“Đồ mặt lợn keo kiệt!” Brianna khom người, say mê ngó một người tượng mặc chiếc áo khoác đỏ đứng với dáng vẻ đe dọa ở một góc phòng giải lao trong khu trung tâm dành cho khách đến thăm Culloden. Ông ta cao hơn mét rưỡi một chút, mái tóc giả rắc phấn bị xô về phía trước che khuất cặp lông mày và rủ xuống đung đưa hai bên má phơn phớt hồng.
“Chà chà, hắn ta là một gã béo lùn tịt,” Roger thích thú tán đồng. “Một gã tướng quân quái quỷ, ít nhất là khi so với người anh em họ tao nhã của gã phía đằng kia.” Anh vẫy tay về phía hình ảnh cao lớn của Charles Edward Stuart ở bên kia phòng giải lao, dõi ánh mắt hào hiệp đăm đắm nhìn xa xăm dưới chiếc mũ nhung xanh lam với phù hiệu màu trắng trên mũ, dáng vẻ trịch thượng phớt lờ Công tước Cumberland.
“Người ta gọi lão là “Gã đồ tể Billy”.” Roger ra hiệu về phía vị Công tước lãnh đạm trong chiếc quần bó màu trắng ngắn đến đầu gối và chiếc áo khoác viền vàng. “Vì lý do vô cùng chính đáng. Ngoài những gì bọn họ đã làm ở đây” - anh lại vẫy tay về phía bãi hoang mang sắc xuân xanh mơn mởn mênh mông bên ngoài, bị bầu trời sầm sì, xám xịt làm cho u ám - “người của Cumberland còn phải chịu trách nhiệm cho nỗi kinh hoàng chưa từng thấy mà vương triều tồi tệ nhất của nước Anh đã gieo rắc trên cao nguyên Scotland. Họ dồn đuổi những người sống sót sau trận đánh vào vùng đồi núi, đi đến đâu là đốt phá và tra tấn đến đấy. Phụ nữ và trẻ em bị bỏ đói, còn đàn ông thì bị bắn hạ ngay tại chỗ - chẳng thèm xét xem liệu họ có chiến đấu cho Charlie hay không. Một người cùng thời với vị Công tước này đã nói về ông ta như sau: “Ông ta tạo ra một hoang mạc, và gọi nó là hòa bình.” Tôi e là đến bây giờ Công tước Cumberland vẫn không được yêu mến ở nơi đây.”
Đó là sự thật; người phụ trách tiếp đón khách tham quan của viện bảo tàng là bạn của Roger đã kể với anh rằng trong khi tượng của Hoàng tử Xinh đẹp được đối xử với sự tôn kính thì những cái khuy trên áo khoác của ngài Công tước lại liên tục biến mất, dù bản thân bức tượng đó đã là cái đích cho những trò đùa độc địa rồi.
“Anh ấy nói có một buổi sáng anh ấy đến sớm, khi bật đèn lên thì thấy một con dao găm của dân vùng cao Scotland đâm vào bụng của Đức ngài đây,” Roger kể, hất đầu về phía bức tượng béo lùn kia. “Nó làm anh ấy giật mình hoảng sợ.”
“Tôi cũng nghĩ vậy,” Brianna lầm bầm, nhướng mày nhìn ngài Công tước. “Mọi người vẫn còn coi chuyện đó nghiêm trọng nhỉ?”
“Ồ, đúng vậy. Người Scot nhớ rất dai, và họ không phải là những người vị tha nhất đâu.”
“Thật à?” Cô tò mò nhìn anh. “Anh là người Scot hử, Roger? Wakefield nghe không giống họ của người Scot, nhưng có gì đó trong cái cách anh nói về Công tước Cumberland…” Từ nụ cười của cô, anh không chắc liệu mình có đang bị trêu chọc hay không, nhưng anh đã trả lời cô một cách nghiêm túc vừa đủ.
“Ồ, phải.” Anh mỉm cười, nói. “Tôi là người Scot. Wakefield không phải là họ thật của tôi; mục sư đã cho tôi cái họ này khi ông nhận nuôi tôi. Ông là chú của mẹ tôi - khi bố mẹ tôi qua đời trong chiến tranh, ông đã mang tôi về sống cùng ông. Họ của tôi là MacKenzie cơ. Về phần Công tước Cumberland” - anh hất đầu về phía ô cửa sổ bằng kính hình tròn, qua đó có thể thấy rõ những tấm bia tưởng niệm trận chiến Culloden. “Có một tấm bia đá gia tộc ở ngoài kia, với cái tên MacKenzie được khắc trên đó, và rất nhiều người họ hàng của tôi nằm dưới đó.”
Anh đưa tay ra búng vào ngù vai bằng vàng trên bộ quân phục sĩ quan, rồi để cho nó đung đưa. “Tôi không thấy có nhiều cảm xúc riêng tư về nó giống như một số người, nhưng tôi cũng không quên mình là ai.” Anh chìa bàn tay ra với cô. “Chúng ta ra ngoài kia chứ?”
Bên ngoài rất lạnh, một cơn gió to quất vào hai lá cờ trang trí đang tung bay trên đỉnh cột cờ ở hai đầu của cánh đồng. Một màu vàng, một màu đỏ, đánh dấu vị trí hai viên chỉ huy đã đứng phía sau đội quân của họ, chờ đợi giờ mở màn trận đánh.
“Cách khá xa trận chiến,” Brianna lạnh lùng nhận xét. “Không có nguy cơ trúng đạn lạc.”
Roger thấy cô rùng mình, bèn kéo tay cô quàng vào cánh tay anh, mang cô tới gần hơn. Anh nghĩ mình có thể vỡ òa vì niềm hạnh phúc căng phồng đột ngột khi được chạm vào cô, nhưng anh cố gắng tập trung vào câu chuyện lịch sử đang dở dang. “À, đó là cách các vị tướng chỉ huy vào thời đó - từ đằng sau. Đặc biệt là Charlie; ông ta đã bỏ chạy cực kỳ nhanh vào cuối trận đánh, bỏ lại đằng sau bộ đồ picnic bằng bạc rất giá trị.”
“Một bộ đồ picnic? Ông ta mang theo một bộ đồ picnic ra chiến trường ư?”
“Đúng thế đấy.” Roger nhận thấy mình khá giống một người Scot khi ở trước mặt Brianna. Anh luôn chú ý điều chỉnh trọng âm của mình giống như giọng ở Oxbridge[1] để phục vụ cho công việc ở trường đại học, nhưng giờ anh đang thoải mái nói chuyện bằng giọng thật để khiến cô cười vui vẻ.
“Cô biết tại sao họ gọi ông ta là “Hoàng tử Charlie” không?” Roger hỏi. “Người Anh thường nghĩ nó là một cái tên thân mật, cho thấy người của ông ta yêu mến ông ta đến mức nào.”
“Không phải thế ư?”
Roger lắc đầu. “Quả thật không phải. Người của ông ta gọi ông ta là Hoàng tử Tcharlach” - anh cẩn thận đánh vần nó - “đó là tiếng Gaelic cho từ Charles. Tcharlach mac Seamus, nghĩa là “Charles, con trai của James.” Quả là rất trang trọng. Chỉ có điều Tcharlach trong tiếng Gaelic nghe rất giống “Charlie” trong tiếng Anh.”
Brianna cười toe toét. “Vậy nên ông ta chưa bao giờ là “Hoàng tử Charlie Xinh đẹp” ư?”
“Khi đó thì không phải.” Roger nhún vai. “Còn bây giờ, dĩ nhiên ông ta là thế. Đó là một trong những nhầm lẫn nhỏ của lịch sử đã bị thực tế bỏ qua. Có rất nhiều lỗi kiểu như thế.”
