Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8
Những bóng ma không yên nghỉ và những con cá sấu

❊ ❊ ❊

Giữa các cuộc vào cung yết kiến nhà vua và những yêu cầu hằng ngày của công việc kinh doanh của Jared, Jamie dường như đang tìm thấy cuộc sống trọn vẹn. Ngay sau bữa sáng mỗi ngày, anh biến mất cùng với Murtagh để kiểm tra các chuyến giao hàng mới vào kho, kiểm kê tồn kho, đi thăm bến tàu trên sông Seine và thực hiện các cuộc kinh lý ở những nơi mà nghe từ lời miêu tả của anh có vẻ là các quán rượu cực kỳ bại hoại, nhếch nhác.

“À, ít nhất thì anh còn có Murtagh đi cùng,” tôi bình luận, cảm thấy an ủi trước thực tế đó, “và hai người bọn anh không thể dính vào quá nhiều rắc rối vào giữa ban ngày ban mặt được.” Người đàn ông đồng tộc dẻo dai nhỏ con nhìn không mấy gây ấn tượng, quần áo của ông biến tấu từ cái mà những người vô công rồi nghề trên các bến tàu hay mặc, chỉ có điều là nó ngắn hơn một nửa so với chiếc váy len kẻ truyền thống của người Scot, nhưng tôi đã cưỡi ngựa qua một nửa xứ Scotland cùng với Murtagh để cứu Jamie khỏi nhà ngục Wentworth, và không một ai trên thế giới này khiến tôi tin cậy hơn là người đàn ông khỏe mạnh đó.

Sau bữa trưa, Jamie sẽ tiến hành một vòng đi thăm hỏi - xã giao và công việc, cả hai đều ngày càng nhiều hơn - và sau đó sẽ rút lui vào phòng làm việc của anh khoảng một tới hai giờ với những quyển sổ cái và sổ kế toán cho tới giờ ăn tối. Anh thực sự bận rộn.

Tôi thì không. Vài ngày va chạm lịch sự với bà Vionnet, đầu bếp trưởng, đã cho thấy rõ ai mới là người nắm quyền quản gia trong nhà, và người đó không phải là tôi. Bà ta đến phòng khách của tôi mỗi sáng để tư vấn cho tôi thực đơn trong ngày và đưa cho tôi xem danh sách các món chi tiêu được cho là cần thiết để cung cấp cho phòng bếp - hoa quả, rau dưa, bơ và sữa từ một nông trại ngay ngoài thành phố, giao hàng tươi vào mỗi buổi sáng, cá bắt từ sông Seine và được bán từ một chiếc xe ba gác đẩy đi trên phố, cùng với những con trai còn tươi mà những cái vỏ đen khép chặt của chúng mắc vào đống rong tảo héo rũ. Tôi nhìn lướt qua danh sách lấy lệ, phê chuẩn mọi thứ, tán dương bữa tối đêm hôm trước, và đại loại chỉ có thế. Ngoài việc thỉnh thoảng ghé qua để mở tủ đựng đồ vải lanh, hầm rượu, tầng hầm hoặc phòng chứa đồ ăn bằng một chiếc chìa trong chùm chìa khóa của tôi, thời gian còn lại sau đó hoàn toàn thuộc về tôi cho tới lúc đến giờ sửa soạn xuống ăn tối.

Đời sống xã giao mà Jared thiết lập vẫn tiếp tục như khi ông ta còn ở đây. Tôi vẫn chú ý các cuộc vui chơi giải trí trên diện rộng, nhưng chúng tôi cũng tổ chức những bữa tối nhỏ hằng đêm cho các quý tộc, hiệp sĩ, phu nhân, các Jacobite nghèo lưu vong, các thương nhân giàu có và vợ của họ.

Tuy nhiên, tôi thấy chuyện ăn uống và chuyện chuẩn bị để ăn uống thực sự vô cùng nhàm chán. Tôi sốt ruột chỉ ra điểm ấy nên cuối cùng Jamie gợi ý cho tôi đến sao chép số liệu nhập sổ cái cho anh.

“Làm việc đó còn tốt hơn là em tự giày vò bản thân mình,” anh nói, nhìn bộ móng tay bị gặm cắn của tôi với vẻ phê phán. “Ngoài ra, em viết chữ đẹp hơn mấy tay thư ký kho kia.”

Thế là tôi ở trong phòng làm việc, cắm cúi chăm chỉ trên mấy quyển sổ cái khổng lồ, khi ông Silas Hawkins đến vào cuối giờ chiều ngày hôm ấy với một đơn đặt hàng cho hai thùng tô nô rượu brandy Flemish. Ông Hawkins dáng người chắc và bệ vệ; là một người di cư giống như Jared, ông là người Anh chuyên xuất khẩu các loại brandy Pháp tới quê hương mình.

Tôi cho rằng một thương nhân trông giống như một người hoàn toàn kiêng rượu sẽ khó lòng mà bán rượu vang và rượu mạnh với số lượng lớn được. Nhưng ông Hawkins đã gặp may mắn trong lĩnh vực này, ông ta có đôi má lúc nào cũng hồng hào và nụ cười tươi vui của một người ưa rượu chè đình đám, mặc dù Jamie đã kể với tôi rằng người đàn ông này không bao giờ nếm rượu trong kho của ông ta, và trên thực tế là hiếm khi uống bất cứ thứ gì ngoại trừ bia mới lên men, mặc dù sự háu ăn của ông ta đã trở thành huyền thoại trong các quán rượu mà ông ta ghé thăm. Một biểu hiện của sự tính toán lanh lợi và tính cảnh giác ẩn đằng sau đôi mắt màu nâu sáng của ông ta, phía sau tính cách thân thiện mềm mại đó là khả năng bôi trơn các thương vụ.

“Những nhà cung cấp tốt nhất của tôi, tôi có thể tuyên bố như thế,” ông ta vừa nói vừa ký một đơn hàng lớn bằng một chữ ký bay bướm. “Luôn luôn đáng tin cậy, luôn luôn có chất lượng hàng đầu. Tôi sẽ nhớ người họ hàng đi vắng của ông rất nhiều đấy,” ông ta nói, cúi chào Jamie, “nhưng ông ấy đã làm rất tốt trong việc lựa chọn một người thay thế. Hãy tin tưởng một người Scot để giữ gìn việc kinh doanh trong gia đình.”

Đôi mắt nhỏ tinh anh nấn ná trên chiếc váy len truyền thống của Jamie, sắc đỏ của nhà Fraser sáng bật trên nền ván gỗ ốp tối màu của căn phòng khách.

“Vừa từ Scotland tới hả?” Ông Hawkins suồng sã hỏi, sờ soạng bên trong chiếc áo khoác của mình.

“Không, tôi đến Pháp được một thời gian rồi.” Jamie cười, chuyển hướng câu hỏi. Anh đón lấy cây bút lông từ ông Hawkins, nhưng thấy nó mòn quá liền ném sang một bên, rồi lôi ra một cây mới từ bó lông ngỗng cắm trong một cái cốc thủy tinh nhỏ ở bên cạnh bàn.

“A, từ cách ăn mặc, tôi nhận ra ông là người Scot ở vùng cao; tôi đã nghĩ có lẽ ông có thể cho tôi lời khuyên về quan điểm hiện nay đang phổ biến ở vùng đó. Người ta nghe nói nhiều lời đồn đại, ông biết đấy.” Ông Hawkins ngồi phịch xuống một chiếc ghế khi Jamie vẫy tay ra hiệu, khuôn mặt tròn xoe hồng hào của ông ta rõ ràng nhìn chăm chú vào cái hầu bao bằng da căng phồng mà ông ta rút ra từ túi áo.

“Về lời đồn đại, à, đó là tình trạng thường thấy của những sự vụ xảy ra ở Scotland, không phải sao?” Jamie nói, chăm chú gọt nhọn đầu bút lông mới. “Nhưng về quan điểm? Không, nếu ông muốn nói đến chính trị, tôi e là bản thân tôi rất ít để ý đến những thứ như thế.” Con dao nhíp phát ra một âm thanh sắc lẻm khi những vụn sừng bị cạo xuống khỏi thân bút.

