Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
44
Nơi khá nhiều thứ công kích bóp méo

❊ ❊ ❊

Tôi nhào tới gần đống lửa, hơ hai bàn tay cho đỡ rét. Chúng đã cáu ghét vì phải cầm cương suốt cả ngày và tôi thoáng băn khoăn liệu có đáng để đi bộ cả quãng đường xa đến con suối để rửa sạch chúng không. Duy trì các tiêu chuẩn hiện đại về vệ sinh trong tình trạng thiếu thốn hệ thống dẫn nước đôi khi lại trở thành vấn đề rắc rối không đáng làm. Thảo nào mà người ta ốm và chết thường xuyên như vậy, tôi chua chát nghĩ. Họ chết đơn giản vì thức ăn ôi thiu và ngu dốt chứ không vì bất cứ điều gì khác.

Ý nghĩ chết vì thức ăn ôi thiu đã đủ để khiến tôi đứng ngay dậy, dù mệt mỏi hết sức. Ở mép của dòng suối nhỏ xíu chảy ngang qua khu trại rất lầy lội và giày của tôi lún sâu vào chỗ đất nhão nhoẹt ấy. Sau khi đã đánh đổi đôi tay bẩn thỉu lấy đôi chân ướt nhẹp, tôi ì ạch quay trở lại bên bếp lửa, thấy Hạ sĩ Rowbotham đang đợi tôi cùng với một cái bát tô đựng thứ mà ông ta nói là món hầm.

“Đại úy có lời hỏi thăm, thưa bà,” ông ta nói, giật giật phần tóc mái trước trán trong khi đưa cái bát tô cho tôi, “và ông ấy bảo tôi nói cho bà biết chúng ta sẽ đến Tavistock vào ngày mai. Ở đó có một quán trọ.” Ông ta ngập ngừng, khuôn mặt trung niên tròn xoe thô kệch tỏ vẻ quan tâm rồi nói thêm: “Đại úy có lời xin lỗi vì sự thiếu thốn về nơi ăn chốn ở, thưa bà, nhưng chúng tôi đã dựng một cái lều cho bà đêm nay. Không sang trọng gì, nhưng có lẽ sẽ giúp bà tránh được mưa.”

“Phiền ông cảm ơn ngài Đại úy giùm tôi, thưa Hạ sĩ,” tôi nói, hòa nhã nhất có thể. “Và tôi cũng cảm ơn ông,” tôi bổ sung với sự nồng nhiệt hơn. Tôi hoàn toàn ý thức được rằng Đại úy Mainwaring coi tôi là một mối phiền toái, có phần là gánh nặng, và sẽ chẳng phí tâm sức nghĩ đến chỗ che mưa chắn gió của tôi đêm nay. Cái lều - một tấm vải bạt dài được cẩn thận treo lên một thân cây và ghìm chặt cả hai mặt xuống - không nghi ngờ gì là ý tưởng của Hạ sĩ Rowbotham.

Viên Hạ sĩ rời đi và tôi ngồi một mình, từ từ ăn món khoai tây cháy sém và gân bò. Tôi đã tìm thấy một luống cải ruộng mọc muộn gần con suối, lá đã úa vàng và nâu ở quanh mép, liền mang về một nắm cho vào túi, cùng với nó là vài quả bách xù hái trong lúc dừng lại ở một địa điểm trong ngày. Những lá cây mù tạt già và rất đắng, nhưng tôi vẫn cố gắng nuốt chúng xuống kèm với khoai tây. Tôi tráng miệng bằng món quả bách xù, cắn từng miếng thật nhanh để tránh bị nghẹn và rồi nuốt chửng. Dầu quả vỡ ra, đẩy ngược mùi của nó lên cuống họng khiến tôi chảy cả nước mắt, nhưng chúng tẩy sạch vị mỡ động vật và mùi cháy sém trên lưỡi tôi và, cùng với lá cây cải, có lẽ nó sẽ giúp tôi đẩy lùi bệnh scorbut do thiếu vitamin C.

Tôi đã có một kho lớn những đọt dương xỉ phơi khô, quả tầm xuân, táo khô và hạt thì là trong cái rương thuốc lớn của tôi. Tôi đã cẩn thận thu thập chúng để đề phòng tình trạng thiếu dinh dưỡng trong suốt những tháng mùa đông đằng đẵng này. Tôi hy vọng Jamie cũng đang ăn chúng.

Tôi gục đầu xuống đầu gối, chẳng bận tâm có ai đang nhìn mình, tôi không muốn để lộ khuôn mặt mình khi đang nghĩ đến Jamie.

Tôi đã giả vờ bất tỉnh trên đồi Falkirk lâu nhất có thể, nhưng chẳng mấy chốc đã bị đánh thức dậy khi một kỵ binh Anh cố đổ rượu brandy từ trong một cái chai dẹt bỏ túi vào cổ họng tôi. Không biết phải làm gì với tôi, “những ân nhân” của tôi đã đưa tôi tới tòa nhà Callendar và chuyển giao tôi cho người của Tướng Hawley.

Vì thế, mọi chuyện đều diễn ra như kế hoạch. Nhưng trong vòng một giờ qua, tất cả đã chệch hướng một cách nghiêm trọng. Ngồi trong một phòng chờ và lắng nghe những gì người ta nói xung quanh, tôi nhanh chóng biết được rằng cái mà mình đã nghĩ là một trận đánh lớn suốt đêm thực tế không hơn gì một cuộc chạm trán nhỏ giữa người nhà MacKenzie và một biệt đội tách rời của quân Anh đang trên đường tới hội quân với đội quân chủ lực. Bọn họ nói thậm chí bây giờ quân đội vẫn đang tập hợp lại để chạm mặt với đội quân vùng cao được cho là sẽ đột kích trên đồi Falkirk; vì vậy, trận đánh mà tôi nghĩ mình đã sống sót thoát khỏi nó, trên thực tế, còn chưa xảy ra!

Bản thân Tướng Hawley đang giám sát quá trình này, và vì dường như không ai biết phải làm gì với tôi nên tôi được giao cho một binh nhì trẻ tuổi chăm sóc, cùng với một lá thư mô tả lại tình huống tôi được giải cứu, và chuyển tới một sở chỉ huy tạm thời của Đại tá Campbell ở Kerse. Anh lính binh nhì trẻ tuổi, một người to bè chắc nịch tên là Dobbs, hăm hở, sốt sắng thực hiện nhiệm vụ của mình, do đó dù đã thử vài lần trên suốt chặng đường dài, tôi vẫn không thể thoát khỏi anh ta.

Chúng tôi đến Kerse chỉ để phát hiện Đại tá Campbell không ở đó mà đã được triệu tập tới Livingston.

“Thấy không,” tôi gợi ý với anh chàng giám thị kiêm người hộ tống của mình, “rõ ràng Đại tá Campbell sẽ không có thời gian hay ý định trò chuyện với tôi, và trong bất cứ trường hợp nào, tôi cũng không có gì để nói với ông ấy cả. Tại sao anh không thể để tôi trọ lại trong thị trấn này cho tới khi tìm được sự sắp xếp hợp lý để tiếp tục cuộc hành trình tới Edinburgh nhỉ?” Vì không có ý tưởng nào hay ho hơn, về cơ bản tôi đã tặng cho đám người Anh cùng một câu chuyện mà tôi đã kể cho Colum MacKenzie vào hai năm trước; rằng tôi là một quả phụ đến từ Oxford, đi thăm người thân ở Scotland, đúng lúc bị lũ kẻ cướp vùng cao bắt đi.

Binh nhì Dobbs lắc đầu, đỏ mặt tía tai vẻ không nhượng bộ. Anh ta có thể còn chưa quá hai mươi tuổi, không phải là vô cùng thông minh nhưng khi đã có một ý tưởng trong đầu thì anh ta khăng khăng bám riết lấy nó.

“Tôi không thể để bà đi như thế bà Beauchamp,” anh ta nói - vì tôi đã dùng tên thời con gái của mình làm bí danh - “Đại úy Bledsoe sẽ ăn gan tôi vì tội không đưa bà đến chỗ Đại tá an toàn.”

Vậy nên chúng tôi đã đến Livingston, cưỡi hai con ngựa già đáng thương hại nhất mà tôi từng thấy. Cuối cùng, tôi đã thoát khỏi sự chăm sóc của người hộ tống, nhưng chẳng cải thiện được gì cho hoàn cảnh của mình. Thay vào đó, tôi thấy mình bị giam hãm trong một căn phòng nằm ở tầng trên của một ngôi nhà ở Livingston, kể lại câu chuyện kia lần nữa với Đại tá Gordon MacLeish Campbell, một người Scot vùng thấp chỉ huy một trong những trung đoàn của Tuyển hầu[1].

“À, tôi hiểu rồi,” ông ta nói, bằng kiểu giọng gợi ý rằng ông ta chẳng hiểu cái quái gì cả. Ông ta là một người đàn ông nhỏ con, mặt mày láu cá với mái tóc màu đỏ nhạt lưa thưa chải ngược ra đằng sau từ hai bên thái dương. Ông ta nheo mắt, liếc xuống lá thư đã nhăn nhúm trên bàn.

“Ở đây nói rằng,” ông ta đặt một cặp kính kẹp lên mũi để xem kĩ tờ giấy kia hơn, “một trong những kẻ bắt giam bà là một thành viên của thị tộc Fraser, rất to lớn, có mái tóc màu đỏ. Thông tin này có đúng không vậy?”

“Đúng thế,” tôi nói, tự hỏi ông ta đang muốn điều gì.

Ông ta nghiêng đầu để cái kính trượt xuống mũi, ghim vào tôi cái nhìn chằm chằm xuyên thấu từ phía trên cái kính.

“Những người đã giải cứu bà gần Falkirk có cảm giác rằng một trong số những kẻ bắt giữ bà không phải ai khác mà chính là một gã thủ lĩnh vùng cao khét tiếng được biết đến với biệt danh “Jamie Đỏ”. Giờ thì, tôi nhận ra rằng, bà Beauchamp, bà đã… rất đau khổ, đúng không?” - môi ông ta vén lên nhưng đó không phải là một nụ cười - “trong suốt quá trình bà bị bắt, và có lẽ không có tâm trạng để chuyện trò thân mật, nhưng vào một lúc nào đó, bà có để ý thấy những gã đàn ông khác gọi tên người đàn ông này không?”

“Có. Họ gọi hắn là Jamie.” Tôi không thấy có bất cứ tổn hại nào nếu kể với ông ta điều này; những trang báo khổ lớn mà tôi đã xem có nói rõ rằng Jamie là một người ủng hộ nhà Stuart. Việc Jamie xuất hiện tại trận Falkirk có thể gây hứng thú đối với người Anh, nhưng khó có thể buộc tội anh hơn nữa.

“Chúng không thể treo cổ anh hơn một lần được,” anh đã nói thế. Một lần là đủ lắm rồi. Tôi liếc ra cửa sổ. Trời đã sẩm tối từ một giờ trước, và những chiếc đèn đã được thắp sáng trên con phố dưới kia, được những người lính xách theo khi đi qua đi lại. Jamie hẳn đã có mặt ở tòa nhà Callendar, tìm kiếm ô cửa sổ nơi tôi đáng ra đang chờ đợi.

Tôi bỗng nhiên có sự tin chắc hết sức buồn cười rằng anh đã bám theo tôi, bằng cách nào đó, anh biết tôi đi đâu và đang đợi ở con phố bên dưới, chờ tôi xuất hiện.

Tôi đột ngột đứng dậy và đi tới cửa sổ. Con phố dưới kia vắng tanh, ngoại trừ một người bán cá trích ngâm giấm đang ngồi trên một cái ghế đẩu với chiếc đèn lồng cạnh chân, chờ đợi khách hàng. Đương nhiên, đó không phải là Jamie. Anh chẳng thể nào tìm được tôi. Không một ai ở doanh trại nhà Stuart biết tôi ở đâu; tôi hoàn toàn đơn độc. Tôi chống hai bàn tay lên tấm kính trong một cơn hoang mang bất chợt, chẳng màng bận tâm rằng tôi có thể làm vỡ nó.

“Thưa bà Beauchamp! Bà khỏe chứ?” Giọng viên Đại tá phía sau tôi bỗng vang lên với vẻ lo lắng.

Tôi bặm chặt môi, hít thở sâu vài lần, phủ hơi nước lên tấm kính khiến cho đường phố phía dưới biến mất trong một làn sương mờ. Bề ngoài tỏ ra bình tĩnh, tôi quay lại đối diện với viên Đại tá.

“Tôi khỏe,” tôi nói. “Nếu ông đã hỏi xong, tôi muốn đi bây giờ.”

“Vậy ư? Hừm!” Ông ta nhìn lướt khắp người tôi với vẻ gì đó giống như nghi ngờ, rồi quả quyết lắc đầu.

“Bà sẽ ở lại đây đêm nay,” ông ta tuyên bố. “Sáng mai, tôi sẽ gửi bà về phía nam.”

Tôi cảm thấy một cơn choáng váng siết chặt lấy lục phủ ngũ tạng của mình. “Phía nam! Cái quái quỷ gì thế?” Tôi buột miệng thốt ra.

Cặp lông mày màu lông cáo của ông ta nhướng lên vẻ kinh ngạc và miệng há hốc. Thế rồi ông ta khẽ lắc lắc đầu, khép miệng, rồi lại mở miệng để nhả ra những lời tiếp theo.

“Tôi nhận được mệnh lệnh gửi đi bất cứ thông tin nào liên quan đến tên tội phạm vùng cao có tên Jamie Fraser Đỏ,” ông ta nói. “Hoặc bất cứ ai có mối liên hệ với hắn ta.”

“Tôi không có liên hệ với hắn ta!” Tôi nói. Trừ phi ông tính đến cuộc hôn nhân, dĩ nhiên.

Đại tá Campbell lờ đi. Ông ta quay về bàn làm việc của mình và lục tìm trong một chồng thư.

“Đúng thế đấy, nó đây này! Đại úy Mainwaring sẽ tháp tùng bà. Ông ta sẽ đến đón bà ở đây vào lúc bình minh.” Ông ta rung một cái chuông bạc nhỏ có hình giống như một yêu tinh và cánh cửa mở ra, hé lộ khuôn mặt đầy dò hỏi của người binh nhì có nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh. “Garvie, anh sẽ đưa phu nhân đây tới phòng dành cho bà ấy. Khóa cửa vào.” Ông ta quay sang tôi và cúi chào qua loa chiếu lệ. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ không gặp lại nữa, bà Beauchamp; chúc bà nghỉ ngơi tốt và thượng lộ bình an.” Thế đấy!

•••

Tôi không biết thượng lộ bình an là đi nhanh như thế nào, nhưng nó hẳn phải nhanh hơn tốc độ cưỡi ngựa của biệt đội của Đại úy Mainwaring. Viên Đại úy chỉ huy một đoàn xe ngựa cung ứng, hướng về phía Lanark. Sau khi giao những thứ này và chia tay những người đánh xe hàng, ông ta bắt đầu hành trình đi về phía nam với những gì còn lại, vừa đi vừa giao những bức thư không quan trọng. Tôi rõ ràng nằm trong danh mục những thứ không cấp bách, vì chúng tôi đã đi đường hơn một tuần lễ mà vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy đã sắp đến nơi mà tôi được định là phải tới.

“Phía nam.” Ông ta ám chỉ London ư? Tôi thắc mắc đến lần thứ một nghìn. Đại úy Mainwaring không hề nói cho tôi biết đích đến, nhưng tôi nghĩ không có khả năng nào khác.

Tôi ngẩng đầu lên, bắt gặp một kỵ binh ở phía bên kia đống lửa đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi bình thản nhìn đáp trả cho tới khi hắn ta đỏ mặt và cụp mắt xuống cái bát tô trong tay. Tôi đã quen với những cái nhìn như thế mặc dù hầu hết đều kém táo bạo và trơ trẽn hơn.

Chuyện này bắt đầu ngay từ ngày đầu tiên, với vẻ ngượng ngùng dè dặt ở anh chàng ngốc nghếch trẻ tuổi đã đưa tôi tới Livingston. Phải mất một thời gian tôi mới nhận ra rằng điều gây nên thái độ xa cách, dè dặt ở một bộ phận các sĩ quan Anh không phải là sự nghi ngờ, mà là sự pha trộn giữa khinh thường và kinh hãi, lẫn với một chút thương hại và cảm giác về trách nhiệm được giao phó quyền lực giữ cho những cảm xúc thực sự của họ không được biểu lộ một cách công khai.