“Anh đúng là một sử gia!” Brianna trêu.
Roger điềm nhiên cười. “Vì thế mà tôi biết sự thật.”
Họ chầm chậm lang thang xuôi theo con đường mòn rải sỏi đi xuyên qua chiến trường, Roger chỉ ra các vị trí chiến đấu khác nhau của hai đội quân, giải thích trật tự trận đánh, kể lại tỉ mỉ các giai thoại về hai vị chỉ huy.
Trong khi họ đi dạo, gió lặng dần, sự im lìm của bãi hoang trở nên rõ rệt. Dần dần cuộc trò chuyện của họ cũng lặng đi, cho tới khi chỉ thỉnh thoảng nói vài câu, giọng hạ thấp gần như là thì thầm. Bầu trời đầy mây xám xịt, mọi vật ở bên dưới vòm trời dường như đều trở nên câm lặng, chỉ có tiếng thì thầm của cây cối nơi bãi hoang khi chúng trò chuyện bằng giọng nói của những người đàn ông đã dùng thân xác để nuôi sống chúng.
“Đây là nơi họ gọi là Giếng Chết.” Roger khom người bên một dòng suối nhỏ. Nó chỉ rộng khoảng ba mươi centimet vuông, thật ra là một vũng nước đen nhỏ xíu, dòng nước đang tuôn ra dưới một mỏm đá. “Một trong những thủ lĩnh người Scot đã chết ở đây; những người đi theo ông ta đã rửa sạch máu trên mặt ông ta bằng nước của dòng suối này. Và đằng kia là những ngôi mộ của các thị tộc.”
Những tấm bia mộ là những tảng đá hoa cương màu xám to lớn đã bị nắng gió bào mòn đến tròn trịa và mọc nham nhở địa y. Chúng nằm trên những mảng cỏ êm ái, rải rác đến tận rìa bãi hoang. Mỗi tấm bia đá mang một cái tên, vết khắc đã mờ dần vì thời tiết đến mức gần như không đọc được. MacGillivray. MacDonald. Fraser. Grant. Chisholm. MacKenzie.
“Nhìn này,” Brianna thì thào. Cô chỉ vào một tấm bia đá. Một đám cành lá màu xám xanh nằm trên đó; xen lẫn vài nụ hoa đầu xuân đã héo úa.
“Thạch nam,” Roger nói. “Giống cây này thường thấy nhiều vào mùa hè, khi thạch nam nở hoa, cô sẽ thấy hàng đám như thế trước mỗi bia mộ. Màu đỏ tía, đôi khi cũng có một cành thạch nam trắng muốt - màu hoa trắng tượng trưng cho may mắn và vương giả; nó là biểu tượng trên huy hiệu của Charlie, thạch nam trắng và một bông hồng trắng.”
“Ai để lại chúng thế?” Brianna ngồi xổm xuống cạnh lối mòn, đưa một ngón tay dịu dàng chạm vào những nhánh cây.
“Khách tham quan.” Roger cũng ngồi xổm xuống cạnh cô. Anh lướt ngón tay trên những chữ cái đã mờ nhạt của tấm bia đá - FRASER. “Hậu duệ của các gia đình có những người đàn ông bị giết ở đây. Hoặc chỉ là những người muốn tưởng nhớ họ.”
Cô nhìn sang anh, mái tóc xõa bao quanh khuôn mặt cô. “Anh có bao giờ làm thế không?”
Anh nhìn xuống, mỉm cười với hai bàn tay đang buông thõng giữa hai đầu gối.
“Có. Tôi cho rằng việc đó rất ủy mị, nhưng tôi vẫn làm.”
Brianna quay về phía bụi cây mọc dại ở rìa bên kia đường mòn.
“Chỉ cho tôi cây nào là thạch nam đi,” cô nói.
Trên đường về nhà, sự u sầu của Culloden dâng lên, nhưng cảm xúc được chia sẻ vẫn còn vương vấn mãi, họ chuyện trò, nói cười với nhau như những người bạn cũ.
“Thật chán vì mẹ tôi không thể đi cùng chúng ta,” Brianna nhấn mạnh khi họ rẽ vào con đường nơi nhà Randall nghỉ trọ.
Dù cũng rất thích Claire Randall nhưng Roger không thấy tiếc khi bà không thể đi cùng. Ba người, anh thầm nghĩ, rõ ràng là một đám đông mất rồi. Nhưng anh vẫn ậm ừ và một khắc sau mới hỏi: “Mẹ cô thế nào rồi? Tôi hy vọng bà không ốm nặng.”
“Ồ, không, chỉ là dạ dày khó chịu thôi - ít nhất đó là những gì bà nói.” Brianna nhăn nhó một lúc, rồi quay sang Roger, đặt hờ bàn tay lên chân anh. Anh cảm thấy các bắp thịt từ đầu gối đến háng rung lên, và khó nhọc lắm mới giữ cho thần trí tỉnh táo để tập trung vào những gì cô nói. Cô vẫn đang nói về mẹ mình.
“… nghĩ bà ổn chứ?” Brianna nói nốt. Cô lắc đầu, ánh đồng lóe lên từ những sóng tóc của cô, ngay cả dưới ánh sáng nhập nhèm trong xe. “Tôi không biết; bà có vẻ lơ đãng kinh khủng. Không phải vì ốm, chính xác là… như thể bà đang bận tâm về một điều gì đó.”
Roger thấy một cảm giác nặng trịch đột ngột đè vào hõm bụng.
“Ưm,” anh nói. “Có lẽ chỉ là do rời xa công việc thôi. Tôi chắc bà sẽ ổn cả.”
Brianna mỉm cười biết ơn với anh khi xe họ dừng lại trước ngôi nhà đá nhỏ của bà Thomas.
“Thật tuyệt, Roger,” cô nói, khẽ chạm vào vai anh. “Nhưng cứ ở đây cũng không giúp được gì cho kế hoạch nghiên cứu của mẹ tôi. Tôi không thể giúp anh việc lặt vặt bụi bặm nào đó sao?”
Tâm trạng Roger tươi sáng hẳn, anh cười rạng rỡ với cô. “Tôi nghĩ chuyện đó có thể sắp xếp được. Ngày mai có muốn đến ga ra với tôi không? Nếu cô muốn một công việc bụi bặm, cô không thể tìm được việc gì nhếch nhác hơn thế đâu.”
“Tuyệt.” Cô cười, dựa vào xe để nhìn anh. “Có thể mẹ tôi sẽ muốn đến giúp đấy.”
Anh cảm thấy mặt mình cứng đơ, nhưng vẫn giữ nụ cười nịnh đầm.
“Được,” anh nói. “Thật tuyệt. Tôi cũng hy vọng thế.”
•••
Cuối cùng, chỉ có mình Brianna đến nhà mục sư vào ngày hôm sau.
“Mẹ tôi đến thư viện công cộng rồi,” cô giải thích. “Bà đang cố gắng tìm kiếm người quen cũ.”
Tim Roger bỗng lỗi nhịp. Anh đã kiểm tra sổ ghi chép các số điện thoại của mục sư vào tối hôm qua. Có ba danh sách số điện thoại ở địa phương dưới cái tên “James Fraser”, và hai danh sách khác có những cái tên khác, nhưng có chữ cái đầu tên đệm là “J”.
“Tôi hy vọng bà tìm được người đó,” anh nói, vẫn cố tỏ ra bình thản. “Cô chắc chắn muốn giúp tôi ư? Nó là một công việc nhếch nhác và buồn chán vô cùng.” Roger hồ nghi nhìn Brianna, nhưng cô gật đầu, không mảy may chùn lòng trước viễn cảnh ấy.