Ông Hawkins lấy ra vài đồng bạc từ trong cái hầu bao, đặt chúng nằm ngay ngắn thành một cột gọn ghẽ giữa hai người.

“Ôi trời!” Ông ta nói, gần như lơ đãng. “Nếu vậy thì ông là người vùng cao đầu tiên mà tôi gặp không quan tâm tới chính trị đấy.”

Jamie hoàn thành việc đẽo gọt và dựng đầu cây bút lên, nheo nheo mắt để đánh giá góc độ của nó.

“Hửm?” Anh lơ đãng ậm ừ. “Nhất trí, ái chà, tôi có nhiều vấn đề khác cần quan tâm hơn; điều hành công việc kinh doanh chẳng hạn, chuyện này rất tốn thời gian, như chính ông cũng biết đấy.”

“Đúng thế thật.” Ông Hawkins đếm các đồng tiền trong cái cột của mình một lần nữa và bỏ đi một đồng, thay thế nó bằng hai đồng nhỏ hơn. “Tôi nghe nói Charles Stuart mới đến Paris,” ông ta nói. Khuôn mặt tròn như của người thích rượu không biểu hiện gì nhiều hơn ngoài một sự hứng thú nhè nhẹ, nhưng con mắt thì tinh tường nhìn vào những cái túi căng phồng.

“Ồ, phải,” Jamie lầm bầm đáp, ngữ điệu hờ hững bỏ lửng, không rõ vấn đề này được đương nhiên thừa nhận hay chỉ là một biểu cảm lịch sự lãnh đạm. Anh đã lấy đơn đặt hàng để trước mặt và đang ký từng trang một với sự cẩn thận quá mức, nắn nót các con chữ hơn là ký ngoáy chúng như thói quen thường thấy của anh. Là một người thuận tay trái bị buộc phải viết tay phải từ khi còn nhỏ, anh thường gặp khó khăn với các con chữ, nhưng hiếm khi lẫn lộn chúng.

“Vậy ông không cùng chia sẻ sự đồng cảm với người họ hàng của mình theo hướng đó nhỉ?” Hawkins ngồi lui ra sau một chút, vô thưởng vô phạt quan sát mái đầu cắm cúi của Jamie.

“Đó là điều ông quan tâm ư?” Jamie ngẩng đầu, găm vào ông Hawkins một cái nhìn chằm chằm màu xanh êm dịu. Người thương gia béo tốt nhìn đáp trả trong một lúc, rồi vẫy vẫy bàn tay chuối mắn trong không trung tỏ vẻ cho qua đi.

“Không hẳn thế,” ông ta nói một cách trơn tru. “Nhưng tôi khá quen thuộc với những bài thuyết giáo về Jacobite từ người họ hàng của ông - ông ấy không hề giữ bí mật gì về chuyện đó cả. Tôi chỉ thắc mắc là liệu có phải tất cả người Scot đều đồng lòng trong vấn đề liên quan đến việc đòi lại ngai vàng của nhà Stuart?”

“Nếu ông có mối liên hệ với những người Scot ở vùng cao,” Jamie lạnh nhạt nói, đưa lại một bản hợp đồng đặt hàng, “thì ông sẽ biết rằng rất hiếm khi tìm thấy được hai người trong số họ thống nhất ý kiến trong bất cứ chuyện gì xa hơn là chủ đề về màu sắc của bầu trời và thậm chí đó cũng vẫn là một vấn đề mang tính thảo luận mở hết thời này tới thời khác.”

Ông Hawkins cười ra tiếng, cái bụng phệ rung rung dưới lớp áo gi lê, và ông ta nhét tờ giấy được gấp nhỏ vào trong áo khoác. Nhìn thấy thế Jamie cũng không hào hứng để truy vấn chuyện này. Tôi bước vào đúng lúc đó cùng với lời mời hiếu khách gồm có rượu Madeira và bánh bích quy.

Ông Hawkins trông có vẻ như bị cám dỗ trong chốc lát, nhưng sau đó lại tiếc nuối lắc đầu, đẩy ghế ra sau để đứng dậy.

“Không, không, tôi cám ơn phu nhân, nhưng không được rồi. Chiếc Arabella cập bến vào thứ Ba này và tôi phải có mặt ở Calais để gặp cô nàng. Và có hằng hà sa số chuyện quỷ quái cần làm trước khi tôi đặt chân lên xe ngựa rời đi.” Ông ta nhăn nhó trước một tập đơn hàng lớn và các hóa đơn lôi ra từ trong túi áo, bỏ thêm hóa đơn của Jamie vào chồng đó, rồi nhồi chúng vào một chiếc cặp da du lịch lớn.

“Tuy thế,” ông ta nói, vẻ rạng rỡ hơn, “trên đường đi, tôi có thể làm vài việc; tôi sẽ ghé qua các nhà trọ và quán rượu trên hành trình từ đây đến Calais.”

“Nếu ông ghé vào tất cả các quán rượu nằm trên đường từ đây tới bờ biển thì tới tận tháng sau ông mới đến được Calais mất,” Jamie bình luận. Anh moi hầu bao của mình từ trong chiếc túi da đeo trước người và vun chồng bạc nhỏ cho vào đó.

“Quá đúng, thưa quý ông,” ông Hawkins cau mày vẻ rầu rĩ, nói. “Tôi cho là mình phải bỏ qua một, hai chỗ và sẽ ghé thăm trên đường tôi quay trở lại.”

“Chắc chắn ông có thể cử ai đó tới Calais để thay mặt mình, nếu thời giờ của ông quá cấp bách chứ?” Tôi gợi ý.

Ông ta đảo mắt đầy cảm khái, bĩu cái miệng nhỏ vui vẻ của mình, tạo thành một nét mặt gần với vẻ khổ sở nhất có thể trong cái giới hạn hình dạng vốn có mà nó cho phép.

“Ước gì tôi có thể làm thế bà ạ! Nhưng chuyến hàng mà Arabella chở đến này, hỡi ôi, tôi chẳng thể ủy thác cho nhân viên của văn phòng. Cô cháu gái Mary của tôi đang ở trên đó,” ông ta kẻ lể, “mặc dù chúng tôi nói tiếng Pháp, nhưng con bé mới mười lăm và nó chưa bao giờ xa nhà cả. Tôi sợ là mình chẳng dám để mặc con bé tự lần mò đến Paris một mình.”

“Tôi đồng ý với ông,” tôi lịch sự bày tỏ sự tán thành. Cái tên dường như khá quen thuộc, nhưng tôi không thể nghĩ ra vì sao thấy quen. Mary Hawkins. Đủ bình thường, không có gì nổi bật; tôi không thể kết nối nó với bất cứ điều gì cụ thể. Tôi vẫn còn đang nhẩm đi nhẩm lại cái tên đó khi Jamie đứng dậy tiễn ông Hawkins ra cửa.

“Tôi tin là chuyến đi của cháu gái ông sẽ hết sức vui vẻ và dễ chịu,” anh lịch sự nói. “Cô ấy tới để học hành ư? Hay tới thăm họ hàng?”

“Để kết hôn,” ông chú của cô ta nói với vẻ thỏa mãn. “Anh trai tôi đã may mắn trong việc bảo đảm được một mối hôn sự có lợi nhất cho con bé với một thành viên quý tộc Pháp.” Ông ta dường như dãn nở thêm ra trước niềm tự hào này những chiếc cúc áo phẳng bằng vàng kéo căng lớp vải của áo gi lê. “Anh trai tôi là một tòng nam tước, ông biết đấy.”

“Cô bé mười lăm ư?” Tôi nói, không mấy thoải mái. Tôi biết rằng việc kết hôn sớm không hiếm lạ gì, nhưng mười lăm tuổi ư? Ngay tôi đây, kết hôn khi mười chín và cưới lần nữa ở tuổi hai mươi bảy. Tôi đã biết thêm rất nhiều thứ khi ở tuổi hai mươi bảy.

