Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 199 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16
Bản chất của lưu huỳnh

❊ ❊ ❊

Hoàng tử Charles quả là đã mua rượu brandy từ ông Hawkins. Ngoài phát hiện đó, chúng tôi tiếp tục trải qua bốn tuần lễ tiếp theo mà chẳng có gì tiến triển. Mọi sự vẫn tiếp diễn như trước. Louis của Pháp tiếp tục phớt lờ Charles Stuart. Jamie tiếp tục điều hành việc kinh doanh rượu vang và đến thăm Hoàng tử Charles. Fergus tiếp tục ăn trộm thư. Louise, Công nương de Rohan, xuất hiện công khai trong khi khoác tay chồng mình, trông đau khổ nhưng hồng hào khỏe mạnh. Tôi tiếp tục nôn ọe vào các buổi sáng, làm việc ở nhà thương vào các buổi chiều và mỉm cười hòa nhã trên bàn ăn vào các buổi tối.

Có hai chuyện đã xảy ra, có vẻ diễn biến đang đi theo đúng mục đích của chúng tôi. Charles, chán chường vì bị cầm chân, bắt đầu mời Jamie đến các quán rượu với cậu ta vào buổi tối - thường không có sự hiện diện của người giám hộ, ông Sheridan, người tự tuyên bố là đã quá già đối với những cuộc chè chén ồn ào như thế này.

“Chúa ơi, anh chàng đó uống như một con cá vậy!” Jamie cảm thán sau khi trở về từ một trong những cuộc đi chơi như thế, người nồng nặc mùi rượu rẻ tiền. Anh kiểm tra một vết bẩn lớn dây ở mặt trước áo sơ mi, vẻ bất bình.

“Anh sẽ phải đặt may một cái áo sơ mi mới,” anh nói.

“Đáng giá mà,” tôi nói, “nếu cậu ta chịu kể với anh bất kỳ chuyện gì trong khi đang uống rượu. Cậu ta nói gì?”

“Săn bắn và phụ nữ,” Jamie nói một cách súc tích, và khẳng khái từ chối việc kể tỉ mỉ hơn. Trong đầu Charles, vấn đề chính trị không được đặt nặng bằng Louise de La Tour, hoặc là cậu ta có khả năng suy xét thận trọng, ngay cả khi vắng mặt người giám hộ của mình - ông Sheridan.

Việc thứ hai xảy ra là ông Duverney, Bộ trưởng Bộ Tài chính, đã thua cờ Jamie. Không chỉ một lần mà thua đi thua lại. Y như Jamie đã tiên đoán, hậu quả của việc thua cuộc chỉ càng khiến ông ta thêm quyết tâm chiến thắng, và chúng tôi thường xuyên được mời tới Versailles, nơi tôi đi loanh quanh thu thập những mẩu chuyện tán gẫu và tránh các hốc tường kín, còn Jamie thì chơi cờ và thu hút một nhóm đông thán phục tới quan sát, mặc dù bản thân tôi không coi nó là một trò giải trí đáng để xem.

Jamie và Bộ trưởng Bộ Tài chính, một người đàn ông lùn tịt tròn xoe với hai bờ vai khòng khòng, cắm cúi trên bàn cờ, cả hai đều có vẻ rất chú tâm vào ván cờ như lãng quên hết đám người đang vây xung quanh, bất chấp những tiếng rì rầm và tiếng ly cốc lanh canh chạm nhau ngay phía trên vai họ.

“Tôi hiếm khi thấy thứ gì chán ngắt như cờ vua,” một phu nhân thì thào với một vị khác. “Thật buồn cười, họ bảo thế! Tôi thà xem con hầu của mình đuổi theo mấy thằng tiểu đồng da đen còn vui hơn. Ít nhất chúng còn kêu ré lên và cười khúc khích một chút.”

“Tôi sẽ không phiền đâu nếu làm anh chàng tóc đỏ kia kêu ré lên và cười khúc khích,” bạn bà ta nói, mỉm cười quyến rũ với Jamie, người vừa ngẩng đầu lên và lơ đãng nhìn đăm đăm qua vai ông Duverney. Bạn bà ta bắt gặp cái nhìn của tôi và thúc vào sườn phu nhân tóc vàng khêu gợi kia một cái.

Tôi vui vẻ mỉm cười với bà ta, xấu xa thưởng thức màu ửng hồng đang dâng lên từ dưới cổ bà ta, khiến sắc da bà ta loang lổ màu hoa hồng. Về phần Jamie, bà ta có thể phải xoắn những ngón tay múp míp vào tóc anh mới nhận được sự chú ý, vì anh có vẻ quá mức lơ đãng.

Tôi thắc mắc điều gì đang chiếm lĩnh sự tập trung của anh. Chắc chắn không phải là ván cờ này; ông Duverney chơi một ván cờ kiên cường với tính cách thận trọng, nhưng liên tục sử dụng cách thí quân y như cũ. Hai ngón giữa trên bàn tay phải của Jamie khẽ cử động trên đùi anh, một biểu hiện của sự thiếu kiên nhẫn được che giấu, và tôi biết rằng cho dù anh đang suy nghĩ điều gì đi nữa thì nó cũng không phải về ván cờ này. Có lẽ phải mất thêm nửa tiếng đồng hồ nữa nhưng anh đã nắm được quân vua của ông Duverney trong lòng bàn tay rồi.

Công tước de Neve đang đứng cạnh tôi. Tôi trông thấy đôi mắt đen ti hí của ông ta dán chặt vào mấy ngón tay của Jamie, rồi chớp mắt quay đi. Ông ta ngừng lại, trầm ngâm một lát, quan sát kĩ bàn cờ rồi lướt đi để tăng thêm tiền đặt cược.

Một người hầu dừng lại bên cạnh tôi và khúm núm mời tôi một ly rượu khác. Tôi vẫy lui anh ta; tôi đã dùng đủ rượu trong suốt buổi tối hôm nay nên đầu hơi chếnh choáng và hai chân lâng lâng một cách nguy hiểm.