“Tôi biết mà. Thỉnh thoảng tôi cũng giúp đỡ cha tôi lục lọi các ghi chép và tìm các ghi chú. Hơn nữa, đây còn là dự án nghiên cứu của mẹ tôi, việc tối thiểu tôi có thể làm là giúp anh mấy thứ vặt vãnh này.”
“Được thôi!” Roger liếc nhìn chiếc áo sơ mi trắng của mình. “Để tôi thay đồ đã, rồi chúng ta sẽ xem qua một lượt.”
Cánh cửa ga ra kêu rền rĩ kẽo kẹt, rồi cũng đột ngột nâng lên, giữa tiếng bật mở của những thanh lò xo và một đám bụi mù mịt.
Brianna phẩy tới phẩy lui hai tay trước mặt, miệng ho sặc sụa. “Khụ khụ! Đã bao lâu rồi không có người vào đây?”
“Hàng thập kỷ, tôi nghĩ vậy.” Roger lơ đãng đáp lời. Anh chiếu đèn pin vào bên trong ga ra, soi sáng những chồng thùng các tông và thùng gỗ, những cái rương hòm cũ kỹ lem nhem bẩn thỉu vì những tờ nhãn bị bong tróc, những khối hình thù không rõ được che phủ dưới lớp vải dầu. Đôi chỗ, những cái chân chổng ngược của các món đồ gỗ thò ra từ trong bóng tối u ám trông giống như bộ xương của những con khủng long nhỏ nhô ra từ các tảng hóa thạch.
Có một cái khe tách ra giữa đống đổ đồng nát này, Roger lách vào và nhanh chóng biến mất trong cái đường hầm bụi bặm và tối om ấy, các bước đi của anh được đánh dấu bằng đốm sáng yếu ớt từ cây đèn pin khi nó chập chờn hắt sáng lên trần nhà. Cuối cùng, với một tiếng kêu đắc thắng, anh túm được sợi dây lủng lẳng thả từ trên cao xuống và thế là cái ga ra đột nhiên sáng bừng lên nhờ ánh sáng của một chiếc bóng đèn ngoại cỡ.
“Lối này,” Roger đột ngột xuất hiện trở lại và cầm tay Brianna dắt đi. “Có một khoảng trống ở phía sau.”
Có một chiếc bàn cổ kê dựa vào bức tường phía sau. Có lẽ ban đầu nó vốn nằm trong phòng khách của mục sư Wakefield, hiển nhiên nó đã trải qua hàng loạt vai trò khác nhau như bàn bếp, bàn để dụng cụ, giá cưa, bàn vẽ, trước khi đến nghỉ ngơi ở chốn thiêng liêng bụi bặm này. Ngay phía trên chiếc bàn là một ô cửa sổ đầy mạng nhện, qua ô cửa đó, ánh sáng lờ mờ chiếu xuống bề mặt sứt mẻ, loang lổ sơn của nó.
“Chúng ta có thể làm việc ở đây,” Roger nói, kéo ra một chiếc ghế đẩu từ trong đống lộn xộn và lau qua loa nó bằng một chiếc khăn mùi soa lớn. “Ngồi đi, tôi sẽ xem liệu có thể cạy mở cái cửa sổ này ra không, nếu không chúng ta sẽ chết ngạt mất.”
Brianna gật đầu, nhưng thay vì ngồi xuống, cô bắt đầu tò mò ngó nghiêng mấy đống đồ tạp nham gần đó, trong khi Roger cố nhấc khung cửa sổ đã bị biến dạng lên. Anh có thể nghe thấy tiếng cô ở phía sau đang đọc các nhãn dán trên thùng. “Đây là 1930 đến 1933,” cô nói, “còn đây là 1942 đến 1946. Những cái này là gì thế?”
“Nhật ký,” Roger càu nhàu trong khi tì hai khuỷu tay lên bậu cửa sổ đầy bụi. “Cha tôi - ý tôi là mục sư - ông ấy luôn viết nhật ký. Ông ấy viết vào mỗi tối sau bữa ăn.”
“Có vẻ như ông đã tìm thấy rất nhiều thứ để viết.” Brianna nhấc xuống vài thùng giấy và xếp chồng chúng sang một bên để xem xét lớp thùng bên dưới. “Ở đây có một loạt thùng giấy được đề tên - Kerse, Livingston, Balnain. Các giáo dân à?”
“Không. Những ngôi làng.” Roger ngừng công việc nặng nhọc trong chốc lát, thở hổn hển. Anh quệt ngang lông mày, để lại một vệt bẩn trên ống tay áo sơ mi. May là cả hai bọn họ đều mặc quần áo cũ, rất thích hợp cho việc lục lọi giữa đống đồ đồng nát này. “Mấy thùng giấy đó chứa các ghi chép về lịch sử của nhiều ngôi làng trên vùng cao nguyên này. Thực ra, một số ghi chép còn được viết thành sách; cô sẽ thấy chúng ở một vài cửa hiệu địa phương chuyên bán đồ cho khách du lịch.”
Anh quay sang một cái giá treo tập hợp các dụng cụ đã gãy hỏng và chọn ra một chiếc tuốc-nơ-vít lớn để hỗ trợ cuộc tấn công cái cửa sổ.
“Thử tìm mấy cuốn ghi “Sổ xứ đạo” xem,” anh khuyên. “Hoặc những cái tên làng trong vùng Broch Tuarach chẳng hạn.”
“Tôi không biết làng nào trong vùng đó cả,” Brianna nhắc nhở.
“Ồ, phải rồi, tôi quên mất.” Roger chèn đầu tuốc-nơ-vít vào giữa các mép của khung cửa sổ, đục khoét xuyên qua các lớp sơn cổ xưa. “Hãy tìm những cái tên như Broch Mordha… ưm, Mariannan, và… ờ, St. Kilda. Còn những ngôi làng khác nữa, nhưng đó là mấy nơi tôi biết có nhà thờ quy mô vừa phải đã bị đóng cửa hoặc đổ nát.”
“Tốt thôi.” Gạt một tấm vải dầu đang đung đưa sang một bên, Brianna bất chợt hét lên rồi nhảy lùi lại.
“Gì thế? Chuyện gì thế?” Roger quay phắt lại, chiếc tuốc-nơ-vít giơ lên ở tư thế sẵn sàng.
“Tôi không biết. Có thứ gì đó phóng vọt đi khi tôi chạm vào tấm vải phủ.” Brianna nói, Roger bèn hạ vũ khí xuống, thở ra nhẹ nhõm.
“Ồ, thế thôi à? Chắc là chuột đấy.”
“Chuột! Ở đây có chuột á?” Sự lo sợ của Brianna hiển hiện rõ.
“À, tôi hy vọng là không, bởi vì nếu có, chắc chúng sẽ nhai hết các cuốn sổ ghi chép mà chúng ta đang tìm kiếm mất,” Roger đáp. Anh đưa cho cô cây đèn pin. “Đây, cứ chỗ nào tối thì chiếu vào; ít nhất cô sẽ không bị kinh sợ.”
“Cảm ơn nhiều.” Brianna nhận đèn pin, nhưng vẫn nhìn chồng thùng các tông với vài phần miễn cưỡng.
“Vậy tiếp tục đi nhé,” Roger nói. “Hay cô muốn tôi làm cho cô một bài thơ trào phúng về lũ gặm nhấm ngay ở đây?”
Brianna nở nụ cười hết cỡ. “Một bài thơ trào phúng về lũ gặm nhấm ư? Là thế nào cơ?”