“Vậy cháu gái ông đã quen biết vị hôn phu của cô ấy từ rất lâu rồi à?” Tôi thận trọng hỏi.

“Thực ra là chưa bao giờ gặp anh ta cả.” Ông Hawkins nghiêng người tới gần hơn, đặt một ngón tay bên môi và hạ giọng: “Con bé chưa biết gì về chuyện cưới xin này. Các cuộc thương lượng vẫn chưa hoàn tất, bà biết đấy.”

Tôi kinh hãi, mở miệng định nói một điều gì đó nhưng Jamie đã siết chặt khuỷu tay tôi cảnh cáo.

“Tốt quá, nếu quý ông đó là một nhà quý tộc, vậy có lẽ chúng tôi sẽ được gặp cháu gái ông trong cung điện,” anh gợi chuyện, đẩy tôi hướng về phía cửa giống như gí dao đe dọa. Ông Hawkins vô thức giật lùi di chuyển theo để tránh bị tôi giẫm vào chân và vẫn tiếp tục nói.

“Quả là thế, ông Broch Tuarach. Tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh nếu ông và phu nhân gặp gỡ cháu gái tôi. Tôi chắc chắn con bé sẽ tìm thấy sự an ủi to lớn từ mối giao tế với một phụ nữ đồng hương,” ông ta bổ sung, kèm theo một nụ cười nịnh nọt dành cho tôi. “Không phải tôi tranh thủ chỉ vì mối quan hệ kinh doanh thôi đâu, chắc chắn đấy.”

Cái quái gì mà ông không lợi dụng, tôi phẫn nộ nghĩ. Ông sẽ làm bất cứ điều gì có thể để nhét gia đình ông vào tầng lớp quý tộc Pháp, bao gồm cả việc gả cháu gái mình cho… cho…

“À, ai vị hôn phu của cháu gái ông thế?” Tôi hỏi thẳng thừng.

Mặt ông Hawkins chuyển sang vẻ láu cá, ông ta nghiêng người tới đủ gần để khàn khàn thì thầm vào tai tôi.

“Tôi thực sự không nên nói ra cho tới khi các hợp đồng được ký kết, nhưng vì là phu nhân đây… tôi có thể nói với bà rằng đó là một thành viên của nhà Gascogne. Và là một vị có địa vị rất cao, đúng thế!”

“Quả là thế,” tôi đáp.

Ông Hawkins vừa đi ra vừa chà hai bàn tay vào nhau trong trạng thái đề phòng vô thức và tôi quay ngay sang Jamie.

“Gascogne! Ý ông ta hẳn muốn nói… nhưng ông ta không thể làm thế, đúng không? Lão già cầm thú đáng ghê tởm với những vết thuốc hít dây bẩn trên cằm đã đến ăn tối vào tuần trước ư?”

“Tử tước Marigny ư?” Jamie nói, cười tủm tỉm trước lời mô tả của tôi. “Anh cũng cho là vậy; hắn góa vợ và là nam nhân độc thân duy nhất trong nhà đó, theo như anh biết. Dù thế, anh không nghĩ thứ đó là thuốc hít đâu; nó chỉ là dấu vết của bộ râu đang mọc ra mà thôi. Hơi lâu một tí,” anh nói thêm, “nhưng chắc chắn là việc cạo râu rất khủng khiếp, với tất cả đám mụn cóc đó.”

“Ông ta không thể gả một cô bé mười lăm tuổi cho… cho… thứ đó! Mà thậm chí còn không hỏi ý của cô bé nữa chứ!”

“Ồ, anh nghĩ là ông ta có thể đấy,” Jamie nói, với vẻ điềm tĩnh làm người ta điên tiết. “Dù sao thì, Sassenach ạ, đó cũng không phải việc của em.” Anh nắm chặt lấy cả hai cánh tay tôi và khẽ lắc.

“Em nghe anh nói chứ? Anh biết điều đó là rất kỳ lạ đối với em, nhưng đó không phải là vấn đề. Sau rốt” - một bên khóe miệng cong lên - “em cũng đã làm đám cưới trái với mong muốn của mình còn gì! Em đã tự điều chỉnh để thích nghi được còn gì!”

“Đôi khi em cũng thắc mắc đấy!” Tôi vùng vằng, cố giật hai cánh tay để thoát ra, nhưng anh chỉ kéo tôi lại, cười lớn và hôn tôi. Sau một lúc, tôi đành từ bỏ việc kháng cự. Tôi thả lỏng trong sự âu yếm của anh, chấp nhận đầu hàng, chỉ tạm thời thôi. Tôi sẽ gặp Mary Hawkins, và xem xem cô ấy nghĩ gì về cuộc hôn nhân sắp đặt này. Nếu cô ấy không muốn thấy tên mình trên bản hợp đồng hôn nhân có liên hệ với Tử tước Marigny thì... Đột nhiên tôi cứng đờ, đẩy người ra khỏi vòng ôm ấp của Jamie.

“Gì thế?” Anh có vẻ khẩn trương. “Em ốm à, cô bé? Trông em trắng bệch ra ý!”

Tôi chẳng thèm quan tâm liệu tôi có trắng bệch thật không, vì tôi đột nhiên nhớ ra mình đã nhìn thấy cái tên Mary Hawkins ở đâu. Jamie đã sai. Đây là chuyện của tôi. Vì tôi đã nhìn thấy cái tên đó nằm ngay trên đầu một bảng phả hệ viết tay để khắc đồng đem in, nét mực cũ và đã mờ đi theo thời gian thành màu mực nâu. Mary Hawkins không phải là vợ của lão Tử tước Marigny già yếu. Cô ta sẽ kết hôn với Jonathan Randall vào cái năm lịch sử 1745.

“Cô ta không thể nào lấy hắn, phải vậy không?” Jamie nói, “Jack Randall đã chết rồi.” Anh rót một cốc brandy và đưa nó cho tôi. Bàn tay anh vững vàng cầm chiếc bình cổ cao bằng pha lê, nhưng môi mím chặt và giọng nói đọc nuốt không rõ từ “chết”, khiến cho lời cuối cùng hằn học dữ dội.

“Đặt chân lên trên đi, Sassenach,” anh nói. “Em vẫn còn xanh lắm! Làm theo đề nghị của anh, tôi ngoan ngoãn nhấc hai chân lên và duỗi dài trên xô pha. Jamie ngồi xuống cạnh đầu tôi và lơ đãng đặt một bàn tay lên vai tôi. Những ngón tay của anh ấm áp và mạnh mẽ, dịu dàng xoa bóp hõm xương quai xanh.

“Marcus MacRannoch đã bảo với anh là ông ta nhìn thấy Randall bị đàn gia súc giẫm đạp cho tới chết ở trong hầm ngục Wentworth,” anh lại nói, mặc dù như để kiếm tìm điều gì đó để trấn an bản thân mình một lần nữa. “Một “con búp bê rách nát, cuộn tròn trong vũng máu”. Đó là điều Ngài Marcus nói. Ông ta rất chắc chắn về điều đó.”

“Vâng.” Tôi nhấm nháp cốc brandy của mình, cảm nhận hơi ấm quay trở lại trên hai gò má. “Ông ta cũng nói với em như thế. Anh nói đúng, Đại úy Randall đã chết rồi. Chỉ là do em bất chợt nhớ ra Mary Hawkins thôi. Bởi vì Frank.” Tôi liếc xuống bàn tay trái của mình, đang đặt nằm trên bụng. Một ngọn lửa nhỏ cháy trong lò sưởi, ánh sáng của nó lấp lánh trên bề mặt trơn nhẵn của chiếc nhẫn cưới bằng vàng trong cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi. Chiếc nhẫn của Jamie, làm từ bạc Scotland, vòng quanh ngón thứ tư trên bàn tay còn lại.