Tôi không chỉ được giải cứu từ một băng nhóm người Scot tham lam, chuyên cướp bóc. Tôi được giải thoát sau cả một đêm bị giam giữ trong cùng một căn phòng với những gã đàn ông mà những người Anh đứng đắn cho là “chẳng khác gì những con thú hoang, bị buộc tội trộm cướp và vô số những tội ác ghê tởm khác”. Vì thế sẽ là không thể hiểu nổi nếu người phụ nữ Anh trẻ tuổi này trải qua một đêm với những tên quái vật đó mà không bị tổn hại rõ rệt nào.

Tôi nghĩ rằng có lẽ việc Jamie bế tôi ra trong trạng thái bất tỉnh đã làm cho các vấn đề trở nên dễ dàng hơn, nhưng không nghi ngờ gì lại mang tới một ấn tượng tổng thể rằng anh - và những gã Scot đủ thể loại khác - đã cưỡng bức tôi. Và nhờ lá thư chi tiết được viết bởi vị đội trưởng của toán lính giải cứu tôi, tất cả những người mà tôi được giao qua tay - và tất cả những kẻ mà họ nói chuyện cùng, tôi nghĩ thế - đều biết chuyện này. Từng được rèn luyện, học hỏi ở Paris nên tôi hiểu rất rõ cơ chế của chuyện ngồi lê đôi mách.

Hạ sĩ Rowbotham chắc chắn đã nghe những câu chuyện ấy, nhưng vẫn đối xử tử tế với tôi, không hề có kiểu giả tạo như tôi đôi khi vẫn ngạc nhiên thấy trên mặt các binh lính khác. Nếu tôi có thói quen cầu nguyện vào giờ đi ngủ, tôi sẽ nhắc đến tên ông ta trong đó.

Tôi đứng dậy, phủi bụi khỏi chiếc áo choàng tay ngắn, đi về phía lều của mình. Trông thấy tôi đi, Hạ sĩ Rowbotham cũng đứng lên, kín đáo đi vòng qua đống lửa, rồi lại ngồi xuống bên cạnh các đồng đội của ông ta, tấm lưng thẳng tắp chắn trước lối vào lều của tôi. Khi những người lính lui về đi ngủ, tôi biết ông ta sẽ tìm một chỗ có khoảng cách vừa đủ tôn trọng, nhưng vẫn nằm trong tầm gọi từ chỗ tôi đang nghỉ ngơi. Ông ta đã làm thế từ ba đêm nay, cho dù chúng tôi ngủ trong quán trọ hay ngoài cánh đồng.

Ba đêm trước, tôi đã thử trốn một lần nữa. Đại úy Mainwaring biết rõ rằng tôi đi cùng ông ta dưới sự cưỡng bách ép buộc, và dù không thích phải mang gánh nặng là tôi đây, ông ta vẫn là một người lính quá tận tâm, không hề né tránh trách nhiệm. Tôi có hai người canh gác, luôn coi chừng tôi sát sao, cưỡi ngựa đi hai bên mỗi ngày.

Ban đêm, lính gác được thư giãn, rõ ràng vị Đại úy này nghĩ không thể có chuyện tôi dám đặt chân ra nơi đồng không mông quạnh giữa mùa đông khắc nghiệt thế này. Ông Đại úy đã đúng. Tôi không có hứng thú tự sát như thế.

Tuy nhiên, vào đêm được nói đến này chúng tôi đã đi xuyên qua một ngôi làng nhỏ khoảng hai giờ trước khi dừng lại để nghỉ đêm. Ngay cả đi bộ, tôi chắc chắn mình có thể lần đường quay trở lại ngôi làng kia trước bình minh. Ngôi làng lấy làm kiêu hãnh có một xưởng sản xuất rượu nhỏ, từ nơi đó có các xe chở hàng mang các thùng tô nô tới vài thị trấn ở khu vực xung quanh. Tôi đã trông thấy cái sân của xưởng sản xuất chất cao các thùng rượu, và tôi nghĩ mình hoàn toàn có cơ hội trốn trong đó và rời đi với chiếc xe chở hàng đầu tiên.

Cho nên, sau khi cả khu trại đã im ắng, những người lính thu lu trong những chiếc chăn xung quanh đống lửa và ngáy vang, tôi trườn ra khỏi chăn của mình gần rìa một khu rừng liễu và tìm đường đi xuyên qua con đường mòn dương xỉ, với âm thanh phát ra không hơn gì tiếng gió xào xạc.

Rời khỏi khu rừng nhỏ, tôi đã nghĩ cũng chỉ là tiếng gió xào xạc sau lưng mình, cho tới khi một bàn tay kẹp lấy vai tôi.

“Đừng kêu! Bà không muốn ông Đại úy biết bà trốn đi đâu.” Tôi không kêu, chỉ vì tất cả hơi thở đã bay biến hết vì bị làm cho giật mình. Người lính này - một người đàn ông khá cao được đồng đội gọi là “Jessie” bởi vì hắn hay gặp rắc rối khi chải những lọn tóc vàng - cười với tôi và tôi khẽ mỉm cười đáp lại.

Ánh mắt hắn rơi xuống ngực tôi. Hắn thở dài, ngước mắt lên nhìn vào mắt tôi và bước một bước về phía tôi. Tôi lùi lại ba bước, thật nhanh.

“Không vấn đề gì đâu, thật đấy, đúng không cưng?” Hắn nói, vẫn cười vẻ uể oải. “Không là gì sau những chuyện đã xảy ra. Thêm một lần thì sao, hử? Và tôi cũng là người Anh,” hắn khàn giọng nói. “Không phải một tên Scot rác rưởi.”

“Để người phụ nữ tội nghiệp ấy yên, Jess,” Hạ sĩ Rowbotham lặng lẽ xuất hiện từ rặng liễu phía sau hắn ta. “Cô ta đã gặp đủ rắc rối rồi, thật đáng thương!” Ông ta nói rất nhẹ nhàng nhưng Jessie trừng mắt với ông ta, sau đó, suy nghĩ kĩ hơn, hắn xoay người biến mất dưới những chiếc lá liễu mà không nói một lời.

Viên Hạ sĩ không nói năng gì, đợi tôi nhặt chiếc áo choàng đánh rơi rồi đi theo tôi trở lại khu trại. Ông ta đi nhặt chăn của mình, ra hiệu cho tôi nằm xuống, rồi ông ta ngồi xuống cách tôi chừng hai mét, khoác chiếc chăn trên vai kiểu người Anh Điêng. Mỗi khi tôi tỉnh dậy trong đêm, tôi đều nhìn thấy ông ta vẫn ngồi đó, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa.

•••

Tavistock quả thực có một quán trọ. Mặc dù vậy, tôi không có nhiều thời gian để tận hưởng nhà vệ sinh của nó. Chúng tôi đến ngôi làng vào buổi trưa, và Đại úy Mainwaring khởi hành ngay lập tức để giao những tập công văn. Ông ta quay lại trong vòng một giờ và bảo tôi đi lấy áo khoác.

“Tại sao?” Tôi hoang mang hỏi. “Chúng ta sẽ đi đâu?”

Ông ta lãnh đạm liếc nhìn tôi. “Tới trang viên Bellhurst.”

“Phải rồi,” tôi nói. Nó nghe có vẻ ấn tượng hơn môi trường xung quanh tôi hiện giờ, đặc biệt là vài binh lính đang chơi trò đổ súc sắc trên sàn nhà, một người ngủ gà gật bên lò sưởi, và mùi hoa bia nồng nặc.

Ngôi nhà trong trang viên, không nói tới vẻ đẹp tự nhiên của khu đất quanh nó, ngoan cố nằm quay lưng về phía những đồng cỏ mênh mông và khu vực nội địa lộn xộn, đối diện với vách núi ảm đạm.

Đường dẫn vào nhà thẳng tắp, ngắn ngủn và không có gì tô điểm, không giống như những cung đường dễ thương dẫn đến những trang viên ở Pháp. Nhưng lối vào được trang bị hai cột chống bằng đá rất thiết thực, mỗi cột mang một hình vẽ gia huy của chủ nhân ngôi nhà. Tôi nhìn chằm chằm vào nó khi con ngựa tôi cưỡi lọc cọc đi ngang qua, cố xác định hình vẽ gia huy đó. Một con mèo - hoặc có lẽ là một con báo chăng? - nằm ngẩng đầu, với một bông huệ tây trong móng vuốt. Rất quen thuộc, tôi biết. Nhưng là của ai?

Có một sự chuyển động trên bãi cỏ dài gần cổng, và tôi thoáng trông thấy đôi mắt màu xanh nhạt khi một mớ giẻ rách lom khom chạy trốn vào trong khoảng tối, cách xa cái thùng móng ngựa. Kẻ ăn mày rách rưới kia dường như quen quen. Có lẽ tôi hơi bị ảo giác, muốn nắm bắt bất cứ thứ gì không gợi tôi nhớ đến những người lính Anh này.

Người tháp tùng đợi ở ngoài sân, không buồn xuống ngựa, trong khi tôi xuống ngựa, đi cùng Đại úy Mainwaring, chờ đợi trong khi ông ta gõ cửa, lòng thắc thỏm không biết sẽ có điều gì ở phía bên kia cánh cửa.

“Bà Beauchamp?” Người quản gia, nếu đó đúng là ông ta, trông như thể đang hoài nghi điều tồi tệ nhất. Không nghi ngờ gì, ông ta đã đúng.

“Phải,” tôi nói. “À, ai là chủ nhân nơi này?”

Nhưng ngay khi tôi hỏi, tôi ngước mắt lên và nhìn vào tiền sảnh u ám bên trong, một khuôn mặt đang chằm chằm nhìn lại tôi, đôi mắt bồ câu mở to vẻ kinh ngạc.

Mary Hawkins.

•••

Khi cô gái mở miệng định nói, tôi cũng mở miệng, và thét to hết mức có thể. Viên quản gia giật mình lùi lại một bước, vấp chân vào chiếc ghế dài, ngã lộn nhào giống như con ky trong trò bowling. Tôi nghe thấy tiếng ồn ào của binh lính ở phía ngoài, đang chạy lên các bậc thang.

Tôi nâng váy lên, hét chói tai: “Chuột! Chuột!” và lao thẳng vào nhà, hướng về phía phòng khách riêng, miệng la hét như một nữ thần báo thù.

Bị lây truyền tiếng la cuồng loạn của tôi, Mary cũng thét inh ỏi, bám chặt lấy ngang người tôi khi tôi va phải cô ấy. Tôi kéo cô ấy vào một chỗ kín đáo trong phòng khách với mình, và tóm chặt lấy hai vai cô.

“Đừng nói cho bất kỳ ai biết tôi là ai,” tôi thì thầm vào tai cô. “Không ai cả! Mạng sống của tôi phụ thuộc vào điều đó!” Tôi thầm nghĩ có lẽ mình cường điệu quá mức, nhưng rõ ràng đối với tôi, những lời này là sự thật. Việc kết hôn với Jamie Fraser Đỏ có thể là một lời tuyên bố nguy hiểm.

Mary chỉ kịp hoang mang gật đầu một cái thì cửa phòng ở tít phía kia mở ra, một người đàn ông bước vào.

“Âm thanh ồn ào đáng ghét này là chuyện gì thế, Mary?” Ông ta hỏi. Đó là một người đàn ông trông béo tốt, thỏa thuê, ông ta cũng có cái cằm cương nghị và đôi môi hơi mím lại vẻ mãn nguyện của một người đàn ông luôn cảm thấy hài lòng với những gì mình có được.

“Kh-không có gì cả, Papa[2],” Mary nói, lắp bắp vì lo lắng. “Chỉ là một con ch-chuột thôi.”

Vị Tòng nam tước nhắm mắt lại và hít thở thật sâu, tìm lại sự kiên nhẫn. Sau khi điềm tĩnh đôi chút, ông ta mở mắt và nhìn đăm đăm vào con mình.

“Hãy lặp lại xem nào, con gái,” ông ta ra lệnh. “Nhưng liền một mạch. Ta không cho con lắp bắp, lúng búng. Hãy hít vào một hơi thật sâu, làm mình bình tĩnh. Bây giờ. Lại đi!”

Mary tuân theo, hít vào cho tới khi đám đăng ten trên thân áo chẽn của cô căng ra trước phần ngực nảy nở. Các ngón tay xoắn lấy chiếc váy lụa thêu kim tuyến, tìm kiếm điểm tựa.

“Nó l-là một con chuột, thưa Papa. Bà Fr… à, phu nhân đây bị một con chuột làm kinh sợ.”

Bỏ qua nỗ lực chỉ vừa đủ hài lòng này, ông Tòng nam tước bước tới, chăm chú săm soi tôi.

“Ồ? Và bà là ai thế thưa bà?”

Đại úy Mainwaring, đến chậm hơn vì phải tìm kiếm con chuột tưởng tượng kia, xuất hiện bên cạnh tôi và giới thiệu, trình ra thư giới thiệu của Đại tá MacLeish.

“Hừm! Vậy là giờ Đức ngài sẽ là chủ nhà tiếp đón bà, thưa bà, ít nhất là tạm thời.” Ông ta đưa lá thư cho vị quản gia đang đợi, cầm lấy chiếc mũ trên cái giá gần đó.

“Tôi rất tiếc vì thời gian làm quen của chúng ta quá ngắn, thưa bà Beauchamp. Tôi phải đi bây giờ.” Ông ta liếc nhìn qua vai về phía chiếc cầu thang ngắn dẫn xuống sảnh. Viên quản gia, đã lấy lại dáng vẻ đường hoàng, đang leo lên đó, lá thư nhăn nhúm nằm yên trên một chiếc khay giơ trước mặt ông ta. “Tôi thấy là Walmisley đã đi báo cho Đức ngài về sự có mặt của bà. Tôi phải đi rồi, không thì sẽ nhỡ mất chuyến xe thư. Adieu[3], bà Beauchamp!”

Ông ta quay sang Mary, đang tựa lưng sát vào ván ốp tường.

“Tạm biệt, con gái! Cố mà làm cho… tốt!” Hai bên khóe miệng ông ta nhếch lên trong một dáng vẻ như là một nụ cười hiền hậu của người cha. “Tạm biệt Mary.”

“Tạm biệt, Papa,” cô gái thì thầm, mắt nhìn xuống đất. Tôi liếc nhìn hết người này tới người kia. Thế quái nào mà Mary Hawkins, chứ không phải ai khác, lại ở đây? Vì cô ấy đang ở trong ngôi nhà này; tôi cho rằng chủ nhân của ngôi nhà hẳn có mối quan hệ nào đó với gia đình cô ấy.

“Bà Beauchamp?” Một người hầu béo lùn cúi chào bên cạnh tôi. “Đức ngài muốn gặp bà bây giờ, thưa bà!”

Hai bàn tay Mary siết chặt lấy ống tay áo tôi khi tôi quay người đi theo người hầu.

“N-n-nhưng…” Cô gái mở đầu. Trong tình trạng căng thẳng lúc này, tôi không nghĩ là mình có đủ kiên nhẫn để nghe cô ấy nói. Tôi mỉm cười và vỗ nhẹ vào tay cô gái.

“Phải, phải,” tôi nói. “Đừng lo, sẽ ổn cả thôi mà.”

“N-nhưng là… của tôi...”

Người hầu cúi chào và đẩy mở một cánh cửa ở cuối hành lang. Ánh sáng bên trong chiếu lên sự giàu có của đồ gỗ bóng loáng và gấm thêu kim tuyến. Chiếc ghế tôi thấy để ở một bên có gia huy thêu trên lưng; một hình ảnh rõ ràng hơn so với cái cột đá cũ mòn mà tôi trông thấy ngoài kia.

Một con báo đang nằm ngẩng đầu, giữ trong móng vuốt của nó một bó huệ tây - hoặc có lẽ chúng là hoa nghệ tây chăng? Những tiếng chuông báo động vang lên trong đầu tôi khi người ngồi trên ghế đứng lên, cái bóng của ông ta đổ ngang qua bậu cửa bóng lộn khi ông ta xoay người. Lời lẽ đau khổ cuối cùng của Mary đã bật được ra, cùng lúc với lời thông báo của người hầu.

“C-ch-cha đỡ đầu của em!” Cô nói.

“Đức ngài, Công tước Sandringham,” người hầu nói.

“Bà… Beauchamp?” Công tước nói, miệng há hốc kinh ngạc.

“À,” tôi yếu ớt nói. “Đại loại thế.”

•••

Cánh cửa phòng khách đóng lại sau lưng, để tôi lại một mình với Đức ngài. Hình ảnh cuối cùng của Mary là cô ấy đứng ngoài sảnh, mắt mở lớn như hai cái đĩa lót tách, miệng lặng lẽ mở ra khép lại như con cá vàng.