Roger chưa trả lời ngay, anh trì hoãn một lúc lâu khi cố mở cái cửa sổ lần nữa. Anh đẩy mạnh cho tới khi cảm thấy hai bắp tay căng cứng dưới lớp vải áo sơ mi, nhưng cuối cùng, với một tiếng ken két chói tai, ô cửa sổ cũng bật ra, một làn không khí mát mẻ khô ráo ùa vào qua cái lỗ hổng chừng mười lăm phân mà anh vừa tạo ra.
“Ơn trời, tốt hơn rồi.” Anh tự ngưỡng mộ mình một cách khoa trương, cười toe toét với Brianna. “Giờ chúng ta sẽ tiếp tục chứ?”
Cô đưa cây đèn pin cho anh và bước lùi lại. “Anh tìm các thùng giấy, còn tôi sẽ sắp xếp, phân loại chúng. Thế nào? Còn bài thơ trào phúng về lũ gặm nhấm là gì?”
“Đồ nhát gan,” anh nói, khom người xuống để sục sạo tìm bên dưới tấm vải dầu. “Thơ trào phúng về loài gặm nhấm là một tục lệ cổ của người Scot; nếu trong nhà hoặc kho thóc của cô có lũ gặm nhấm hoặc chuột, cô có thể đuổi chúng đi bằng cách sáng tác một bài thơ - hoặc cô có thể ngâm nga hát nó - kể cho lũ gặm nhấm nghe thức ăn nơi đó tồi như thế nào, và nếu nó đến nơi khác thì sẽ tốt đẹp ra sao. Cô bảo chúng đi đâu và làm thế nào để đến đó, có lẽ nếu bài thơ đủ hay thì chúng sẽ đi.”
Anh lôi ra một thùng các tông ghi nhãn là JACOBITE, TỔNG HỢP LINH TINH, và mang nó đến chỗ chiếc bàn, miệng ngâm nga:
“Này chuột ơi, bọn mi đông quá đi thôi,
Nếu mi muốn ăn thật nhiều,
Thì mi hãy đi đi, đi đi!”
Đặt chiếc hộp xuống đánh thịch một cái, anh cúi đầu đáp lại tiếng cười khúc khích của Brianna và quay trở lại với chồng thùng các tông, tiếp tục cất giọng oang oang:
“Hãy đến vườn nhà Campbell,
Nơi không có lũ mèo canh gác,
Và cải xoăn mọc lên xanh mướt.
Hãy đến đó lấp đầy cái bụng của mi,
Đừng có ở đây gặm ủng của ta…
Đi đi, lũ chuột các ngươi, hãy đi đi!”
Brianna phì cười tán thưởng. “Anh đã làm bài thơ đó à?”
“Dĩ nhiên.” Roger đặt một chiếc hộp nữa lên bàn với tư thế mạnh mẽ, phóng khoáng. “Một bài thơ trào phúng hay dành cho loài gặm nhấm phải là một bài thơ tự sáng tác.” Anh ném ánh mắt về phía dãy thùng các tông đứng san sát nhau. “Sau màn trình diễn đó, sẽ không có một con chuột nào trong bán kính vài dặm.”
“Hay quá!” Brianna lấy ra một con dao nhíp từ trong túi áo, rạch lớp băng dính dán trên nắp thùng các tông. “Anh nhất định phải đến nhà trọ của tôi để làm một bài nữa; mẹ tôi nói bà chắc chắn trong phòng tắm có chuột. Có con gì đó đã nhai vỏ hộp xà bông của bà.”
“Có Chúa mới biết thứ gì có thể đuổi được một con chuột có năng lực ăn bánh xà bông, chắc chắn điều đó vượt quá quyền năng kém cỏi của tôi.” Anh lăn một cái đệm ngồi hình tròn rách tả tơi từ đằng sau một chồng bách khoa thư xưa xửa xừa xưa đang lung lay sắp đổ ra, và đặt phịch xuống cạnh Brianna. “Đây, cô hãy lấy những cuốn sổ của các xứ đạo ra, chúng cũng khá dễ đọc.”
Họ làm việc suốt buổi sáng trong bầu không khí bạn bè hòa thuận, thỉnh thoảng có một cuộc tranh luận thú vị, bắt gặp mấy con bọ bạc kỳ quái, và đều đặn tạo ra những đám mây bụi mù mịt, nhưng tìm được rất ít thứ có giá trị với công trình nghiên cứu.
“Chúng ta nên dừng lại để ăn trưa thôi,” cuối cùng, Roger nói. Anh cảm thấy vô cùng miễn cưỡng phải quay vào nhà, nơi anh sẽ một lần nữa phải đón nhận sự săn đón của Fiona, nhưng dạ dày của Brianna đã bắt đầu kêu gào ầm ĩ cũng y như cái bụng của anh.
“Vâng. Chúng ta có thể làm tiếp sau khi ăn xong, nếu anh không mệt đứ đừ.” Brianna đứng dậy, vươn vai, hai nắm tay của cô gần chạm vào rầm nhà của cái ga ra cũ. Cô chùi hai bàn tay vào ống quần jean và lom khom đi giữa các thùng tài liệu xếp chồng chất.
“Này!” Cô dừng khựng lại ở gần cửa. Roger đang bám theo cô phải vội vàng phanh lại, mũi anh suýt đập vào sau đầu cô.
“Cái gì thế?” Anh hỏi. “Không phải lại chuột nữa chứ?” Anh vui thích nhận thấy ánh mặt trời rót lên bím tóc tết dày dặn của cô những tia màu đồng và hoàng kim lấp lánh. Với một vầng hào quang nho nhỏ màu hoàng kim lẫn những hạt bụi li ti bao quanh cô, và ánh sáng chói chang của buổi trưa hắt nghiêng lên sống mũi cao thẳng của cô, anh trộm nghĩ trông cô thật giống người thời Trung cổ; Tiểu thư Phòng Văn khố.
“Không. Nhìn này, Roger!” Cô chỉ vào một thùng các tông gần như nằm chính giữa một chồng thùng. Ở mặt bên là một cái nhãn với chữ viết tay màu đen mạnh mẽ của mục sư, chỉ ghi một chữ duy nhất: “Randall”.
Roger cảm thấy một cảm giác đau nhói lẫn lộn giữa kích động và e sợ. Sự phấn khích của Brianna thì hoàn toàn thuần khiết.
“Có lẽ nó có những thứ chúng ta đang tìm!” Cô thốt lên. “Mẹ tôi đã nói có vài điều cha tôi rất quan tâm; có lẽ ông ấy cũng đã hỏi mục sư rồi.”
“Có lẽ.” Roger đè nén cảm giác khiếp sợ bất chợt đánh úp anh khi anh nhìn thấy cái tên này. Anh quỳ xuống để rút cái thùng ra mà không làm đổ những thùng khác. “Hãy mang nó vào trong nhà; chúng ta có thể xem xét nó sau bữa trưa.”
•••
Chiếc thùng, khi được mở ra trong phòng làm việc của mục sư, chứa một loạt những thứ không theo quy tắc sắp xếp nào. Có các trang bản sao của vài cuốn sổ ghi chép sinh tử - hôn nhân của xứ đạo, hai, ba bản danh sách quân đội, một số lượng thư từ và giấy tờ rải rác, một cuốn sổ ghi chép nhỏ và mỏng được đóng bìa cứng màu xám, một gói ảnh cũ đã quăn hết mép, và một tập giấy bìa cứng in cái tên Randall ở bên ngoài.
Brianna nhặt tập tài liệu đó lên và mở nó ra. “A, đây là bảng phả hệ của cha tôi!” Cô thốt lên. “Xem này!” Cô chuyển tập tài liệu sang cho Roger. Bên trong có hai bản ghi chép trên giấy da dày, với những dòng chữ gọn gàng đều đặn từ trên xuống dưới. Bắt đầu là vào năm 1633; lần cuối cùng được ghi thêm vào là ở cuối trang giấy thứ hai, đề:
Frank Wolverton Randall kết hôn với Claire Elizabeth Beauchamp, 1937.