“A!” Bàn tay đang mơn trớn của Jamie dừng khựng lại trên vai tôi. Anh cúi đầu, nhưng liếc lên bắt gặp ánh mắt tôi. Chúng tôi đã không nói về Frank kể từ khi tôi cứu Jamie ra khỏi Wentworth, cũng không nhắc đến cái chết của Jonathan Randall. Vào thời điểm đó, nó dường như không mấy quan trọng, ngoại trừ nó có ý nghĩa rằng không còn nguy hiểm nào uy hiếp chúng tôi từ phía hắn nữa. Và vì thế tôi không sẵn lòng gợi lại bất cứ hồi ức nào về Wentworth với Jamie.

“Em biết anh ta đã chết rồi mà, phải không, mo duinne[1]?” Jamie khe khẽ nói, các ngón tay anh nắm lấy eo tôi, và tôi biết anh nói về Frank, chứ không phải Jonathan.

“Có thể là không,” tôi nói, mắt vẫn không rời chiếc nhẫn. Tôi nâng bàn tay lên, khiến cho ánh kim loại lấp lánh trong ánh sáng ảm đạm của buổi chiều. “Nếu anh ấy chết, Jamie - nếu anh ấy không tồn tại, bởi vì Jonathan đã chết - thì tại sao em vẫn còn có chiếc nhẫn anh ấy trao cho em?”

Anh nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn và tôi thấy khóe miệng anh giật giật. Gương mặt anh cũng tái nhợt đi. Tôi không biết liệu nghĩ đến Jonathan Randall vào lúc này sẽ có hại cho anh hay không, nhưng có quá ít sự lựa chọn.

“Em chắc chắn rằng Randall không có đứa con nào trước khi hắn chết ư?” Anh hỏi. “Đó có thể là đáp án.”

“Có thể lắm,” tôi nói, “nhưng em không chắc chắn. Frank” - giọng tôi run run khi nhắc tới cái tên này, và nắm tay của Jamie trên eo tôi siết chặt hơn - “Frank đặt ra những tình huống khá là bi kịch cho cái chết của Jonathan Randall. Anh ấy nói rằng hắn - Jack Randall - chết tại chiến trường Culloden, trong trận chiến cuối cùng của cuộc nổi dậy, và con trai của hắn - sẽ là cụ cố năm đời của Frank - được sinh ra vài tháng sau khi cha chết. Vài năm sau đó, người vợ góa của hắn tái giá. Ngay cả khi nếu hắn có một đứa con ngoài giá thú thì đó cũng sẽ không phải là tổ tiên trực hệ của Frank.”

Trán Jamie nhăn lại, một đường thẳng đứng mảnh mai chạy giữa hai hàng lông mày của anh. “Có thể nhầm lẫn chăng, đứa trẻ đó rốt cuộc không phải con của Randall thì sao? Frank có thể chỉ mang dòng máu của Mary Hawkins thôi - vì chúng ta biết là cô ta vẫn sống.”

Tôi lắc đầu bất lực.

“Em không thấy có khả năng đó. Nếu anh biết Frank - nhưng không, em đã định là sẽ không bao giờ nói cho anh biết. Khi lần đầu tiên em gặp Jonathan Randall, thoạt tiên em đã nghĩ hắn ta Frank - họ không giống y hệt, dĩ nhiên là thế, nhưng những nét tương tự thì… rất đáng kinh ngạc. Không, Jack Randall là tổ tiên của Frank, chính xác.”

“Anh hiểu.” Các ngón tay của Jamie đã trở nên ẩm ướt; anh rút tay về và lơ đãng lau chúng lên váy len.

“Vậy thì… có lẽ chiếc nhẫn này không có ý nghĩa gì, mo duinne,” anh dịu dàng gợi ý.

“Có lẽ không.” Tôi chạm vào chất kim loại ấm áp trên da thịt mình, rồi buông thõng bàn tay xuống. “Ôi, Jamie, em không biết nữa! Em không biết gì hết!”

Anh mệt mỏi chà khớp ngón tay lên nếp nhăn nằm giữa hai mắt mình. “Anh cũng vậy, Sassenach.” Anh hạ tay xuống và cố mỉm cười với tôi.

“Có điều,” anh nói. “Em đã nói rằng Frank kể cho em là Jonathan Randall sẽ chết ở Culloden à?”

“Vâng. Trên thực tế chính em đã nói cho Jack Randall điều đó, để dọa hắn - ở Wentworth, khi hắn đẩy em ra ngoài trời tuyết, trước khi… trước khi quay trở lại với anh.” Hai mắt và miệng anh bất chợt giần giật, nhắm chặt lại, tôi vùng dậy, hoảng sợ.

“Jamie! Anh ổn cả chứ?” Tôi cố đặt một bàn tay lên đầu anh, nhưng anh lánh người tránh khỏi sự đụng chạm của tôi, đứng dậy và đi ra cửa sổ.

“Không. Phải. Ổn cả, Sassenach. Anh đã viết thư suốt cả buổi sáng và đầu anh như muốn vỡ ra. Đừng lo lắng!” Anh xua tôi đi, tì trán lên ô kính lạnh của cửa sổ, hai mắt nhắm chặt. Anh tiếp tục nói, như để đánh lạc hướng bản thân thôi không nghĩ đến nỗi đau kia.

“Vậy, nếu em - và Frank - biết rằng Jack Randall sẽ chết ở Culloden, nhưng chúng ta biết hắn sẽ không… thì việc đó có thể xong rồi, Claire.”

“Cái gì có thể xong cơ?” Tôi hoang mang đi loanh quanh, muốn giúp nhưng chẳng biết làm gì. Rõ ràng anh không muốn bị chạm vào.

“Những gì em biết là sẽ xảy ra có thể thay đổi được.” Anh nhấc đầu lên khỏi ô cửa sổ và mỉm cười với tôi một cách mệt mỏi. Mặt vẫn trắng bệch, nhưng trạng thái ngây dại của cơn co giật ngắn ngủi đã biến mất. “Jack Randall đã chết trước thời điểm hắn đáng lẽ sẽ chết và Mary Hawkins sẽ cưới người khác. Ngay cả nếu điều đó có nghĩa là Frank của em sẽ không được sinh ra - hoặc có thể sẽ được sinh ra theo một cách khác,” anh nói thêm, để an ủi, “điều đó cũng có nghĩa là chúng ta có cơ hội thành công với những gì chúng ta định làm. Có lẽ Jack Randall không chết ở chiến trường Culloden, bởi vì trận chiến đó sẽ không bao giờ xảy ra.”

Tôi có thể thấy anh nỗ lực khiến bản thân mình di chuyển để tiến đến chỗ tôi và vòng hai cánh tay quanh người tôi. Tôi ôm lấy eo anh, nhẹ nhàng, không nhúc nhích. Anh cúi đầu, tì trán lên mái tóc tôi.

“Anh biết điều đó hẳn phải khiến em đau khổ, mo duinne. Nhưng nếu biết chuyện đó có thể có kết quả tốt đẹp thì có làm em thấy dễ chịu hơn không?”

“Có,” cuối cùng, tôi thì thầm đáp lời, úp mặt vào những nếp áo sơ mi của anh. Tôi nhẹ nhàng rời khỏi vòng tay anh và đặt tay lên má anh. Nếp nhăn giữa hai hàng lông mày của anh càng sâu hơn, ánh mắt anh hơi rã rời, nhưng anh cười với tôi.

“Jamie,” tôi nói, “đi nằm đi! Em sẽ gửi lời nhắn cho nhà d’Arbanville để báo rằng chúng ta không thể đến tối nay.”

“Ồ, không,” anh phản đối. “Anh sẽ khỏe mà. Anh biết kiểu đau đầu này, Sassenach; nó chỉ là vì chuyện viết lách thôi và một giờ nằm ngủ sẽ chữa được nó ngay. Anh sẽ đi lên lầu ngay bây giờ.” Anh quay người đi ra cửa, sau đó lưỡng lự và quay trở lại, cười nửa miệng.

