Tôi bơi ngoi lên khỏi ánh sáng lung linh mơ hồ màu vàng của vầng mặt trời, bụi và những hồi ức vỡ vụn, cảm thấy hoàn toàn mất phương hướng.
Frank đang cúi xuống phía trên tôi, gương mặt hằn nếp nhăn vì lo lắng. Anh đang nắm bàn tay tôi, nhưng đó không phải là anh. Bàn tay tôi đang cầm lớn hơn nhiều so với bàn tay của Frank, ngón tay tôi cọ vào những sợi lông cứng trên cổ tay của bàn tay ấy. Tay của Frank vốn mềm mại như tay một cô gái cơ mà.
“Bà ổn cả chứ?” Giọng nói không phải của Frank, trầm thấp và có văn hóa.
“Claire!” Giọng nói đó, trầm và thô hơn, cũng không phải của Frank. Nó cũng không có văn hóa. Nó đầy sợ hãi và đau khổ.
“Jamie.” Cuối cùng tôi đã tìm thấy cái tên đó để kết nối với hình ảnh tinh thần mà tôi vẫn đang tìm kiếm. “Jamie! Đừng…” Tôi ngồi thẳng dậy, điên cuồng nhìn đăm đăm từ khuôn mặt này tới khuôn mặt khác. Tôi đang bị vây quanh bởi một vòng tròn những khuôn mặt hiếu kỳ, hai, ba vị cận thần, một khoảng không nhỏ quang đãng dành cho Bệ hạ, người cũng đang cúi xuống nhìn tôi với vẻ mặt cảm thông.
Hai người đàn ông quỳ trên bụi đất bên cạnh tôi. Jamie ở bên phải, mắt mở lớn, gương mặt tái nhợt y như những bông hoa táo gai phía trên đầu anh. Và bên trái tôi…
“Bà thấy ổn chứ, thưa bà?” Đôi mắt màu lục nhạt chỉ có duy nhất sự quan tâm kính trọng, đôi lông mày sẫm màu rất đẹp cong cong phía bên trên chúng trong dáng vẻ dò hỏi. Đó không phải là Frank, tất nhiên là thế. Cũng không phải Jonathan Randall. Người đàn ông này phải trẻ hơn gã Đại úy kia tới cả chục tuổi, có lẽ trạc tuổi tôi, gương mặt anh ta tai tái và không có nếp nhăn do phơi ngoài nắng gió. Môi anh ta có đường nét rõ ràng, nhưng thiếu đi những dấu ấn của sự độc ác, tàn nhẫn hằn rõ trên miệng gã Đại úy.
“Ông…” Tôi khàn khàn thốt lên, nghiêng người tránh xa khỏi anh ta. “Ông là...”
“Alexander Randall, Esquire[1], thưa bà,” anh ta nhanh nhẹn trả lời, định đưa tay về phía đầu, như thể định bỏ ra chiếc mũ lúc này không hề đội trên đầu. “Tôi không tin là chúng ta đã gặp nhau?” Anh ta nói với vẻ hơi nghi hoặc.
“Tôi, à, cái đó, không, chúng ta chưa gặp,” tôi nói, lại tựa cả người vào cánh tay Jamie. Cánh tay ấy vững vàng như một thanh rào chắn bằng sắt, nhưng bàn tay nắm tay tôi thì đang run lên. Tôi bèn kéo nắm tay của cả hai chúng tôi vào dưới nếp váy của mình để giấu nó đi.
“Một lời giới thiệu không chính thức lắm, cô… ờ… là phu nhân Broch Tuarach có phải không?” Giọng nói the thé kéo sự chú ý của tôi trở lại phía sau, ngay ở trên đầu, tới vẻ mặt ửng hồng, hiền hậu của Công tước Sandringham đang thích thú ngó qua vai Bá tước de Sévigny và Công tước d’Orléans, ông ta len thân hình vụng về của mình qua cái khoảng hẹp vừa đủ đó và chìa bàn tay ra để giúp tôi đứng lên. Vẫn giữ lấy bàn tay ẩm mồ hôi của tôi, ông ta cúi chào về phía Alexander Randall, Esquire, người đang cau mày có vẻ rối rắm khó nghĩ.
