Chúa ơi, con giống người ấy quá đi!”

Tôi nuốt xuống cảm giác nghèn nghẹn nơi cuống họng - đến giờ nó gần như đã thành một thói quen - và cầm lấy chiếc áo khoác ngủ vắt trên lưng ghế. Trời đêm tháng Tư trên cao nguyên Scotland lạnh thấu xương, nhưng tôi chưa sẵn sàng tìm kiếm nơi trú ẩn ấm áp trên chiếc giường đôi của mình.

Tôi đã đề nghị bà chủ đừng vội dập ngọn lửa lò sưởi trong phòng khách, cam đoan với bà ấy là tôi sẽ dập tắt nó trước khi đi nghỉ. Tôi khẽ khàng đóng cửa phòng, mắt vẫn nhìn thân hình cao lớn đang bành trướng trên giường kia, màu lụa đỏ của bộ áo ngủ xộc xệch nổi bật trên nền chiếc chăn bông xanh lam trải rộng.

“Một tác phẩm để đời không tồi,” tôi tự nhủ trong hành lang tối om. “Có lẽ không quá cô đọng súc tích, nhưng có căn cứ xác đáng.”

Phòng khách tối nhưng ấm cúng, lửa trong lò sưởi chỉ còn leo lét sáng dọc theo sống lưng của súc củi lớn nhất. Tôi kéo một chiếc ghế bành tới trước lò sưởi và gác chân lên thanh chắn lò. Tôi có thể nghe rõ tất cả những âm thanh nhỏ bé đời thường của cuộc sống hiện đại quanh mình; tiếng vo vo khe khẽ của tủ lạnh vẳng lên từ tầng trệt bên dưới, tiếng o o của hệ thống sưởi khiến cho cái lò sưởi này trở thành một thứ tiện nghi hơn là một thứ cần thiết hằng ngày; thi thoảng có tiếng xe ô tô phóng ngang qua bên ngoài.

Nhưng bên dưới mọi thứ này chính là sự yên tĩnh sâu lắng của đêm cao nguyên. Tôi ngồi tĩnh lặng, cảm nhận nó. Đã hai mươi năm trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi cảm nhận nó, nhưng thứ sức mạnh san bằng tất cả của đêm đen vẫn còn đó, nằm lọt thỏm giữa những ngọn núi này.

Tôi thò tay vào túi áo khoác ngủ, lôi ra tờ giấy gấp nếp kia - một bản sao của tờ danh sách tôi đã đưa cho Roger Wakefield. Xung quanh quá tối nên không thể đọc được dưới ánh lửa, nhưng tôi không cần phải nhìn những cái tên ấy. Tôi mở tờ giấy ra, đặt lên lớp áo lụa phủ trên đầu gối và ngồi nhìn đăm đăm vào những dòng chữ đánh máy không đọc được trong bóng tối. Tôi chầm chậm lướt ngón tay qua từng dòng, từng dòng, lẩm nhẩm đọc tên mỗi người đàn ông giống như đang cầu nguyện. Họ thuộc về cái đêm mùa xuân lạnh lẽo ấy, chứ không thuộc về tôi. Nhưng tôi vẫn cứ nhìn mãi vào ngọn lửa, để mặc cho bóng đêm ngoài kia lấp đầy những khoảng trống trong mình.

Và cùng với việc đọc lên những cái tên như thể đang triệu gọi họ về, tôi bắt đầu bước đi ngược đầu tiên, xuyên qua sự tối tăm trống vắng tới nơi họ đang đợi.

[1] Nguyên văn: a good ten years past his biblically allotted threescire and ten.

[2] Viết tắt của Oxford Committee for Famine Relief: Ủy ban Cứu đói Oxford.

[3] Những người ủng hộ James II - Vua của nước Anh, Scotland và Ireland từ năm 1685 đến 1688 - và hậu duệ của ông ta sau cách mạng năm 1688.

[4] Loại rượu có màu vàng hoặc nâu, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha.

[5] Nguyên văn là Loch Ness, từ “Loch” trong tiếng Scotland có nghĩa là “hồ”.

[6] Nguyên văn là Highland - cách gọi vùng cao nguyên Scotland.

[7] Nguyên văn: Bonnie Prince Charlie - biệt danh của Hoàng tử Charles Stuart, con trai Vua James III.

[8] Là cuốn sổ ghi lại việc khai sinh, khai tử và kết hôn ở các xứ đạo.

[9] Beltane là lễ hội tháng Năm của người Gaelic, thường được tổ chức vào ngày Ba mươi tháng Tư, nhưng đôi khi cũng làm cả vào ngày mùng Một tháng Năm, hoặc giữa ngày Xuân phân và Hạ chí. Beltane được nhắc đến sớm nhất trong văn học Ireland và liên quan tới những sự kiện quan trọng trong thần thoại Ireland. Nó đánh dấu thời điểm bắt đầu mùa hè và là lúc gia súc được lùa ra đồng cỏ.

[10] May Day là lễ hội tháng Năm, tổ chức vào ngày mùng Một tháng Năm. Đây là một lễ hội mùa xuân có từ cổ xưa ở Bắc bán cầu và thường là một dịp nghỉ lễ của cộng đồng. May Day trùng với ngày Quốc tế Lao động, và ở nhiều quốc gia, lễ hội được tổ chức muộn hơn, vào dịp này thường có các hoạt động khiêu vũ, ca hát và làm bánh.

[11] Tức Agnolo di Cosimo (1503-1572): họa sĩ nổi tiếng người Ý vào thế kỷ XVI, tác giả của những bức chân dung sống động như người thật.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.