“Và nếu anh cần được đánh thức dậy khỏi giấc ngủ của mình thì Sassenach, em hãy đặt tay lên người anh và nói với anh rằng: “Jack Randall chết rồi.” Điều đó sẽ rất hiệu quả đối với anh.”

•••

Cả đồ ăn và những người bầu bạn ở nhà d’Arbanville đều tuyệt cả. Chúng tôi về nhà muộn, và tôi ngủ ngay khi đầu vừa chạm gối. Tôi ngủ không mộng mị nhưng đột nhiên tỉnh dậy giữa đêm khuya và nhận ra có điều gì đó không ổn.

Đêm lạnh buốt, chiếc chăn bông đã trượt xuống sàn nhà như thể đó là thói quen vụng trộm của nó, chỉ để lại một chiếc chăn len mỏng phủ trên người tôi. Tôi cuộn tròn, nửa tỉnh nửa ngủ, vươn tay tìm kiếm hơi ấm của Jamie. Anh đã đi đâu mất.

Tôi ngồi dậy, tìm kiếm anh và gần như ngay lập tức trông thấy anh đang ngồi trên bệ cửa sổ, đầu gục vào hai bàn tay.

“Jamie! Chuyện gì thế? Anh lại bị đau đầu nữa à?” Tôi dò dẫm tìm một cây nến, định lục lọi trong chiếc hòm đựng thuốc của tôi, nhưng có điều gì đó trong dáng ngồi của anh khiến tôi từ bỏ ý định này và đi thẳng tới chỗ anh luôn.

Anh đang thở nặng nhọc như thể vừa chạy bộ về và người cũng lạnh ngắt, toàn thân ướt sũng mồ hôi. Tôi chạm vào vai anh, thấy nó cứng ngắc và lạnh như một bức tượng kim loại.

Anh giật phắt ra khỏi sự đụng chạm của tôi và đứng bật dậy như lò xo, hai mắt mở trừng trừng, đen sẫm trong căn phòng đầy ắp bóng tối.

“Em không định làm anh giật mình,” tôi nói. “Anh vẫn ổn chứ?”

Tôi thoáng tự hỏi liệu có phải anh đang bị mộng du không, vì nét mặt anh không hề biến đổi; anh cứ nhìn thẳng về phía trước như xuyên qua người tôi, và cho dù anh nhìn thấy gì thì đó cũng là điều anh không thích.

“Jamie!” Tôi gọi giật. “Jamie, tỉnh dậy đi!”

Thế rồi anh chớp mắt và nhìn tôi, mặc dù vậy nét mặt của anh vẫn hằn sâu những nếp tuyệt vọng của một con thú bị săn đuổi.

“Anh ổn cả,” anh nói. “Anh tỉnh rồi.” Anh nói như thể muốn thuyết phục chính bản thân mình về hiện thực này.

“Chuyện gì thế? Anh mơ thấy ác mộng ư?”

“Một giấc mơ. Phải. Nó là một giấc mơ.”

Tôi bước tới trước, đặt tay lên cánh tay anh.

“Kể cho em nghe đi! Nó sẽ trôi qua nếu anh kể cho em về nó.”

Anh tóm chặt lấy cẳng tay tôi, như muốn giữ tôi cứ chạm vào anh như thế để làm chỗ dựa cho anh. Mặt trăng tròn đầy, tôi có thể thấy mọi cơ bắp trên người anh đều căng cứng, bất động như một tảng đá, nhưng mạch đập với sức sống điên cuồng sẵn sàng nổ tung bất cứ lúc nào.

“Không,” anh nói, nghe vẫn có vẻ bàng hoàng mụ mẫm.

“Có,” tôi nói. “Jamie, nói chuyện với em đi! Kể với em đi! Kể cho em biết anh trông thấy gì.”

“Anh không thể… thấy bất cứ thứ gì. Không gì cả. Anh không thể nhìn thấy.”

Tôi xoay người anh từ trong bóng tối của căn phòng hướng ra đối diện với ánh trăng sáng ngoài cửa sổ. Ánh sáng ấy dường như mang lại hiệu quả, vì hơi thở của anh chậm lại, và trong sự ngập ngừng, đau đớn, lời lẽ bật ra.

Anh mơ thấy những phiến đá của ngục Wentworth. Và theo lời anh nói, hình dáng của Jonathan Randall bước vào phòng, trần truồng nằm trên giường của tôi, phía trên chiếc chăn len.

Tiếng thở dốc vang lên sát ngay phía sau anh, cảm giác về một làn da ướt rượt mồ hôi áp vào da thịt anh. Anh nghiến răng kèn kẹt trong cơn đau đớn tột cùng của tuyệt vọng. Gã đàn ông phía sau anh cảm thấy cử động nhỏ ấy và cười váng lên.

“Ồ, chúng ta còn có vài lần nữa trước khi bọn họ treo cổ mày lên, cậu nhỏ của ta,” hắn thì thầm. “Rất nhiều lần để tận hưởng nó.” Randall đột ngột chuyển động, mạnh và bất ngờ, rồi hắn bật ra một âm thanh nhỏ trong vô thức.

Bàn tay Randall vuốt ngược mái tóc từ trán anh ra phía sau và mơn trớn quanh tai anh. Hơi thở nóng hổi gần sát bên tai anh và anh cố quay đầu lại để thoát ra, nhưng nó vẫn bám theo, những lời lẽ xen lẫn trong hơi thở ấy.

“Mày đã bao giờ trông thấy một người bị treo cổ chưa, Fraser?” Lời nói ấy tiếp tục, không đợi anh đáp lời, một bàn tay thon dài trượt xuống vòng quanh eo lưng của anh, nhẹ nhàng vuốt ve đường dốc dưới bụng anh, lần xuống trêu chọc thấp hơn nữa theo từng lời hắn nói.

“Phải, dĩ nhiên mày đã thấy rồi; mày đã ở Pháp, thi thoảng mày sẽ thấy những kẻ đào ngũ bị treo cổ. Một kẻ bị treo cổ sẽ tháo hết cứt đái ra, đúng không? Khi sợi dây thừng nhanh chóng siết chặt quanh cổ hắn.” Bàn tay đang kẹp chặt lấy anh, nhẹ nhàng, chắc chắn, chà xát, vuốt ve. Anh siết chặt tay bám lấy mép giường và quay mặt thật mạnh, vùi vào chiếc chăn xơ rặm, nhưng những lời lẽ đó vẫn bám đuổi anh.

“Đó là điều sẽ xảy đến với mày, Fraser. Chỉ vài giờ nữa thôi, mày sẽ được cảm nhận cái thòng lọng.” Giọng nói đó phá lên cười tự mãn. “Mày sẽ đi tới chỗ Thần Chết với cái hậu môn toang hoác từ khoái lạc của ta, và khi mày tháo những thứ bẩn thỉu trong bụng mày ra, tinh dịch của ta sẽ chảy xuống giữa hai chân mày và nhỏ giọt trên nền đất bên dưới giá treo cổ.”

Anh không thốt ra tiếng được. Anh có thể ngửi thấy mùi của chính mình, trơ cứng trước những lời lẽ tục tĩu từ kẻ cầm tù mình, cay gắt cùng với mồ hôi của sợ hãi và giận dữ. Còn người đàn ông phía sau anh, có mùi hôi thối của động vật xuyên qua hương thơm tinh tế của dầu thơm mùi hoa oải hương.

“Cái chăn,” anh nói. Mắt anh nhắm lại, gương mặt căng thẳng dưới ánh trăng. “Nó thô ráp dưới mặt anh và tất cả những gì anh có thể nhìn thấy là những phiến đá trên bức tường trước mặt mình. Không có gì ở đó để lưu lại trong tâm trí anh… anh không nhìn thấy gì. Vậy nên anh giữ cho mắt mình nhắm chặt và nghĩ về cái chăn dưới má mình. Đó là tất cả những gì anh có thể cảm nhận được bên cạnh sự đau đớn… và hắn. Anh… nắm lấy nó.”