“Anh Randall là người tôi thuê làm thư ký, thưa phu nhân Broch Tuarach. Các giáo sĩ Cơ Đốc là một nghề cao quý, nhưng thật không may, sự thanh cao không thanh toán hóa đơn cho anh thợ sửa giày được, đúng vậy không, Alex?” Chàng thanh niên hơi đỏ mặt trước lời châm chọc này, nhưng anh ta vẫn nghiêng đầu về phía tôi một cách nhã nhặn, công nhận lời giới thiệu của ông chủ mình. Chỉ sau đó, tôi mới để ý thấy bộ vét đen cắt may và chiếc cổ cồn trắng cao chứng tỏ anh ta là một tu sĩ cấp bậc thấp.
“Đức ngài nói đúng, thưa phu nhân! Và vì lẽ đó, tôi phải nắm lấy lời mời của ngài ấy bằng lòng biết ơn sâu sắc nhất.” Đôi môi hơi mím lại khi nói lời này, cho thấy lòng biết ơn đó có phần không được sâu sắc đến thế, tuy nhiên, đó là những lời dễ chịu vui vẻ. Tôi liếc nhìn ngài Công tước, thấy đôi mắt xanh lam nhỏ tí của ông ta nheo lại vì ánh nắng, biếu cảm ôn tồn không thể dò được.
Hoạt cảnh nhỏ này bị phá vỡ bởi tiếng vỗ tay của Đức vua triệu gọi hai người hầu, những người này, theo lệnh của Louis, tóm lấy hai cánh tay tôi và dùng sức dìu tôi vào một chiếc ghế kiệu, bất chấp sự phản đối của tôi.
“Tất nhiên là không được rồi, thưa bà,” ông ta nói một cách hòa nhã, bác bỏ cả những lời phản đối và tạ ơn của tôi. “Hãy về nhà và nghỉ ngơi đi; chúng tôi không mong bà bị khó ở vào vũ hội tối mai đâu, non[2]?” Đôi mắt to màu nâu của ông ta vui vẻ nháy với tôi trong khi nâng tay tôi lên môi hôn. Không dời mắt khỏi tôi, ông ta cúi đầu chào Jamie một cách trịnh trọng, còn anh thì đã cố gom hết những lời hóm hỉnh vừa đủ để làm một bài diễn văn bày tỏ lòng biết ơn. Bệ hạ nói: “Ta sẽ chấp nhận lời cảm ơn của ngài, thưa ngài, nếu ngài cho phép ta được khiêu vũ một điệu với phu nhân xinh đẹp đáng yêu của ngài.”
Môi Jamie mím chặt lại trước câu nói này, nhưng anh vẫn cúi chào đáp lại: “Vợ thần cùng chia sẻ niềm vinh hạnh với thần trước sự quan tâm của Bệ hạ.” Anh liếc nhìn về phía tôi. “Nếu cô ấy đủ khỏe để tham dự vũ hội tối mai, thần chắc chắn cô ấy sẽ rất mong đợi được khiêu vũ với Bệ hạ.” Đức vua không hề chờ đợi một lời từ chối chính thức, hất đầu về phía chiếc ghế kiệu.
“Về nhà đi,” ông ta nói.
•••
Cuối cùng cũng về tới nhà sau một chuyến xe xóc nẩy và nóng bức, xuyên qua những con phố thơm mùi hoa và những cái cổng mở, tôi ném đi chiếc váy nặng nề và cái khung khó chịu của nó để mặc vào một chiếc váy dài bằng lụa.
Tôi tìm thấy Jamie đang ngồi bên cạnh cái lò sưởi trống không, mắt nhắm, hai bàn tay đặt trên đầu gối như thể đang suy nghĩ. Anh tái nhợt trong chiếc sơ mi vải lanh lờ mờ sáng trước mặt lò sưởi, trông giống như một bóng ma.
