Tôi ngủ li bì suốt nhiều ngày sau đó và không biết gì cả. Nó là một phần cần thiết trong quá trình hồi phục về thể chất, hay là sự rút lui ngoan cố để tránh đánh thức thực tế. Tôi chỉ miễn cưỡng thức dậy để ăn một chút và ngay lập tức rơi vào trạng thái ngẩn ngơ quên lãng, tựa như món xúp loãng ấm áp trong dạ dày tôi là cái mỏ neo, kéo tôi chìm sâu vào giấc ngủ cùng nó.
Vài ngày sau, tôi thức giấc bởi những âm thanh liên tục bên tai và nhiều bàn tay nhấc tôi khỏi giường. Hai cánh tay bế tôi vừa chắc khỏe vừa nổi cơ bắp cuồn cuộn và chẳng mấy chốc, tôi cảm thấy mình đang bồng bềnh trong sung sướng. Nhưng vì mùi thuốc lá cùng mùi rượu rẻ tiền mà tôi phải thức giấc và phát hiện mình đang nằm trên tay Hugo, chàng người hầu khổng lồ của Louise de La Tour.
“Đặt tôi xuống!” Tôi kêu thét, đánh anh ta một cách yếu ớt. Anh ta giật mình khi trông thấy con người vừa hồi sinh từ cõi chết và suýt đánh rơi tôi, nhưng một giọng cao vút, đầy quyền uy đã yêu cầu hai chúng tôi dừng lại.
“Claire, bạn thân mến! Đừng sợ, ma chère, mọi chuyện ổn cả. Tôi đang đưa cô đến Fontainebleau. Có không khí trong lành và thức ăn ngon - cô cần điều đó lúc này. Và nghỉ ngơi, cô cần nghỉ ngơi…”
Tôi chớp mắt nhìn ánh sáng như cừu con mới đẻ. Khuôn mặt tròn trĩnh, hồng hào và lo lắng của Louise đang lơ lửng gần đó, như một tiểu thiên sứ trên mây. Mẹ Hildegarde đứng sau cô ấy, bà cao lớn và lạnh lùng, như thiên thần trước cổng thiên đường. Ảo giác thiên đường của tôi càng trở nên thực hơn nhờ vào ô cửa kính ố màu của tiền sảnh bệnh viện.
“Phải,” bà ấy lên tiếng. Giọng nói trầm sâu giúp từ ngữ tối giản này được nhấn mạnh hơn những lời líu lo của Louise. “Chúng sẽ tốt cho bà. Au revoir[1], bạn tôi.”
Thế là, tôi được bế xuống những bậc cầu thang của bệnh viện và dù muốn hay không, cũng bị nhét vào ngồi trong chiếc xe ngựa của Louise. Giờ đây, tôi chẳng có sức khỏe cũng như ý chí để phản đối.
Chiếc xe ngựa nẩy liên miên trên những ổ gà và vết lún nên tôi chẳng thể chợp mắt suốt chuyến đi. Bên cạnh đó, việc Louise cứ huyên thuyên không ngớt càng giúp tôi tỉnh táo hơn. Ban đầu, tôi cố gắng tỏ vẻ ngạc nhiên để đáp lại, nhưng tôi sớm nhận ra, cô ấy không cần câu trả lời, mà thực tế, cô ấy sẽ nói chuyện dễ dàng hơn nếu không bị chú ý.
Sau nhiều ngày nằm dưới mái vòm làm bằng đá xám lạnh lẽo của bệnh viện, tôi cảm thấy mình giống một xác ướp tươi tắn, không quấn băng, bị ánh sáng rực rỡ cùng màu sắc áp chế. Tôi có thể dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh mới nếu được ngả lưng một lúc và để ánh sáng gột rửa toàn bộ cơ thể mà không cố gắng phân biệt thành phần của nó.
Kế hoạch này có hiệu quả đến khi chúng tôi tới một cánh rừng nhỏ bên ngoài Fontainebleau. Những thân sồi đen dày đặc cùng tán lá thấp rải rác khắp nơi đã che phủ mặt đất bên dưới và làm ánh sáng thường xuyên thay đổi. Do vậy toàn bộ cánh rừng giống như đang cựa mình trong gió. Tôi cảm thấy thán phục hiệu ứng của không gian bên ngoài, chợt nhận ra mấy thứ tôi cho là thân cây đang thực sự di chuyển, đung đưa rất chậm rãi.
“Louise!” Tôi gọi to và tóm lấy cánh tay cô ấy, nên cô ấy phải dừng câu chuyện giữa chừng.
Cô ấy xô qua để ngó xem thứ tôi trông thấy ở bên ngoài rồi ngồi phịch trở lại phía ghế của cô ấy trong khoang xe và thò đầu ra ngoài cửa sổ quát người đánh xe.