“Được viết trước khi cô ra đời,” Roger lẩm bẩm.
Brianna ngó qua vai anh trong khi anh chầm chậm lướt ngón tay xuôi theo các dòng trên bảng phả hệ. “Trước đây, tôi đã từng thấy nó rồi; cha tôi có một bản trong phòng làm việc của ông. Ông từng cho tôi xem nhiều lần. Bảng phả hệ của ông có tên tôi ở dưới cùng, đây chắc hẳn là bản cũ hơn.”
“Có lẽ mục sư đã tiến hành một vài nghiên cứu giúp ông ấy.” Roger đưa lại tập tài liệu cho Brianna, và cầm lên một tờ giấy từ chồng giấy tờ ở trên bàn.
“Bây giờ thứ này là đồ gia truyền của cô rồi,” anh nói. Anh lần các ngón tay theo hình gia huy dập nổi ở đầu trang giấy. “Một lá thư bổ nhiệm trong quân đội, được ký bởi Đức Vua George II.”
“George Đệ Nhị sao? Ái chà, thời đó thậm chí còn trước cả cuộc Cách mạng Mỹ.”
“Trước đó khá lâu. Nó đề năm 1735. Với cái tên Jonathan Wolverton Randall. Cô biết cái tên đó không?”
Có.” Brianna gật đầu, làm một mớ tóc xổ ra xòa xuống mặt. Cô gạt vội chúng ra phía sau và đón lấy lá thư. “Thỉnh thoảng cha tôi có nói chuyện về cụ ấy; đó là một trong số ít tổ tiên mà ông biết khá tường tận. Cụ ấy là một đại úy trong đội quân đã chiến đấu với Hoàng tử Charlie Xinh đẹp ở Culloden.” Cô ngước nhìn Roger, chớp mắt. “Tôi nghĩ có thể cụ ấy đã bị giết trong trận đánh đó. Không phải cụ ấy sẽ được chôn ở đây chứ?”
Roger lắc đầu. “Tôi không nghĩ vậy. Chính người Anh đã dọn dẹp sạch sẽ sau trận đánh đó. Họ gửi thi thể người của họ về nhà để an táng - ít nhất là các sĩ quan.”
Anh bị chặn ngang bởi sự xuất hiện bất thình lình của Fiona ở cửa, mang một cái phất trần giống như một cây cờ ra trận.
“Anh Wakefield,” cô ta gọi. “Có người đến để đưa chiếc xe tải của mục sư đi, nhưng ông ta không thể khởi động nó. Ông ta hỏi liệu anh có thể giúp ông ta được không?”
Roger bắt đầu thấy tội lỗi. Anh đã mang ắc quy tới một xưởng sửa chữa để chạy thử, và vẫn để nó ở ghế sau chiếc Morris của anh. Chả trách cái xe tải của mục sư không khởi động nổi.
“Tôi phải đi giải quyết chuyện này,” anh nói với Brianna. “Tôi sợ là sẽ mất một lúc đấy.”
“Không sao.” Cô mỉm cười với anh, đôi mắt xanh lam nheo lại thành hai hình tam giác. “Tôi cũng nên đi rồi. Giờ này chắc mẹ tôi đã về; chúng tôi định đến Clava Cairns nếu có thời gian. Cảm ơn anh vì bữa trưa.”
“Đó là vinh hạnh của tôi - và Fiona.” Roger cảm thấy nhói lên cảm giác tiếc nuối vì không thể đưa ra đề nghị đi cùng cô, nhưng nhiệm vụ đang vẫy gọi. Anh liếc nhìn đống giấy tờ đang trải ra trên bàn, rồi gom chúng đặt trở lại thùng.
“Đây,” anh nói. “Đây là tất cả các ghi chép về gia tộc của cô. Cô cầm lấy đi! Có lẽ mẹ cô sẽ quan tâm đấy.”
“Thật sao? Vậy cảm ơn anh, Roger. Anh chắc chắn chứ?”
“Hoàn toàn chắc chắn,” anh nói, cẩn thận đặt tập tài liệu với bảng phả hệ lên trên cùng. “Ồ, đợi đã. Có lẽ không phải là tất cả.” Dưới lá thư bổ nhiệm thòi ra góc của cuốn sổ ghi chép màu xám; anh lôi hẳn nó ra và xếp gọn gàng đống giấy tờ lộn xộn trở lại thùng. “Cái này trông giống nhật ký của mục sư. Không hiểu sao nó lại ở đây, nhưng tôi cho rằng tốt hơn hết nên đặt nó vào cùng chỗ với những cuốn nhật ký khác; Hội Sử học nói họ muốn toàn bộ số nhật ký đó.”
“Ồ, chắc chắn rồi.” Brianna đã đứng lên chuẩn bị đi, ôm siết cái thùng vào ngực, nhưng lại do dự nhìn anh. “Anh có - anh có muốn tôi quay trở lại không?”
Roger mỉm cười với cô. Có mấy sợi tơ nhện trên tóc và một vệt bụi dài dính trên sống mũi cô.
“Tôi không mong gì hơn thế,” anh nói. “Hẹn gặp cô vào ngày mai nhé?”
•••
Ý nghĩ về cuốn nhật ký của mục sư cứ bám theo Roger mãi suốt khoảng thời gian làm công việc tẻ ngắt là khởi động chiếc xe tải gặp sự cố và sau đó là cuộc viếng thăm của nhân viên định giá đồ nội thất để phân loại các món đồ cổ giá trị và định giá cho những món đồ để đem đấu giá.
Việc xử lý số tài sản cá nhân của mục sư khiến Roger có cảm giác u uất vô hạn. Dù sao nó cũng là một phần trong cuộc đời niên thiếu của anh. Đến lúc ngồi vào bàn làm việc sau bữa tối, anh vẫn không thể lý giải được là do sự hiếu kỳ về nhà Randall buộc anh nhặt cuốn nhật ký đó lên, hay chỉ đơn giản là sự thôi thúc muốn giữ lại một kết nối mỏng manh với người đàn ông đã là cha anh trong nhiều năm trời.
Các cuốn nhật ký được giữ gìn cẩn thận, ghi chép tất cả các sự kiện chính của xứ đạo và cộng đồng dân cư mà mục sư Wakefield đã là một phần trong đó suốt bao năm qua. Sờ vào cuốn sổ màu xám thô ráp và nhìn thấy các trang ghi chép của nó lập tức gợi lên cho Roger hình ảnh về mục sư, mái đầu hói sáng bóng lên dưới ánh sáng của chiếc đèn bàn khi ông miệt mài miêu tả lại những sự việc diễn ra trong ngày.
“Đó là một phương pháp rèn luyện,” đã có lần ông giải thích với Roger như thế. “Khi con bắt trí óc thực hiện một công việc gì đó một cách đều đặn thì sẽ thu được lợi ích to lớn. Các thầy tu Thiên Chúa giáo hành lễ nhiều lần mỗi ngày, các linh mục thì có kinh nhật tụng. Ta e là mình không có khả năng dâng hiến hết mình như thế, nhưng viết ra những gì diễn ra mỗi ngày giúp cho tâm trí ta thanh tĩnh; sau đó, ta có thể nói ra lời cầu nguyện mỗi tối với một trái tim thanh thản.”
Một trái tim thanh thản. Roger ước ao mình cũng làm được như thế, nhưng sự thanh thản đã không viếng thăm anh kể từ khi anh tìm thấy những bài báo ở bàn làm việc của mục sư.