“Lạy Đức Mẹ Đồng Trinh,” anh lẩm bẩm, lắc đầu. “Chúa Trời và các thánh thần, chỉ một chút nữa thôi. Chỉ trong đường tơ kẽ tóc là anh đã giết người đàn ông đó. Em có nhận ra không, Claire, nếu em không ngất xỉu… Chúa ơi, anh đã định giết hắn ta, đánh đổi tất cả những gì anh có.” Giọng anh vỡ òa, rùng mình khi nghĩ đến chuyện đó.
“Đây, anh nên gác chân lên,” tôi thúc giục, kéo một cái ghế kê chân được chạm khắc nặng nề đến.
“Không, giờ anh ổn rồi,” anh nói, phẩy tay ra hiệu không cần. “Vậy, hắn ta là… em trai của Jack Randall?”
“Đáng ra em nên nghĩ đến khả năng đó từ đầu,” tôi nhàn nhạt nói. “Rốt cuộc, anh ta khó có thể là một ai khác.”
“Hừm. Em đã biết là hắn ta làm việc cho Sandringham à?”
Tôi lắc đầu. “Em không biết điều gì về anh ta cả ngoại trừ cái tên và thực tế anh ta là một cha phó. F… Frank không đặc biệt hứng thú về anh ta, vì anh ta không phải là tổ tiên trực hệ của anh ấy.” Giọng nói hơi run run của tôi khi nói đến cái tên Frank đã tố giác tôi.
Jamie đặt bình rượu xuống và đi về phía tôi, chủ động khom người, bế tôi lên và ôm tôi vào ngực như bế em bé. Mùi hương của khu vườn hồng Versailles nồng nàn và tươi mát tỏa ra từ những nếp gấp trên áo anh. Anh hôn lên tóc tôi và đi về phía giường.
“Hãy để cho cái đầu của em nằm nghỉ nào, Claire,” anh nói khẽ. “Thật là một ngày dài đối với cả hai đứa mình.”
•••
Tôi sợ rằng cuộc chạm trán với Alexander Randall sẽ khiến Jamie lại mơ thấy ác mộng. Nó không còn thường xuyên xảy ra nữa, nhưng giờ sẽ lặp lại, tôi sẽ thấy anh thức giấc trong đêm, thân mình căng thẳng như trong một trận đánh đột ngột. Và rồi anh sẽ lảo đảo ra khỏi giường, dành cả đêm ở bên cửa sổ như thể nơi đó cho anh một lối thoát, và sẽ từ chối bất cứ hình thức an ủi hay can thiệp nào. Tới khi trời sáng, Jack Randall và những lũ quỷ trong đêm tối sẽ bị buộc trở về cái hộp của chúng, bị ép xuống và buộc chặt bằng những dải băng thép theo ý nguyện của Jamie, tất cả sẽ lại tốt đẹp.
Nhưng Jamie nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, những căng thẳng trong ngày đã bị quét khỏi gương mặt anh, chỉ để lại sự yên bình và êm ái ngay lúc tôi thổi tắt nến.
Thật sung sướng khi được nằm yên không nhúc nhích với tứ chi lạnh giá ngày càng ấm dần lên, vô số cơn đau nhức nhỏ ở lưng, cổ và đầu gối cứ dịu dần đi thành một sự êm ái khi giấc ngủ lấn dần đến. Nhưng tâm trí tôi, thoát khỏi sự cảnh giác đề phòng, lại lặp đi lặp lại hàng ngàn lần cái cảnh tượng bên ngoài lâu đài lúc đó - một cái nhìn thoáng qua mái đầu đen và đôi lông mày cao, hai cái tai sát gần và quai hàm có đường nét đẹp đẽ - đó là ánh chớp khắc nghiệt đầu tiên của việc nhận lầm, nó giáng vào trái tim tôi một cơn gió vui mừng và đau khổ. Frank, tôi đã nghĩ thế. Frank. Và đó là gương mặt của Frank mà tôi thấy khi chìm vào giấc ngủ.