Quay người đi tìm một chỗ để ngồi xuống, tôi bắt gặp hình ảnh Bá tước St. Germain đang băng qua phòng. Có lẽ ông ta chính là thứ mà Jamie nhìn lúc nãy. Đến lượt Bá tước nhìn tôi; thực ra là nhìn chằm chằm vào tôi kèm theo một nụ cười. Đó không phải vẻ mặt bình thường của ông ta và chẳng hề phù hợp với ông ta. Tôi không quan tâm, nhưng vẫn cúi chào một cách tao nhã vì tôi đang ở đúng hướng ông ta đi tới, sau đó lẩn vào trong đám các quý bà, tán chuyện này, chuyện kia, nhưng bất cứ khi nào có thể là tôi đều cố dẫn dắt cuộc trò chuyện về hướng Scotland và vị vua đang lưu vong của nó.

Nhìn chung, viễn cảnh về sự phục vị của một người nhà Stuart dường như không làm tầng lớp quý tộc Pháp bận tâm. Khi thi thoảng tôi nhắc tới Charles Stuart, lời hồi đáp thường xuyên là đảo mắt hoặc một cái nhún vai bác bỏ. Bất chấp sự giúp đỡ ân cần của Bá tước Mar và những người theo phái Jacobite khác ở Paris, Louis vẫn bướng bỉnh từ chối tiếp Charles ở cung điện. Và một kẻ lưu vong không xu dính túi lại không nhận được ân huệ của nhà vua sẽ không được mời gia nhập đời sống xã hội để làm quen với những chủ ngân hàng giàu có.

“Đức vua không đặc biệt vui mừng với việc người họ hàng của ngài đến Pháp mà không được sự cho phép của ngài,” Nữ bá tước de Brabant nói với tôi khi tôi mở đầu chủ đề này. “Người ta nghe ngài nói rằng theo quan điểm của ngài, nước Anh cứ việc theo đạo Tin Lành,” bà ta kể. “Và nếu người Anh bị hỏa thiêu dưới địa ngục cùng với George của Hanover thì càng tốt.” Bà ta bặm môi vẻ cảm thông; bà ta là một người tử tế. “Tôi lấy làm tiếc,” bà ta nói. “Tôi biết điều đó chắc hẳn khiến bà và chồng bà thất vọng lắm, nhưng thực sự...” Bà ta nhún vai.

Tôi đã nghĩ chúng tôi có thể thích ứng được với kiểu thất vọng như thế này và háo hức theo dõi những câu chuyện đàm tiếu khác, nhưng tối nay không mấy thành công. Phái Jacobite, tôi đã hiểu ra, thật chán ngắt.

“Xe ăn năm tốt của hậu,” Jamie lầm bầm nói vào lúc tối muộn khi chúng tôi chuẩn bị đi ngủ. Chúng tôi lại được làm khách ngủ lại lâu đài một lần nữa. Vì ván cờ kéo dài đến quá nửa đêm và ngài Bộ trưởng không để chúng tôi trở về Paris vào giờ đó nên chúng tôi được thu xếp ở lại trong một căn hộ nhỏ - tôi nhận thấy nó nằm ở một góc trên tầng một. Nó có một cái giường đệm nhồi lông chim và một cửa sổ nhìn ra khu vực sân phía nam.

“Xe ư?” Tôi nói, trườn lên giường và duỗi người ra kèm theo một tiếng rên thỏa mãn. “Có phải đêm nay anh sẽ mơ về cờ vua không?”

Jamie gật đầu, một cú ngáp muốn sái quai hàm khiến mắt anh long lanh ánh nước.

“Phải, anh chắc chắn mình sẽ mơ thấy nó. Anh hy vọng em sẽ không phiền, Sassenach, nếu anh mơ viển vông trong giấc ngủ.”

Bàn chân tôi cong lên dưới lớp chăn, sung sướng vì được giải phóng khỏi trọng lượng cơ thể đang ngày một tăng thêm, phần xương sống phía thắt lưng phát ra tiếng khục khục của cảm giác đau nhẹ dễ chịu khi nó tự điều chỉnh lại lúc tôi nằm xuống.

“Anh có thể đứng bằng đầu trong giấc ngủ của mình nếu anh muốn,” tôi nói, miệng ngáp. “Không có gì làm phiền em đêm nay cả.”

Tôi hiếm khi nào sai lầm như thế.

Tôi đang mơ thấy đứa bé. Nó đã lớn gần đến lúc sắp sinh, nó đá và thúc vào cái bụng căng phồng của tôi. Hai bàn tay tôi đưa tới bụng, xoa lên làn da căng phồng đó, cố làm yên sự náo động ở bên trong. Nhưng những cú quẫy đạp vẫn tiếp tục và không hề kích động như trong các giấc mơ, tôi nhận ra nó không chỉ là một đứa bé, mà là một con rắn đang quằn quại trong bụng tôi. Tôi nghi ngờ, co hai đầu gối lên trong khi vật lộn với con mãng xà ấy, hai bàn tay lần mò và đấm túi bụi, tìm kiếm đầu của con quái vật đang thúc vào dưới da tôi. Da tôi nóng bỏng khi chạm vào, và ruột gan như xoắn lại, biến thành chính những con rắn, cắn xé và quẫy đập khi chúng cuộn xoắn vào nhau.

“Claire! Tỉnh dậy đi! Có chuyện gì thế?” Cuối cùng, những cú lay mạnh và tiếng gọi đánh thức tôi nhận ra hoàn cảnh xung quanh. Tôi đang nằm trên giường, một bàn tay của Jamie đặt trên vai tôi, và những tấm chăn vải lanh phủ trên người. Nhưng những con rắn vẫn tiếp tục quẫy đập trong bụng tôi, tôi rên thành tiếng, âm thanh đó làm cả tôi lẫn Jamie vô cùng sợ hãi.