Chúng tôi đã đến một chỗ hành hình treo cổ trơn trượt, bụi bặm, đối diện với cánh rừng. Có ba người, hai nam và một nữ. Chất giọng cao và bị kích động của cô ấy tiếp tục nhận xét và thắc mắc. Đôi lúc nó bị ngắt quãng bởi lời xin lỗi hoặc giải thích của tay xà ích, thế nhưng tôi không quan tâm.
Dù họ đang xê dịch và quần áo chuyển động, nhưng tất cả gần như vẫn đứng yên, thậm chí họ chậm chạp hơn cả rừng cây xung quanh. Các khuôn mặt đều đen kịt vì nghẹt thở. Trong cơn sốc, tôi đã nghĩ ông Forez sẽ không chấp nhận chuyện này. Một vụ hành hình nghiệp dư nhưng hiệu quả. Gió cứ thổi và mùi tử khí bay tới chỗ chúng tôi.
Louise thét to, thụi vào khung cửa sổ vì giận dữ điên cuồng. Chiếc xe giật mạnh làm cô ấy ngã ra ghế.
“Merde[2]!” Cô ấy kêu lên, đưa tay quạt khuôn mặt đã đỏ lựng. “Tên ngốc kia, lại dừng ngay đấy! Thật bất cẩn! Cú sốc không tốt cho đứa bé, đúng thế, và bạn, bạn đáng thương… Ôi, Claire đáng thương! Tôi rất lấy làm tiếc, tôi không định nhắc cô nhớ đến… Làm thế nào để cô tha thứ cho tôi đây, tôi thô thiển quá…”
May mắn thay, tâm trạng lo sợ làm tôi buồn khiến cô ấy quên đi nỗi phiền muộn của chính mình khi trông thấy mấy cái xác đó, nhưng để ngăn cô ấy khỏi xin lỗi thì quá mệt mỏi. Cuối cùng, tôi đành chuyển chủ đề về những xác người bị treo cổ.
“Ai vậy?”
Việc làm sao nhãng đã thành công. Cô ấy chớp mắt, hồi tưởng cơn sốc của cơ thể mình. Sau đó, Louise lôi ra một lọ a-mô-ni-ắc, ngửi thật sâu đến mức hắt hơi.
“Hắt… xì! Những kẻ Huguenot[3],” cô thốt lên, rồi khịt mũi và thở khò khè. “Cải cách Công giáo. Xà ích nói vậy.”
“Người ta treo cổ họ? Vẫn còn chuyện đó ư?” Tôi đã nghĩ những vụ ngược đãi về tôn giáo chỉ là tàn tích từ những thời kỳ đầu.
“Chà, không chỉ những người Cải Cách, mặc dù riêng họ cũng đủ rồi.” Louise nói và hít hà. Cô đưa chiếc khăn mùi soa thêu họa tiết lên mũi và hắt xì lớn tiếng một cách sảng khoái.
“À, đỡ hơn rồi.” Cô nhét chiếc khăn trở vào túi, tựa ra sau và thở dài. “Bây giờ, tôi đã bình tĩnh hơn. Thật là một cú sốc lớn! Nếu họ phải treo cổ chúng thì cũng không sao, nhưng họ lại treo ở nơi công cộng, để các phu nhân bị rơi vào hoàn cảnh kinh hãi thế này ư? Cô có ngửi thấy không? Phù! Nơi đây là đất của Bá tước Medard. Tôi sẽ gửi cho ông ấy một bức thư phàn nàn về chuyện này, cứ chờ xem!”
“Nhưng tại sao họ lại treo cổ những người này?” Tôi thắc mắc, cắt ngang lời Louise một cách thô bạo, nhưng đây là cách duy nhất để thực sự nói chuyện với cô ấy.
“Ồ, sử dụng yêu thuật, phần lớn là vậy. Cô thấy đấy, có một người phụ nữ. Nếu có phụ nữ thì thường là sử dụng yêu thuật. Nếu chỉ toàn đàn ông thì phần lớn là truyền bá dị giáo và xúi giục nổi loạn, nhưng phụ nữ không giảng đạo. Cô thấy những bộ quần áo bẩn thỉu sẫm màu của cô ta không? Thật xấu xí! Mặc độc quần áo sẫm màu quanh năm suốt tháng thì thật buồn chán, nhưng tín ngưỡng nào bắt người theo đạo phải mặc đồ như thế? Hiển nhiên là tín ngưỡng của Quỷ dữ, ai cũng thấy. Chúng sợ phụ nữ, cho nên chúng...”
Tôi nhắm mắt và ngả người ra sau. Tôi hy vọng biệt thự đồng quê của Louise không còn xa.
•••
Ngoài đám khỉ mà cô ấy không bao giờ rời xa, biệt thự đồng quê của Louise còn chứa một lượng lớn những món đồ trang trí khác nhau, với phong cách không rõ ràng. Tại Paris, cô ấy phải tham khảo gu thẩm mỹ của chồng và cha mình, do đó, các căn phòng được trang hoàng lộng lẫy với màu sắc nhẹ nhàng. Tuy nhiên, hiếm khi Jules về biệt thự đồng quê bởi ông ta quá bận rộn trên thành phố, do đó gu thẩm mỹ của Louise được tự do thể hiện.