Giảng đường này là một trong số các giảng đường tại trường Đại học London; trần nhà bằng gỗ cổ còn sàn nhà thì lát đá theo kiến trúc hiện đại, miếng vải sơn lót sàn đã trơ ra vì những bàn chân liên tục giẫm lên. Các chỗ ngồi là những băng ghế cũ kỹ trơn bóng; những chiếc bàn mới được để dành cho những bài giảng khoa học. Lịch sử có thể hòa hợp được với thứ gỗ sứt sẹo sáu mươi năm tuổi; rốt cuộc thì môn học là cố định và sẽ không thay đổi, nhưng tại sao cơ sở vật chất của nó lại khác nhau?
“Đồ vật mỹ nghệ[3],” giọng Frank nói, “và đồ để sử dụng.” Những ngón tay thon dài của anh chạm vào vành của chiếc giá nến bằng bạc, mặt trời từ cửa sổ hắt sáng lên chất kim loại làm nó ánh lên, như thể sự đụng chạm của anh mang điện tích.
Những đồ vật đó, tất cả đều được mượn từ bộ sưu tập của Viện bảo tàng Anh Quốc, được xếp thành hàng dọc theo mép bàn, đủ gần để các sinh viên ngồi hàng phía trước có thể trông thấy được cả những vết rạn li ti trên chất liệu bằng ngà voi màu vàng của chiếc hộp đựng đồ nhiều ngăn, vết ố của khói thuốc lá lâu năm làm nâu sạm cả thành chiếc tẩu hút thuốc bằng đất sét trắng. Một chiếc lọ đựng dầu thơm có hình khắc mạ vàng của Anh, một cái giá để bút mực bằng đồng mạ vàng với nắp trang trí nổi, một cái thìa bằng sừng hươu đã bị nứt, một chiếc đồng hồ nhỏ bằng đá cẩm thạch trên đỉnh có hai con thiên nga đang uống nước.
Và đằng sau hàng đồ vật này là một hàng tranh tiểu họa, nằm trên mặt bàn, các đường nét không thấy rõ vì bị ánh sáng phản chiếu trên bề mặt của chúng.
Mái đầu đen của Frank cúi xuống trên những món đồ đó, bị chúng thu hút hoàn toàn. Mặt trời chiều gợi lên ráng đỏ tản mạn trên mái tóc anh. Anh nâng cái tẩu thuốc bằng đất sét lên, khum khum cầm bằng một tay, gượng nhẹ như nâng trứng.
“Với một vài thời kỳ lịch sử,” anh nói, “chúng ta có lịch sử của chính nó; bản chứng nhận được viết tay của những con người đã sống ở thời kỳ đó. Với nhiều thời kỳ khác, chúng ta chỉ có những món đồ của giai đoạn đó để chỉ ra cho chúng ta thấy những người xưa đã sống như thế nào.”
Anh đặt cái tẩu lên miệng và ngậm lấy ống tẩu, phồng má ra, lông mày nhướng lên một cách hài hước. Có tiếng cười khúc khích bị nén lại từ dưới các khán giả, và anh cười, đặt chiếc tẩu xuống.
“Nghệ thuật, và những món đồ mỹ nghệ” - anh vẫy tay về phía một dàn đồ vật lấp lánh. - “Ở đây có những thứ chúng ta thường hay thấy, đồ trang trí của một xã hội. Và tại sao không chứ?” Anh chỉ định một cậu bé có mái tóc nâu và khuôn mặt thông minh. Một mánh khóe để đánh bóng bài giảng; chọn ra một trong số người nghe để trò chuyện như thể bạn đang ở một mình với cậu ta. Một lát sau lại chuyển sang người khác. Và mọi người trong phòng sẽ cảm thấy được trọng tâm của những điều bạn muốn nhấn mạnh.