Những chiếc bình Trung Quốc lớn được đặt bên sườn cửa sổ, trên những chiếc bàn khảm hoa văn. Bức tượng Venus bằng đồng tạo dáng điệu đà trên bệ lò sưởi, kèm theo nó là một cặp bát sứ viền vàng và chúc đài mạ bạc, sáng lóa dưới những ngọn nến sáp ong. Một tấm thảm Kermanshah phủ gần kín sàn phòng và một chiếc đàn spinet thu mình trong góc phòng; không gian nhỏ bé còn lại vừa đủ để đặt món đồ gỗ được khảm ngà voi và những bức tượng hơi kỳ quái.

“Chỗ này của ngài thật đẹp,” tôi hòa nhã nhận xét với ngài Công tước, người vẫn đang đứng trước lò sưởi, hai tay chắp dưới đuôi áo khoác trong khi quan sát tôi, một biểu cảm vui thích cảnh giác trên khuôn mặt hồng hào.

“Cảm ơn cô,” ông ta nói, giọng nam cao the thé phát ra một cách kỳ quái từ lồng ngực to lớn. “Sự hiện diện của cô tô điểm thêm cho nó, phu nhân thân mến!” Sự vui thích đã lấn át sự cảnh giác, và ông ta cười, một nụ cười tươi rói chân thật, khiến người ta nguôi giận.

“Tại sao lại là Beauchamp?” Ông ta hỏi. “Đó không phải là tên thật của cô đấy chứ?”

“Tên thời con gái của tôi,” tôi trả lời, đi thẳng vào sự thật. Đôi lông mày rậm màu vàng của ông ta nhướng lên.

“Cô người Pháp à?”

“Không. Người Anh. Mặc dù vậy, tôi không thể dùng tên Fraser, đúng chứ?”

“Ta hiểu.” Hai lông mày vẫn nhướng lên, ông ta hất đầu ra hiệu về phía một chiếc ghế đôi nhỏ có gấm thêu kim tuyến, mời tôi ngồi xuống. Đó là một thứ được chạm khắc cầu kỳ, cân đối và xinh đẹp, một món đồ thú vị, giống như mọi thứ khác trong căn phòng này. Tôi gạt cái váy ướt đẫm của mình sang một bên một cách duyên dáng nhất có thể, lờ đi những vết bẩn của bùn và lông ngựa dây khắp trên đó, duyên dáng hạ mình vào tấm xa tanh màu vàng nhạt.

Ngài Công tước chậm rãi bước tới bước lui trước lò sưởi, quan sát tôi, nụ cười nhẹ nhàng vẫn nở trên khuôn mặt. Tôi kháng cự lại hơi ấm và sự dễ chịu ngày càng lan khắp hai cái chân đau nhức của mình, đe dọa kéo tôi vào vực thẳm mệt mỏi mở hoác ra dưới chân. Đây không phải là lúc buông lỏng sự cảnh giác.

“Cô là ai?” Ngài Công tước đột nhiên hỏi. “Một con tin người Anh, một Jacobite nồng nhiệt, hay một gián điệp người Pháp?”

Tôi xoa hai ngón tay lên ấn đường đau âm ỉ. Câu trả lời chính xác là “không gì trong những thứ trên”, nhưng tôi không nghĩ nó sẽ giúp được tôi.

“Sự hiếu khách của ngôi nhà này dường như hơi ít so với sự ủy nhiệm mà người ta đặt vào nó,” tôi nói, vẻ kiêu căng nhất có thể trong tình huống này, nhưng cũng không nhiều lắm. Nhưng hình mẫu về dáng vẻ quý bà của Louise không hoàn toàn vô nghĩa.

Công tước cười lớn, một tiếng cười cao vút, đầy ý quở trách, giống như một con dơi.

“Xin cô thứ lỗi! Cô nói đúng; ta nên nghĩ tới việc mời cô nghỉ ngơi cho lại sức trước khi đặt nghi vấn với cô. Ta thật thiếu chu đáo.”

Ông ta lầm bầm điều gì đó với người hầu vừa xuất hiện để đáp lời tiếng chuông gọi của ông ta, rồi bình tĩnh chờ đợi trước lò sưởi khi cái khay được mang tới. Tôi ngồi im lặng, liếc nhìn quanh phòng, thi thoảng liếc trộm về phía ông chủ nhà. Không ai trong chúng tôi có hứng thú trò chuyện. Bất chấp vẻ ôn hòa bề ngoài của ông ta, đây là thời gian ngừng chiến tạm thời, cả hai chúng tôi đều biết thế.

Điều tôi muốn biết là lý do tại sao. Không người xa lạ nào lại không thắc mắc tôi là ai, tôi cũng khá băn khoăn về bản thân mình khi ngài Công tước nhắm vào điều đó. Hoặc chỗ ông ta nghĩ là tôi đã ở. Trước đây, ông ta đã gặp tôi hai lần, với tư cách là bà Fraser, vợ của Lãnh chúa Lallybroch. Giờ tôi lại xuất hiện trước cửa nhà ông ta với tư cách một con tin người Anh tên là Beauchamp vừa mới được giải cứu khỏi một băng nhóm Jacobite người Scot. Từng đó cũng đủ khiến bất cứ ai phải thắc mắc. Nhưng thái độ của ông ta đối với tôi cũng giống trong quá khứ, một sự tò mò đơn giản.

Trà được mang đến cùng với bánh nướng và bánh ngọt. Ngài Công tước nhấc tách trà của mình lên, ra hiệu về phía tôi kèm theo một cái nhướng mày, và chúng tôi uống trà, cả hai vẫn im lặng. Đâu đó phía bên kia của ngôi nhà, tôi loáng thoáng nghe thấy tiếng va đập, như có ai đó đang gõ búa. Tiếng lanh canh nhẹ nhàng của chiếc tách trên tay ngài Công tước với chiếc đĩa bên dưới nó là tín hiệu cho sự thù địch bắt đầu trở lại.

“Nào,” ông ta nói, với sự cứng rắn mà một người có giọng nói như của chuột Mickey có thể xoay xở được. “Hãy để ta bắt đầu, phu nhân Fraser - có lẽ ta nên gọi cô như vậy? Cảm ơn cô! Để ta bắt đầu bằng việc nói rằng ta đã biết rõ về cô. Ta có ý định biết nhiều hơn nữa. Cô nên trả lời ta một cách đầy đủ và không ngần ngại. Ta phải nói rằng, phu nhân Fraser, giết cô là việc rất khó” - ông ta hơi cúi đầu về phía tôi, nụ cười vẫn ở trên môi - “nhưng ta cảm thấy chắc chắn rằng mình vẫn có thể làm được điều đó, nếu có đủ quyết tâm.”

Tôi nhìn ông ta chằm chằm, không nhúc nhích; không phải vì sự điềm tĩnh tự nhiên khi người ta gặp nguy hiểm, mà là sự chết lặng không còn lời nào để nói. Bắt chước một thói kiểu cách khác của Louise, tôi nhướng cả hai lông mày vẻ hồ nghi, nhấp một ngụm trà, rồi khéo léo chấm nhẹ vào môi mình bằng chiếc khăn ăn được thêu hai chữ lồng vào nhau.

“Tôi e là ngài sẽ nghĩ tôi đần độn, chậm hiểu, thưa Đức ngài,” tôi lịch sự nói, “nhưng tôi không hiểu gì về những điều ngài đang nói.”

“Cô không hiểu ư, phu nhân thân mến?”

Đôi mắt nhỏ vui vẻ màu xanh lam không hề chớp. Ông ta với tới cái chuông mạ bạc trên khay và rung nó một lần.

Người đàn ông kia hẳn phải đợi sẵn ở phòng kế bên chờ được gọi, vì cánh cửa mở ra ngay lập tức. Một người đàn ông gầy gò, cao lêu nghêu trong bộ lễ phục tối màu bằng vải lanh tốt dành cho người hầu ở cấp độ cao tiến tới bên cạnh Công tước và cúi chào thật sâu.

“Thưa Đức ngài?” Hắn ta nói tiếng Anh, nhưng trọng âm tiếng Pháp không thể nhầm lẫn được. Gương mặt hắn cũng là của người Pháp; mũi dài và trắng, với cặp môi mỏng mím chặt và hai tai dựng thẳng hướng ra ngoài giống như hai cái cánh nhỏ ở hai bên, vành tai rất đỏ. Gương mặt xương xương trở nên tái nhợt khi hắn ngước lên và phát hiện ra tôi, hắn vô thức lùi lại một bước.

Sandringham quan sát điều này với vẻ nhăn nhó khó chịu, sau đó chuyển cái nhìn chằm chằm sang tôi.

“Cô không nhận ra anh ta ư?” Công tước hỏi.

Tôi đang định lắc đầu thì bàn tay phải của gã đàn ông đột nhiên giần giật, áp vào ống chiếc quần chẽn. Kín đáo nhất có thể, hắn làm dấu hiệu những chiếc sừng, các ngón ở giữa gập xuống, ngón trỏ và ngón út hướng về phía tôi. Thế rồi, sau khoảnh khắc, tôi đã có được sự khẳng định về nhận thức của mình - trên kẽ ngón tay cái của hắn có một nốt ruồi nhỏ.

Không nghi ngờ gì nữa; đó chính là gã đàn ông trong chiếc sơ mi ố bẩn, kẻ đã tấn công tôi và Mary ở Paris. Và quá hiển nhiên, do Công tước sai khiến.

“Đồ khốn nạn chết tiệt!” Tôi nói. Tôi đứng bật dậy, lật tung cả bàn trà, và tóm lấy món đồ gần nhất, một cái lọ đựng thuốc lá bằng thạch cao tuyết hoa được chạm khắc. Tôi ném nó thật mạnh vào đầu gã đàn ông, hắn vội vàng xoay người trốn tránh, cái lọ nặng trịch sượt qua hắn có vài phân, đập vào khung cửa.

Cánh cửa đóng sầm trong khi tôi chằm chằm nhìn theo hắn, và tôi dừng lại, không đuổi theo, hơi thở nặng nề. Tôi trừng mắt nhìn Sandringham, hai tay chống nạnh.

“Hắn là ai?” Tôi hỏi.

“Người hầu của ta,” Công tước bình tĩnh nói. “Albert Danton. Một gã ngon lành với khăn quàng cổ và bít tất dài, nhưng hơi dễ kích động, như rất nhiều gã người Pháp khác. Cũng mê tín đến khó tin.” Ông ta cau mày không hài lòng với cánh cửa đã đóng. “Những gã Gia Tô chết tiệt. Chẳng tin tưởng bất cứ điều gì.”

Hơi thở của tôi dần chậm lại, mặc dù tim vẫn đập bang bang vào cái gọng áo nịt. Tôi khó khăn hít vào một hơi thật sâu.

“Đồ trụy lạc… bẩn thỉu, đáng ghê tởm, vô nhân đạo!”

Gã Công tước dường như có vẻ chán ngán trước điều này, lơ đễnh gật đầu.

“Phải, phải, phu nhân thân mến! Còn hơn thế nữa cơ. Hơi thiếu may mắn, ít nhất là vào dịp đó.”

“Thiếu may mắn ư? Đó là điều ông nói về chuyện đó sao?” Người lảo đảo, tôi đi đến bên chiếc ghế đôi và ngồi xuống. Hai bàn tay run rẩy vì căng thẳng, tôi nắm hai tay vào nhau, giấu trong những nếp gấp của chiếc váy.

“Trong chừng mực nào đó, phu nhân yêu quý của ta ạ! Cứ nhìn mà xem.” Gã xòe cả hai bàn tay ra trong vẻ khẩn nài duyên dáng. “Ta sai Danton trừ khử cô. Hắn và đồng bọn quyết định phải vui vẻ một chút trước đã, rồi chẳng hiểu vì sao lại đột nhiên kết luận rằng cô là phù thủy theo một dạng nào đó, khiến chúng trở nên hoàn toàn mất trí và chạy trốn. Nhưng chúng đã kịp hại đời con gái đỡ đầu của ta, do con bé tình cờ có mặt ở đó, và hủy hoại cuộc hôn nhân tuyệt vời mà ta đã dày công sắp xếp cho nó. Mỉa mai làm sao!”

Những cơn choáng váng kéo đến một cách dày đặc và nhanh chóng, và tôi không biết phải phản ứng với cú sốc nào trước. Nhưng dường như chỉ có một lời tuyên bố cụ thể trong bài diễn văn này.

“Ông có ý gì khi nói “trừ khử tôi”?” Tôi hỏi. “Ý ông là ông đã cố thử giết tôi?” Căn phòng dường như hơi đu đưa, và tôi hớp một ngụm trà lớn vì nó là thứ gần nhất có sẵn để giúp phục hồi lại tinh thần. Nó không có hiệu quả lắm.

“Chà, đúng thế,” Sandringham sảng khoái nói. “Đó chính là điều ta đã cố gắng làm. Nói cho ta biết, phu nhân thân mến, cô muốn uống một cốc rượu sherry chứ?”

Tôi đưa mắt nhìn kĩ gã một lúc. Gã vừa mới tuyên bố rằng đã cố gắng giết tôi, giờ lại hy vọng tôi đồng ý uống một cốc rượu sherry của gã ư?

“Brandy,” tôi nói. “Nhiều vào.”

Gã cười the thé và đi tới chiếc tủ tường chỉ cao quá vai gã. “Đại úy Randall nói rằng cô là người phụ nữ thú vị. Một lời tán dương hiếm có từ ngài Đại úy, cô biết đấy. Anh ta không ưa phụ nữ, mặc dù họ bám theo anh ta thành bầy. Ta tin là vì vẻ ngoài của anh ta; không thể là vì cách hành xử được.”

“Vậy là Jack Randall làm việc cho ông,” tôi nói, đón ly rượu gã đưa. Tôi đã quan sát gã rót hai ly, và chắc chắn rằng cả hai ly đều không chứa thứ gì khác ngoài brandy. Tôi uống một ngụm lớn và cố gắng nuốt xuống.

Gã Công tước cùng uống với tôi, chớp mắt trước tác động của chất lỏng cay nồng ấy.

“Dĩ nhiên,” gã nói. “Thường khi công cụ tốt nhất là thứ nguy hiểm nhất. Người ta không ngần ngại sử dụng nó vì lý do đó; có điều người ta chắc chắn phải có sự phòng ngừa thích đáng.”

“Nguy hiểm ư? Vậy ông biết được bao nhiêu về Jonathan Randall?” Tôi tò mò hỏi.

Gã Công tước cười khúc khích. “Ồ, hầu như mọi điều, phu nhân thân mến! Thực tế, có thể còn nhiều hơn những gì cô biết. Người ta không thu dùng một gã như thế mà không có một phương tiện trong tay để điều khiển hắn, cô biết đấy. Và tiền là một món hối lộ tốt, nhưng lại là một sợi dây cương yếu ớt.”

“Không giống như thư nặc danh?” Tôi lạnh lùng nói.

Gã ngồi ngả ra sau, hai bàn tay chắp ngang trên cái bụng phình lên, và nhìn tôi chăm chú với vẻ thích thú.

“À! Cô đang nghĩ rằng thư nặc danh có thể có hiệu quả theo cả hai cách, đúng không?” Gã lắc đầu, phủi đi vài hạt vụn thuốc lá hít trôi xuống từ trên chiếc áo gi lê lụa.

“Không, phu nhân thân mến! Vì một lẽ, có một điều khác biệt ở các đồn binh của chúng tôi. Mặc dù lời đồn đại kiểu đó có thể ảnh hưởng đến việc tôi được tiếp đón trong một số vòng giao tế xã hội, nhưng lại không thành vấn đề nghiêm trọng đối với tôi. Còn về Đại úy - chà, quân đội có cái nhìn rất ác cảm đối với những sở thích trái tự nhiên như thế. Thực tế, hình phạt thường là cái chết. Không, thực sự không có nhiều người giống anh ta.” Gã ngả đầu sang một bên, tới chừng mực mà cái cằm xệ ngấn mỡ cho phép.

“Nhưng thứ ràng buộc John Randall với ta không phải là lời hứa hẹn về sự giàu sang, cũng không phải sự đe dọa phanh phui tai tiếng,” gã nói. Đôi mắt nhỏ màu xanh nước biển sáng lấp lánh. “Anh ta phục vụ ta bởi vì ta có thể cho anh ta những gì anh ta thèm khát.”

Tôi đưa mắt nhìn thân hình béo tốt kia với vẻ ghê tởm không che giấu, khiến Công tước cười rung cả người.

“Không, không phải cái đó,” gã nói. “Khẩu vị của Đại úy có phần tinh tế hơn thế. Không giống của ta.”

“Vậy thì là cái gì?”

“Sự trừng phạt,” gã dịu dàng nói. “Nhưng cô biết điều đó, đúng không? Hoặc ít nhất chồng cô biết.”