Anh hất tung chăn lên và lật người tôi nằm ngửa ra, cố kéo thẳng hai đầu gối tôi. Tôi vẫn bướng bỉnh cuộn tròn lại như một trái bóng, ôm siết lấy bụng mình, cố chịu đựng những cơn đau nhói dữ dội đâm thúc xuyên qua mình.

Anh kéo chiếc chăn lông phủ lại lên người tôi và lao ra khỏi phòng, chỉ dừng lại để tóm lấy cái váy của anh từ trên ghế đẩu.

Tôi không rảnh để chú ý đến bất cứ thứ gì ngoài cái bụng của mình. Hai tai tôi ong ong và mồ hôi lạnh ướt đẫm mặt.

“Thưa bà! Thưa bà!”

Tôi mở hé mắt, đủ để trông thấy cô hầu gái được phân công tới căn hộ của chúng tôi, mắt sợ hãi điên cuồng và mái tóc xô lệch, đang cúi xuống giường. Jamie, nửa người ở trần và còn điên cuồng hơn, đang ở phía sau cô ta. Tôi nhắm nghiền mắt, rên rỉ nhưng vẫn kịp trông thấy anh tóm lấy vai cô hầu, lắc mạnh khiến cho những lọn tóc của cô ta xổ tuột ra khỏi cái mũ ngủ.

“Cô ấy sắp mất đứa bé ư? Đúng vậy không?”

Điều đó dường như cực kỳ có khả năng. Tôi vật vã trên giường, rền rĩ và co gập người, như để bảo vệ cái gánh nặng đau đớn mà tôi đang mang trong mình.

Những tiếng nói chuyện lầm rầm trong phòng tăng thêm, hầu hết là phụ nữ, và nhiều bàn tay chạm vào tôi thăm dò. Tôi mơ hồ nghe thấy một giọng đàn ông giữa những tiếng rì rầm ấy; không phải Jamie, một người Pháp nào đó. Theo sự chỉ dẫn của giọng nói ấy, nhiều bàn tay tóm lấy mắt cá chân và vai tôi rồi kéo tôi nằm thẳng ra trên giường.

Một bàn tay luồn vào dưới áo ngủ của tôi và thăm dò bụng tôi. Tôi mở mắt, thở hổn hển, và thấy ông Flèche, bác sĩ của hoàng gia, đang quỳ bên cạnh giường, cau mày tập trung. Đáng lẽ tôi phải cảm thấy hãnh diện trước bằng chứng về sự ân sủng của nhà vua, nhưng chẳng có lòng dạ nào mà để ý đến điều đó. Cơn đau dường như đang thay đổi; mặc dù càng lúc càng dữ dội hơn nhưng tần suất lại ít đi, song dường như nó đang di chuyển, từ chỗ vùng bụng trên xuống tới vùng bụng dưới.

“Không phải một ca sẩy thai,” ông Flèche cam đoan với Jamie, lúc này anh đang lo lắng ngó qua vai ông ta. “Không bị ra máu.” Tôi thấy một trong các phu nhân đến xem đang nhìn chằm chằm vào những vết sẹo trên lưng Jamie với vẻ chăm chú sợ hãi. Bà ta tóm chặt lấy cổ tay áo của người bạn đi cùng, chỉ cho người đó xem chúng.

“Có lẽ là chứng viêm túi mật,” ông Flèche nói. “Hoặc gan bị lạnh đột ngột.”

“Ngu ngốc,” tôi nói qua hai hàm răng nghiến chặt.

Ông Flèche nhìn chằm chằm xuống tôi qua cái mũi to đùng vẻ kiêu căng ngạo mạn, cái gọng kính vàng kẹp mũi càng làm tăng thêm ấn tượng này. Ông ta đặt bàn tay lên vầng trán lạnh và ẩm ướt của tôi, ngẫu nhiên che đi hai mắt khiến tôi không thể trừng mắt nhìn ông ta nữa.

“Khả năng là bị gan,” ông ta nói với Jamie. “Sự chèn ép túi mật là nguyên nhân tích tụ dịch thể do mật tiết ra ở trong máu, dẫn tới đau đớn - và tình trạng loạn trí tạm thời,” ông ta hách dịch bổ sung, ép tay xuống mạnh hơn khi tôi vùng vẫy xoay qua xoay lại. “Bà ấy nên được trích máu một lần. Plato, cái chậu!”

Tôi giật được một bàn tay ra và đánh vào cái tay đang giữ đầu mình.

“Tránh xa tôi ra, đồ lang băm chết tiệt! Jamie! Đừng để bọn họ chạm vào em bằng cái đó!” Plato, trợ tá của Flèche, đang tiến tới gần tôi cùng với con dao trích và cái chậu, trong khi các phu nhân làm nền phía sau thở hổn hển và quạt phành phạch cho nhau, sợ rằng bọn họ trở nên kích động quá mức trước cảnh tượng kịch tính này.

Mặt Jamie trắng bệch, ánh mắt anh bất lực hết nhìn tôi lại nhìn ông Flèche. Rồi đi đến một quyết định đột ngột, anh chộp lấy Plato không may mắn và kéo giật anh ta ra khỏi giường, xoay người anh ta lại và đẩy về phía cửa, con dao trích rạch vào không khí. Mấy cô hầu và các phu nhân ngã ngửa ra sau, kêu ré lên trước mặt anh ta.

“Thưa ngài! Ngài le chevalier[1]!” Viên bác sĩ đang phê phán. Ông ta đã tóm được mái tóc giả trên đầu khi nó rơi, nhưng không có thời gian để đội lại, và hai ống tay áo của cái áo ngủ bay phất phơ như hai cái cánh khi ông ta bám theo Jamie băng qua phòng, phe phẩy hai cánh tay như một con bù nhìn tả tơi loạn trí.