Anh mở cuốn sổ ra một cách ngẫu nhiên và từ từ lật giở từng trang, tìm kiếm phần đề cập đến cái tên “Randall”. Ngày tháng ghi trên bìa sổ là tháng Một - tháng Sáu, 1948. Mặc dù những gì anh đã nói với Brianna về Hội Sử gia là thật, nhưng đó không phải là động cơ chủ yếu khiến anh giữ lại cuốn sổ này. Vào tháng Năm năm 1948, Claire Randall trở lại từ lần mất tích bí ẩn. Mục sư biết rõ về nhà Randall; một sự kiện như thế chắc chắn sẽ được nhắc đến trong nhật ký của ông.
Y như rằng, ghi chép vào ngày mồng Bảy tháng Năm như sau:
“Đến thăm Frank Randall tối nay; vì chuyện về vợ anh ta. Thật đáng buồn! Nhìn thấy cô ấy ngày hôm qua - vô cùng mỏng manh yếu ớt, nhưng đôi mắt đó thật đáng kinh ngạc - khiến tôi thấy không thoải mái khi ngồi cùng cô ấy, người phụ nữ tội nghiệp, dù vậy cô ấy đã nói chuyện được rành mạch.
Những gì cô ấy đã trải qua đủ làm rối trí bất cứ người nào - cho dù nó là gì đi nữa. Những lời xì xào bàn tán khủng khiếp về nó - bởi bác sĩ Bartholomew đã bất cẩn tiết lộ rằng cô ấy đang có thai. Thật khó khăn đối với Frank - và cả cô ấy nữa, tất nhiên là thế! Trái tim tôi lịm đi vì cả hai người họ.
Tuần này bà Graham bị ốm - đáng lẽ bà ấy có thể chọn lựa mật thời điểm tốt hơn; tuần tới có buổi bán đồ cũ để gây quỹ từ thiện và hiên nhà đầy quần áo cũ…”
Roger giở nhanh các trang, tìm phần tiếp theo nhắc đến nhà Randall, và đã thấy nó, cũng trong tuần lễ ấy.
“Ngày mồng Mười tháng Năm - Frank Randall tới ăn tối. Tôi đã cố gắng hết sức để tìm được đề tài nói chuyện với anh ta và vợ; hầu như mỗi ngày tôi đều ngồi với cô ấy một giờ đồng hồ, hy vọng dập tắt được những tin đồn kia. Thật đáng thương; lời đồn đã lan đi khắp nơi rằng cô ấy bị loạn trí. Biết rõ Claire Randall, tôi không chắc cô ấy sẽ ít cảm thấy bị xúc phạm hơn khi bị coi là người mất trí thay vì bị coi là kẻ thiếu đạo đức - dù sao cũng phải là một trong hai điều đó ư?
Lại cố gắng trò chuyện về những gì cô ấy đã trải qua, nhưng cô ấy chẳng nói gì cả. Những câu chuyện đều vô thưởng vô phạt, nhưng luôn có cảm giác rằng cô ấy đang nghĩ về một chuyện khác.
Phải nhớ giảng về sự ác độc của những lời đồn đại vào Chủ nhật này - dù tôi sợ là việc thuyết giảng sẽ càng thu hút sự chú ý vào trường hợp này và làm cho nó trở nên tệ hơn.”
“Ngày Mười hai tháng Năm - … Không thể gạt bỏ ý niệm rằng Claire Randall không bị loạn trí. Lẽ tất nhiên, đã nghe những lời bàn ra tán vào kia, nhưng chẳng hề thấy sự mất thăng bằng tâm lý dù là nhỏ nhất trong hành vi của cô ấy.
Nghĩ rằng cô ấy đang mang một bí mật khủng khiếp nào đó; một bí mật mà cô ấy quyết giữ kín. Đã nói chuyện - một cách thận trọng - với Frank về vấn đề này; anh ấy trầm lặng, không bộc lộ gì, nhưng tôi tin là cô ấy đã nói gì đó với chồng mình. Đã cố gắng giải thích rằng tôi mong được giúp đỡ bằng bất cứ cách nào có thể.”
“Ngày Mười bốn tháng Năm - Một chuyến viếng thăm của Frank Randall. Rất bối rối. Anh ấy đã cầu xin sự giúp đỡ của tôi, nhưng tôi không hiểu tại sao anh ấy lại cầu xin thứ mình đã có. Dù điều này dường như rất quan trọng đối với anh ấy; Frank tự kiềm giữ bản thân quá chặt, nhưng vết thương bị đè nén như thế khiến tôi lo sợ một sự thả lỏng - nếu nó xảy đến.
Claire đã đủ khỏe để di chuyển - anh ấy có ý định đưa vợ trở về London trong tuần này. Đã đảm bảo với anh ấy tôi sẽ viết thư thông báo đến địa chỉ trường đại học của anh ấy bất cứ khi nào có kết quả; không để cho vợ anh ấy biết.
Có vài điểm hứng thú với Jonathan Randall, dù tôi không thể hình dung nổi vị tổ tiên này của Frank có vai trò quan trọng gì trong câu chuyện đáng tiếc này. Về James Fraser, như tôi đã nói với Frank, không hề biết gì cả, một bí ẩn hoàn toàn.”
Một bí ẩn hoàn toàn. Roger nghĩ còn hơn thế nữa. Frank Randall đã nhờ mục sư làm điều gì? Có thể là tìm hiểu về Jonathan Randall và James Fraser. Vậy là Claire đã nói với chồng mình về James Fraser - ít nhất bà đã kể với ông ấy điều gì đó, nếu không phải là mọi chuyện.
Nhưng giữa một đại úy người Anh đã hy sinh tại Culloden năm 1746 và người đàn ông có cái tên dường như liên quan chặt chẽ với sự biến mất bí ẩn của Claire vào năm 1945 - và bí mật sâu xa hơn về thân thế của Brianna - thì có mối liên hệ gì chứ?
Phần còn lại của cuốn nhật ký chỉ viết về những chuyện xảy ra mỗi ngày ở giáo xứ; thói say rượu kinh niên của Derick Gowan, lên đến cao trào là chuyến di dời của giáo dân từ sông Ness vì một cái xác chết trôi vào cuối tháng Năm; đám cưới vội vàng của Maggie Brown và William Dundee, một tháng trước khi June, cô con gái của bọn họ ra đời; bà Graham bị mổ ruột thừa và những cố gắng của mục sư để đối phó với dòng chảy ồ ạt những món ăn được bọc kín mà các phu nhân hào phóng của xứ đạo mang đến - Herbert, con chó mục sư nuôi lúc đó, dường như là kẻ được hưởng lợi nhiều nhất.
Đọc lướt qua các trang nhật ký, Roger thấy mình đang mỉm cười, nghe thấy sự hứng thú vui vẻ của mục sư đối với giáo dân của mình một lần nữa sống lại trong từng con chữ. Vì đọc lướt quá nhanh, anh suýt bỏ lỡ phần ghi chép cuối cùng liên quan tới yêu cầu của Frank Randall.
“Ngày Mười tám tháng Sáu - Nhận được một lời nhắn ngắn gọn từ Frank Randall, báo cho tôi biết rằng sức khỏe của vợ anh ấy không hiểu sao lại bất ổn; thai nhi gặp nguy hiểm và anh ấy xin tôi cầu nguyện cho họ.