“Đây là đồ chơi mới nhất của tôi; đáng yêu chứ?” Cô ấy thủ thỉ, đưa tay lướt trên mặt gỗ sẫm màu được chạm khắc hoa văn của một ngôi nhà nhỏ nhô ra trên bức tường, kế bên cái chân đèn bằng đồng mạ vàng được tạo hình nữ thần Eurydice[4].
“Nó giống một cái đồng hồ cúc cu,” tôi không thể tin nổi.
“Cô đã thấy một cái trước đây sao? Tôi không nghĩ có cái nào khác ở Paris đâu!” Louise trề môi vì nghĩ rằng đồ chơi của mình không phải độc nhất vô nhị, nhưng cô ấy vẫn rạng rỡ, vặn các kim của chiếc đồng hồ để chỉ giờ tiếp theo. Louise đứng dậy và tươi cười tự hào khi con chim nhỏ ló đầu ra khỏi cửa, kêu lên mấy tiếng nhức óc: “Cúc cu!”
“Món này không quý giá ư?” Cô ấy chạm vào đầu con chim thật nhanh trước khi nó biến mất trong lỗ trốn. “Berta, quản gia ở đây, đã tặng nó cho tôi. Anh trai bà ấy mang nó về từ Thụy Sĩ. Nhắc đến người Thụy Sĩ, phải nhắc đến những thợ chạm khắc tài hoa, phải không nào?”
Tôi muốn nói không, nhưng thay vào đó, lại lẩm bẩm những lời tán dương lịch sự.
Tâm trí của Louise như con châu chấu, nhanh chóng nhảy sang một chủ đề mới nảy sinh từ những suy nghĩ xoay quanh người hầu gốc Thụy Sĩ.
“Cô biết đấy, Claire,” cô ấy nói, có phần khiển trách, “cô nên đến dự lễ Misa tại nhà nguyện mỗi sáng.”
“Tại sao?”
Cô ấy hất đầu về phía cửa, một người hầu bê khay đi vào.
“Thực ra, tôi không quan tâm, nhưng đám người hầu thì có - họ rất sùng đạo và tới đây từ nông thôn. Một người hầu từ Paris về đây ngu ngốc đến mức kể với đầu bếp toàn bộ câu chuyện ngu xuẩn về La Dame Blanche. Tôi đã bảo họ đó là chuyện nhảm nhí, tất nhiên, cả đe dọa đuổi việc bất kỳ người nào mà tôi bắt gặp đang lan truyền tin đồn tương tự, nhưng… chà, nếu cô đến lễ Misa thì sẽ tốt hơn. Hoặc ít nhất, thi thoảng cầu nguyện lớn tiếng để họ có thể nghe thấy.”
Là một kẻ vô thần, tôi nghĩ việc dự lễ Misa hằng ngày, tại nhà nguyện trong biệt thự, có phần thái quá, nhưng bởi khá thích thú với chuyện này nên tôi đồng ý làm những việc có thể xoa dịu nỗi sợ hãi của những người hầu. Bởi vậy, Louise và tôi đã đọc to bài thánh thi suốt một tiếng tiếp theo và đồng thanh đọc thuộc lòng Lời răn của Chúa - thật lớn. Tôi không biết phần trình diễn này tác động tới những người hầu thế nào, nhưng ít ra, nó làm tôi đủ mệt để lên giường chợp mắt, ngủ một giấc không mộng mị đến sáng hôm sau.
Tôi thường khó ngủ, có thể vì trạng thái thức giấc của tôi chỉ hơi khác giấc ngủ gà gật lo âu một chút. Tôi mất ngủ cả đêm, nhìn chằm chằm lên trần nhà bằng thạch cao trắng trang trí hình quả và hoa. Nó treo trên đầu tôi như một hình thù xám xịt lờ mờ trong bóng tối, hiện thân của nỗi buồn bao phủ tâm trí tôi cả ngày. Khi nhắm mắt, tôi đã mơ. Nhưng tôi không thể cản những giấc mơ màu xám ở lại, chúng bước vào thế giới màu sắc rực rỡ để rồi tấn công tôi trong bóng tối. Vậy nên, tôi hiếm khi ngủ được.
•••
Tôi không có tin tức nào từ Jamie hay nghe tin về anh. Anh không đến thăm tôi tại bệnh viện, vì mặc cảm tội lỗi hay bị thương, tôi cũng chẳng biết. Tuy nhiên, anh đã không đến, dù ở bệnh viện hay ở Fontainebleau. Và bây giờ, có khả năng anh đã đi Orvieto.
Đôi lúc tôi thấy mình tự hỏi, khi nào - hoặc có hay không - tôi sẽ gặp lại anh và nếu có thể, chúng tôi sẽ nói chuyện gì. Thế nhưng, đa phần, tôi không thích nghĩ nhiều về nó. Tôi để từng ngày đến rồi đi, ngày nối ngày và tránh không suy nghĩ về cả tương lai lẫn quá khứ bằng cách sống trọn trong hiện tại.