Cơn đau một lần nữa lại tăng thêm, siết chặt lấy nội tạng, tôi thở gấp và lại cong gập người. Khi cơn đau dịu đi một chút, tôi mở mắt ra và thấy một trong số các phu nhân, mắt bà ta lo lắng gắn chặt lên mặt tôi. Một cái nhìn có vẻ vỡ lẽ vấn đề thoáng qua nét mặt bà ta, và vẫn nhìn tôi, bà ta nghiêng người thì thầm với một người bạn đi cùng. Căn phòng quá ồn ào không nghe rõ được, nhưng tôi đọc được khẩu hình của bà ta.

“Trúng độc,” bà ta nói vậy.

Cơn đau đột ngột giảm đi với một tiếng ùng ục đáng lo ngại vang lên từ trong bụng, và cuối cùng tôi cũng nhận ra nó là cái gì. Không phải là sẩy thai. Không phải viêm ruột thừa, cũng không phải gan lạnh. Cũng không chính xác là trúng độc. Nó là cascara đắng.

•••

“Ông,” tôi nói, tiến tới chỗ ông chủ Raymond vẻ hăm dọa, ông ta đang khom người phòng vệ phía sau cái bàn làm việc của mình, bên dưới sự bảo hộ của con cá sấu bị nhồi tiêu bản. “Ông! Ông! Cái đồ giun dế mặt ếch chết tiệt!”

“Tôi ư, madonna? Tôi không làm gì có hại cho cô mà, đúng không?”

“Ngoài việc gây ra cho tôi một trận tiêu chảy dữ dội trước sự có mặt của hơn ba mươi người, làm tôi nghĩ mình đang bị sẩy thai, và khiến chồng tôi sợ khiếp vía, còn thì không có hại gì sất!”

“Ồ, chồng cô đã có mặt ư?” Ông Raymond trông không dễ chịu gì.

“Đúng thế,” tôi quả quyết. Trên thực tế, khó khăn lắm tôi mới ngăn chặn được Jamie không đến hiệu bào chế thuốc này và moi thông tin, bằng vũ lực, từ ông chủ Raymond. Tôi cuối cùng đã thuyết phục được anh đợi trong xe ngựa ở bên ngoài, trong khi tôi nói chuyện với ông chủ lưỡng cư này.

“Nhưng cô không chết, madonna,” chuyên gia thảo dược nhỏ con chỉ ra điểm quan trọng. Ông ta không có lông mày, nhưng một bên cái trán rộng và nặng nề vẫn nhăn nhíu nhướng lên. “Cô biết cô có thể đã chết mà.”

Trong sự căng thẳng tối hôm đó và theo sau là sự chấn động về thể xác, tôi đã bỏ qua thực tế này.

“Vậy nó không đơn thuần là một trò đùa ư?” Tôi yếu ớt nói. “Ai đó thực sự có ý định đầu độc tôi, và tôi không chết chỉ vì ông có tính nhân đạo à?”

“Có lẽ không hoàn toàn vì tính nhân đạo của tôi, madonna ạ; có thể đó chỉ là một trò đùa thôi - tôi cho rằng người kia có thể kiếm được cascara đắng từ những cửa hàng khác. Nhưng trong tháng vừa rồi tôi đã bán thứ đó cho hai người - và không ai trong bọn họ đòi có nó cả.”

“Tôi hiểu.” Tôi hít vào một hơi dài và lau đi mồ hôi trên trán bằng găng tay. Vậy là chúng tôi có hai kẻ đầu độc “tiềm năng”; đó chính là điều tôi cần biết.

“Ông sẽ nói cho tôi biết họ là ai chứ?” Tôi hỏi thẳng. “Họ có thể mua từ ai đó khác vào lần tới. Người nào đó sẽ không có tính nhân đạo như ông.”

Ông ta gật đầu, cái miệng rộng như miệng ếch giần giật trong lúc suy nghĩ.

“Điều đó cũng có khả năng, madonna. Về phần những người mua thực sự, tôi nghi ngờ thông tin đó có thể giúp ích gì cho cô. Họ là người hầu; chỉ làm theo sự sai khiến của chủ. Một người là hầu gái của Nữ tử tước de Rambeau; người kia là một người đàn ông tôi không biết là ai.”

Tôi gõ gõ ngón tay lên quầy hàng. Người duy nhất đã đe dọa tôi là Bá tước St. Germain. Có thể ông ta đã thuê một tên người hầu nặc danh để kiếm về thứ mà ông ta nghĩ là độc dược, sau đó đích thân thả nó vào trong ly rượu của tôi? Dồn tâm trí nghĩ về lần tụ hội vừa rồi ở Versailles, tôi nghĩ việc đó chắc chắn có thể xảy ra. Những ly rượu vang lớn được người hầu phục vụ trên những cái khay; mặc dù bản thân Bá tước không hề đến gần tôi trong phạm vi một cánh tay, nhưng việc ông ta mua chuộc một tên người hầu để mang cho tôi một ly rượu đặc biệt vốn chẳng phải vấn đề to tát gì.

Raymond hiếu kỳ theo dõi tôi. “Tôi sẽ hỏi cô điều này, madonna, cô có làm điều gì đó chống lại Nữ tử tước không? Bà ta là một phụ nữ rất ghen tuông; đây không phải là lần đầu tiên bà ta tìm kiếm sự trợ giúp của tôi để loại bỏ đối thủ của mình, mặc dù may mắn là những cơn ghen tuông của bà ta chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Hầu tước là một người lăng nhăng, cô hiểu không, cho nên luôn có địch thủ mới xuất hiện để giúp di dời sự chú ý của bà ta với kẻ địch trước đó.”

Tôi ngồi xuống mà không cần được mời.

“Rambeau à?” Tôi nói, cố kết nối cái tên này với một gương mặt. Thế rồi đám sương mờ mịt của ký ức rõ dần, hé lộ một thân hình ăn vận hợp thời trang và một khuôn mặt tròn trịa vô duyên, cả hai đều dây đầy thứ thuốc lá hít.

“Rambeau!” Tôi reo lên. “À, phải rồi, tôi đã gặp người đàn ông đó, nhưng tất cả những gì tôi làm là đập cái quạt vào mặt hắn khi hắn cắn ngón chân tôi.”