“Jamie! Để em ôm anh.” Tôi lặng lẽ nói, cố gắng trấn tĩnh sự điên cuồng mà tôi cảm thấy đang chạy xuyên suốt trong huyết mạch của anh. Anh ghì chặt hai cánh tay tôi, đủ để làm chúng tê liệt. Nhưng anh sẽ không để tôi đến gần hơn; anh giữ tôi cách xa ngang với việc anh giữ chặt lấy tôi.

Đột nhiên anh thả tôi ra, tránh ra xa và quay về phía cửa sổ ngập tràn ánh trăng. Anh đứng căng thẳng và run lẩy bẩy như một sợi dây cung vừa bắn mũi tên đi, nhưng giọng nói của anh lại bình tĩnh.

“Không. Anh sẽ không sử dụng em theo cách ấy. Em không phải là một phần của chuyện đó.”

Tôi bước một bước về phía anh, nhưng anh ngăn tôi lại bằng một cử động rất nhanh. Anh quay mặt lại, hướng về phía cửa sổ, lúc này đã bình tĩnh, trống rỗng y như tấm kính anh đang nhìn xuyên qua.

“Quay về giường đi! Hãy để anh một mình; hiện giờ anh đã đủ khỏe rồi. Bây giờ không có gì làm em lo lắng cả.”

Anh dang rộng hai cánh tay, bám lấy khung cửa sổ, che khuất đi ánh sáng ngoài kia bằng thân hình của anh. Hai bờ vai anh gồng lên, và tôi có thể thấy rằng anh đang đẩy vào khung gỗ đó bằng tất cả sức lực của mình.

“Chỉ là một giấc mơ mà thôi. Jack Randall chết rồi.”

•••

Mất một lúc lâu tôi mới ngủ thiếp đi, Jamie vẫn đứng bên cửa sổ, nhìn chằm chằm ra ngoài, đối diện với mặt trăng. Khi tôi thức dậy vào lúc bình minh, anh đã ngủ, nhưng lại cuộn người trên bệ cửa sổ, quấn mình trong chiếc áo choàng len của anh, chiếc áo choàng ngắn tay của tôi đắp trên chân anh để giữ ấm.

Anh tỉnh dậy khi bị tôi đánh động và dường như bản tính vui vẻ vào buổi sáng thường thấy của anh cũng trở lại. Nhưng tôi không thể quên những gì đã xảy ra trong đêm, nên sau bữa sáng bèn đi tới chỗ hòm đựng thuốc của mình.

Thật bực mình, tôi còn thiếu vài vị thảo dược cần cho loại thuốc ngủ mà tôi đã hình dung trong đầu. Nhưng rồi tôi nhớ ra người đàn ông mà Marguerite đã kể cho tôi. Raymond, người bán thảo dược, trên đường Varennes. Một pháp sư, cô ta đã nói như thế. Một nơi đáng để đến xem. Jamie sẽ đến nhà kho suốt buổi sáng. Tôi có một cỗ xe ngựa và một người hầu để tùy ý sử dụng; tôi sẽ đi đến đó xem sao.

Một quầy hàng bằng gỗ sạch sẽ chạy dọc theo hai bên chiều dài cửa hiệu, với những giá hàng cao gấp đôi chiều cao của một người trải dài từ sàn cho tới trần nhà phía sau nó. Một vài giá hàng bị đóng kín bằng cửa kính gấp, tôi cho là để bảo vệ những món quý hiếm và đắt tiền. Mấy thần tình yêu mạ vàng béo tốt nằm ườn ra chỏng chơ phía trên giá tủ, thổi tù và, vẫy những nếp vải gấp trên quần áo, nhìn tổng quan như thể bọn họ đã hít phải một loại rượu cồn nào đó của cửa hàng.

“Ông Raymond?” Tôi lịch sự hỏi một phụ nữ trẻ đứng sau quầy bán hàng.

“Maître Raymond,” cô ta sửa lại. Cô ta chùi cái mũi đỏ của mình vào ống tay áo một cách thiếu tế nhị và ra hiệu về phía cuối cửa hàng, nơi những đám mây khói màu nâu hung hiểm đang lững lờ tỏa ra trên thanh ngang của một cánh cửa lửng[2].

Dù có là pháp sư hay không, Raymond cũng có quyền lắp đặt thứ đó. Khói bay lên từ một cái bếp lò bằng đá phiến đen để rồi cuộn vòng lại bên dưới những thanh rầm thấp màu đen của mái nhà. Phía trên ngọn lửa là một cái bàn đá có nhiều lỗ để giữ những chiếc nồi chưng cất bằng thủy tinh, “những con bồ nông” bằng đồng - những chiếc can kim loại với vòi dài từ đó thứ vật chất quái gở kia nhỏ giọt vào những cái cốc - và thứ nhìn bề ngoài thì nhỏ nhưng vẫn là một món đồ chưng cất tiện lợi. Tôi thận trọng khịt mũi. Giữa các mùi hương nồng đậm khác trong cửa hàng, một mùi cồn bốc lên khiến người ta dễ say, rõ ràng bay đến từ phía bếp lửa kia. Một hàng chai lọ sạch xếp ngay hàng thẳng lối dọc theo chiếc bàn kê sát tường càng tăng thêm những nghi ngờ ban đầu của tôi. Bất kể những thứ ông ta bán trong đó là bùa mê hay thuốc độc, ông chủ Raymond này hiển nhiên đang kinh doanh món rượu brandy anh đào chất lượng cao.

Người chưng cất rượu đang lom khom bên bếp lửa, gạt những mẩu than củi tán loạn trở vào trong vỉ lò. Nghe tiếng tôi đi tới, ông ta đứng thẳng người lên và quay ra chào đón với một nụ cười vui vẻ.

“Xin chào!” Tôi lịch sự lên tiếng với cái đỉnh đầu của ông ta. Quá ấn tượng khi bước vào một sào huyệt lụp xụp làm người ta mê mẩn nên tôi không hề ngạc nhiên khi nghe thấy một con ếch ộp đáp lời lại.

Bởi vì ông Raymond có bộ dạng chẳng khác gì một con ếch lớn thông thái. Chiều cao chừng một mét hai, lồng ngực tròn như cái trống và cặp chân vòng kiềng, ông ta có làn da dày, dính nhớp của người sống ở vùng đầm lầy và đôi mắt đen thân thiện, hơi lồi. Ngoài một thực tế nhỏ là ông ta không có màu xanh lá cây, tất cả những gì ông ta thiếu là những nốt mụn cóc.

“Madonna[3]!” Ông ta cất lời, cười cởi mở. “Tôi có thể có vinh hạnh giúp gì cho cô?” Ông ta hoàn toàn không có răng, càng làm nổi bật hơn nét mặt giống như ếch và tôi cứ thế chằm chằm nhìn ông ta.

“Madonna?” Ông ta nói, ngước lên săm soi tôi vẻ dò hỏi.

Đột ngột bị cắt ngang và nhận ra mình đang thô lỗ nhìn chằm chằm vào người khác, tôi đỏ mặt, nói mà không kịp nghĩ ngợi gì: “Tôi chỉ đang băn khoăn liệu ông đã bao giờ được một cô gái trẻ đẹp hôn chưa.”

Mặt tôi càng đỏ bừng hơn khi ông ta cười phá lên. Với một nụ cười rộng ngoác tới tận mang tai, ông ta nói: “Nhiều lần lắm, madonna ạ! Nhưng hỡi ôi, nó cũng chẳng giúp được gì. Như cô thấy đấy. Ộp ộp.”

Chúng tôi cùng cười rũ rượi, thu hút sự chú ý của một cô bán hàng khiến cô ta căng thẳng ló đầu lên nhìn từ sau một cánh cửa lửng. Ông Raymond vẫy tay ra hiệu cho cô ta không cần để ý, rồi tập tễnh đi tới cửa sổ, vừa ho vừa siết chặt hai bên mạn sườn, để mở những ô cửa sổ bọc chì cho một ít khói thoát ra.