“Ở đây có khá nhiều thứ xinh đẹp.” Một ngón tay chạm vào mấy con thiên nga trên chiếc đồng hồ khiến chúng quay tròn, những cái cổ cong cong đều đặn chuyển động gấp đôi. “Rất đáng để bảo quản! Nhưng ai thèm quan tâm giữ một cái ấm ủ trà cũ đã chắp vá, hay một cái lốp ô tô cũ mòn chứ?” Lần này là một người đẹp tóc vàng đeo kính, mỉm cười khúc khích đáp lại.
“Nhưng chúng là những món đồ hữu ích, những thứ không được ghi chép thành văn bản, được sử dụng, bị làm hỏng và bị vứt bỏ mà không cần suy nghĩ đến lần thứ hai, cái đó nói cho bạn biết một người bình thường sống như thế nào. Số lượng của những cái tẩu này chẳng hạn, nói cho chúng ta biết đôi điều về mức độ thường xuyên và loại thuốc lá được dùng trong các tầng lớp xã hội, từ cao” - một ngón tay anh gõ vào cái nắp được tráng men của chiếc hộp đựng thuốc lá - “tới thấp.” Ngón tay đó tiếp tục di chuyển, vuốt ve dọc theo cán tẩu với một sự thân thuộc quyến luyến.
Lúc này, một phụ nữ trung niên, đang nguệch ngoạc điên cuồng ghi chép từng lời giảng, vừa vặn nhận thấy sự quan tâm khác thường từ phía trên. Các nếp nhăn nhíu lại bên đôi mắt màu lục nhạt đang cười.
“Cô không cần phải ghi chép mọi thứ đâu, cô Smith,” anh khiển trách. “Dù sao đây là một giờ đồng hồ giảng bài, chiếc bút chì của cô sẽ không thể nào không mòn đi được.”
Người phụ nữ đỏ mặt và thả cây bút chì xuống, nhưng mỉm cười ngượng ngùng đáp lại nụ cười tươi rói thân thiện trên gương mặt Frank. Giờ anh đã có được bọn họ, mọi người đều được sưởi ấm trong bầu không khí hài hước vui vẻ, sự chú ý bị thu hút bởi những ánh sáng lóe lên của lớp mạ vàng và ánh sáng lấp lánh. Giờ đây họ sẽ bám theo anh mà không ồn ào hay than phiền, dọc theo con đường mòn của logic và đi sâu vào những bụi cây của thảo luận. Một sự căng thẳng tất yếu để lại dấu vết trên cổ anh khi anh cảm thấy sự chú ý của sinh viên gắn chặt vào mình.
“Nhân chứng tốt nhất của lịch sử là đàn ông hoặc đàn bà” - một cái gật đầu về phía cô bé xinh xắn tóc vàng - “những người đã sống trong lịch sử, đúng không?” Anh mỉm cười và cầm chiếc thìa bằng sừng hươu bị nứt lên. “À, có lẽ. Rốt cuộc, đó là bản tính của con người khi trưng ra mặt tốt đẹp của sự vật, sự việc khi bạn biết ai đó sẽ đọc những gì bạn viết. Người ta có xu hướng tập trung vào những gì họ cho là quan trọng, và thường là vừa đủ, họ sắp xếp nó gọn gàng để cho công chúng thưởng thức. Thật hiếm khi tìm được một Pepys là người ghi chép lại các chi tiết về một đám rước hoàng gia, với một sự hứng thú ngang với việc ghi lại số lần mỗi đêm ông sử dụng bô đi tiểu.”
Lần này, tiếng cười tác động đến tất cả mọi người và anh thả lỏng, ngẫu nhiên ngả người ra sau, dựa vào chiếc bàn, ra hiệu bằng chiếc thìa.
“Tương tự như thế, những đồ vật đáng yêu, những vật do con người làm ra đầy tính nghệ thuật là những thứ thường hay được lưu giữ nhất. Nhưng những cái bô, thìa và những chiếc tẩu thuốc bằng đất sét rẻ tiền này có thể kể cho chúng ta thậm chí còn nhiều hơn về những người đã sử dụng chúng.”