Bị lấy đi thần tượng, Fergus đâm ra ủ rũ. Rất nhiều lần, qua cửa sổ phòng mình, tôi trông thấy cậu nhóc ngồi chán chường bên dưới một bụi táo gai trong vườn, hai tay ôm gối và nhìn xuống con đường dẫn về Paris. Cuối cùng, tôi nhấc người dậy để ra ngoài với cậu, bước xuống cầu thang một cách khó khăn và theo đường mòn ra vườn.
“Cháu không tìm thấy việc gì để làm sao, Fergus?” Tôi hỏi cậu. “Cháu có thể giúp mấy người trông ngựa một tay, hoặc làm gì đó.”
“Vâng, thưa phu nhân,” cậu nghi ngại đáp và vô thức đưa tay gãi mông. Tôi quan sát hành động này với sự nghi ngờ sâu sắc.
“Fergus,” tôi khoanh tay hỏi, “cháu có chấy đúng không?”
Cậu nhóc giật ngay tay lại như thể phải bỏng.
“Ơ, không đâu, thưa phu nhân!”
Tôi kéo cậu nhóc đứng dậy và đánh hơi xung quanh một cách tế nhị, sau đó tôi cho một ngón tay vào trong cổ áo, để lộ ra cái cổ đầy ghét của cậu.
“Đi tắm đi,” tôi nói ngắn gọn.
“Không!” Fergus giật ra nhưng tôi đã chộp được vai của cậu nhóc. Tôi lấy làm lạ trước phản ứng này, cậu nhóc không thích tắm cũng như những người Paris bình thường, họ nhìn nhận việc ngâm mình với một thái độ chán ghét gần giống sự sợ hãi. Thế nhưng, tôi có đủ khả năng để bắt cậu bé hay sốt sắng mà tôi biết đây phải cam chịu, dù cậu có nổi giận. Lúc này, Fergus đột nhiên quằn quại, vặn vẹo trong tay tôi.
Một tiếng vải rách toạc và cậu nhóc được tự do. Cậu lao qua những bụi mâm xôi như một con thỏ bị chồn truy đuổi. Âm thanh sột soạt của lá và tiếng sỏi lạo xạo dưới chân khi cậu ta chạy đi, nhảy qua bức tường, cắm đầu về hướng khu nhà phụ sau điền trang.
Tôi lang thang qua mê cung do những khu nhà phụ ọp ẹp phía sau lâu đài dựng lên, vừa men theo các vũng bùn và đống rác bẩn vừa rủa thẩm trong miệng. Đột nhiên, một tiếng vo ve chói tai vang lên, đám mây ruồi bốc cao từ cái đống cách vài bước chân trước mặt tôi, những thân hình có màu xanh tái dưới ánh sáng mặt trời.
Tôi đã tới đủ gần để quấy nhiễu bọn chúng, rồi phát hiện có chuyển động trên ngưỡng cửa đen sì bên cạnh đống phân.
“A ha!” Tôi nói to. “Thấy rồi nhé, thằng nhóc bẩn thỉu! Ra đây ngay!”
Không có người xuất hiện, nhưng có tiếng chuyển động bên trong nhà kho. Bởi thoáng thấy một cái bóng trắng ở đó, tôi liền bịt mũi và bước qua đống phân, tiến vào.
Có hai người thở hổn hển vì hoảng sợ trong đó. Một là tôi, khi trông thấy thứ gì đó giống Người Đàn Ông Hoang Dại từ Borneo[5] dựa vào bức tường phía sau và hai là ông ta đang quan sát tôi.
Ngay khi con mắt của tôi thích nghi với bóng tối xung quanh, ánh sáng chiếu qua các khe hở giữa tấm ván, đủ để chúng tôi có thể nhìn rõ đối phươrng. Rốt cuộc, ông ta trông không quái dị như tôi đã nghĩ ban đầu, nhưng cũng không khá hơn bao nhiêu. Bộ râu bẩn thỉu và rối bù như mái tóc đổ xuống hai vai áo sơ mi rách nát như ăn mày. Ông ta đi chân đất và nếu sans-culottes[6] vẫn chưa thông dụng thì người này đúng là ăn mặc thiếu vải.
Tôi không sợ ông ta, bởi rõ ràng ông ta đang sợ tôi. Ông ta nép sát vào bức tường như cố gắng thẩm thấu vào trong nó.
“Không sao đâu,” tôi dịu dàng nói. “Tôi sẽ không làm ông đau.”
Thay vì dịu đi, ông ta đột nhiên đứng thẳng người, cho tay vào trong ngực áo, lôi ra một biểu tượng thánh giá bằng gỗ treo trên dây da. Ông ta hướng về phía tôi và bắt đầu cầu nguyện, giọng run rẩy vì khiếp sợ.