“Ồ, thế tốt hơn rồi!” Ông ta nói, hít vào một hơi thật sâu khi làn không khí mùa xuân lạnh lẽo tràn vào. Ông ta quay sang tôi, vuốt ngược mái tóc bạc dài chấm vai. “Giờ thì, madonna, vì chúng ta là bạn bè, có lẽ cô sẽ đợi chốc lát trong khi tôi chú tâm vào thứ gì đó chứ?”

Mặt mũi vẫn đỏ hồng, tôi đồng ý ngay lập tức, và ông ta quay sang cái giá đang đốt trên bếp, tiếp tục cười nấc lên trong khi làm đầy lại cái khoang đựng của chiếc máy chưng cất rượu. Tranh thủ cơ hội đó để lấy lại bình tĩnh, tôi thơ thẩn dạo quanh căn phòng làm việc, nhìn thấy một bố cục lộn xộn đáng kinh ngạc.

Một con cá sấu có kích cỡ khá lớn, đoán chừng là được nhồi tiêu bản, treo lủng lẳng từ trên trần nhà xuống. Tôi ngửa đầu nhìn chằm chằm vào lớp da bụng màu vàng, cứng và sang bóng như được đánh xi.

“Cái đó là thật à?” Tôi hỏi, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn bằng gỗ sồi sứt sẹo.

Ông chủ Raymond liếc lên nhìn, mỉm cười.

“Con cá sấu của tôi hả? Ồ, chắc chắn rồi, madonna. Để cho khách hàng thêm tin tưởng.” Ông ta hất đầu về phía cái giá chạy dọc theo bức tường ngay phía trên tầm mắt. Nó có một hàng lọ sứ trắng, mỗi lọ được trang trí bằng những vòng xoắn mạ vàng, vẽ những bông hoa và con thú, một cái nhãn viết bằng thứ mực đen cẩn thận, tỉ mỉ. Ba trong số những lọ ở gần tôi nhất có nhãn viết bằng tiếng Latin, tôi khó khăn dịch ra được là máu cá sấu, gan và mật của chính con vật đó, có lẽ chính là con đang bị treo lủng lẳng hung ác trên đầu đây, trong không khí khô nóng của cửa hiệu.

Tôi cầm lên một cái lọ, bỏ nắp và cẩn thận hít ngửi.

“Mù tạt,” tôi nói, chun mũi lại, “và húng tây. Trong dầu óc chó, tôi nghĩ thế, nhưng ông dùng cái gì làm cho nó có mùi gắt vậy?” Tôi nghiêng cái lọ, xem xét bình phẩm về thứ chất lỏng màu đen đặc quánh bên trong.

“À, như vậy là mũi của cô không chỉ đơn thuần là để trang trí, madonna!” Một nụ cười rộng ngoác nở toác ra trên khuôn mặt như con ếch, để lộ hai hàng lợi thâm tím, cứng rắn.

“Cái thứ màu đen là ruột bí thôi,” ông ta nói, nghiêng người tới gần hơn và hạ giọng. “Về phần cái mùi đó… thì thật ra đó là máu.”

“Không phải là máu cá sấu,” tôi nói, liếc nhanh lên phía trên.

“Một con người trẻ trung mà lại đa nghi quá đỗi,” Raymond than thở. “Thật may mắn là các quý bà, quý ông trong triều có bản tính cả tin hơn, không phải sự tin tưởng chính là cảm xúc nảy ra nhất thời trong đầu khi người ta nghĩ tới một nhà quý tộc sao? Không, thực tế nó là máu lợn, madonna ạ! Lợn có sẵn hơn là cá sấu.”

“Hừm, đúng thế,” tôi tán đồng. “Cái đó chắc phải tiêu tốn của ông kha khá penny.”

“May là tôi được thừa hưởng nó, cùng với rất nhiều thứ hiện có trong kho của tôi, từ người chủ trước đây.” Tôi nghĩ mình đã trông thấy một thoáng căng thẳng tận sâu trong đôi mắt đen dịu dàng kia, nhưng tôi đã trở nên quá nhạy cảm với các sắc thái biểu cảm, vì phải quan sát các gương mặt trong những bữa tiệc để tìm thấy những manh mối nhỏ bé có thể giúp ích cho Jamie trong việc vận động lôi kéo của anh.

Người chủ sở hữu to bè, thấp lùn vẫn nghiêng người sát gần, tin cẩn đặt một bàn tay lên tay tôi.

“Cô là chuyên gia hả?” Ông ta hỏi. “Phải nói rằng nhìn cô không giống như vậy.”

Thôi thúc đầu tiên của tôi là muốn giật tay mình ra, nhưng sự tiếp xúc của ông ta lại dễ chịu một cách kỳ lạ; khá là không liên quan, nhưng nó cho tôi cảm giác ấm áp và dịu dàng đến kinh ngạc. Tôi liếc nhìn cái mép mờ sương của những ô cửa kính bọc chì, thầm nghĩ hẳn chính là nó; hai bàn tay không đeo găng của ông ta thật ấm áp, một điều cực kỳ khác thường đối với bàn tay của bất cứ người nào vào thời điểm này trong năm.

“Cái đó còn tùy thuộc vào ý nghĩa của từ “chuyên gia” mà ông vừa nói đến,” tôi nghiêm túc nói. “Tôi là một thầy thuốc.”

“A, một thầy thuốc?” Ông ta ngả người ra sau trên chiếc ghế đang ngồi, nhìn bao quát cả người tôi với vẻ hứng thú. “Phải, tôi cũng nghĩ vậy. Còn gì nữa không? Không bói toán, không thuốc kích tình chứ?”

Tôi cảm thấy lương tâm nhức nhối, nhớ lại những ngày đi trên đường cùng với Murtagh, khi chúng tôi phải tìm kiếm Jamie xuyên qua cả vùng cao nguyên Scotland, hành nghề bói toán và hát rong kiếm bữa tối giống như một cặp vợ chồng du mục.

“Không có gì giống thế cả,” tôi nói, chỉ hơi đỏ mặt.

“Dù sao đi nữa thì cũng không phải là một chuyên gia nói dối,” ông ta nói, mắt nhìn tôi vẻ vui thích. “Khá là đáng tiếc. Tuy nhiên, tôi có thể có vinh dự phục vụ cô như thế nào đây, madonna?”

Tôi giải thích những thứ mình cần và ông ta gật đầu trong lúc lắng nghe, mái tóc muối tiêu dày dặn đung đưa trên hai bờ vai. Ông ta không đội tóc giả trong phòng làm việc, cũng không rắc phấn lên tóc. Nó được chải ngược ra sau từ vầng trán cao rộng và buông thẳng xuống như một que củi, vừa đúng chấm vai, như thể được cắt bằng một cái kéo cùn.

Ông ta dễ nói chuyện, rất am tường về các cách sử dụng thảo dược và các loài thực vật. Ông ta lấy xuống một cái lọ nhỏ ở chỗ này, chỗ kia, lắc ra một ít lá trong lòng bàn tay để tôi ngửi và nếm thử.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị cắt ngang bởi âm thanh ồn ào của nhiều giọng nói trong cửa hàng. Một người hầu ăn mặc đỏm dáng đang tựa người vào quầy, nói gì đó với cô bán hàng. Hoặc là cố nói gì đó. Những cố gắng yếu ớt của anh ta đang bị đáp trả bởi một cơn bão khinh thường bằng tiếng Provençale ập đến từ phía kia của quầy hàng. Có quá nhiều thành ngữ nên tôi không thể bắt kịp hoàn toàn ý người nói, nhưng nắm được đại khái những chỗ cô ta nhấn giọng. Thứ gì đó liên quan tới bắp cải và xúc xích, chẳng có gì trong đó mang tính chất khen ngợi cả.