Hồi âm cam đoan sẽ cầu nguyện giúp họ và gửi đến những lời chúc tốt lành cho cả anh ấy và vợ. Cũng kèm theo thông tin mà tôi đã tìm kiếm được cho anh ấy; không thể nói được là nó có giúp ích gì cho anh ấy không, nhưng quyền phán quyết là của anh ấy. Kể cho Frank biết khám phá đáng kinh ngạc về ngôi mộ của Jonathan Randall ở St. Kilda; hỏi liệu anh ấy có muốn tôi chụp ảnh ngôi mộ đó không. ”
Và đó là tất cả. Không hề có thêm một lần nào nhắc đến nhà Randall hoặc James Fraser nữa. Roger đặt cuốn sổ xuống và day day hai bên thái dương; đọc những dòng chữ viết tay xiên xiên này làm anh thấy hơi đau đầu.
Ngoài việc khẳng định nghi ngờ của anh rằng có một người đàn ông tên là James Fraser luẩn quẩn trong tất cả những chuyện này thì vấn đề kia vẫn chưa hiểu thấu được. Jonathan Randall thì có liên quan quái gì đến chuyện này và tại sao người đàn ông đó lại được chôn ở St. Kilda? Trong lá thư bổ nhiệm có nói Jonathan Randall sinh ra tại một điền trang ở Sussex; tại sao ông ta lại an nghỉ ở một nghĩa địa xa xôi hẻo lánh của nhà thờ Scotland?
“Tối nay anh có cần thứ gì khác không, anh Wakefield?” Giọng Fiona đánh thức anh khỏi dòng mặc tưởng không có kết quả của mình. Anh ngồi thẳng dậy, chớp chớp mắt, thấy cô ta đang cầm một cái chổi và một mảnh giẻ lau.
“Gì cơ? À, không. Không, cảm ơn, Fiona. Nhưng cô đang làm gì vậy? Không phải là cô vẫn còn dọn dẹp vào giờ này trong đêm đấy chứ?”
“À, đó là vì các bà ở nhà thờ,” Fiona giải thích. “Anh nhớ chứ, anh đã nói với bọn họ là ngày mai bọn họ có thể đến đây để tổ chức cuộc họp hằng tháng mà? Em nghĩ mình nên dọn dẹp gọn gàng một chút.”
Các bà ở nhà thờ ư? Roger nao núng tinh thần trước ý nghĩ về bốn mươi bà nội trợ, lòng cảm thông rỉ cả ra, kéo đến nhà mục sư, tạo thành một trận lũ vải tuýt, áo cổ chui trùm bên ngoài áo dài tay cài kín cúc và những viên ngọc trai cấy.
“Anh sẽ dùng trà với các bà ấy chứ?” Fiona hỏi. “Mục sư thường làm thế.”
Ý nghĩ giải trí cho Brianna Randall và các bà ở nhà thờ cùng một lúc khiến Roger chẳng thể thư thái mà suy ngẫm thêm.
“À, không,” anh trả lời ngay tắp lự. “Tôi… tôi đã có hẹn vào ngày mai rồi.” Bàn tay anh đặt lên chiếc điện thoại cố định nằm khuất một nửa trong hốc bàn làm việc của mục sư. “Nếu cô không phiền, Fiona, tôi cần gọi một cuộc điện thoại.”
•••
Brianna thơ thẩn quay trở lại phòng ngủ, mỉm cười một mình. Tôi ngước lên khỏi cuốn sách đang đọc, nhướng mày dò hỏi:
“Điện thoại của Roger hả?”
“Sao mẹ biết?” Trong một thoáng, con bé có vẻ hơi giật mình, rồi cười tít mắt, trút bỏ chiếc áo choàng mặc trong nhà. “Ồ, bởi vì anh ấy là anh chàng duy nhất con quen biết ở Inverness phải không?”
“Mẹ không nghĩ có cậu bạn trai nào gọi điện thoại đường dài cho con từ Boston,” tôi nói, ngó nhìn đồng hồ trên bàn. “Dù sao cũng không phải vào giờ này; bọn chúng đều đang chơi bóng rồi.”
Brianna phớt lờ chuyện này, thọc hai bàn chân vào trong chăn. “Roger mời chúng ta đến một nơi tên là St. Kilda vào ngày mai. Anh ấy nói đó là một ngôi nhà thờ cũ khá thú vị.”
“Mẹ đã nghe nói về nó,” tôi đáp, ngáp một cái. “Được, sao lại không chứ? Mẹ sẽ mang theo khuôn ép hoa cỏ; có lẽ mẹ sẽ tìm được một ít đậu tằm, mẹ đã hứa tìm cho Tiến sĩ Abernathy một ít để nghiên cứu. Nhưng nếu chúng ta định dành cả ngày để đi loanh quanh đọc các tấm bia mộ cổ thì mẹ phải đi ngủ ngay bây giờ. Đào bới quá khứ là một công việc vất vả đấy.”
Mặt Brianna thoáng bừng lên, tôi nghĩ con bé định nói điều gì đó. Nhưng nó chỉ gật đầu và vươn tay tắt đèn, nụ cười tủm tỉm vẫn giấu nơi khóe miệng.
Tôi nằm nhìn vào bóng tối, nghe tiếng con bé trở mình rồi sau đó là nhịp thở đều đều khi con bé chìm vào giấc ngủ. St. Kilda ư? Tôi chưa bao giờ tới đó, nhưng tôi biết nơi ấy; đó là một ngôi nhà thờ cũ như Brianna nói, xa xôi hẻo lánh và cách xa đường đi của các du khách - chỉ thi thoảng có một nhà nghiên cứu ghé đến đó. Có lẽ đây là cơ hội mà tôi vẫn chờ đợi bấy lâu chăng?
Tôi sẽ cùng Roger và Brianna đến đó, chỉ có tôi và hai đứa thôi, nên sẽ không sợ bị quấy rấy. Có lẽ đó là nơi thích hợp để nói cho chúng biết - giữa những giáo dân đã chết từ lâu của St. Kilda. Roger vẫn chưa xác minh được nơi ở của những người đàn ông còn lại của Lallybroch, nhưng dường như khá chắc chắn là ít nhất họ vẫn còn sống khi rời khỏi chiến trường Culloden và đó thực sự là tất cả những gì tôi cần biết vào lúc này. Cuối cùng, tôi đã có thể kể cho Bree nghe kết cục của câu chuyện đó.
Miệng tôi khô khốc khi nghĩ đến cuộc nói chuyện sắp tới. Tôi biết nói gì đây? Tôi cố gắng mường tượng ra diễn biến của cuộc nói chuyện đó; tôi có thể nói gì và phản ứng của chúng sẽ như thế nào, nhưng không thể hình dung ra được. Hơn bao giờ hết, tôi hối hận vì đã hứa với Frank rằng sẽ không viết thư cho mục sư Wakefield. Nếu tôi liên hệ với mục sư thì ít ra Roger đã biết chuyện. Hoặc cũng có thể là không; mục sư có thể sẽ không tin tôi.
Tôi trằn trọc trở mình, tìm kiếm cảm hứng, nhưng sự mệt mỏi đã đổ ập lên người. Cuối cùng, tôi đành từ bỏ và nằm ngửa người trở lại, nhắm mắt trong bóng tối. Như thể ý nghĩ về mục sư đã triệu gọi linh hồn ông đến, một đoạn trích từ Kinh Thánh bồng bềnh hiện ra trong vô thức: Mỗi ngày có đủ việc để lo rồi, giọng mục sư dường như đang thì thào với tôi, mỗi ngày có đủ việc xui xẻo để lo rồi. Và rồi tôi ngủ thiếp đi.
•••
Tôi tỉnh dậy trong bóng tối, hai bàn tay siết chặt lấy ga giường, trái tim đập điên cuồng khiến người tôi rung lên bần bật như da ở mặt trống. “Jesus!” Tôi thì thào.