Tôi cảm thấy bẩn thỉu khi ở gần gã, bèn đứng lên bước ra xa. Nhưng mảnh vỡ của cái lọ thuốc lá bằng thạch cao tuyết hoa nằm trên sàn nhà, và tôi vô ý đá vào một mảnh, làm cho nó bay vèo vào tường, nẩy bật ra và xoay tròn, rơi xuống dưới gầm chiếc ghế đôi, khiến tôi nghĩ đến gã Danton vừa nãy.

Tôi không chắc mình muốn bàn luận về vụ ám sát không thành với hắn ta, nhưng dường như trong khoảnh khắc này, nó còn thích hợp hơn một vài lựa chọn khác.

“Vì điều gì mà ông muốn giết tôi?” Tôi đột ngột hỏi, quay sang đối diện với gã. Tôi liếc nhanh về phía bộ sưu tập những món đồ ở trên chiếc bàn tròn chân chẻ ba, tìm kiếm một thứ vũ khí thích hợp để tự vệ, phòng trường hợp gã vẫn cảm thấy ham muốn mạnh mẽ đó.

Gã dường như không định nói. Thay vào đó, gã cúi người - và nhặt cái ấm trà lên - kỳ diệu là nó không bị vỡ - và đặt nó ngay ngắn lên chiếc bàn trà được dựng lại.

“Điều đó có vẻ cần thiết vào lúc đó,” gã điềm tĩnh nói. “Ta biết rằng cô và chồng cô đang nỗ lực ngăn trở một vụ làm ăn mà ta có hứng thú. Ta đã cân nhắc đến việc trừ khử chồng cô, nhưng điều đó dường như quá nguy hiểm, vì mối quan hệ gần gũi của cậu ta với hai gia tộc lớn nhất Scotland.”

“Cân nhắc trừ khử anh ấy?” Một tia sáng lộ ra - đó là một trong số rất nhiều tia sáng đang lóe lên trong đầu tôi giống như pháo hoa. “Có phải ông đã sai khiến những gã thủy thủ tấn công Jamie ở Paris không?”

Gã Công tước gật đầu không khách sáo.

“Đó dường như là phương thức đơn giản nhất, tuy có hơi lỗ mãng. Nhưng rồi Dougal MacKenzie xuất hiện ở Paris, và ta băn khoăn liệu chồng cô có thực sự làm việc cho nhà Stuart không. Ta bắt đầu không chắc chắn sự quan tâm của cậu ta đặt ở đâu.”

Điều tôi đang băn khoăn chính là sự quan tâm của gã Công tước này đặt ở đâu. Những lời kỳ quái vừa rồi khiến gã có vẻ là một Jacobite bí mật - và nếu đúng như vậy thì gã đã giữ kín những bí mật của mình rất tài tình.

“Và sau đó,” gã tiếp tục, khéo léo đặt nắp ấm trà về đúng vị trí, “tình bạn của cô với Louis của Pháp ngày càng tăng tiến. Thậm chí dù chồng cô thất bại với các chủ ngân hàng, Louis vẫn có thể cung cấp cho Charles Stuart những thứ hắn cần - miễn là cô không nhúng mũi vào vụ việc này.”

Gã liên tục cau mày trước chiếc bánh nướng đang cầm, giật ra hai sợi chỉ, sau đó quyết định không ăn nó và ném lên bàn.

“Khi những điều đang thực sự diễn ra bắt đầu trở nên rõ ràng, ta đã cố gắng nhử chồng cô trở về Scotland, với một lời hứa hẹn xin miễn tội cho cậu ta; cái đó rất đắt đấy,” gã trầm ngâm nói. “Nhưng vô ích!”

“Sau đó, ta nhớ ra sự yêu thương hết lòng của chồng cô đối với cô - khá là cảm động,” gã nói, với nụ cười rộng lượng mà tôi đặc biệt ghét. “Ta cho rằng cái chết bi kịch của cô có thể làm cậu ta sao nhãng khỏi những nỗ lực cậu ta đang làm mà không gây ra nhiều rắc rối như cái chết của cậu ta sẽ gây nên.”

Đột nhiên nghĩ đến điều gì, tôi quay sang nhìn chiếc đàn cla-vơ-xanh ở góc phòng. Vài trang nhạc để trên giá kẹp bản nhạc, được viết ra sạch đẹp. Năm mươi nghìn bảng, ngay khi Điện hạ đặt chân lên đất Scotland. Ký tên S. “S”, dĩ nhiên rồi, là chữ viết tắt của Sandringham. Gã Công tước cười, tỏ vẻ vui thích rõ ràng.

“Cô thực sự rất thông minh, phu nhân thân mến. Người phát hiện ra hẳn phải là cô; ta nghe nói chồng cô không may thiếu khả năng âm nhạc.”

“Thực ra, không phải thế,” tôi đáp, quay trở lại từ chỗ chiếc đàn. Cái bàn ở cạnh tôi không có bất kỳ thứ gì hữu dụng để mở bì thư hay những món đồ cùn, nhưng tôi vội vã cầm lên một lọ hoa và vùi mặt mình vào bó hoa lớn được trồng ở nhà kính đang cắm trong lọ. Tôi nhắm mắt, cảm nhận sự cọ xát của những cánh hoa mát lạnh lên hai má đột nhiên nóng bừng của mình. Tôi không dám ngước lên nhìn, vì sợ khuôn mặt lúc này sẽ làm mình bại lộ.

Vì đằng sau vai gã Công tước, tôi trông thấy một vật hình tròn bằng da, có hình dạng như một trái bí ngô, hiện ra giữa những lớp rèm nhung màu xanh lục giống như một trong số những món đồ nghệ thuật ngoại quốc của gã Công tước. Tôi mở mắt, cẩn thận nhìn xuyên qua những cánh hoa và chiếc miệng rộng có răng mọc chìa ra kia đang cười ngoác đến tận mang tai giống như một cái đèn ma[4].

Tôi bị giằng xé giữa nỗi kinh hãi và sự nhẹ nhõm. Vậy là tôi đã đúng về gã ăn mày ở gần cổng. Đó là Hugh Munro, một người bạn cũ của Jamie từ những ngày anh còn là một kẻ vùng cao sống ngoài vòng pháp luật. Từng có thời là một thầy giáo, ông ta đã bị người Thổ bắt ở biển, bị biến dạng vì tra tấn, và quay ra làm nghề ăn xin và săn trộm - rồi sau đó trở thành gián điệp. Tôi nghe nói ông ta là mật vụ của đội quân vùng cao, nhưng không nhận ra rằng các hoạt động của ông ta đã đưa ông ta tiến xa về phía nam.

Ông ta đã ở đó được bao lâu, đậu vắt vẻo như một con chim trên cái cây thường xuân bên ngoài cửa sổ tầng hai? Tôi không dám thử giao tiếp với ông ta; tất cả những gì tôi có thể làm là giữ cho mắt mình gắn chặt vào một điểm ngay phía trên vai gã Công tước, như thể đang lơ đãng nhìn vào khoảng không.

Gã Công tước đang chăm chú nhìn tôi với vẻ thích thú. “Thật ư? Chắc chắn không phải là Gerstmann? Ta không nghĩ ông ta có đầu óc đủ lắt léo, quanh co.”

“Và ông nghĩ là tôi ư? Tôi được tâng bốc rồi.” Tôi vẫn vùi mũi vào những bông hoa, lơ đãng nói với một bông mẫu đơn.

Bóng dáng bên ngoài thả tay khỏi cây thường xuân đủ lâu để giơ một bàn tay lên. Bị những kẻ bắt giữ người Saracen cắt mất lưỡi, hai bàn tay của Hugh Munro nói thay cho ông ta. Cố ý nhìn chằm chằm vào tôi, ông ta chỉ, đầu tiên là tôi, sau đó là bản thân ông ta, rồi né sang một bên. Bàn tay to nghiêng đi và hai ngón tay đầu tiên trở thành một cặp chân chạy nhanh về phía đông. Cuối cùng là một cái nháy mắt ra hiệu, một nắm đấm siết chặt để chào tạm biệt và ông ta biến mất.

Tôi thả lỏng, hơi run rẩy và hít vào một hơi thật sâu để bình tĩnh lại. Tôi hắt hơi và đặt lọ hoa xuống.

“Vậy ông là một Jacobite, đúng không?” Tôi hỏi.

“Không cần thiết,” gã Công tước ân cần trả lời. “Câu hỏi này, phu nhân thân mến, là dành cho cô.” Hoàn toàn không e ngại, lúng túng, gã bỏ bộ tóc giả xuống và gãi cái đầu hói của mình trước khi đội nó trở lại.

“Cô đã cố gắng ngăn cản nỗ lực giành lại ngai vàng cho Vua James khi cô ở Paris. Thất bại trong chuyện đó, bây giờ cô và chồng cô lại có vẻ là những người ủng hộ trung thành nhất của Hoàng tử Charles. Tại sao?” Đôi mắt nhỏ màu xanh không biểu hiện gì hơn một sự hứng thú nhẹ nhàng, nhưng đó không phải sự hứng thú cố tìm cách giết tôi.

Kể từ khi phát hiện ra chủ nhà tiếp đón mình là ai, tôi đã cố gắng nhớ lại những gì Frank và mục sư Wakefield nói về gã. Gã có phải một Jacobite không? Theo những gì tôi nhớ, phán định của lịch sử - qua lời của Frank và mục sư - là không chắc chắn. Tôi cũng vậy.

“Tôi không nghĩ mình sẽ nói cho ông biết,” tôi chậm rãi nói.

Một bên lông mày màu vàng nhướng cao, gã Công tước lấy ra một cái hộp nạm đá quý nhỏ từ trong túi áo và dúm một nhúm nhỏ thứ đựng bên trong.

“Cô có chắc điều đó là khôn ngoan không, phu nhân thân mến? Danton vẫn đang trong tầm gọi, cô biết đấy.”

“Danton sẽ không lại gần tôi trong vòng mười bước,” tôi nói thẳng. “Cả ông cũng vậy, vì một vấn đề. Không,” tôi hấp tấp bổ sung, nhìn miệng gã mở ra, “vì lý do đó. Nếu ông tha thiết muốn biết tôi ở phe nào thì lúc này đây ông sẽ không giết tôi trước khi khám phá ra điều đó, đúng không?”

Gã Công tước bị sặc vì thứ kia và ho sù sụ, tự đấm thùm thụp lên ngực áo gi lê thêu hoa văn. Tôi vươn thẳng người lên và lạnh lùng nhìn chằm chằm trong khi gã hắt hơi và thở phì phì.

“Ông đang cố dọa tôi sợ để nói cho ông biết những điều đó, nhưng không hiệu quả đâu,” tôi nói, với dáng vẻ tự tin hơn cảm giác thực sự trong lòng.

Sandringham chấm nhẹ hai mắt nhòe nước bằng một chiếc khăn tay. Cuối cùng, gã hít sâu và thổi khí ra giữa đôi môi dày và trề trong khi nhìn chằm chằm vào tôi.

“Rất tốt, vậy thì,” gã điềm tĩnh nói. “Ta thiết nghĩ lúc này những người làm của ta đã hoàn thành công việc dọn dẹp chỗ ở cho cô. Ta sẽ gọi một cô hầu đến để dẫn cô tới phòng của cô.”

Tôi chắc hẳn phải trố mắt nhìn gã một cách ngốc nghếch lắm, vì gã cười giễu cợt khi nhấc người ra khỏi cái ghế bành.

“Về điểm đó, cô biết đấy, không thành vấn đề,” gã nói. “Cho dù cô là gì hay cô có bất cứ thông tin gì, cô cũng có một thuộc tính vô giá để làm một vị khách của gia đình.”

“Và đó là gì?” Tôi hỏi. Gã ngừng ngang một chút, tay để trên cái chuông và mỉm cười.

“Cô là vợ của Jamie Đỏ,” gã nói rất khẽ khàng. “Và hắn ta rất yêu thương cô, không đúng sao?”

•••

Khi bị đưa đi giam cầm, tôi còn thấy điều tồi tệ hơn nữa. Căn phòng khoảng chừng chín mét mỗi chiều, và được trang bị đồ đạc với một sự phung phí còn vượt quá phòng khách ở dưới nhà. Chiếc giường treo màn được kê trên một cái bệ nhỏ, với những chiếc lông đà điểu châu Phi thòi ra từ các góc của tấm màn gấm damask, và một cặp ghế được thêu chỉ kim tuyến màu nhạt đặt chình ình trước một lò sưởi lớn.

Cô hầu gái đi kèm tôi đặt cái chậu và cái bình đựng nước mà cô ta mang theo xuống, rồi vội vã đốt lò sưởi đã đặt sẵn củi. Tên hầu đặt cái khay đựng bữa tối được phủ kín lên chiếc bàn cạnh cửa, rồi lãnh đạm đứng ở lối ra vào, xóa sạch ý định bỏ trốn bằng cách cố thử lao nhanh ra hành lang của tôi. Không phải việc đó sẽ có hiệu quả, tôi u ám nghĩ; tôi sẽ bất lực lạc trong ngôi nhà này sau chỗ rẽ đầu tiên ở hành lang; cái nơi chết tiệt này lớn ngang với cung điện Buckingham.

“Tôi chắc chắn Đức ngài hy vọng bà sẽ thấy thoải mái dễ chịu, thưa bà,” cô hầu nói, nhún gối chào duyên dáng trên đường đi ra.

“Ồ, tôi cược là ông ta muốn thế,” tôi nói, chẳng hề hòa nhã.

Cánh cửa khép lại sau lưng cô ta với một tiếng thịch cứng rắn buồn bã, và âm thanh lách cách của chiếc chìa khóa lớn xoay trong ổ dường như đã cạo mòn đi lớp cách ly bảo vệ cuối cùng còn phủ lên các sợi dây thần kinh nhạy cảm của tôi.

Rùng mình trong sự lạnh giá của căn phòng rộng lớn, tôi siết chặt hai khuỷu tay mình và đi đến bên lò sưởi, ngồi phịch xuống một chiếc ghế. Tôi có thôi thúc muốn tận dụng tình trạng cô độc để thả lỏng cơn kích động của mình. Mặt khác, tôi sợ rằng nếu mình cho phép các cảm xúc đang căng như dây đàn này được thả lỏng, tôi sẽ không bao giờ kiểm soát được chúng một lần nữa. Tôi nhắm nghiền hai mắt và quan sát ánh đỏ của lưỡi lửa trong lò sưởi chớp lên bên trong mí mắt mình, để bản thân bình tĩnh lại.

Dù sao ngay lúc này tôi cũng không gặp nguy hiểm gì, và Hugh Munro đang trên đường tới chỗ Jamie. Cho dù Jamie đã mất dấu tôi trong cuộc di chuyển trong tuần qua, Hugh sẽ tìm thấy anh và dẫn anh tới đúng chỗ. Hugh biết mọi người nông dân và dân lang thang, mọi nông trang và trang viên trong vòng bốn xứ đạo. Một tin nhắn từ người đàn ông bị câm đó sẽ nhanh chóng di chuyển qua mạng lưới tin tức như gió thổi mây bay qua đồi núi. Nếu ông ta xuống được khỏi cây thường xuân và an toàn chuồn khỏi phần đất của Công tước mà không bị tóm thì chuyện sẽ như thế.

“Đừng có nực cười,” tôi nói thành tiếng, “người đàn ông đó là một tên săn trộm chuyên nghiệp. Dĩ nhiên ông ta sẽ làm được.” Tiếng vang của những lời tôi nói đập vào trần nhà trang trí công phu bằng thạch cao trắng, không hiểu sao nghe thật dễ chịu.

“Và nếu vậy,” tôi tiếp tục một cách chắc chắn, vẫn nói cho chính mình nghe, “Jamie sẽ đến.”

Đúng rồi, tôi đột nhiên nghĩ. Và người của Sandringham sẽ đợi anh khi anh đến. Cô là vợ của Jamie Đỏ, gã Công tước đã nói thế. Một thuộc tính vô giá của tôi. Tôi là mồi nhử.

“Ta là một quả trứng cá hồi!” Tôi kêu lên, ngồi thẳng dậy trên ghế. Hình ảnh tưởng tượng đầy tính sỉ nhục ấy gợi lên một chút thịnh nộ đáng hoan nghênh, đẩy lui nỗi sợ hãi. Tôi cố gắng quạt cho ngọn lửa giận dữ ấy bùng lên hết lần này tới lần khác, nghĩ ra những cái tên mới để gọi gã Công tước vào lần gặp mặt tới. Tôi đang nghĩ đến từ “kẻ ấu dâm lén lút” thì một tiếng hét văng vẳng vọng đến từ bên ngoài làm sao nhãng sự tập trung của tôi.