“Còn những con người đó thì sao? Chúng ta nghĩ về những nhân vật lịch sử như thứ gì đó khác biệt so với chúng ta, đôi khi có nửa phần như thần thoại. Nhưng có người đã chơi đùa với thói quen nhận định đó” - ngón trỏ mảnh khảnh của anh vuốt ve chiếc hộp nhiều ngăn - “một phu nhân đã dùng thứ này” - đẩy nhẹ cái lọ đựng dầu thơm - “chấm nhẹ dầu thơm phía sau tai, trên cổ tay của bà ta… các quý cô còn xức nước hoa vào chỗ nào khác nữa nhỉ?” Anh đột nhiên ngẩng đầu, mỉm cười với cô gái tóc vàng bụ bẫm ngồi hàng đầu tiên, cô gái đỏ mặt, cười khúc khích và e dè chạm vào ngay phía trên cổ áo chữ V của mình.
“À, phải rồi. Ngay chỗ đó. Vậy thì quý bà đã sở hữu thứ này cũng đã làm như vậy.”
Vẫn mỉm cười với cô gái, anh mở nút chai dầu thơm và nhè nhẹ đưa nó ngang qua dưới mũi.
“Nó là gì thế, thưa giáo sư? Arpège[4] à?” Sinh viên này không quá dè dặt; cũng có mái tóc đen giống Frank, với đôi mắt màu xám mang ẩn ý tán tỉnh.
Anh nhắm mắt lại và hít thở thật sâu, hai cánh mũi phập phồng bên trên chiếc lọ.
“Không. Nó là L’Heure Bleu. Mùi hương yêu thích của tôi.”
Anh quay về phía chiếc bàn, mái tóc rủ xuống lông mày trong khi bàn tay anh lướt qua phía trên hàng tranh tiểu họa.
“Và còn có những món đồ thuộc một đẳng cấp đặc biệt nữa - những bức chân dung. Một chút nghệ thuật, và cùng lúc, chúng ta có thể nhìn thấy chính bản thân những con người đó. Nhưng họ có bao nhiêu chân thật đối với chúng ta?”
Anh cầm lên một hình ô van nhỏ xíu và xoay mặt của nó ra trước lớp học, đọc cái nhãn phụ nhỏ dính phía sau nó.
“Một tiểu thư, tác phẩm của Nathaniel Plimer, được ký bằng chữ cái in hoa đầu tên và đề năm 1786, với mái tóc nâu uốn quăn thành búi cao, mặc một chiếc váy hồng và áo lót cổ phồng, phần nền bức tranh có cảnh trời mây.” Anh giơ lên một hình vuông nhỏ bên cạnh bức họa cô gái.
“Một quý ông, tác phẩm của Horace Hone, được ký tên bằng chữ viết lồng nhau và đề năm 1780, với mái tóc rắc phấn kiểu en queue, mặc một chiếc áo khoác nâu, áo chẽn màu xanh lam, ren vải ba tít và một tấm huân chương, có lẽ là Huân chương Danh dự Cao quý của Bath.”
Bức tiểu họa miêu tả một người đàn ông có khuôn mặt tròn trịa, cái miệng hồng mím lại đúng dáng vẻ trịnh trọng của những bức chân dung thế kỷ mười tám.
“Các họa sĩ, chúng ta biết đấy,” anh nói, đặt bức chân dung xuống. “Họ ký tên lên tác phẩm của mình, hoặc để lại manh mối nhận diện bằng những phương pháp và chủ đề họ sử dụng. Nhưng những người họ vẽ thì sao? Chúng ta trông thấy họ, nhưng chúng ta không biết gì về họ cả. Những kiểu tóc lạ lùng, những bộ trang phục kỳ quái - họ dường như không phải là những người bạn biết, đúng không? Và cái cách nhiều họa sĩ vẽ họ, gương mặt tất cả đều giống nhau; gương mặt đần đần và tái nhợt, hầu hết chúng đều như vậy, chẳng có gì nhiều nhặn hơn cho bạn biết về họ cả. Thỉnh thoảng có một bức nổi bật…” Bàn tay lơ lửng phía trên hàng tranh tiểu họa, anh chọn ra một hình bầu dục khác.