Chiếc váy ngủ bằng lụa nóng hầm hập và dính sát vào người; nhìn xuống, tôi lờ mờ trông thấy hai đầu nhũ hoa của mình dựng thẳng đứng như muốn đâm xuyên qua lớp vải, cứng như đá cẩm thạch. Cảm giác co thắt run rẩy vẫn còn lưu lại nơi bụng dưới và hai bắp đùi, giống như dư chấn sau một trận động đất. Tôi hy vọng mình đã không hét lên. Có lẽ là không; tôi có thể nghe thấy tiếng thở đều đều của Brianna vẫn vang lên khắp phòng.
Tôi thả mình trở lại chiếc gối, run rẩy yếu ớt, cơn phấn khích đột ngột khiến hai thái dương tôi ẩm ướt.
“Jesus H. Roosevelt Christ,” tôi thầm lẩm nhẩm, hít thở sâu cho tim đập chậm lại, trở về nhịp điệu bình thường.
Một giấc ngủ bị gián đoạn có tác dụng cắt ngang việc nằm mơ triền miên. Suốt những năm dài khi mới làm mẹ rồi làm bác sĩ thực tập, bác sĩ nội trú và bác sĩ trực đêm, tôi đã quen đặt mình xuống là ngủ ngay, những giấc mơ chỉ là những mảnh vỡ chớp nhoáng lướt qua, lóe lên không dứt trong đêm tối khi những dây thần kinh tự tái tạo năng lượng, chuẩn bị cho một ngày làm việc sắp tới.
Mấy năm gần đây, tôi lại bắt đầu nằm mơ trở lại. Những giấc mơ thông thường - dù là ác mộng hay mộng đẹp - đều là một chuỗi dài những hình ảnh, những chuyến lang thang trong khu rừng tâm thức. Và tôi cũng trở nên quen dần với những giấc mơ kiểu này; điều đó cũng là bình thường đối với cái mà người ta vẫn lịch sự gọi là “thời kỳ thiếu thốn”.
Dù vậy, thường thường những giấc mơ thế này chỉ lướt qua, nhẹ nhàng như một cú chạm nhẹ của vải xa tanh mềm mại, và nếu chúng có làm tôi tỉnh giấc, tôi sẽ lập tức ngủ lại được ngay, trí nhớ mơ hồ sẽ không kéo dài cho tới khi trời sáng.
Giấc mơ lần này hoàn toàn khác. Không phải ở chỗ tôi nhớ được bao nhiêu, mà là ấn tượng về một đôi bàn tay ghì chặt lấy mình, điên cuồng và thúc giục, không phải là vuốt ve tán tỉnh mà là thúc ép buộc tôi phải khuất phục. Và một giọng nói gần như thét lên vang vọng trong tai tôi, cùng với tiếng trái tim tôi đập nhỏ dần.
Tôi đặt tay lên trên nhịp đập thình thịch ấy, cảm nhận sự đầy đặn mềm mại nơi bầu ngực bên dưới lớp áo lụa. Hơi thở của Brianna hơi khụt khịt rồi lại trở về nhịp đều đặn. Tôi nhớ đã từng nghe thấy âm thanh đó khi con bé còn nhỏ; nhịp điệu chậm rãi của tiếng ngáy làm người ta thấy yên lòng vững dạ vang lên khắp căn phòng trẻ tối đen, đều đặn như tiếng tim đập.
Nhịp đập của trái tim tôi cũng chậm dần bên dưới lòng bàn tay, dưới lớp vải lụa màu hồng đậm, màu của đôi má trẻ thơ khi ngủ. Khi bế một đứa trẻ để cho nó bú, đường cong của mái đầu nhỏ xinh vừa khít với đường cong nơi bầu ngực, như thể con người mới này thực sự là bản sao phản chiếu phần máu thịt đã sinh ra nó.
Những đứa bé thật mềm mại. Bất cứ ai nhìn vào chúng đều có thể thấy được làn da mỏng manh, êm ái ấy và sự mềm mại như cánh hoa hồng đó mời gọi những ngón tay vuốt ve nó. Nhưng khi bạn sống cùng chúng và yêu thương chúng, bạn sẽ cảm thấy sự mềm mại ấy ăn sâu vào tâm khảm, cặp má tròn trịa phúng phính như món sữa trứng, đôi bàn tay bé xíu mềm oặt như không xương. Những khớp xương mềm như cao su và thậm chí khi bạn hôn bé trong tình yêu thương nồng nhiệt, bờ môi bạn sẽ lún xuống, dường như chẳng bao giờ chạm tới xương. Ôm các bé vào lòng, chúng như tan chảy theo, bất cứ lúc nào cũng có thể hòa lại làm một vào cơ thể bạn.
Nhưng ngay từ ban đầu, mỗi đứa trẻ đều có nét cứng rắn. Đấy chính là thứ mà người ta nói là “cái tôi”, nó định hình nên cá tính của mỗi đứa trẻ.
Năm thứ hai, xương cốt cứng cáp hơn và đứa trẻ bắt đầu đứng thẳng được, xương sọ lớn lên và cứng lại - trở thành một chiếc mũ bảo hiểm bảo vệ cho thứ mềm mại bên trong. Và “cái tôi” cũng phát triển. Nhìn vào chúng, bạn gần như có thể thấy rõ điều đó, khỏe khoắn như gỗ lõi, phát sáng xuyên qua tầng da thịt trong suốt.
Đường nét khuôn mặt hiện rõ khi lên sáu, và tính cách định hình tầm bảy tuổi. Quá trình đó cứ thế tiếp tục, đạt tới đỉnh điểm là thời kỳ rực rỡ của tuổi thanh xuân, khi tất cả sự mềm mại được che lấp đi dưới những lớp xà cừ lóng lánh của rất nhiều cá tính mới mà các cô cậu thiếu niên cố gắng bảo vệ đến cùng.
Những năm kế tiếp, sự cứng cỏi dần lan tỏa, khi một đứa trẻ tìm thấy, định hình các khía cạnh tâm hồn nó, cho tới khi “cái tôi” được cố định, tinh tế và chi tiết như chú côn trùng trong lớp kết tinh của hổ phách.
Tôi cho rằng mình đã cách xa giai đoạn đó rồi, đã mất đi tất cả dấu vết của sự mềm yếu và vững vàng tiến vào tuổi trung niên cứng rắn như thép không gỉ. Nhưng giờ đây, tôi nghĩ cái chết của Frank đã gây ra những vết rạn nứt trong tôi. Và tất cả những rạn nứt đó ngày càng rộng thêm, đến mức tôi không thể phủ nhận sự tồn tại của chúng được nữa. Tôi mang con gái trở lại Scotland, con bé có căn cốt mạnh mẽ như những người đàn bà vùng cao nguyên khác, và hy vọng rằng vỏ bọc của nó cũng đủ mạnh để giúp nó đương đầu khi “cái tôi” bên trong con bé có thể vẫn chưa đạt tới độ chín.
Nhưng cốt lõi bên trong tôi không còn là “cái tôi” cô lập nữa, tôi không có gì để che chở cho bản thân trước sự mềm yếu đến từ nơi sâu thẳm bên trong. Tôi không còn biết mình là thế nào hay con bé sẽ ra sao; tôi chỉ biết điều mình phải làm.
Vì thế tôi đã quay lại đây, và lại mơ một lần nữa, trong bầu không khí mát lạnh của vùng cao nguyên này. Giọng nói trong giấc mơ vẫn văng vẳng bên tai, quẩn quanh bên trái tim tôi, lặp đi lặp lại cùng với tiếng hít thở đều đều của Brianna trong giấc ngủ.
“Em là của anh,” giọng nói đó thì thầm. “Là của anh! Và anh sẽ không để em ra đi.”
[1] Chỉ Đại học Oxford và Đại học Cambridge.