“Vì là một người có tâm tính đặc biệt, chỉ điều đó thôi cũng đủ chọc tức Nữ tử tước rồi,” ông Raymond nhận xét. “Và nếu đúng là vậy thì tôi tin cô có thể an toàn thoát khỏi những cuộc tấn công sắp tới.”

“Cảm ơn,” tôi đáp cộc lốc. “Và nếu không phải là Nữ tử tước thì sao?”

Nhà bào chế thuốc bé nhỏ ngập ngừng một lát, hai mắt nheo lại trước ánh mặt trời buổi sáng rực rỡ chiếu xuyên qua những ô cửa hình thoi phía sau tôi. Rồi ông ta đưa ra quyết định, quay người hướng về phía cái bàn đá nơi những chiếc nồi chưng cất của ông ta đang sôi ùng ục, ông ta hất đầu ra hiệu cho tôi đi theo.

“Đi cùng tôi, madonna. Tôi có thứ này dành cho cô.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông ta khom người xuống bên dưới cái bàn và biến mất. Vì ông ta không quay lại, tôi bèn cúi người, ngó xuống dưới chiếc bàn. Một lớp than đang cháy sáng rực trên lò sưởi, nhưng vẫn chừa một khoảng ở bên cạnh để có thể đi qua. Và trong bức tường bên dưới chiếc bàn, bóng tối ngự trị, một khoảng không gian tối tăm hơn được mở ra.

Thoáng ngập ngừng đôi chút, tôi vén váy và lạch bạch chui vào dưới chiếc bàn theo sau ông ta.

Ở mặt bên kia bức tường, có một căn phòng, dù nó khá nhỏ. Bề ngoài của kiến trúc này được xây khéo léo, không hề để lộ dấu vết nào về sự tồn tại của nó.

Hai bức tường của căn mật thất đó bị những cái giá hình rỗ tổ ong chiếm giữ, các ô đều không có bụi bặm và hoàn hảo không tì vết, mỗi ô bày một hộp xương sọ của một con thú. Sự choáng ngợp của bức tường khiến tôi phải lùi lại một bước; tất cả những hốc mắt trống rỗng dường như đều đổ dồn vào tôi, những hàm răng trắng ởn lóe sáng như chào đón.

Tôi chớp mắt vài lần trước khi có thể xác định vị trí của Raymond, thận trọng cúi người trước một bộ xương giống như một thầy tăng hành lễ. Ông ta lo lắng giơ hai cánh tay ra phía trước, nhìn tôi như thể hy vọng tôi sẽ không hét lên hoặc ngã bổ nhào trước mặt ông ta. Nhưng tôi đã từng trông thấy những thứ còn kinh khủng hơn thế này nhiều, và tôi bình tĩnh tiến tới trước để quan sát chúng kĩ càng hơn.

Ông ta dường như có mọi thứ. Những cái sọ bé xíu của dơi, chuột và chuột chù, những cái xương trong suốt, những chiếc răng nhỏ xíu nhọn hoắt minh chứng cho sự tàn bạo của động vật ăn thịt. Những con ngựa giống Percheron to lớn, với bộ hàm hình thanh mã tấu trông rõ là phù hợp với các trung đội người Philistine[2], cho tới những cái sọ lừa, sự dai sức bướng bỉnh thể hiện trong những đường cong nhỏ y như bản nháp của những con ngựa kia.

Chúng có một sự cuốn hút bền chắc, quá tĩnh lặng và quá đẹp, như thể từng thứ đều giữ lại sự tinh túy của chính nó, vì những đường thẳng của xương đều lưu giữ linh hồn của xác thịt và da lông mà chúng từng mang.

Tôi với tay chạm vào một hộp sọ, chất xương lạnh lẽo y như tôi hình dung, nhưng trơ lì một cách kỳ lạ, như thể sự ấm áp biến mất, từ rất lâu, vẫn đang vất vưởng quanh nó không xa.

Tôi đã từng thấy những di thể của con người bị đối xử kém tôn trọng hơn; hộp sọ của những người tử vì đạo theo Cơ Đốc giáo trước đây bị ép chặt má tới tận xương hàm, ken vào nhau thành chồng trong những hầm mộ, xương đùi bị ném thành đống như rơm bên dưới.

“Gấu ư?” Tôi khẽ hỏi. Một hộp sọ lớn có những chiếc răng nanh cong cong để cắn xé, nhưng răng hàm thì lại phẳng một cách kỳ lạ.

“Đúng vậy, madonna.” Thấy tôi không sợ, Raymond thả lỏng hơn. Bàn tay ông ta đưa ra, nhưng chỉ lướt qua những đường cong của cái hộp sọ cứng và đầy góc tù kia. “Cô thấy những cái răng chứ? Một con cá ăn thịt đấy” - một ngón tay nhỏ của ông ta lần dọc theo đường cong của cái răng dùng để cắn xé và đường răng cưa phẳng của răng hàm - “như một cái cối xay nghiền quả mọng và các ấu trùng nhỏ. Chúng hiếm khi bị đói vì chúng sẽ ăn bất cứ thứ gì.”

Tôi chậm rãi xoay hết mặt này sang mặt kia, lòng đầy thán phục và chạm tay vào chỗ này chỗ nọ.

“Chúng thật đáng yêu,” tôi nói. Chúng tôi trò chuyện nhỏ giọng, như thể sợ nói lớn có thể đánh thức những kẻ đang lặng lẽ ngủ say kia.

“Đúng thế!” Những ngón tay của Raymond chạm vào chúng giống như tôi đã làm, vuốt ve dọc theo phần xương trán, lần đến những cái xương vảy hình cung tinh tế ở bên má. “Chúng nắm giữ tính cách của động vật, cô thấy đấy. Cô có thể nói được rất nhiều điều về một thứ, chỉ từ những gì nó để lại.”

Ông ta lật ngược một cái sọ nhỏ hơn, chỉ vào những chỗ phình ra ở mặt bên dưới, giống như những quá bóng nhỏ mỏng manh.