Đẩy tấm màn nhung dày ở cửa sổ sang một bên, tôi thấy rằng gã Công tước không nói suông. Những thanh gỗ bền chắc đan chéo nhau trên khung cửa sổ, tạo thành một cái lưới mắt cáo khít đến nỗi tôi chỉ có thể thò được một cánh tay ra ở khe hở giữa chúng. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhìn ra ngoài được.

Ánh chạng vạng đã buông xuống, bóng tối dưới những rừng cây đã đen như mực. Tiếng thét kia vẳng ra từ đó, hợp cùng vài tiếng kêu đáp trả từ chuồng ngựa, nơi có hai, ba bóng người đột nhiên xuất hiện, mang theo những bó đuốc đang cháy.

Những bóng người nhỏ bé, đen đen chạy về phía khu rừng, lửa cháy trên những bó đuốc thông ngả về phía sau, sáng lóa màu cam trong gió lạnh ẩm ướt. Khi họ tới rìa khuôn viên, một mớ rối nùi những hình người lờ mờ bắt đầu trở nên rõ hơn, bổ nhào lên thảm cỏ phía trước ngôi nhà. Mặt đất ẩm ướt, và lực giằng co của họ để lại những vết lún dài và sâu trên thảm cỏ chết mùa đông.

Tôi đứng kiễng chân, nắm lấy những thanh gỗ và ấn sát đầu mình vào đó để cố nhìn cho rõ hơn. Ánh sáng ban ngày đã hoàn toàn tắt, và dưới ánh đuốc, tôi chẳng thể phân biệt rõ những thân hình đang quật qua quật lại trong cuộc náo loạn bên dưới.

Đó không thể là Jamie, tôi tự nhủ, cố gắng nuốt xuống cục khô khốc trong cổ họng mà tôi cho là trái tim mình. Không sớm như vậy, không phải bây giờ. Và không phải một mình, chắc chắn anh sẽ không đến một mình chứ? Vì lúc này tôi đã nhìn ra trận đánh nhau chỉ tập trung vào một người, hắn đang quỳ gối, không hơn gì một hình dáng đen sì sụp xuống dưới những nắm đấm và gậy gộc của những kẻ trông coi khu săn bắn và những gã làm việc trong chuồng ngựa của Công tước.

Sau đó, dáng người thu lu kia nằm vật ra, duỗi thẳng cẳng, và tiếng la hét im bặt, mặc dù vài đòn đánh nữa vẫn tiếp tục giáng xuống trước khi nhóm người hầu kia đứng lùi lại. Sau vài lời trao đổi mà từ chỗ tôi không nghe rõ, hai trong số những người đàn ông xốc hình người kia lên, đỡ dưới cánh tay. Khi họ đi ngang qua bên dưới cửa sổ tầng ba của tôi trên đường hướng về phía sau nhà, ánh lửa lập lòe chiếu vào đôi chân đi dép có quai sờn mòn và những mảnh áo choàng tả tơi cáu bẩn. Không phải Jamie.

Một người làm việc ở chuồng ngựa chạy vụt qua bên cạnh, hí hửng mang theo một chiếc túi da dày có quai đeo. Tôi ở quá xa nên không nghe rõ tiếng leng keng của những miếng kim loại bé xíu trang trí trên dây đeo, nhưng chúng lấp lóe dưới ánh đuốc, và tất cả sức lực từ hai cánh tay tôi thoát hết ra trong một cơn xô trào của kinh hoàng và tuyệt vọng.

Chúng là những đồng xu và những cái khuy, những món đồ kim loại nhỏ bé. Và những gaberlunzie. Đó là những miếng chì nhỏ bé cho phép một người hành khất được hành nghề trong một xứ đạo. Hugh Munro có bốn cái, một đặc ân dành cho ông ta vì những thử thách mà ông ta đã phải chịu đựng khi ở trong tay bọn Thổ. Không phải Jamie, mà là Hugh.

Tôi run lẩy bẩy đến nỗi hai chân không thể đứng vững, nhưng vẫn chạy tới cánh cửa và nện vào đó bằng tất cả sức lực mình có.

“Thả tôi ra!” Tôi thét lên chói tai. “Tôi phải gặp Công tước! Tôi nói thả tôi ra!”

Không có câu trả lời cho những tiếng la hét và đấm cửa liên tục của tôi, và tôi lao bổ trở lại chỗ cửa sổ. Cảnh tượng bên dưới giờ đã rất yên bình; một cậu bé đứng giơ cây đuốc cho một người làm vườn quỳ gối ở rìa thảm cỏ, nhẹ nhàng đặt lại những mảng cỏ bị lật lên bởi cuộc đánh lộn vừa rồi.

“Này!” Tôi gào lên. Bị chắn bởi những thanh gỗ, tôi không thể đẩy mở cánh cửa sổ ra phía ngoài. Tôi chạy băng qua phòng, tìm một giá nến bằng bạc nặng trịch, bổ nhào trở lại và đập vỡ ô cửa kính, không buồn chú ý đến những mảnh vỡ bay ra.

“Giúp với! Bớ người ở dưới kia! Nói với ngài Công tước là ta muốn gặp ông ấy! Ngay bây giờ! Giúp với!” Tôi nghĩ một trong hai bóng người đã quay đầu về phía tôi, nhưng cả hai chẳng hề nhúc nhích tiến về phía ngôi nhà mà vẫn tiếp tục làm công việc của họ như thể chẳng có gì ngoài tiếng kêu của một con chim đêm khuấy động bóng tối quanh họ.

Tôi chạy trở lại cửa ra vào, đập và thét gọi, rồi lại quay về bên cửa sổ, rồi lại quay về cửa ra vào lần nữa. Tôi hét gọi, cầu xin và đe dọa cho tới khi cổ họng đau rát và khàn khàn, đập vào cánh cửa cứng trơ trơ cho tới khi hai nắm tay đỏ lên và bầm tím, nhưng không có ai đến. Từ những gì tôi nghe được, có lẽ tôi đã hoàn toàn cô độc trong ngôi nhà lớn này. Sự im lặng từ hành lang cũng sâu thăm thẳm như đêm đen ngoài kia; im lặng như nấm mồ. Tất cả những gì kìm hãm sự sợ hãi đã biến mất, cuối cùng tôi quỳ sụp xuống trước cánh cửa, khóc nức nở không kiềm chế nổi.

•••

Tôi thức dậy, ớn lạnh và cứng nhắc, đầu đau như búa bổ, cảm thấy một thứ gì đó to bản và cứng rắn đang đẩy vào người mình trên sàn nhà. Tôi giật mình tỉnh hẳn khi mép cánh cửa nặng nề mở ra, nghiến vào đùi mình.

“Ối!” Tôi vụng về cuộn người, rồi quờ quạng hai bàn tay và đầu gối, tóc xòa xuống mặt.

“Claire! Ồ, khẽ thôi, l-làm ơn! Bạn thân yêu, bà bị đau ư?” Có tiếng sột soạt của vải ba tít được hồ cứng, rồi Mary quỳ xuống bên cạnh tôi. Đằng sau cô, cánh cửa đóng lại và tôi nghe thấy tiếng lách cách của ổ khóa phía trên.

“Đúng - ý tôi là, không. Tôi ổn cả,” tôi sững sờ nói. “Nhưng Hugh…” Tôi mím chặt môi và lắc đầu, cố làm cho mình tỉnh táo. “Em đang làm cái quái gì ở đây thế Mary?”

“Em h-hối lộ quản gia cho em vào,” cô thì thầm. “Có phải bà nói quá lớn tiếng không?”

“Chuyện đó không thành vấn đề,” tôi nói, vẫn bằng giọng điệu bình thường. “Cánh cửa đó dày quá, một trận đấu bóng đá cũng không thể lọt tiếng qua nó được.”

“Một cái gì cơ?”

“Đừng để ý.” Tâm trí tôi bắt đầu rõ ràng hơn, mặc dù hai mắt vẫn sung húp và trong đầu tôi vẫn như có người đang đánh trống. Tôi đứng dậy và lảo đảo đi đến chỗ cái chậu để táp nước lạnh lên mặt.

“Em đã hối lộ quản gia ư?” Tôi hỏi, lấy khăn lau mặt. “Nhưng chúng ta vẫn bị khóa bên ngoài, đúng không? Tôi nghe thấy tiếng họ xoay chìa khóa.”

Mary trông nhợt nhạt trong không gian lờ mờ của căn phòng. Cây nến đã cháy hết trong khi tôi ngủ trên sàn nhà, và không có ánh sáng nào ngoài màu đỏ rực của than hồng trong lò sưởi. Cô gái cắn môi.

“Đó là điều t-tốt nhất em có thể làm. Bà Gibson quá sợ ngài Công tước nên không dám cho em chìa khóa. Bà ấy chỉ đồng ý mở khóa cho em vào với bà, và để em ra ngoài vào buổi sáng. Em nghĩ bà c-có thể thích có người bầu bạn,” cô bẽn lẽn nói thêm.

“Ồ,” tôi nói. “Chà… cảm ơn em. Em suy nghĩ thật chu đáo.” Tôi lấy một cây nến mới từ trong ngăn kéo tủ ra và đi đến lò sưởi để thắp nó lên. Sáp nến cũ trên giá vón lại thành cục; tôi bèn vẩy lên mặt bàn và cắm cây nến mới vào, không thèm chú ý đến thiệt hại với chiếc bàn chạm chìm của Công tước.

“Claire,” Mary nói. “Có phải bà… bà gặp rắc rối không?”

Tôi cắn môi để ngăn một câu trả lời vội vã. Xét cho cùng, cô bé chỉ mới mười bảy tuổi, và sự ngây thơ về các vấn đề chính trị của cô có lẽ còn sâu sắc hơn sự thiếu hiểu biết về đàn ông mà cô từng có.

“À, phải,” tôi nói. “Khá nhiều, tôi e là thế.” Não tôi bắt đầu hoạt động trở lại. Cho dù Mary không giúp được gì nhiều để tôi thoát ra ngoài, ít nhất cô bé có thể cung cấp cho tôi thông tin về cha đỡ đầu của cô và những gì đang diễn ra trong nhà gã.

“Em có nghe thấy tiếng huyên náo ở gần khu rừng lúc nãy không?” Tôi hỏi. Cô gái lắc đầu. Cô đang bắt đầu run rẩy; trong một căn phòng lớn thế này, hơi nóng của lò sưởi cũng lạnh đi từ lâu trước khi nó tới được chỗ bệ kê giường.

“Không, nhưng em nghe một cô phụ bếp nói những người bảo vệ đã bắt được một kẻ săn trộm ở trong khuôn viên. Trời lạnh khủng khiếp. Chúng ta không thể lên gi-giường ư?”

Cô đang lồm cồm bò qua tấm khăn phủ giường, mò mẫm bên dưới chiếc gối ôm để tìm mép của tấm chăn. Bờ mông tròn trịa và gọn gàng như đứa trẻ dưới chiếc váy ngủ trắng.

“Đó không phải người săn trộm,” tôi nói. “Hoặc có thể là thế, nhưng đó cũng là một người bạn. Ông ấy đang trên đường đi tìm Jamie để nói cho anh ấy biết tôi ở đây. Em có biết chuyện gì xảy ra sau khi những người bảo vệ mang ông ấy đi không?”

Mary xoay người lại, gương mặt tai tái dưới bóng của những tấm màn trướng treo trên giường. Ngay cả dưới ánh sáng lờ mờ này, tôi cũng thấy đôi mắt sẫm màu ấy đang mở to.

“Ồ, Claire! Em rất tiếc!”

“À, tôi cũng vậy,” tôi sốt ruột nói. “Em có biết người săn trộm ấy ở đâu không?” Nếu Hugh bị giam giữ ở đâu đó có thể dễ dàng đến được, giống như chuồng ngựa, thì sẽ có cơ hội để Mary thả ông ta ra vào buổi sáng bằng cách nào đó.

Đôi môi run rẩy khiến tật nói lắp của cô dường như còn dễ nghe hơn, đáng lẽ điều đó phải cảnh báo cho tôi biết trước kết quả rồi. Nhưng những lời lẽ ngay khi cô nói ra giáng thẳng vào trái tim tôi, sắc lẻm và đột ngột như nhát đâm của một con dao găm.

“H-họ tr-treo c-cổ ông ta,” cô nói. “Ở c-cổng kh-khuôn viên.”

•••

Một lúc lâu sau, tôi mới có thể tập trung chú ý tới những gì xung quanh mình. Cơn lũ choáng váng, đau khổ, sợ hãi và hy vọng tan vỡ quét ào qua tôi, vùi dập tôi hoàn toàn. Tôi lờ mờ nhận thức được bàn tay nhỏ bé của Mary đang rụt rè vỗ nhẹ lên vai mình, giọng cô bảo tôi dùng khăn tay và uống một ly nước, nhưng tôi vẫn duy trì dáng vẻ cuộn tròn như một quả bóng, không nói năng gì, run bần bật và chờ đợi sự thả lỏng của nỗi tuyệt vọng đang vặn xoắn lại như có một nắm tay siết chặt lấy dạ dày tôi. Cuối cùng, tôi kìm nén cơn hoảng loạn và mệt mỏi mở mắt.

“Tôi sẽ ổn cả thôi,” tôi nói, ngồi dậy và quệt ngang mũi bằng ống tay áo một cách thiêu tế nhị. Tôi đón lấy chiếc khăn tay được đưa đến và dùng nó để chấm mắt mình. Mary vẫn lảng vảng bên tôi, vẻ quan tâm lo lắng, và tôi với tay ra, nắm lấy bàn tay cô gái vẻ trấn an.

“Thực sự,” tôi nói. “Giờ tôi ổn rồi. Và tôi rất mừng vì em ở đây.” Một ý nghĩ lóe lên, và tôi thả rơi cái khăn, nhìn cô vẻ hiếu kỳ.

“Mà tại sao em lại ở đây?” Tôi hỏi. “Ý tôi là, trong ngôi nhà này.”

Cô nhìn xuống, mặt ửng hồng và nghịch cái khăn phủ giường.

“Ngài C-Công tước là cha đỡ đầu của em, bà biết đấy!”

“Phải, tôi nhớ vậy,” tôi nói. “Mặc dù tôi có phần nghi ngờ việc ông ta chỉ muốn được em bầu bạn cho vui.”

Cô gái hơi mỉm cười trước lời nhận xét này. “Kh-không. Nhưng ông ấy - ý em là, ngài Công tước - ông ấy nghĩ đã tìm thấy một người ch-chồng khác cho em.” Nỗ lực để nói ra từ “chồng” khiến mặt cô đỏ lựng. “Papa mang em tới đây để gặp ông ấy.”

Từ thái độ của cô, tôi nhận thấy đây không phải là một tin tức đòi hỏi phải có những lời chúc mừng. “Em có biết người đó không?”

Cô bé chỉ biết tên ông ta. Đó là một ông Isaacson nào đó, làm nghề nhập khẩu ở London. Vì quá bận rộn để có thể đi cả quãng đường tới Edinburgh gặp vợ sắp cưới, ông ta đã đồng ý đến Bellhurst, nơi hôn lễ sẽ diễn ra, tất cả tiệc tùng đều đang được chuẩn bị sẵn sàng.

Tôi nhặt cái bàn chải tóc có mặt sau bằng bạc để ở chiếc bàn đầu giường lên và bắt đầu lơ đãng chải tóc. Vậy là sau thất bại của việc thắt chặt mối liên kết với giới quý tộc Pháp, gã Công tước đang định bán con gái đỡ đầu cho một tên Do Thái giàu có.

“Em có một đống đồ mới để mang về nhà chồng,” Mary nói, cố gượng cười. “Bốn mươi ba chiếc váy lót thêu - hai chiếc thêu chỉ v-vàng.” Cô ngừng lời, môi mím chặt, ngẩn người nhìn xuống bàn tay trần bên trái. Tôi đặt tay mình lên bàn tay ấy.

“Thôi!” Tôi cố động viên. “Có lẽ ông ta sẽ là một người đàn ông tốt.”

“Đó là điều em s-sợ.” Lẩn tránh cái nhìn dò hỏi của tôi, cô ấy liếc nhanh xuống, vặn xoắn hai bàn tay đang đặt trên đùi.

“Họ không kể cho ông Isaacson - về chuyện ở P-Paris. Và họ nói em cũng không được phép kể.” Mặt cô bé nhăn lại vẻ khổ sở. “Họ đã đưa một bà già đáng ghét đến nói cho em biết em phải hành động như thế nào trong đêm t-t-tân h-hôn của em, để giả vờ như đó là lần đầu tiên, nhưng em… Ồ, Claire, làm sao em có thể làm thế chứ?” Cô ấy òa khóc. “Và Alex - em đã không nói với anh ấy; em không thể! Em là một kẻ hèn nhát, em thậm chí kh-không nói lời tạm biệt!”