“Một quý ông…”
Anh cầm lên bức tiểu họa đó, và đôi mắt màu xanh lam của Jamie sáng rực dưới mái tóc bờm xờm của anh, được chải một lần, tết đuôi sam và thắt ruy băng gọn gàng theo đúng dáng vẻ trang trọng khác thường. Chiếc mũi sắc cạnh rõ nét ngay phía trên phần cổ áo đăng ten của anh, cái miệng rộng dường như đang chuẩn bị nói, khóe miệng hơi cong lên.
“Nhưng họ đã là những con người có thực,” giọng Frank khẳng định. “Họ cũng giống như các bạn - chỉ khác biệt một vài chi tiết nhỏ như họ không đi xem phim hay lái xe trên đường cao tốc” - có những tiếng cười khúc khích hưởng ứng trong lớp - “nhưng họ quan tâm tới con cái, họ yêu chồng, yêu vợ mình… à, đôi khi họ làm…” Tiếng cười lại to hơn.
“Một phu nhân,” anh khẽ nói, nâng bức chân dung cuối cùng trong lòng bàn tay, che nó đi một lát. “Với mái tóc nâu xoăn tít tới tận vai, và cổ đeo một chuỗi vòng ngọc trai. Không ghi ngày tháng. Họa sĩ vô danh.”
Đó là một tấm gương, không phải một bức tiểu họa. Hai má tôi ửng hồng, môi tôi run run khi ngón tay Frank nhẹ nhàng lần theo đường nét quai hàm tôi và chiếc cổ duyên dáng. Những giọt lệ trào lên nơi khóe mắt và tràn xuống hai gò má khi tôi nghe giọng anh tiếp tục giảng bài, đặt bức tiểu họa xuống, và tôi chăm chăm nhìn lên cái trần nhà bằng gỗ.
“Không ghi ngày tháng. Vô danh. Nhưng cô ấy đã từng… đã từng có thực.”
Tôi thấy khó chịu không thở nổi, đầu tiên nghĩ rằng tôi đang bị ngộp thở vì tấm kính phía trên bức tiểu họa. Nhưng thứ đang áp vào mũi tôi lại mềm mềm và ẩm ướt, nên tôi xoay đầu đi và tỉnh dậy, cảm thấy chiếc gối vải lanh ướt đẫm nước mắt bên dưới má mình. Bàn tay Jamie to lớn và ấm áp đặt trên vai tôi, đang nhẹ nhàng lay tôi tỉnh.
“Suỵt, cô bé! Suỵt! Em đang mơ thôi. Anh ở ngay đây.”
Tôi quay mặt, rúc vào bờ vai trần ấm áp của anh, cảm thấy những giọt nước mắt trơn trượt giữa má tôi và da thịt anh. Tôi ôm siết lấy sự rắn chắc vững vàng của anh, những âm thanh trong đêm tối của ngôi nhà Paris từ từ lọt vào tai, mang tôi trở lại với cuộc sống của chính tôi lúc này.
“Em xin lỗi,” tôi thì thầm. “Em đang mơ về… về…”
Anh vỗ lưng tôi nhè nhẹ, với tay vào dưới gối tìm một chiếc khăn tay.
“Anh biết. Em đang gọi tên anh ta.” Anh nói, giọng nhẫn nại.
Tôi gối đầu lên vai anh. Anh có mùi ấm áp và lộn xộn, mùi cơn ngái ngủ của anh pha trộn với mùi của chiếc chăn bông đã xẹp và mùi khăn trải giường vải lanh sạch sẽ.