“Ồ, phiền quá,” tôi gắt gỏng. “Không phải lại thế chứ!” Tôi hít thở sâu. “Pater-Noster-qui-es-in-coeliset-in-terra....[7]” Hai mắt của ông ta lồi ra, ông ta tiếp tục giơ biểu tượng thánh giá, nhưng đã ngừng đọc lời cầu nguyện vì màn trình diễn của tôi.
“… Amen!” Tôi kết thúc bằng một cái thở hắt ra, giơ hai cánh tay, lúc lắc trước mặt ông ta. “Thấy chưa? Không nói ngược lời cầu nguyện, không một từ quotidianus da nobis hodie[8] sai, phải không? Tôi cũng không bắt tréo tay để hủy lời cầu nguyện, nên tôi không phải phù thủy, đúng chứ?”
Người đàn ông dần hạ thấp biểu tượng thánh giá, rồi đứng nhìn tôi chằm chằm. “Một phù thủy?” Ông ta lên tiếng, ánh mắt như thể nghĩ tôi bị điên và tôi cảm thấy việc đó có phần thái quá trong hoàn cảnh này.
“Ông không nghĩ tôi là một phù thủy sao?” Tôi hỏi, bắt đầu cảm thấy mình có chút ngu ngốc.
Thứ gì đó giống như một nụ cười xuất hiện, bị bao vây bởi đám râu rối bù bên ngoài.
“Không, thưa bà,” ông ta đáp. “Ta đã quen với việc người khác nói ta như vậy.”
“Ông ư?” Tôi quan sát ông ta kĩ hơn. Ngoài việc rách nát và bẩn thỉu, người đàn ông này rõ ràng đang đói cồn cào. Hai cổ tay thò ra ngoài chiếc áo, chúng gầy trơ xương như tay một đứa trẻ. Đồng thời, tiếng Pháp của ông ta lại trang nhã và có giáo dục, dù nhấn trọng âm theo cách kỳ quặc.
“Nếu ông là một phù thủy,” tôi đáp, “thì tôi thấy ông không thành công lắm. Ông là kẻ quái quỷ nào vậy?”
Ngay lập tức, sự hoảng sợ quay trở lại trong đôi mắt của người đàn ông kia. Ông ta hết nhìn sang trái rồi sang phải để tìm đường bỏ trốn, tuy nhà kho đã cũ nhưng nó được xây dựng kiên cố và không có đường nào khác ngoài nơi tôi đang đứng. Cuối cùng, ông ta lấy hết can đảm được dự trữ kín đáo trong người để đứng thẳng dậy - thấp hơn tôi khoảng bảy phân - và nói với vẻ vô cùng đường hoàng: “Tôi là mục sư Walter Laurent của Geneva.”
“Ông là một thầy tu ư?” Tôi như bị sét đánh ngang tai. Tôi không thể hình dung được điều gì khiến một thầy tu - người Thụy Sĩ hoặc không - rơi vào tình cảnh này.
Cha Laurent trông cũng choáng váng như tôi.
“Một thầy tu ư?” Ông ta nhại lại. “Một kẻ theo Công giáo La Mã ư? Không bao giờ!”
Tôi bỗng hiểu ra mọi chuyện.
“Một Huguenot!” Tôi nói. “Vậy là… ông là một người Kháng cách, phải không?” Tôi nhớ đến những cái xác treo trên cây trong rừng. Tôi nghĩ, điều đó đã giải thích mọi chuyện.
Môi ông ta run run, nhưng ông ta mím lại thật chặt trước khi định mở miệng đáp lời.
“Phải, thưa bà. Tôi là một mục sư. Tôi đã truyền giáo tại vùng này được một tháng.” Ông ta vội liếm môi và quan sát tôi. “Thứ lỗi cho tôi, thưa bà - tôi nghĩ bà không phải người Pháp?”
“Tôi là người Anh,” tôi đáp, ông ta trở nên nhẹ nhõm tức thì, như thể có người lấy chất làm cứng ra khỏi xương sống của ông ta.
“Lạy Cha chúng con ở trên trời,” ông ta nói một cách sùng tín. “Bà cũng là một người Kháng cách chứ?”
“Không, tôi theo đạo Công giáo,” tôi trả lời. “Nhưng tôi không hoàn toàn sa đọa vào nó,” tôi vội vàng nói thêm khi trông thấy ánh nhìn cảnh giác hiện lên trong đôi mắt màu nâu nhạt của ông ta. “Đừng lo, tôi sẽ không kể với người khác. Tôi đoán ông tới đây để trộm ít đồ ăn phải không?”
“Trộm cắp là tội lỗi!” Ông ta khiếp sợ. “Không, thưa bà. Nhưng…” Ông ta mím môi, nhưng ánh mắt liếc về phía lâu đài đã tiết lộ tất cả.