Cô ấy ném mình vào vòng tay tôi, và tôi vỗ nhẹ lên lưng cô bé, cảm thấy nỗi sầu khổ của mình vơi đi một chút trong nỗ lực an ủi cô ấy. Rất lâu sau, cô ấy mới bình tĩnh hơn và ngồi dậy, nấc cụt, uống một ít nước.

“Em sẽ chấp nhận sống như thế sao?” Tôi hỏi. Cô ấy ngước lên nhìn tôi, hai hàng mi cong vút và ươn ướt.

“Em không có bất kỳ lựa chọn nào,” cô ấy đơn giản nói.

“Nhưng…” Tôi nhìn đăm đăm, rồi dừng lời, bất lực.

Cô ấy nói đúng. Trẻ tuổi và là phái nữ, không có tài sản, không có người đàn ông nào có thể tới giải cứu cô ấy, vì thế cô ấy chẳng biết làm gì ngoài việc tuân theo những ước muốn của cha và cha đỡ đầu, cưới một ông Isaacson nào đó đến từ London.

Trái tim nặng trĩu, không ai trong chúng tôi muốn ăn đồ ăn trên khay. Chúng tôi trèo lên giường, nằm dưới chăn để giữ ấm, và Mary, đã kiệt quệ vì cảm xúc, chìm vào giấc ngủ chỉ trong vòng vài phút. Kiệt sức không kém, nhưng tôi thấy mình không thể ngủ được, vì đau buồn về chuyện của Hugh, lo lắng cho Jamie, và tò mò về gã Công tước.

Những tấm chăn lạnh lẽo, và hai chân tôi hệt như hai tảng băng. Tránh những điều đau buồn hơn nữa trong đầu, tôi xoay chuyển những ý nghĩ sang Sandringham. Vị trí của gã là gì trong vụ việc này?

Xét từ vẻ bề ngoài, người đàn ông này là một Jacobite. Gã đã, căn cứ vào chính sự thừa nhận của gã, sẵn sàng giết người - hoặc ít nhất là trả tiền để thực hiện việc đó - nhằm đảm bảo rằng Charles có được sự tài trợ cậu ta cần để phát động đội quân viễn chinh tới Scotland. Và bằng chứng là bản mật mã bằng nhạc kia đã khẳng định chắc chắn rằng chính Công tước là người cuối cùng xui khiến Charles ra khơi vào tháng Tám, với lời hứa hẹn giúp đỡ.

Tất nhiên, có những người đàn ông nỗ lực để che giấu sự ủng hộ dành cho phái Jacobite; vì những hình phạt dành cho tội tạo phản nên điều đó cũng không có gì lạ. Và Công tước có nhiều thứ để mất hơn một vài người nếu đại nghĩa mà gã ủng hộ thất bại.

Nhưng tôi có ấn tượng rằng Sandringham không phải là người ủng hộ nhiệt tình cho vương quyền của nhà Stuart. Căn cứ vào những lời nhận xét của gã về Danton, rõ ràng gã sẽ không có cảm tình với một kẻ thống trị theo Công giáo. Và tại sao phải đợi lâu đến thế để bày tỏ sự ủng hộ, khi Charles đang cần tiền bạc đến tuyệt vọng như lúc này - và thực tế là cậu ta đã rất cần tiền kể từ lúc về đến Scotland?

Tôi nghĩ ra hai lý do khả dĩ cho thái độ của gã Công tước, không cái nào là đáng ca ngợi đối với một quý ông, nhưng cả hai đều rất phù hợp với nhân cách của gã.

Gã có thể là một Jacobite thực thụ, sẵn sàng ủng hộ một vị vua theo Công giáo để đổi lấy những lợi ích trong tương lai mà gã có thể tiên liệu được với tư cách là người đứng đầu hậu thuẫn cho việc khôi phục vương triều Stuart. Tôi có thể thấy rõ điều đó; “nguyên tắc” không nằm trong vốn từ vựng của gã đàn ông này mà ngược lại, “tư lợi” là cụm từ mà gã biết rõ nhất. Có lẽ gã muốn chờ cho tới khi Charles đến Anh quốc để chắc chắn rằng tiền bạc không bị lãng phí trước khi cuộc tấn công mang tính quyết định của quân đội vùng cao ập đến London. Bất cứ ai thân thiết với Charles Stuart đều có thể cảm thấy được không thể trao cho cậu ta quá nhiều tiền bạc cùng một lúc.

Hoặc, vì vấn đề đó, có lẽ gã muốn đảm bảo rằng những người nhà Stuart có được sự ủng hộ vật chất nào đó cho sự nghiệp chính nghĩa của bọn họ trước khi dính dáng về mặt tài chính với bản thân gã; rốt cuộc, việc góp phần cho một cuộc phản loạn không giống như đơn thương độc mã ủng hộ một đội quân.

Ngược lại, tôi có thể thấy một lý do nham hiểm hơn cho những điều kiện mà gã Công tước đưa ra. Gã hứa hẹn ủng hộ khi nào đội quân của phái Jacobite đến được đất Anh để đảm bảo rằng Charles sẽ đấu tranh chống lại sự phản đối ngày càng tăng của những người lãnh đạo phe mình, lôi kéo đội quân rời rạc, miễn cưỡng của cậu ta ngày càng tiến xa hơn về phía nam, tách khỏi những rặng núi nương náu mà họ có thể tìm thấy chỗ trú ẩn.

Nếu gã Công tước kỳ vọng vào những lợi ích từ nhà Stuart nếu gã giúp họ trở về phục vị, vậy thì gã có thể kỳ vọng điều gì từ nhà Hanover để đổi lấy việc gã dụ dỗ Charles Stuart tiến vào vòng tay chúng - và đẩy cậu ta cùng những người đi theo cậu ta vào tay quân đội Anh?

Lịch sử không thể xác định được khuynh hướng thực sự của gã Công tước này là gì. Tôi cảm thấy kỳ quái; chắc chắn sớm hay muộn gã sẽ phải tiết lộ ý định thật của gã. Dĩ nhiên, tôi ngẫm nghĩ, lão Cáo Già, Lãnh chúa Lovat, đã xoay xở để chơi hai mang với cuộc nổi dậy của phái Jacobite lần trước, vừa cố gắng giành được sự ưu ái của nhà Hanover mà vẫn tiếp tục có được ân huệ của nhà Stuart. Và Jamie đã làm được điều đó trong một thời gian ngắn. Có lẽ không khó khăn lắm để che giấu lòng trung thành của một người trong mớ rối rắm về chính trị này.

Cơn ớn lạnh trườn lên từ dưới hai chân tôi, và tôi cử động hai chân liên tục, làn da dường như tê cóng khi tôi cọ hai bắp chân vào nhau. Hai chân rõ ràng sinh ra ít ma sát hơn cả hai cái que khô; tôi chẳng cảm nhận được chút hơi ấm nào từ động tác ấy.

Đang nằm trằn trọc, lạnh lẽo và ẩm ướt, tôi đột nhiên nghe thấy một tiếng chùn chụt nhỏ xíu đều đặn bên cạnh mình. Tôi xoay đầu, lắng nghe, rồi chống khuỷu tay nhổm người dậy và hồ nghi nhìn sang người bầu bạn của mình. Cô bé đã cuộn người, lật về phía bên kia, làn da mềm mại ửng hồng trong giấc ngủ, khiến cô trông giống một đóa hoa trồng trong nhà kính đã nở rộ, ngón tay cái ngậm trong cái miệng hồng hồng. Môi dưới cô bé hơi chuyển động, có vẻ như đang bú sữa.

Tôi không biết nên cười hay khóc. Cuối cùng, tôi không làm gì, chỉ nhẹ nhàng kéo ngón tay cái kia ra và cuộn bàn tay mềm oặt ấy lại, đặt vào trong ngực cô. Tôi thổi tắt nến và cuộn mình nằm sát vào Mary.

Không biết là vì sự ngây thơ thể hiện trong cử chỉ nhỏ ấy, cùng với ký ức xa xôi về cảm giác tin cậy và an toàn mà nó gợi ra, sự dễ chịu khi có một cơ thể ấm áp kề bên, hay chỉ là cảm giác kiệt sức vì sợ hãi, đau khổ, mà cuối cùng hai bàn chân tôi đã ấm hơn, tôi thả lỏng và chìm vào giấc ngủ.

Bọc mình trong cái kén bằng chăn ấm áp, tôi ngủ sâu và không mộng mị. Điều đó thật tuyệt sau một cú sốc như thế, và rồi tôi đột ngột giật mình trong màn đêm yên tĩnh và sự êm ái của lãng quên. Trời vẫn tối - đen sì như cái mũ của người đánh xe ngựa vì lò sưởi đã tắt - nhưng xung quanh không hề êm ái hay tĩnh lặng. Có thứ gì đó nặng nề đột ngột nhào lên giường, đập vào cánh tay tôi và có vẻ như đang sắp sửa giết Mary.

Chiếc đệm lún sâu, khung giường rung lên vì một cuộc vật lộn diễn ra ngay bên cạnh tôi. Những tiếng cằn nhằn đau đớn và thì thầm đe dọa phát ra ngay bên cạnh, và một bàn tay - của Mary, tôi nghĩ thế - quật trúng vào một bên mắt tôi.

Tôi vội vàng lăn khỏi giường, vướng phải bục kê giường và ngã thẳng cẳng xuống sàn nhà. Âm thanh vật lộn phía trên tôi càng dữ dội hơn với một tiếng thét the thé khủng khiếp mà tôi thấy hẳn là nỗ lực của Mary khi bị siết cổ.

Đột nhiên có một tiếng cảm thán tỏ vẻ giật mình, một giọng nam trầm, tiếp đó là một sự rung chuyển trên những tấm ga trải giường, và tiếng kêu ré ngừng lại ngay tắp lự. Tôi vội vã tìm hộp đánh lửa trên bàn và thắp nến. Ngọn lửa chập chờn lớn dần và vươn cao, hé lộ điều tôi đã nghi ngờ từ khi câu rủa bằng tiếng Gaelic mạnh mẽ kia vang lên - Mary, hai bàn tay đang quờ quạng điên cuồng, mặt bị che dưới một cái gối và thân thể nằm duỗi thẳng dưới thân người úp sấp của ông chồng to lớn và kích động của tôi. Bất chấp ưu thế về vóc dáng, anh vẫn tận dụng hết mức sức lực từ hai bàn tay.

Đang chú tâm vào việc khuất phục Mary, anh không liếc nhìn lên cây nến mới được thắp sáng, mà tiếp tục cố gắng bắt lấy hai tay cô, đồng thời giữ lấy cái gối ấn trên mặt cô. Nén lại cơn buồn cười trước cảnh tượng này, tôi đặt cây nến xuống, cúi về phía giường, vỗ vào vai anh.

“Jamie?” Tôi nói.

“Jesus!” Anh nhảy tót xuống giường như một con cá hồi bật mình và đến nhặt con dao găm mới rút một nửa ra khỏi vỏ nằm dưới sàn nhà. Thế rồi anh trông thấy tôi, thở phào nhẹ nhõm và nhắm mắt lại trong thoáng chốc.

“Chúa Jesus ơi, Sassenach! Đừng bao giờ làm thế một lần nữa, em nghe thấy không? Im lặng!” Anh nói với Mary, người vừa mới thoát khỏi cái gối và giờ đang ngồi thẳng đơ trên giường, mắt mở trừng trừng và thở phì phì. “Tôi không định làm hại cô; tôi cứ nghĩ cô là vợ tôi.” Anh sải bước vòng qua giường, nắm lấy cả hai vai và hôn tôi thật mạnh, như để trấn an chính bản thân mình rằng lúc này anh đã tìm được đúng người. Tôi nhiệt tình hôn đáp trả anh; chìm đắm trong lớp vải lanh và len ẩm ướt, với mùi mồ hôi nồng nàn nam tính.

“Mặc đồ vào đi,” anh nói khi buông tôi ra. “Ngôi nhà đáng nguyền rủa này nhung nhúc lũ người hầu. Cứ như là một tổ kiến ấy.”

“Làm thế nào anh vào đây được?” Tôi hỏi, nhìn quanh để tìm kiếm chiếc váy dài mà tôi đã cởi ra.

“Đi qua cửa, dĩ nhiên rồi,” anh sốt ruột nói. “Đây!” Anh chộp lấy chiếc váy dài của tôi từ sau lưng một cái ghế bành và ném cho tôi. Chắc chắn rồi, cánh cửa đồ sộ đã mở ra, một chùm chìa khóa lớn thò ra trên ổ khóa.

“Nhưng làm…” Tôi định nói.

“Để sau,” anh cộc cằn nói. Rồi anh phát hiện ra Mary đã ra khỏi giường, đang đánh vật với cái áo ngủ. “Tốt nhất là hãy trở lại giường đi, cô gái,” anh khuyên. “Sàn nhà lạnh lắm.”

“Tôi sẽ đi cùng hai người.” Những lời này bị nghẹt lại bởi những nếp vải nhưng sự quyết tâm của Mary thật rõ ràng khi cô thò đầu ra từ cổ áo, tóc rối bù và dáng vẻ thách thức.

“Vớ vẩn,” Jamie nói. Anh trừng mắt với cô bé, và tôi để ý thấy trên má anh có những vệt cào xước. Dù vậy, thấy môi cô gái run run, anh cũng kìm tính khí lại, nói với vẻ trấn an: “Đừng lo, cô gái! Cô sẽ không gặp rắc rối gì đâu. Tôi sẽ khóa cửa lại sau khi chúng tôi đi, và cô có thể kể cho mọi người chuyện gì đã xảy ra vào sáng mai. Sẽ không ai đổ lỗi cho cô cả.”

Mặc kệ những gì anh nói, Mary vội vã xỏ chân vào đôi giày đế mềm và chạy ra cửa.

“Này! Cô định đi đâu thế?” Jamie giật mình, xoay người chạy theo cô, nhưng không đủ nhanh để ngăn Mary lại trước khi cô tới chỗ cánh cửa. Cô gái đứng ở hành lang, ngay bên ngoài, dáng vẻ như một chú hươu.

“Tôi sẽ đi cùng các người!” Cô hung dữ nói. “Nếu ông không mang tôi theo, tôi sẽ chạy xuống nhà và gào thét to hết mức có thể. Vậy đấy!”

Jamie nhìn cô chằm chằm, mái tóc anh lấp lánh màu đồng dưới ánh nến và máu đang dâng lên tới tận mặt, hiển nhiên bị giằng xé giữa việc cần thiết phải im lặng và thôi thúc muốn giết cô gái bằng hai bàn tay mình và mặc xác sự ồn ào. Lúc này, đã mặc đồ và đi giày xong, tôi chọc vào sườn anh, phá vỡ sự tập trung của anh.

“Mang cô ấy đi đi,” tôi nói ngắn gọn. “Chúng ta đi thôi!”

Anh nhìn tôi một cái, giống hệt ánh nhìn dành cho Mary, nhưng do dự không tới một giây. Với một cái gật đầu ngắn gọn, anh cầm lấy cánh tay tôi và ba chúng tôi vội vàng lao vào màn đêm lạnh giá trong hành lang.

•••

Ngôi nhà vừa vắng lặng vừa đầy những tiếng động; sàn nhà cót két ngay dưới chân chúng tôi và quần áo chúng tôi cọ sột soạt như tiếng lá trong cơn cuồng phong. Những bức tường dường như hô hấp cùng với kết cấu của gỗ, và những âm thanh nhỏ, loáng thoáng nghe thấy được bên kia hành lang tiết lộ về sự đào bới bí mật của những con vật dưới đất. Và trên tất cả là sự im lặng sâu lắng và khủng khiếp của một ngôi nhà to lớn, đen tối, chìm trong một giấc ngủ không được phép bị phá vỡ.

Mary siết chặt lấy cánh tay tôi khi chúng tôi lần mò đi trên hành lang sau lưng Jamie. Anh di chuyển như một cái bóng, bám sát bức tường, nhưng nhanh nhẹn, và hoàn toàn im lặng.

Khi chúng tôi đi ngang qua một cánh cửa, tôi nghe thấy tiếng bước chân khe khẽ ở phía bên kia. Jamie cũng nghe thấy, bèn ép sát người vào tường, ra hiệu cho Mary và tôi đi lên trước. Vữa trát tường lạnh lẽo dưới lòng bàn tay khi tôi cố áp sát người vào nó.