“Đây - ống tai dẫn vào chỗ này, âm thanh sẽ vang vọng trong hộp sọ. Do đó loài gặm nhấm mới có đôi tai thính, madonna ạ.”

“Bao màng nhĩ[3],” tôi gật đầu, nói.

“A? Tôi biết rất ít tiếng Latin. Những cái tên của tôi dành cho những thứ như thế là… của riêng tôi thôi.”

“Những cái đó…” Tôi ra hiệu về phía trên. “Những cái đó là đặc biệt, đúng không?”

“À, phải, madonna. Chúng là sói. Những con sói rất cổ.” Ông ta nhấc xuống một hộp sọ, cầm nó với sự cẩn thận cung kính. Cái mõm dài đặc hữu của họ nhà chó, với những chiếc răng nanh nặng nề và răng hàm to bè. Cái đỉnh đầu thẳng đứng nhô lên mạnh mẽ và uy quyền từ phía sau hộp sọ, bằng chứng cho phần cơ nặng nề của cái cổ rắn chắc nở nang từng có thời chống trụ vào nó.

Không phải kiểu màu trắng lờ nhờ như những hộp sọ khác, xương sọ của lũ sói có vết bẩn, sọc nâu và sáng loáng như được đánh bóng.

“Những con quái vật này đã không còn tồn tại nữa, madonna.”

“Không còn nữa ư? Ý ông là tuyệt chủng?” Tôi mê mẩn chạm vào nó một lần nữa. “Ông kiếm được những thứ này từ đâu thế?”

“Không phải trên mặt đất, madonna. Mà là ở bên dưới. Chúng nằm trong một đầm lầy than bùn, bị chôn vùi rất sâu.”

Nhìn kĩ hơn, tôi thấy sự khác biệt giữa những hộp sọ này và những hộp sọ mới hơn, trắng hơn trên bức tường đối diện. Những con thú này còn to lớn hơn sói thường, với những quai hàm có thể bẻ gãy xương chân của một con nai sừng tấm đang chạy hay xé rách họng của một con hươu bị ngã.

Tôi hơi rùng mình khi chạm vào chúng, chúng gợi tôi nhớ đến con sói mà tôi đã giết bên ngoài nhà ngục Wentworth và lũ bạn cùng bầy của nó đã lén đuổi theo tôi dưới ánh tuyết lung linh, chỉ mới sáu tháng trước.

“Cô không thích lũ sói ư, madonna?” Raymond hỏi. “Nhưng gấu và cáo không làm cô bận tâm, đúng không? Chúng đều là những thợ săn, những kẻ ăn thịt sống.”

“Phải, nhưng tôi không phải con mồi của chúng,” tôi lạnh nhạt nói, đưa trả ông ta cái sọ đen nhiều năm tuổi. “Tôi cảm thấy một sự đồng cảm lớn lao hơn với những người bạn hươu sừng tấm của chúng ta.” Tôi vỗ nhẹ lên cái mũi cao nhô ra với vẻ yêu thương.

“Đồng cảm ư?” Đôi mắt đen dịu dàng nhìn tôi vẻ hiếu kỳ. “Đó là một cảm xúc khác thường trước một bộ xương, madonna.”

“À… phải,” tôi ngượng ngùng nói, “nhưng chúng thực sự không có vẻ chỉ là những bộ xương, ông biết đấy. Ý tôi là ông có thể nói điều gì đó về chúng, và có tình cảm dành cho những con vật giống thế, nhìn những cái này mà xem. Chúng không chỉ là những đồ vật vô tri vô giác.”

Cái miệng móm mém của Raymond ngoác rộng ra, như thể tôi đã tình cờ nói điều gì đó làm ông ta vui sướng, nhưng ông ta không đáp lại.

“Tại sao ông lại có tất cả những thứ này?” Tôi bất chợt hỏi, đột nhiên nhận ra những cái giá để sọ động vật này khó có thể có mặt trong cửa hàng của một người bào chế thuốc thông thường. Mấy con cá sâu nhồi tiêu bản thì có thể, nhưng tất cả những thứ này thì không.

Ông ta nhún vai vẻ hiền hậu.

“À, chúng là bạn đồng hành, kiểu như thế, trong khi tôi theo đuổi công việc của mình.” Ông ta ra hiệu về phía một cái bàn gia công để đầy những thứ lộn xộn ở góc phòng. “Và trong khi chúng có thể nói chuyện với tôi về rất nhiều điều, chúng lại không quá ồn ào thu hút sự chú ý của hàng xóm. Lại đây nào,” ông ta nói, đột ngột chuyển chủ đề. “Tôi có thứ này cho cô.”

Tôi băn khoăn theo ông ta đi về phía một cái tủ cao nhiều ngăn ở cuối phòng.

Ông ta không phải là một nhà vạn vật học, tất nhiên cũng không phải là một nhà khoa học, vì tôi hiểu rõ cụm từ này. Ông ta không có các ghi chép, không làm các bản vẽ, không có thành quả nghiên cứu để người khác có thể tham khảo và học hỏi từ đó. Nhưng tôi có sự tin tưởng kỳ quái là ông ta rất muốn dạy tôi những thứ ông ta biết - sự đồng cảm với những bộ xương chẳng hạn.

Chiếc tủ nhiều ngăn đó được vẽ rất nhiều ký hiệu kỳ quái, có đuôi và vòng xoắn, trong số những cái đó có những hình lục giác và hình tròn; các biểu tượng kỳ bí. Tôi nhận ra một, hai biểu tượng nhờ vào một vài tài liệu tham khảo sử học của bác Lamb.