“Vậy là một người hầu mang thức ăn cho ông,” tôi nói. “Ông để họ ăn cắp cho ông. Tuy nhiên, tôi nghĩ ông có thể xóa tội cho họ và mọi việc diễn ra như thế. Nếu ông hỏi ý kiến của tôi thì tôi thấy ông đang đứng trên lớp băng luân lý mỏng manh,” tôi quở trách, “thế nhưng, tôi cho rằng đây không phải việc của tôi.”
Một tia hy vọng sáng bừng trong đôi mắt của ông ta. “Ý của bà là - bà sẽ không bắt giam tôi sao, thưa phu nhân?”
“Không, tất nhiên là không. Tôi có sự đồng cảm với những vụ chạy trốn pháp luật, chính bản thân tôi cũng từng suýt bị hỏa thiêu trên cọc.” Tôi không hiểu tại sao mình lại tán gẫu thế này, tôi nghĩ có thể do cảm giác khuây khỏa khi gặp một người có vẻ thông minh. Tuy Louise ngọt ngào, tận tụy và tử tế nhưng não của cô ấy chỉ như cái đồng hồ chim cúc cu trong phòng khách nhỏ. Nhân nghĩ về cái đồng hồ Thụy Sĩ, tôi chợt nhận ra giáo dân bí mật của mục sư Laurent là ai.
“Nghe này,” tôi nói, “nếu ông muốn ở đây, tôi sẽ về lâu đài bảo với Berta hoặc Maurice.”
Người đàn ông tội nghiệp chỉ có da bọc xương cùng hai con mắt. Mỗi điều ông ta nghĩ đều phản chiếu qua đôi mắt to màu nâu nhạt. Rõ ràng, ngay lúc này, ông ta đang nghĩ, họ cố gắng thiêu tôi trên cọc gỗ là đúng đắn.
“Tôi có nghe nói,” ông ta từ tốn nói và lại nắm chặt biểu tượng thánh giá của mình, “về một phụ nữ người Anh mà dân Paris gọi là “La Dame Blanche.” Cộng sự của Kẻ dị giáo Raymond.”
Tôi thở dài. “Người đó là tôi, nhưng tôi nghĩ mình không phải cộng sự của Raymond. Ông ấy chỉ là bạn.” Tôi thấy ông ta liếc mắt nhìn mình đầy nghi ngờ, liền liến thoắng. “Pater Noster…”
“Không, không, thưa bà, làm ơn!” Tôi ngạc nhiên khi thấy ông ta hạ thấp biểu tượng thánh giá và đang mỉm cười.
“Tôi là người quen của ông Raymond, tôi biết ông ấy từ hồi ở Geneva. Ông ấy là thầy thuốc có tiếng và là người nghiên cứu thảo mộc. Giờ thì, chao ôi, tôi sợ rằng ông ấy đã chuyển sang những mục tiêu đen tối hơn, mặc dù không chứng minh được.”
“Chứng minh? Chuyện gì? Toàn bộ câu chuyện về Kẻ dị giáo Raymond là gì?”
“Bà không biết sao?” Đôi lông mày mảnh mai nhướng cao phía trên cặp mắt nâu. “À. Vậy bà không phải cộng sự trong các… hoạt động của ông chủ Raymond.” Ông ta nhẹ nhõm trông thấy.
“Hoạt động” có vẻ là lời miêu tả nghèo nàn cho cách ông Raymond cứu tôi, nên tôi lắc đầu.
“Đúng, nhưng tôi mong ông sẽ kể cho tôi nghe. Ồ, có lẽ tôi không nên đứng đây nói chuyện, tôi nên đi bảo Berta mang thức ăn tới.”
Ông ta xua tay lịch thiệp.
“Chuyện đó không cấp bách, thưa phu nhân. Ham muốn của thể xác không thể quan trọng bằng ham muốn của linh hồn. Dù là người Công giáo hay không, bà đã đối xử tử tế với tôi. Nếu bà không phải là người cộng tác với ông Raymond thực hiện các hoạt động huyền bí thì bà nên được cảnh báo đúng lúc.”
Bất chấp bụi đất và gỗ vụn trên sàn, ông ta khoanh chân, ngồi xuống cạnh tường nhà kho và ra hiệu cho tôi làm theo. Tôi háo hức ngồi xuống đối diện ông ta, cẩn thận gấp các nếp váy để không quệt phải đống phân xung quanh.
“Bà đã từng nghe về một người tên du Carrefours chưa, thưa phu nhân?” Mục sư hỏi. “Chưa ư? Ái chà, tôi cam đoan với bà là ông ta nổi danh khắp Paris, nhưng tốt nhất bà không nên nhắc đến điều đó. Ông ta là kẻ tổ chức và chỉ đạo một nhóm người đồi bại và trụy lạc không kể xiết, kết hợp với những hoạt động huyền bí đen tối nhất. Dù ép bản thân, tôi vẫn không thể kể bà nghe một vài nghi lễ được bí mật thực hiện trong giới quý tộc được. Vậy mà họ gọi tôi là phù thủy!” Ông ta lẩm bẩm rất khẽ, hầu như thì thầm với chính mình.