Tôi đang mơ màng vì bị cuốn theo khuynh hướng nói chuyện kỳ quái của cô gái người Pháp kia - mang thức ăn vào bất kỳ cuộc thảo luận nào - thì cánh cửa của cửa hiệu đột ngột bật mở. Đội quân tăng viện ào vào phía sau anh chàng người hầu kia trong lốt một nhân vật có địa vị mặt mày tô son trát phấn và khoa tay múa chân điệu đà.

“A,” Raymond lầm bầm, ngó nhìn từ bên dưới cánh tay tôi một cách thích thú tấn kịch đang mở màn ngay trong cửa hiệu của ông ta. “Nữ tử tước Rambeau.”

“Ông biết bà ta?” Cô bán hàng hiển nhiên là biết vị khách này, vì cô ta bỏ qua cuộc công kích tên hầu và co rụt lại sát rạt cái tủ để các loại thuốc xổ.

“Phải, madonna,” Raymond gật đầu, nói. “Bà ta khá là đắt giá đấy!”

Tôi hiểu ý ông ta ám chỉ, vì quý bà được nhắc tới này đã cầm lên nguồn gốc của cuộc cãi vã - một chiếc lọ nhỏ chứa một loại thực vật gây say nào đó - nhắm đích và quăng nó đi bằng một lực thật mạnh và chính xác trúng vào mặt kính trước của chiếc tủ bày hàng.

Tiếng đổ vỡ loảng xoảng làm trận cãi lộn lắng xuống ngay lập tức. Nữ tử tước chỉ một ngón tay dài, xương xương vào cô gái.

“Mày,” bà ta nói bằng giọng nghe như tiếng kim loại cọ vào nhau, “tìm cho ta thuốc độc đen. Ngay lập tức.”

Cô gái mở miệng như định phản đối, nhưng rồi nhìn Nữ tử tước lại đang với lấy một món đồ khác để chuẩn bị ném, liền im bặt và lẩn vào trong buồng sau.

Đoán biết trước đường đi của cô ta, Raymond, dáng vẻ cam chịu, với tay lên phía trên đầu và dúi một cái chai vào tay cô bán hàng khi cô nàng đi qua cánh cửa.

“Đưa nó cho bà ta,” ông ta nhún vai, nói. “Trước khi bà ta làm vỡ thêm cái gì khác.”

Khi cô bán hàng rụt rè quay lại giao cái chai ra, ông ta quay sang phía tôi, làm bộ nhăn nhó khổ sở.

“Thuốc độc dành cho tình địch,” ông ta nói. “Hay ít nhất bà ta nghĩ vậy.”

“Ồ?” Tôi thốt ra. “Vậy thật ra nó là cái gì? Cây cascara đắng?”

Ông nhìn tôi, dáng vẻ kinh ngạc lẫn vui thích.

“Cô rất giỏi trong lĩnh vực này đấy,” ông nói. “Một tài năng thiên phú, hay cô đã được dạy cho? À mà, không thành vấn đề.” Ông vẫy bàn tay xòe rộng, gạt qua một bên vấn đề đó. “Phải, đúng thế, cascara. Địch thủ kia sẽ ốm ngay ngày mai thôi, đau khổ thấy rõ để thỏa mãn mong muốn trả thù của Nữ tử tước nọ và làm cho bà ta tin rằng mình đã mua được một món hàng tốt, sau đó đối thủ kia sẽ bình phục lại, không có sự tổn hại lâu dài nào cả, và Nữ tử tước sẽ cho là do cha xứ can thiệp hay một phép phản bùa do một thầy phù thủy mà nạn nhân mời đến thực hiện.”

“Hừm,” tôi ậm ừ. “Và thảm họa đối với cửa hiệu của ông?” Mặt trời chiều chiếu ánh vàng lấp lánh lên những mảnh kính vỡ trên quầy hàng và trên đồng écu mà Nữ tử tước kia ném xuống trả tiền.

Raymond lật qua lật lại lòng bàn tay, một thói quen từ thời thượng cổ của nam giới biểu hiện sự lập lờ nước đôi.

“Như nó phải xảy ra thôi,” ông ta bình tĩnh nói. “Khi bà ta đến vào tháng sau để mua thuốc phá thai, tôi sẽ tính cho bà ta một mức tiền không chỉ đủ để sửa chữa các tổn hại này mà còn có thể xây thêm ba căn phòng nữa. Và bà ta sẽ trả mà không hề cự nự gì.” Ông ta thoáng mỉm cười, nhưng không hề hài hước như dáng vẻ ông ta biểu hiện ra trước đó. “Tất cả chỉ là vấn đề thời gian mà thôi, cô biết đấy.”

Tôi cảm giác đôi mắt đen láy ấy rõ ràng thoáng lướt qua ngón tay mình. Tôi không để lộ ra tất cả các ngón, nhưng tôi khá chắc chắn là ông ta biết.

“Và thứ thuốc mà ông sẽ đưa cho Nữ tử tước vào tháng sau có hiệu quả chứ?” Tôi hỏi.

“Tất cả chỉ là vấn đề thời gian mà thôi,” ông ta lại đáp, nghiêng đầu sang một bên vẻ giễu cợt. “Đủ sớm, và tất cả đều tốt đẹp. Nhưng nếu đợi quá lâu thì nó sẽ nguy hiểm.”

Ý cảnh cáo trong giọng ông ta rất rõ ràng và tôi mỉm cười với ông ta.

“Không phải dành cho tôi,” tôi nói. “Chỉ để tham khảo thôi.”

Ông ta lại thả lỏng tinh thần.

“À. Tôi không nghĩ vậy đâu.”

Tiếng rầm rầm từ ngoài phố vọng vào tuyên bố rằng chiếc xe ngựa màu xanh da trời ánh bạc của Nữ tử tước đã đi qua. Tên hầu vẫy tay và hét lên từ phía sau xe trong khi khách bộ hành buộc phải dạt ra, tránh vào các cánh cửa và ngõ hẻm để khỏi bị đâm phải.

“À la lanterns[4],” tôi thì thầm khe khẽ. Hiếm khi nào khả năng nhìn thấu sự việc lại có thể khiến tôi thỏa mãn đến thế, nhưng đây rõ ràng chính là dịp đó.

“Đừng hỏi chiếc xe bò không mui kia vẫy gọi ai[5],” tôi thốt lên, quay sang Raymond. “Nó vẫy gọi ông đấy.”

Ông ta nhìn có vẻ hơi hoang mang.

“Ồ? Có phải cô đang nói rằng cô dùng cây hoắc hương đen để tẩy ruột? Nếu là tôi, tôi sẽ dùng hoắc hương trắng.”

“Thật sao? Tại sao lại là cái đó?”

Và không đả động gì tới vị Nữ tử tước vừa rồi, chúng tôi ngồi xuống để hoàn thành nốt vụ mua bán của mình.

[1] Tiếng Gaelic: Cô gái tóc nâu của tôi.

[2] Nguyên văn: Half-door: kiểu cửa được chia làm hai phần theo chiều ngang, đôi khi chỉ có một nửa, để có thể đóng hoặc mở từng phần độc lập.

[3] Tiếng Anh có nghĩa là Đức Mẹ, Thánh mẫu, còn trong tiếng Ý có nghĩa là cô gái. Vì cách gọi này của nhân vật Raymond có ẩn ý riêng mà sẽ được giải thích ở phần sau của truyện nên người dịch xin giữ nguyên văn từ này.

[4] Tiếng Pháp: (Treo cổ) lên cột đèn. Đây là câu khẩu hiệu của đám đông thời Cách mạng Pháp khi xử tử các nhà quý tộc. Claire thốt lên câu này khi thấy trước được viễn cảnh tương lai của Nữ tử tước.

[5] Xe bò không mui là loại xe dùng để chở người bị kết án chém đầu trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Claire lấy ý câu này từ một câu thơ trong bài No man is an island của John Donne: “And therefore never send to know for whom the bell tolls; it tolls for thee.” (Tạm dịch: Vì vậy đừng hỏi chuông gọi hồn ai, nó gọi hồn anh đấy!)

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.