“Ông có hứng thú với pháp thuật huyền bí ư?” Tôi hỏi, nhìn những biểu tượng đó với vài phần thích thú. Điều đó sẽ giải thích cho căn phòng làm việc bị giấu kín này. Mặc dù tầng lớp trí thức và quý tộc Pháp có một sự hứng thú mạnh mẽ với những vấn đề như thế này, nhưng sự hứng thú ấy cần phải được giấu giếm kĩ vì sợ nhà thờ trừng phạt.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, Raymond cười lớn. Những ngón tay thẳng và có móng ngắn ngủn của ông ta ấn vào vài nơi trên mặt trước cái tủ, chạm vào phần giữa của một biểu tượng này, phần đuôi của một biểu tượng khác.

“Không đâu, madonna. Hầu hết những người thích phép thần thông đều có khuynh hướng sống nghèo nàn, bởi vậy tôi không hay tìm kiếm sự bầu bạn của họ. Nhưng các biểu tượng đã giữ cho những người hiếu kỳ không động vào cái tủ của tôi. Nếu cô nghĩ theo chiều hướng đó thì sẽ thấy những hình vẽ ấy có sức mạnh không nhỏ đâu. Bởi vậy, có lẽ những người nghiên cứu pháp thuật huyền bí đã đúng khi nói những ký hiệu này nắm giữ quyền năng sức mạnh chăng?”

Ông ta cười tinh quái với tôi khi cánh cửa tủ mở ra. Tôi thấy thực ra đó là một cái tủ đôi; nếu một kẻ tọc mạch ưa lục lọi phớt lờ lời cảnh cáo của những biểu tượng kia mà mở cửa tủ ra, anh ta hay cô ta không nghi ngờ gì sẽ chỉ trông thấy những thứ vô hại ở bên trong một cái tủ xép của người bào chế thuốc. Nhưng nếu ấn đúng những cái chốt ẩn thích hợp thì những cái giá bên trong sẽ bật mở ra, để lộ các khoang sâu phía sau chúng.

Ông ta kéo ra một trong những ngăn kéo nhỏ nằm thành hàng trong cái khoang đó và lật úp nó vào lòng bàn tay. Làm xáo trộn những thứ trong tay, ông ta nhấc lên một viên đá pha lê màu trắng và đưa cho tôi.

“Cho cô đấy,” ông ta nói. “Để bảo vệ.”

“Gì cơ? Phép thuật à?” Tôi trêu, lật nghiêng viên pha lê hết bên này tới bên kia trong lòng bàn tay.

Raymond cười to. Ông ta giơ tay lên bàn làm việc và xòe ra, để một vốc những viên đá nhỏ nhiều màu sắc trượt qua kẽ ngón tay, khiến chúng nẩy bật lên trên tờ giấy thấm bị dây bẩn.

“Tôi cho rằng cô có thể gọi nó như vậy, madonna. Tất nhiên tôi có thể tính thêm phí cho nó.” Ông ta dùng đầu ngón tay chọc vào viên pha lê màu xanh lục nhạt rơi ra từ đống đá nhiều màu sắc đó.

“Chúng không có nhiều phép thuật hơn - nhưng chắc chắn cũng không ít hơn - những cái xương sọ kia. Hãy gọi chúng là xương của trái đất. Chúng nắm giữ tinh túy của đất nền ở nơi chúng sinh trưởng, và cô có thể tìm thấy ở đây bất cứ sức mạnh nào.” Ông ta búng một viên đá nhỏ màu vàng mơ về phía tôi.

“Lưu huỳnh. Nghiên nó với vài thứ nho nhỏ khác, chạm vào nó bằng một que diêm, nó sẽ nổ. Thuốc súng. Đó có phải phép thuật không? Hay nó chỉ là bản chất của lưu huỳnh?”

“Tôi cho rằng nó còn tùy thuộc vào người ông đang nói chuyện,” tôi bình luận và khuôn mặt ông ta dãn ra trong một nụ cười toe toét vui sướng.

“Nếu cô có bao giờ tìm cách rời khỏi chồng của cô, madonna,” ông ta cười khùng khục, nói, “cam đoan rằng cô sẽ không chết đói đâu. Tôi đã nói cô là một chuyên gia mà, đúng không?”

“Chồng tôi!” Tôi thốt lên, tái người. Tâm trí đột nhiên hiểu ra ý nghĩa của những tiếng ồn loáng thoáng vọng đến từ cửa hàng phía xa. Có tiếng một nắm tay lớn giáng xuống mặt quầy hàng với một sức mạnh kinh khủng và giọng nói trầm thấp có xu hướng áp chế bất cứ sự chen ngang nào khiến cho nó nghe nổi bật giữa những âm thanh lảm nhảm khác.

“Khỉ thật! Tôi quên mất Jamie!”

“Chồng cô đang ở đây ư?” Đôi mắt Raymond trở nên lớn hơn bao giờ hết và ông ta đã không còn tái xanh nữa, tôi hình dung ông ta cũng sẽ thành ra trắng bệch luôn.

“Tôi để anh ấy ở bên ngoài,” tôi giải thích, khom lưng đi ngược trở lại xuyên qua lối vào bí mật. “Anh ấy hẳn là đã mệt mỏi vì chờ đợi.”

“Đợi đã, madonna!” Raymond nắm lấy khuỷu tay tôi. Ông ta đặt tay kia lên tay tôi, bàn tay nắm viên pha lê trắng.

“Viên pha lê đó, madonna. Tôi đã nói nó là để bảo vệ cô.”

“Vâng, vâng,” tôi sốt ruột nói, nghe thấy tên mình bị thét gọi ở bên ngoài với âm lượng càng lúc càng to. “Vậy nó làm được gì?”

“Nó nhạy cảm trước độc dược, madonna. Nó sẽ đổi màu khi có sự hiện diện của vài hợp chất độc hại.”

Câu nói đó làm tôi dừng khựng lại, đứng thẳng người nhìn ông ta chằm chằm.

“Thuốc độc ư?” Tôi chậm rãi nói. “Vậy…”

“Đúng thế, madonna. Cô có thể vẫn còn gặp nguy hiểm.” Khuôn mặt giống ếch của Raymond trở nên nghiêm nghị. “Tôi không thể nói chắc chắn, hoặc nói được mối nguy hiểm đến từ hướng nào vì tôi không biết. Nếu tôi phát hiện ra, chắc chắn tôi sẽ nói với cô.” Mắt ông ta chớp chớp vẻ bực bội hướng về phía lối vào qua cái lò sưởi. Một tiếng ầm ầm như sấm vang lên trên bức tường bên ngoài. “Cũng trấn an chồng cô nữa, làm ơn, madonna!”