Cánh cửa thận trọng mở ra, một cái đầu đội mũ ngủ phồng màu trắng ló ra ngoài, nhìn xuôi theo hành lang về hướng bên kia của chúng tôi.

“Xin chào?” Giọng nói thì thầm. “Là anh à, Albert?” Một giọt mồ hôi lạnh toát chảy dọc sống lưng tôi. Một cô hầu gái rõ ràng đang ngóng đợi tên hầu phòng của Công tước, kẻ dường như vẫn lắm tai nhiều tiếng trong giới đàn ông Pháp.

Tôi không nghĩ cô ta sẽ coi một gã vùng cao có vũ khí là người thay thế thích hợp cho người tình vắng mặt của mình. Tôi cảm thấy Jamie căng thẳng ở bên cạnh, đang cố cân nhắc có nên đánh phụ nữ hay không. Một tích tắc nữa, cô ta sẽ quay lại, nhìn thấy anh và hét vang.

Tôi bước ra khỏi bức tường.

“À, không,” tôi nói với vẻ áy náy, “tôi e rằng chỉ có tôi thôi.”

Cô hầu giật nẩy mình, và tôi mau lẹ bước qua một bước, thế là cô ta đối diện với tôi, còn Jamie vẫn ở sau lưng cô ta.

“Xin lỗi vì làm cô sợ,” tôi nói, mỉm cười tươi tắn. “Tôi không ngủ được, cô thấy đấy. Tôi đang tìm một cốc sữa nóng. Xin cho tôi biết, có phải tôi nên đi thẳng về bên phải để tới khu bếp không?”

“Hả?” Cô hầu, một quý cô mũm mĩm khoảng hai mươi tuổi, há hốc mồm nhìn tôi chằm chằm, để lộ cả bằng chứng đáng buồn về việc thiếu quan tâm tới việc vệ sinh răng lợi. May mắn thay, cô ta không phải là người đã đưa tôi tới phòng mình; có lẽ cô ta không thể nhận ra tôi là một tù nhân chứ không phải là khách.

“Tôi là khách trong ngôi nhà này,” tôi nói, nhấn mạnh điểm quan trọng. Tiếp tục bám vào nguyên tắc sự phòng vệ tốt nhất là một cú tấn công đẹp, tôi nhìn chằm chằm vào cô ta, bắt bẻ.

“Albert hử? Đức ngài có biết rằng cô có thói quen tiêu khiển với đàn ông trong phòng mình vào ban đêm không?” Tôi hỏi. Điều này dường như đã đánh trúng vấn đề, vì cô gái tái mặt và khuỵu xuống, quỳ trên hai đầu gối, bám chặt lấy váy tôi. Cảnh bị vạch trần ấy quá đáng sợ đến nỗi cô ta quên cả hỏi một vị khách lý do tại sao lại lang thang trong hành lang vào giờ gần sáng này, không chỉ mặc váy dài và giày mà còn khoác cả áo choàng nữa.

“Ôi, mẹ ơi! Xin bà, bà sẽ không nói gì với Đức ngài chứ? Tôi có thể thấy bà có một khuôn mặt phúc hậu, tử tế, ôi mẹ ơi, chắc chắn bà sẽ không muốn thấy tôi bị đuổi khỏi chỗ của mình chứ? Xin hãy thương xót tôi, thưa phu nhân, tôi có sáu đứa em ở nhà, và tôi…”

“Thôi nào, thôi nào,” tôi xoa dịu, vỗ lên vai cô ta. “Đừng lo về chuyện đó. Tôi sẽ không kể với ngài Công tước. Cô quay về giường ngay đi, và…” Bằng giọng dùng để dụ dỗ trẻ con và bệnh nhân thần kinh, tôi xoa dịu cô ta, bắt cô ta quay trở vào trong căn phòng xép nhỏ.

Tôi đóng cửa phòng và tựa vào nó để đứng vững. Gương mặt Jamie lù lù hiện ra từ bóng tối phía trên tôi, cười toe toét. Anh không nói gì, nhưng vỗ lên đầu tôi vẻ chúc mừng, trước khi nắm lấy cánh tay và thúc giục tôi tiếp tục đi dọc theo hành lang.

Mary đang đợi dưới cái cửa sổ ở chiếu nghỉ, chiếc váy ngủ của cô sáng trắng dưới ánh trăng đang chiếu rọi xuống xuyên qua những đám mây lướt nhanh bên ngoài. Một cơn bão đang nổi lên, từ các dấu hiệu của nó, tôi tự hỏi liệu điều này sẽ giúp đỡ hay gây cản trở cho cuộc chạy trốn của chúng tôi.

Mary tóm chặt lấy chiếc áo choàng len của Jamie khi anh bước lên chiếu nghỉ.

“Suỵt!” Cô thì thầm. “Có người đang đến!”

Có ai đó thật; tôi nghe thấy tiếng bước chân yếu ớt vọng lên từ bên dưới, và một quầng sáng màu xanh nhạt của ngọn nến chiếu lên chỗ cầu thang. Mary và tôi điên cuồng nhìn quanh, nhưng tuyệt nhiên không có chỗ nào để trốn. Đây là một cái cầu thang phụ, dành cho người hầu sử dụng, và các chiếu nghỉ đều là sàn hình vuông đơn giản, hoàn toàn đơn điệu, không có đồ gỗ hay những tấm rèm.

Jamie thở dài cam chịu, rồi ra hiệu cho tôi và Mary lùi lại vào lối hành lang chúng tôi vừa đi qua, anh rút con dao găm của dân vùng cao và chờ đợi, thủ thế trong góc tối của chiếu nghỉ.

Ngón tay Mary bám vào và vặn xoắn các ngón tay tôi, siết chặt đến mức phát đau. Jamie có một khẩu súng lục treo ở thắt lưng, nhưng anh không thể sử dụng nó trong ngôi nhà này - và một người hầu sẽ nhận ra điều đó, vì vậy dùng nó để đe dọa là vô dụng. Phải là con dao kia, và lòng tôi run rẩy với sự thương hại dành cho người hầu xấu số sắp sửa phải đối mặt với một gã Scot hăng máu và sự đe dọa của thanh thép đen.

Tôi đang kiểm kê lại y phục của mình, nghĩ rằng tôi có thể chừa ra một cái váy lót để dùng làm dây trói, khi cái đầu cúi xuống của người cầm cây nến đi vào tầm nhìn. Mái tóc đen được rẽ ngôi giữa và chải bóng mượt bằng một loại sáp thơm bôi tóc có mùi ngọt đến khó chịu, ngay lập tức gợi lại ký ức về con đường tối tăm ở Paris và đường cong của đôi môi mỏng, nham hiểm bên dưới chiếc mặt nạ.

Tiếng thở hắt ra của tôi khiến Danton vụt ngước nhìn lên, ngay dưới chiếu nghỉ một bậc cầu thang. Khoảnh khắc tiếp theo, hắn bị chộp lấy cổ và lẳng vào bước tường của chiếu nghỉ với một lực khiến giá nến bay văng lên không trung.

Mary cũng đã nhìn thấy hắn.

“Đó là hắn!” Cô kêu lên, cơn sốc khiến cô quên cả nói thầm lẫn nói lắp. “Gã đàn ông ở Paris!”

Jamie đã ép gã hầu phòng đang chống cự yếu ớt vào tường, tì cẳng tay cơ bắp lên ngang ngực hắn. Khuôn mặt gã đàn ông, lúc tỏ lúc mờ dưới ánh trăng, tái nhợt vì khiếp sợ. Nó càng lúc càng trắng bệch khi Jamie kề lưỡi dao vào cổ họng Danton.

Tôi bước lên chiếu nghỉ, không biết Jamie sẽ làm gì, hoặc tôi muốn anh làm gì. Danton thốt ra một tiếng rên rỉ nghèn nghẹn khi trông thấy tôi, và cố làm dấu thánh nhưng không thành.

“La Dame Blanche!” Hắn thì thầm, mắt nhìn trừng trừng kinh hãi.

Jamie chợt tóm lấy tóc hắn, kéo giật đầu hắn ra sau để nó đập vào tường.

“Tao mà có thời gian, tao sẽ cho mày chết từ từ,” anh thì thầm, nhưng giọng nói đầy quả quyết. “Hãy tạ ơn Chúa vì tao không có.” Anh giật ngửa đầu Danton ra sau hơn nữa, vì vậy tôi có thể thấy được cả chuyển động của cái yết hầu khi hắn nuốt khan dữ dội, hai mắt dán chặt vào tôi trong sự sợ hãi.

“Mày gọi cô ấy là “Dame Blanche”,” Jamie nói qua kẽ răng. “Tao gọi cô ấy là vợ! Hãy để khuôn mặt cô ấy là hình ảnh cuối cùng mày trông thấy, nhé!”

Con dao rạch một đường ngang qua cổ họng gã đàn ông với sự dữ dội khiến Jamie phải gằn lên. Mùi chết chóc đột ngột lấp đầy chiếu nghỉ, cùng với một tiếng khò khè, òng ọc thoát ra từ cái đống rúm ró trên sàn nhà và dường như còn tiếp tục như thế một lúc lâu nữa.

Những âm thanh sau lưng khiến tôi cuối cùng cũng tỉnh táo lại: Mary đang nôn thốc nôn tháo trên hành lang. Ý nghĩ mạch lạc đầu tiên của tôi là những người hầu sẽ đến để dọn dẹp cái đống khủng khiếp này vào sáng sớm. Ý nghĩ thứ hai là về Jamie, khi tôi nhìn anh trong ánh trăng vừa thoáng hiện ra. Gương mặt và tóc anh lấm lem máu, và anh đang thở hồng hộc, trông như thể cũng sắp sửa gục xuống.

Tôi quay về phía Mary, thấy ở phía cuối hành lang có vệt sáng đằng sau một cánh cửa đang mở ra. Ai đó sắp đến để kiểm tra tiếng ồn ào vừa rồi. Tôi tóm lấy viền váy của Mary, thô lỗ kéo lên lau miệng cho cô ấy và tóm lấy cánh tay, đẩy cô ấy về phía chiếu nghỉ.

“Đi thôi!” Tôi nói. “Chúng ta hãy ra khỏi đây!” Giật mình từ trạng thái trầm tư sững sờ trước xác Danton, Jamie đột nhiên lắc đầu, tỉnh táo trở lại, quay sang cầu thang.

Dường như anh biết chúng tôi sẽ đi đâu, anh dẫn chúng tôi đi xuyên qua những hành lang tối đen mà không hề chần chừ, do dự. Mary nghiêng ngả, lảo đảo đi bên cạnh tôi, thở hổn hển, tiếng thở lớn như tiếng một cái động cơ trong tai tôi.

Đến cửa phòng rửa bát, Jamie đột nhiên dừng lại, phát ra một tiếng huýt sáo trầm thấp. Nó được đáp lại ngay lập tức và cánh cửa mở toang ra từ bên trong bởi những hình dáng mơ hồ. Một trong những hình bóng này tách ra từ cảnh tăm tối và đi nhanh tới trước. Một vài lời trao đổi thầm thì, và người đàn ông kia với lấy Mary, kéo cô vào bóng tối. Một luồng lạnh buốt báo cho tôi biết có một cánh cửa mở ra ở đâu đó phía trước.

Jamie đặt tay lên vai tôi, hướng tôi đi qua các chướng ngại trong căn phòng rửa bát tối tăm và một phòng nào đó nhỏ hơn, có vẻ là phòng chất đồ bỏ đi; tôi va cẳng chân vào thứ gì đó, nhưng vội nuốt lại tiếng kêu đau.

Cuối cùng, chúng tôi cũng ra ngoài trời đêm tự do, cơn gió chộp lấy chiếc áo choàng của tôi, khiến nó xòe ra như một quả khí cầu căng phồng. Sau chuyến di chuyển vất vả, căng thẳng xuyên qua căn nhà tối om, tôi cảm thấy mình như đang giương cánh bay lên bầu trời.

Những người đàn ông quanh tôi dường như cùng chia sẻ một tâm trạng nhẹ nhõm; có một trận bùng nổ nhỏ những lời nhận xét thì thầm và tiếng cười bị nén lại, nhưng nhanh chóng bị Jamie dập tắt. Kế tiếp, lần lượt từng người một băng ngang qua khoảng không gian rộng mở phía trước ngôi nhà, không hơn gì những cái bóng dưới vầng trăng đang nhảy múa. Bên cạnh tôi, Jamie quan sát khi bọn họ biến mất vào rừng cây của khuôn viên.

“Murtagh đâu nhỉ?” Anh lẩm bẩm, cau mày dõi theo người cuối cùng trong nhóm của anh. “Chắc là đi tìm Hugh,” anh nói, tự trả lời cho thắc mắc của chính mình. “Em biết ông ấy có thể ở đâu không, Sassenach?”

Tôi nuốt khan, cảm thấy cơn gió luồn vào bên dưới cái áo choàng, đem lại cảm giác ớn lạnh, ký ức kia đã giết chết niềm vui của việc được tự do.

“Có,” tôi đáp, rồi nói cho anh biết tin tức xấu kia, ngắn gọn hết sức có thể. Mặt anh sa sầm lại, và đến khi tôi kể xong, mặt anh đã cứng lại như đá.

“Các vị định cứ đứng ở đó cả đêm à?” Một giọng nói cất lên đằng sau chúng tôi. “Hay chúng ta nên hét lên báo động để chúng biết phải nhìn vào chỗ nào trước?”

Biểu cảm của Jamie hơi dịu đi khi Murtagh xuất hiện từ bóng tối bên cạnh chúng tôi, lặng lẽ như một hồn ma. Ông có một bọc vải bên dưới cánh tay; tôi nghĩ đó là một miếng thịt lớn lấy ở trong bếp khi thấy vết máu đen trên lớp vải. Ấn tượng này nảy sinh bởi tảng giăm bông lớn ông kẹp bên dưới cánh tay còn lại và những dải xúc xích quanh cổ ông.

Jamie chun mũi, cười mỉm.

“Bác có mùi như một tên đồ tể ấy. Bác có thể ngừng việc đi đến bất cứ đâu cũng nghĩ đến cái dạ dày của mình không?”

Murtagh nghếch đầu sang một bên, thu vào tầm mắt dáng vẻ bê bết máu của Jamie.

“Trông như một tên đồ tể còn hơn là giống món hàng của hắn, chàng trai ạ,” ông nói. “Chúng ta đi chứ?”

•••

Chuyến đi xuyên qua khuôn viên tối om thật kinh khủng. Cây cối ở đây cao lớn và cách nhau rất xa, nhưng xen giữa chúng vẫn có những cây non sinh trưởng, trong ánh nhập nhoạng, trông chúng như lũ người đầy hăm dọa làm nhiệm vụ trông coi khu săn bắn. Mây càng lúc càng dày, và vầng trăng tròn càng lúc càng ít xuất hiện, điều này ít ra còn có tính an ủi. Khi chúng tôi tới tít phía bên kia của khuôn viên, trời bắt đầu mưa.

Ba người đàn ông đã cưỡi ngựa rời đi. Mary cũng đã ở trên lưng ngựa, ngồi phía trước một người trong nhóm của Jamie. Hơi ngượng ngùng vì phải cưỡi ngựa dạng hai chân, cô vẫn đang cố nhét các nếp váy ngủ vào bên dưới đùi mình trong một cố gắng vô nghĩa nhằm che giấu đi cái thực tế là cô có hai chân.

Có kinh nghiệm hơn, nhưng vẫn phải rủa thầm những nếp gấp nặng nề của chiếc váy, tôi kéo chúng lên và đặt một chân lên bàn tay chìa ra của Jamie, đu người lên ngồi đánh phịch một cái. Con ngựa phì mũi trước sự va chạm này và vểnh tai ra phía sau.

“Xin lỗi nhé, anh chàng ngốc,” tôi nói mà không hề có vẻ đồng cảm. “Nếu mày nghĩ như thế đã là tệ lắm rồi thì hãy đợi cho tới khi anh ấy leo lên lưng.”

Liếc quanh để tìm “anh ấy”, tôi thấy anh ở bên dưới một cái cây, tay đặt lên vai một cậu bé xa lạ khoảng chừng mười bốn tuổi.

“Ai kia?” Tôi hỏi, nghiêng người tới để lôi kéo sự chú ý của Geordie Paul Fraser, người đang bận rộn thắt chặt cái đai yên ngựa của mình ngay bên cạnh tôi.