Ông ta giơ ra một ngón trỏ gầy guộc, giống như ngăn cản, trước khi tôi phản đối thành lời.
“Tôi biết, phu nhân ạ, những tin đồn lan truyền khắp nơi mà không xem xét sự thật - có ai biết rõ hơn chúng tôi? Những hoạt động của du Carrefours cùng đồng bọn. Đây là vấn đề nhận thức của cộng đồng. Ông ta đã bị xét xử vì hoạt động của mình, bị tống giam, thậm chí bị thiêu trong ngục Bastille để trừng trị những tội ác của ông ta.”
Tôi nhớ tới lời nhận xét nhẹ tênh của Raymond: “Không có người bị thiêu tại Paris trong - ồ, ít nhất là hai mươi năm,” và rùng mình giữa trời ấm.
“Ông nói rằng ông Raymond hợp tác với du Carrefours?”
Viên mục sư nghiêm mặt, đưa tay gãi bộ râu rối bù một cách lơ đãng. Hình như ông ta có cả chấy lẫn bọ chét, tôi nghĩ và cố nhích người ra sau.
“Chà, thật khó nói. Không ai biết ông Raymond đến từ đâu. Ông ta nói được nhiều thứ tiếng và không nhấn trọng âm dễ gây chú ý. Một người đàn ông bí hiểm, tuy nhiên - tôi thề nhân danh Chúa, đó là một người tốt.”
Tôi mỉm cười. “Tôi cũng nghĩ vậy.”
Ông ta gật đầu và mỉm cười, nhưng vẻ mặt trở nên nghiêm túc khi quay lại với câu chuyện. “Đúng vậy, thưa bà. Tuy nhiên, ông ta đã qua lại với du Carrefours từ hồi ở Geneva. Tôi biết chuyện này, bởi chính ông ta nói với tôi. Raymond cung cấp nhiều đồ khác nhau theo thứ tự: thực vật, thuốc luyện đan, da động vật phơi khô. Thậm chí cả một loại cá - lạ lùng và kinh dị nhất, ông ta kể với tôi đã bắt được nó từ vùng biển sâu nhất, một loài vật rùng rợn có răng và hầu như không có thịt - thế nhưng bên dưới hai con mắt của nó là… chùm tia sáng… nhỏ bé và đáng sợ, giống như những chiếc đèn lồng tí xíu.”
“Thật sao?” Tôi nói, bị cuốn hút.
Mục sư Laurent nhún vai. “Tất nhiên, tất cả những thứ đó có thể vô hại, tùy vào công việc. Nhưng ông ta đã biến mất tại Geneva cùng thời điểm du Carrefours bị nghi ngờ lần đầu tiên. Từ đó, tôi bắt đầu nghe nhiều câu chuyện rằng ông Raymond gây dựng việc buôn bán tại Paris, cũng như việc ông ta kế tục nhiều hoạt động bí mật của du Carrefours.”
“Hừm,” tôi suy nghĩ về căn buồng ngầm của ông Raymond cùng cái tủ được vẽ biểu tượng thần bí, để tránh ánh mắt của những kẻ tin vào chúng. “Còn gì nữa?”
Hàng lông mày của ông Laurent cong lên.
“Không, thưa phu nhân,” ông ta trả lời yếu ớt. “Chẳng còn gì, tôi chỉ biết có vậy.”
“Thú thực, tôi không bị tiêm nhiễm thứ đó,” tôi cam đoan.
“Ồ? Tốt,” ông ta do dự, rồi ngồi im một lúc, giống như đang đắn đo quyết định điều gì. Sau đó, ông ta cúi đầu lịch sự về phía tôi.
“Bà sẽ lượng thứ nếu tôi nói điều này chứ, thưa phu nhân? Berta và Maurice đã kể tôi nghe về mất mát của bà. Tôi lấy làm tiếc, thưa phu nhân.”
“Cảm ơn,” tôi đáp, chăm chú quan sát những sọc nắng trên nền nhà.
Một khoảng yên lặng khác bao trùm căn phòng, sau đó, mục sư Laurent nói khéo: “Thế chồng của bà thì sao? Ông ấy không ở đây với bà ư?”
“Không,” tôi đáp, vẫn nhìn xuống sàn. Đám ruồi được chiếu sáng trong giây lát rồi vội vã bay đi vì không tìm thấy thức ăn. “Tôi còn chẳng biết anh ấy ở đâu.”
Tôi không có ý định nói thêm, nhưng điều gì đó sai khiến tôi ngước nhìn người truyền giáo nhỏ bé, tả tơi.
“Anh ấy quan tâm đến danh dự của mình nhiều hơn quan tâm đến tôi hay con của anh ấy hay một người vô tội,” tôi nói cay đắng. “Tôi không quan tâm anh ấy ở đâu. Tôi không bao giờ muốn thấy anh ấy nữa!”