“Em xin lỗi,” tôi nhắc lại lần nữa.
Anh cười khẩy, không hẳn là cười.
“Chà, anh sẽ không nói rằng anh không ghen với người đàn ông đó,” anh cục cằn bảo, “bởi vì anh đang ghen thật. Nhưng anh khó có thể phẫn nộ với anh ta vì giấc mơ của em. Hay những giọt nước mắt của em.” Ngón tay anh dịu dàng lần theo dấu vết ẩm ướt ở một bên má tôi, rồi lau nó đi bằng chiếc khăn mùi soa.
“Không phải thế chứ?”
Anh nở nụ cười nửa miệng trong ánh sáng lờ mờ.
“Không. Em đã yêu anh ta. Anh không trách em cả việc em khóc vì anh ta. Và anh phần nào được an ủi khi biết…” Anh ngập ngừng, tôi đưa tay lên vuốt mái tóc bờm xờm ra khỏi mặt anh.
“Biết gì cơ?”
“Rằng khi cần thiết, em cũng có thể khóc thương anh như thế,” anh dịu dàng nói.
Tôi áp chặt mặt mình vào lồng ngực anh, cho nên những lời tôi nói cũng trở nên nghèn nghẹn.
“Em sẽ không khóc vì anh đâu, bởi vì em sẽ không phải làm như thế. Em sẽ không để mất anh, sẽ không!”
Một ý nghĩ đột nhiên nảy ra, tôi ngước lên nhìn anh, vòng râu quai nón lởm chởm làm mặt anh tối đi một mảng.
“Anh không sợ em sẽ quay trở về à? Anh không nghĩ rằng bởi vì em… nghĩ tới Frank…”
“Không.” Giọng anh vội vàng và êm ái, một câu đáp lời nhanh chóng ngang với vòng tay siết chặt đầy sở hữu của anh quanh người tôi.
“Không,” anh nhắc lại lần nữa, còn dịu dàng hơn. “Chúng mình đã ràng buộc chặt chẽ, em và anh, không điều gì trên trái đất này có thể chia rẽ anh khỏi em.” Một bàn tay to lớn đưa lên vuốt ve mái tóc tôi. “Em còn nhớ lời thề máu mà anh đã tuyên thệ với em khi chúng ta làm đám cưới không?”
“Có, em nhớ. “Em là máu của anh, là xương của anh…”.”
“Anh trao em thân thể anh, để hai ta có thể trở thành một,” anh nói nốt. “Đúng thế, và anh đã giữ lời thề đó, Sassenach ạ, em cũng vậy nhé!” Anh xoay người tôi, một bàn tay khum lại nhẹ nhàng phủ lên phần bụng đã hơi nhô lên của tôi.
“Máu của anh,” anh thì thầm, “và xương của anh. Em đang mang anh bên trong em, Claire ạ, và bây giờ em không thể rời khỏi anh được, cho dù có bất cứ điều gì xảy ra. Em là của anh, luôn luôn thế, dù em có muốn hay không. Em là của anh, và anh sẽ không để em đi đâu cả.”
Tôi đặt tay lên tay anh, ép sát nó vào người mình.
“Không,” tôi nói khẽ, “cả anh cũng không được rời khỏi em.”
“Không,” anh nói, nhếch miệng cười. “Vì anh sẽ giữ lời thề cho tới tận hơi thở cuối cùng.” Anh siết chặt cả hai tay quanh người tôi, cúi đầu lên vai tôi, vì thế tôi có thể cảm nhận được hơi thở ấm áp khi những lời ấy thì thầm bên tai mình, trong bóng tối.
“Vì anh đã trao em linh hồn của mình, cho đến trọn đời.”
[1] Tiếng Anh: có nghĩa là ông hoặc ngài, thường viết đằng sau tên họ ở phần địa chỉ đề trên thư.
[2] Tiếng Pháp: đúng không.
[3] Tiếng Pháp: vertu.
[4] Tên một thương hiệu nước hoa.