“Hả? Ồ, cậu ta hả?” Ông ta liếc nhìn cậu bé, rồi quay trở lại với cái đai yên bất trị của mình, nhăn nhó. “Cậu ta tên là Ewan Gibson, con trai riêng lớn nhất của vợ Hugh Munro. Cậu ta đi cùng với cha dượng của mình, có vẻ như vậy, khi bọn bảo vệ của gã Công tước đến. Thằng nhỏ đã chạy trốn và chúng tôi tìm thấy cậu ta ở bên rìa bãi hoang. Cậu ta đã dẫn chúng tôi tới đây.” Cùng với một cú giật cuối cùng có vẻ không cần thiết lắm, ông ta trừng mắt với cái đai yên như thể thách thức nó dám nói năng gì, sau đó ngước lên nhìn tôi.

“Bà có biết cha của thằng bé ở đâu không?” Ông ta đột ngột hỏi.

Tôi gật đầu và câu trả lời chắc hẳn phải nổi rõ trên mặt tôi, vì ông ta quay sang nhìn thằng bé. Jamie đang ôm cậu bé thật chặt và vỗ vỗ lên lưng cậu. Khi chúng tôi quan sát, anh kéo cậu bé ra khỏi mình, đặt cả hai tay lên vai cậu và nói điều gì đó, nhìn chăm chú xuống gương mặt cậu. Tôi không nghe rõ, nhưng sau một lúc, cậu bé đứng thẳng người và gật đầu. Jamie cũng gật đầu, kèm theo một cái vỗ cuối cùng lên vai, xoay người cậu về phía một con ngựa, nơi George McClure đang chìa tay xuống với cậu. Jamie sải bước về phía chúng tôi, đầu chúi xuống, cái đuôi tóc bện bay bay phía sau anh, bất chấp gió lạnh và cơn mưa đang lộp độp rơi xuống.

Geordie khạc nhổ xuống mặt đất. “Thật khốn khổ,” ông ta nói, cũng không rõ là ám chỉ ai, rồi tung người lên yên ngựa.

Gần tới góc phía đông nam của trang viên, chúng tôi dừng lại, mấy con ngựa giậm giậm chân và giật giật đầu, trong khi hai người đàn ông biến mất trở lại vào cánh rừng. Ước chừng mất không đến hai mươi phút, nhưng thời gian có vẻ như dài gấp đôi mới thấy họ quay trở lại.

Lúc này, những người đàn ông cưỡi ngựa đôi, và con ngựa thứ hai mang một thứ có hình dáng dài, gập cong xuống, vắt ngang yên ngựa, được bọc trong một tấm áo choàng len của nhà Fraser. Những con ngựa không thích nó; con ngựa của tôi hất đầu, hai cánh mũi phập phồng khi con ngựa mang xác Hugh đến bên cạnh. Jamie giật mạnh dây cương và giận dữ nói điều gì đó bằng tiếng Gaelic, con vật liền ngưng lại.

Tôi có thể cảm thấy Jamie nhổm người đứng lên đằng sau tôi, nhìn lại phía sau như để đếm các thành viên còn lại trong nhóm. Rồi một cánh tay anh ôm quanh eo tôi, chúng tôi lên đường, nhắm thẳng hướng bắc.

•••

Chúng tôi cưỡi ngựa cả đêm, chỉ dừng lại trong chốc lát vài lần để nghỉ ngơi. Trong một lần dừng lại trú dưới một cây dẻ ngựa, Jamie với tay ôm lấy tôi, rồi đột nhiên dừng lại.

“Gì thế?” Tôi mỉm cười hỏi. “Sợ hôn vợ mình trước mặt người của anh à?”

“Không,” anh nói, chứng minh điều đó ngay rồi bước lùi lại, cười. “Không, trong thoáng chốc, anh sợ em sẽ gào thét lên và cào vào mặt anh.” Anh thận trọng vỗ nhẹ lên những dấu vết Mary để lại trên má mình.

“Tội nghiệp,” tôi cười to, nói. “Không phải sự chào đón mà anh mong chờ, đúng không?”

“À, lúc đó thì đúng thế thật,” anh nói, nhe răng cười. Anh đã lấy hai cái xúc xích của Murtagh và đưa cho tôi một cái. Tôi không thể nhớ được lần cuối mình được ăn là khi nào, nhưng hẳn là phải lâu lắm rồi, vì tôi ăn rất ngon miệng bất chấp nỗi sợ ngộ độc đối với món thịt vừa béo vừa mặn này.

“Anh có ý gì hả? Anh nghĩ em sẽ không nhận ra anh chỉ sau có một tuần lễ à?”

Anh lắc đầu, vẫn cười, và nuốt miếng xúc xích vừa cắn.

“Không. Chỉ là khi vừa vào ngôi nhà đó, anh đã biết em ở đâu rồi, bởi vì những thanh gỗ ở cửa sổ phòng em.” Anh nhướng cong một bên lông mày. “Cái cửa sổ đó cho thấy em chắc hẳn đã tạo ra một ấn tượng khủng khiếp cho Công tước.”

“Đúng thế,” tôi nói ngắn gọn, không muốn nghĩ về gã Công tước. “Tiếp đi!”

“À,” anh nói, cắn một miếng xúc xích khác và khéo léo đẩy nó về một bên má, “anh biết em ở căn phòng nào, nhưng anh cần chìa khóa, đúng không?”

“Ồ, vâng,” tôi nói. “Anh đang kể cho em về điều đó.”

Anh nhai thật nhanh và nuốt xuống.

“Anh lấy nó từ chỗ bà quản gia, nhưng không phải là không có rắc rối.” Anh chà nhẹ phía dưới thắt lưng mình. “Có vẻ người phụ nữ đó đã bị đánh thức vài lần trước đấy, và không thích điều đó chút nào.”

“Ồ, vậy sao,” tôi nói, vui thích với hình ảnh tưởng tượng mà câu nói của anh gợi ra. “Và em dám nói việc anh đến đó cũng hiếm y như một trái cây tươi ngon đối với bà ta.”

“Anh cực kỳ nghi ngờ điều đó, Sassenach ạ! Bà ta kêu rít lên y như một nữ thần báo thù và thúc đầu gối vào hạ bộ của anh, rồi suýt đập vỡ đầu anh bằng một cái giá nến trong khi anh đang rên rỉ vì đau.”

“Anh đã làm gì?”

“Đấm cho bà ta một quả - vào lúc ấy anh chẳng còn hào hiệp gì sất - và trói bà ta lại bằng những dải mũ ngủ của chính bà ta. Sau đó, anh nhét một cái khăn vào miệng bà ta để chấm dứt những cái tên mà bà ta đang gọi anh, và tìm trong phòng bà ta cho tới khi thấy chùm chìa khóa.”

“Làm tốt lắm,” tôi nói, rồi nghĩ ra điều gì đó, “nhưng làm sao anh biết được bà quản gia ngủ ở đâu?”

“Anh không biết,” anh bình tĩnh nói. “Cô thợ giặt đã nói cho anh biết - sau khi anh bảo với cô ta anh là ai, và đe dọa moi ruột cô ta và nướng cô ta trên một cái xiên nếu cô ta không nói cho anh điều anh muốn biết.” Anh tặng tôi một nụ cười ranh mãnh. “Như anh đã bảo với em đó, Sassenach, đôi khi phải biết tận dụng ưu thế khi bị coi là một tên mọi rợ. Anh cho là đến lúc này bọn chúng đều đã nghe nói về Jamie Fraser Đỏ rồi.”

“À, nếu họ chưa nghe nói thì rồi cũng sẽ biết thôi,” tôi nói. Tôi nhìn kĩ khắp người anh hết mức có thể trong ánh sáng lờ mờ. “Gì kia, không phải cô thợ giặt đã liếm vào chứ?”

“Cô ta rứt tóc anh,” anh trầm ngâm nói. “Giật ra cả một mảng tóc. Anh sẽ nói với em điều này, Sassenach ạ; nếu có bao giờ anh cảm thấy cần thay đổi cung cách làm việc của mình, anh không nghĩ là anh sẽ chọn việc tấn công phụ nữ đâu - nó là một phương thức kiếm sống vô cùng khó khăn.”

•••

Gần sáng, trời bắt đầu mưa tuyết, nhưng chúng tôi vẫn cưỡi ngựa một lúc trước khi Ewan Gibson ghì cương con ngựa của mình lại, lóng ngóng đứng lên trên bàn đạp ngựa để nhìn quanh, rồi ra hiệu về phía sườn đồi và phi lên phía bên trái.

Trời vẫn tối đen, không thể nào cưỡi ngựa lên đồi được. Chúng tôi phải xuống đất và dẫn chúng đi, chân đầy bùn, bàn chân nặng nề bước dọc theo một lối mòn gần như không nhìn thấy uốn lượn xuyên qua những cây thạch nam và đá hoa cương. Bình minh bắt đầu làm bầu trời hửng lên khi chúng tôi dừng lại để nghỉ ở đỉnh đồi. Đường chân trời bị che khuất, mây dày đặc, nhưng màu xám ảm đạm không thấy ngọn nguồn bắt đầu thay thế cho màu xám đậm của đêm tối. Giờ ít nhất tôi có thể nhìn thấy những con ngòi nhỏ mà mình đang giẫm ngập tới mắt cá chân, và tránh được điều tệ hại nhất là bị kẹt chân vào các rãnh đá và bụi gai mà chúng tôi phải đối mặt trên đường xuống đồi.

Đến tận cùng là một cái thung lũng nhỏ, với sáu ngôi nhà - mặc dù “nhà” là một từ hơi quá cao cấp đối với những kiến trúc thô sơ lụp xụp bên dưới những cây thông rụng lá kia. Những cái mái rơm rủ xuống cách mặt đất chừng một mét, chỉ lộ ra một phần nhỏ bức tường đá.

Chúng tôi dừng lại bên ngoài một cái lều. Ewan nhìn Jamie, ngập ngừng như thể mất phương hướng, rồi trước cái gật đầu của anh, liền khom người và biến mất dưới cái đòn nóc thấp tè của túp lều. Tôi nép sát Jamie, đặt tay lên cánh tay anh.

“Đây là nhà của Hugh Munro,” anh hạ giọng nói với tôi. “Anh vừa mang ông ấy về nhà với vợ. Cậu nhóc đã đi vào để nói cho bà ấy biết.”

Tôi liếc nhìn từ lối vào thấp lè tè và tối tăm của túp lều tới cái bó được quấn trong chiếc áo choàng len mà hai người đàn ông đang tháo xuống khỏi con ngựa. Tôi cảm thấy một sự rung động truyền khắp cánh tay Jamie. Anh nhắm mắt lại một lúc, và tôi thấy môi anh mấp máy; rồi anh bước tới và giơ hai cánh tay ra để đỡ lấy cái gánh nặng kia. Tôi hít thật sâu, vuốt mái tóc ra sau và đi theo anh, khom người dưới cái rầm đỡ của cánh cửa.

Chuyện này thật tồi tệ nhưng cũng không tệ như tôi đã lo sợ. Người phụ nữ, vợ góa của Hugh, lặng lẽ đón nhận bài diễn văn chia buồn bằng tiếng Gaelic của Jamie với mái đầu cúi xuống, hai hàng nước mắt tuôn rơi lã chã như mưa trên khuôn mặt. Bà ngập ngừng với tay chạm vào lớp áo choàng len bao ngoài, như định kéo nó xuống, nhưng rồi thần kinh của bà không trụ nổi, và bà đứng đó, một bàn tay thẫn thờ đặt lên đường cong của tấm vải liệm, trong khi tay kia kéo đứa con nhỏ áp sát vào đùi mình.

Còn vài đứa nhỏ nữa túm tụm lại gần đống lửa - những đứa con riêng của vợ Hugh - và một bọc tã nằm trong cái nôi thô sơ gần lò sưởi nhất. Tôi cảm thấy một sự an ủi nho nhỏ khi nhìn đứa bé; ít nhất đây cũng là giọt máu mà Hugh lưu lại. Thế rồi cảm giác an ủi bị lấn át bởi một nỗi sợ lạnh buốt khi tôi nhìn những đứa trẻ, những gương mặt cáu bẩn hòa lẫn với bóng tối. Hugh là trụ cột chính của họ. Ewan dũng cảm và đầy quyết tâm, nhưng cậu bé không quá mười bốn tuổi và đứa lớn thứ hai là một bé gái khoảng mười hai tuổi. Họ sẽ xoay xở thế nào?

Gương mặt người phụ nữ đã mệt mỏi và đầy nếp nhăn, gần như không còn răng. Tôi choáng váng nhận ra rằng bà ta có thể chỉ lớn hơn tôi vài tuổi. Bà ta gật đầu ra hiệu về phía chiếc giường đơn, và Jamie nhẹ nhàng đặt thân thể kia lên đó. Anh lại nói với bà ta bằng tiếng Gaelic; bà ta lắc đầu vô vọng, vẫn nhìn chằm chằm xuống cái hình dáng dài dài nằm trên giường mình.

Jamie quỳ xuống bên giường, cúi đầu và đặt một bàn tay lên cái xác. Những lời anh nói rất khẽ nhưng nghe được rõ ràng, và ngay cả vốn tiếng Gaelic hạn chế của tôi cũng có thể hiểu được.

“Tôi thề với ông, ông bạn ạ, và có Thượng Đế toàn năng chứng giám. Vì tình yêu của ông dành cho tôi, sẽ không bao giờ người nhà của ông phải chịu thiếu thốn, chừng nào tôi còn có thứ để cho đi.” Anh quỳ không nhúc nhích một lúc lâu và trong túp lều tranh hoàn toàn không có âm thanh nào khác ngoài tiếng lách tách của than bùn trong lò sưởi và tiếng mưa rơi lộp độp trên mái rạ. Sự ẩm ướt làm mái đầu đang cúi xuống của Jamie sẫm thêm; những giọt nước do hơi ẩm đọng lại sáng lên như đá quý trên những nếp gấp của chiếc áo choàng len. Rồi bàn tay anh siết chặt một lần nữa trong lời chào vĩnh biệt, và anh đứng dậy.

Jamie cúi chào bà Munro và quay sang nắm lấy cánh tay tôi. Dù vậy, trước khi chúng tôi kịp rời đi, tấm da bò treo ngang lối cửa ra vào thấp lè tè bị gạt sang một bên, và tôi đứng lùi lại để nhường đường cho Mary Hawkins, theo sau là Murtagh.

Mary trông vừa lấm lem vừa hoang mang bối rối, một chiếc áo choàng len ẩm thấp quàng quanh vai cô và đôi giày mềm đi trong phòng ngủ của cô đầy bùn đất thò ra dưới viền chiếc váy ngủ. Trông thấy tôi, cô ép sát vào tôi như thể vô cùng biết ơn vì sự hiện diện của tôi.

“Tôi không m-muốn vào,” cô thì thầm với tôi, rụt rè liếc nhanh về phía người vợ góa của Hugh Munro, “nhưng ông Murtagh khăng khăng.”

Hai bên lông mày của Jamie nhướng lên vẻ dò hỏi, trong khi đó Murtagh trịnh trọng gật đầu với bà Munro và nói điều gì đó bằng tiếng Gaelic. Người tộc viên bé nhỏ trông vẫn y như mọi khi, nghiêm khắc và biết mình đang làm gì, nhưng tôi nghĩ trong cách hành xử của ông có thêm dấu vết của sự cao quý. Ông mang theo một trong những cái túi buộc trên yên ngựa, nó phồng to như thể đựng một thứ gì đó. Có lẽ là một món quà chia tay dành cho bà Munro.

Murtagh đặt cái túi xuống sàn bên cạnh chân tôi, rồi đứng thẳng dậy và nhìn từ tôi sang Mary, tới bà quả phụ của Hugh Munro và cuối cùng là Jamie, người cũng có vẻ bối rối ngang với tôi. Sau khi đã nhìn các khán giả một lượt, Murtagh trang trọng cúi đầu với tôi, làm một mảng tóc ướt sẫm rủ xuống trước trán.

“Tôi mang đến cho phu nhân sự báo thù, thưa phu nhân,” ông nói khẽ, rồi đứng thẳng dậy và nghiêng đầu về phía Mary và bà Munro. “Và công lý cho các vị.”

Mary hắt hơi và vội vã lau mũi bằng một góc chiếc áo choàng của mình. Cô nhìn chằm chằm vào Murtagh, mắt mở lớn và bối rối. Tôi nhìn đăm đăm xuống cái túi phồng lên kia, đột nhiên cảm thấy một cơn ớn lạnh sâu sắc không giống với bất cứ thứ gì ở thời tiết ngoài kia. Nhưng bà quả phụ của Hugh Munro đã quỳ xuống, đôi bàn tay bình tĩnh mở chiếc túi và lôi đầu của Công tước Sandringham ra.

[1] Vua George II của Anh (1683-1760).

[2] Từ gọi cha một cách thân mật.

[3] Tiếng Pháp: Tạm biệt.

[4] Quả bí ngô được khoét ruột và khắc hình người có mắt, mũi, miệng để làm đèn.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.