Tôi im bặt và rùng mình. Trước kia, tôi chưa bao giờ nói thành lời điều này, cho dù với bản thân mình. Nhưng nó là thật. Giữa chúng tôi từng có một lòng tin lớn lao, nhưng Jamie đã phá vỡ, vì mục đích báo thù. Tôi hiểu. Tôi từng trông thấy sức mạnh đó điều khiển anh và hiểu rằng không thể phủ nhận nó mãi mãi. Thế nhưng, tôi yêu cầu hoãn lại vài tháng và anh đã hứa với tôi. Thế rồi, anh không đợi được, anh phá vỡ lời hứa. Bằng cách đó, Jamie đã hy sinh tất cả mọi thứ giữa chúng tôi. Tôi có thể thấu hiểu, nhưng không thể tha thứ.
Mục sư Laurent đặt bàn tay mình lên tay tôi. Nó cáu ghét và đầy bụi bẩn đóng vảy cứng, móng tay vỡ nát với các kẽ đen sì, nhưng tôi không hất nó ra. Tôi đã chờ đợi những lời tẻ nhạt, một bài thuyết giảng, vậy mà ông ta chẳng nói gì. Ông ta chỉ cầm bàn tay tôi, rất nhẹ, rất lâu, đến khi mặt trời đã chiếu qua bên kia nền nhà và đám ruồi bay vo ve một cách chậm chạp, nặng nề qua đầu chúng tôi.
“Tốt hơn bà nên đi,” cuối cùng, ông ta mở lời và thả tay tôi ra. “Bà sẽ bị lạc mất.”
“Tôi cũng nghĩ vậy.” Tôi hít một hơi thật sâu, cảm thấy bản thân vững vàng hơn dù không khá lên chút nào. Tôi nhận ra trong túi váy có một cái ví nhỏ.
Tôi do dự vì không muốn làm ông ta khó xử. Xét cho cùng, trong con mắt của ông ta, tôi là một kẻ dị giáo, dù không phải phù thủy.
“Ông cho phép tôi tặng ông chút tiền chứ?” Tôi thận trọng hỏi.
Ông ta ngẫm nghĩ một lát và mỉm cười, đôi mắt màu nâu nhạt bừng sáng.
“Với một điều kiện, thưa phu nhân. Nếu bà để tôi cầu nguyện cho bà.”
“Một món hời đây,” tôi đáp và đưa ông ta ví tiền.
HẾT TẬP I
CHUỒN CHUỒN HỔ PHÁCH
[1] Một thị trấn nằm ở miền bắc nước Pháp, về phía đông nam của Paris. Trong một khoảng thời gian dài, lâu đài ở nơi đây (được xây dựng bởi Vua Francis I) là một cung điện hoàng gia. Bây giờ, nó là nơi nghỉ mùa hè của tổng thống Pháp.
[2] Tiếng Pháp: Tạm biệt.
[3] Tiếng Pháp: Chết tiệt!
[4] Huguenot là cách gọi thành viên của hội Những người Kháng cách được thành lập trong khoảng thế kỷ mười sáu hoặc mười bảy. Theo lịch sử, họ là những nhà Kháng cách người Pháp theo tư tưởng Thần học Calvin, yêu cầu cải cách Giáo hội Công giáo.
[5] Trong thần thoại Hy Lạp, Eurydice là một nữ thần sồi hoặc một trong các con gái của Apollo - vị thần của thi ca, âm nhạc, vinh quang và chiến thắng.
[6] Tiếng Anh: Wild Man of Borneo, là hai anh em người lùn tên là Waino và Plutano. Họ chỉ cao khoảng một mét và nặng hơn hai mươi cân nhưng có sức khỏe phi thường, có thể nâng tạ nặng hoặc vật lộn với những người khác trên sân khấu. Họ trở nên vô cùng nổi tiếng trong chuỗi chương trình biểu diễn quái dị của ông bầu P. T. Barnum. Tuy là người Mỹ nhưng họ được đồn rằng đến từ đảo Borneo.
[7] Tiếng Pháp: nghĩa là không mặc quần lửng. Một tập hợp dân thường ở tầng lớp thấp vào cuối thế kỷ mười tám tại Pháp, rất nhiều người trong số họ trở thành đảng viên và chiến binh trong cuộc Cách mạng Pháp, để phản ứng với chất luợng cuộc sống thấp trong chế độ cũ. Cái tên sans-culottes miêu tả vị trí thấp hơn của họ trong xã hội, bởi quần culotte (quần lửng) chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc, con dân thường chỉ mặc quần dài qua mắt cá chân.
[8] Một lời cầu nguyện theo tiếng Latin, nhưng Claire nói sai. Lời cầu nguyện đúng bắt đầu là “Pater noster, qui es in caelis, sanctificetur Nomen Tuum… ” có nghĩa “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả…”
[9] Một phần trong lời cầu nguyện tiếng Latin, có nghĩa: “Xin Cha cho chúng con hôm nay…”