“Đừng lo,” tôi bảo ông ta, cúi người luồn qua thanh rầm thấp. “Jamie không cắn đâu - tôi không nghĩ thế.”

Câu “Tôi không lo lắng về hàm răng của chồng cô, madonna” vẳng theo phía sau khi tôi bước đi lạch bạch qua đống tro lò sưởi.

Jamie, đang giơ cái chuôi dao găm để nện một lần nữa lên tấm ván ốp, bắt gặp tôi xuất hiện từ trong lò sưởi liền hạ tay xuống.

“Ồ, em ở đó à,” anh ôn tồn bình luận, nghiêng đầu sang một bên quan sát tôi phủi bồ hóng và tro bụi khỏi viền váy dài, rồi cau có khi thấy Raymond thận trọng trộm nhìn ra từ dưới cái bàn khô khắn.

“A, và cả con ếch bé nhỏ của chúng ta cũng ở đó nữa. Hắn ta có lời giải thích nào không, Sassenach, hay tốt nhất là anh ghim hắn lên chỗ còn lại kia?” Không dời mắt khỏi Raymond, anh hất đầu về phía bức tường bên ngoài cửa hiệu, nơi có rất nhiều cóc và ếch khô được ghim vào thành một hàng dài treo lên.

“Không, không,” tôi vội nói khi Raymond lại khom người chui trở vào thánh địa của mình. “Ông ấy đã nói cho em biết mọi chuyện. Thực ra ông ấy đã giúp ích rất nhiều.”

Với đôi chút miễn cưỡng, Jamie cất con dao đi và tôi với tay xuống để kéo Raymond ra khỏi chỗ nấp. Ông ta hơi do dự trước sự có mặt của Jamie.

“Người đàn ông này là chồng của cô sao, madonna?” Ông ta hỏi, bằng giọng nói của người đang hy vọng câu trả lời sẽ là “không”.

“Đúng vậy, dĩ nhiên là thế,” tôi đáp. “Chồng tôi, James Fraser, Lãnh chúa Broch Tuarach,” tôi nói, vẫy tay về phía Jamie một cách hời hợt. Tôi lại vẫy tay về phía còn lại. “Ông chủ Raymond.”

“Vậy tôi hiểu rồi,” Jamie nói cộc lốc. Anh cúi chào và chìa một bàn tay về phía Raymond, người chỉ cao hơn eo lưng của Jamie có vài phân. Raymond thoáng chạm vào bàn tay chìa ra kia rồi rụt tay lại ngay, không thể kìm nén một thoáng hơi run rẩy. Tôi kinh ngạc nhìn ông ta chằm chằm.

Jamie chỉ hơi nhướng mày lên, rồi tựa người vào mép bàn phía sau. Anh khoanh tay trước ngực.

“Được rồi,” anh nói. “Chuyện đó là thế nào?”

Tôi bắt đầu giải thích, đôi chỗ Raymond bồi thêm một tiếng để khẳng định. Nhà bào chế thuốc bé nhỏ dường như bị cướp đi tất cả sự hóm hỉnh ranh mãnh thường thấy. Chỉ khi tôi đã giải thích xong về viên pha lê trắng - và sự cần thiết của nó - ông ta mới động đậy và dường như sống lại một lần nữa.

“Nó là sự thật, thưa ngài,” ông ta cam đoan với Jamie. “Tôi không biết liệu vợ ngài hay chính bản thân ngài có thể đang gặp nguy hiểm, hoặc có lẽ cả hai người cùng bị cũng nên. Tôi chưa nghe ngóng được điều gì cụ thể; chỉ có cái tên “Fraser” được nói ra ở nơi mà những cái tên hiếm khi được gọi lên để cầu phúc lành.”

Jamie liếc nhìn ông ta sắc lẻm. “Vậy ư? Và ông thường xuyên ở những nơi như thế; đúng không ông chủ Raymond? Có phải những người ông nói đến có mối liên hệ với ông không?”

Raymond cười, hơi uể oải. “Tôi nên miêu tả về họ như là những đối thủ kinh doanh thì đúng hơn, thưa ngài.”

Jamie càu nhàu. “Hừm. Phải, được rồi, và bất cứ kẻ nào cố thử làm điều gì đó để có nhiều hơn ân phước hắn đáng được nhận xem!” Anh chạm vào con dao ở thắt lưng và đứng thẳng người lên.

“Dù sao tôi cũng cảm ơn về lời cảnh báo, ông chủ Raymond.” Anh cúi chào nhà bào chế thuốc, nhưng không đưa tay ra cho ông ta nữa. “Về chuyện kia” - anh nhướng một bên lông mày về phía tôi - “nếu vợ tôi đã định tha thứ cho những hành vi của ông thì tôi không có gì để nói cả. Nhưng,” anh bổ sung, “tôi sẽ không khuyên ông nhảy về cái lỗ nhỏ của mình khi lần sau Nữ tử tước tới cửa hàng này. Được rồi, đi thôi nào Sassenach!”

Khi chúng tôi lọc cọc hướng về đường Tremoulins, Jamie yên lặng, nhìn đăm đăm ra cửa sổ xe hòm trong khi những ngón tay cứng đờ của bàn tay phải vỗ nhè nhẹ vào bắp đùi.

“Một nơi mà những cái tên hiếm khi được gọi ra để cầu phước lành,” anh lẩm bẩm trong khi xe ngựa rẽ vào phố Gamboge. “Anh tự hỏi nó có thể là gì?”

Tôi nhớ đến những biểu tượng huyền bí trên chiếc tủ nhiều ngăn của Raymond, và một cơn rùng mình thoáng qua khiến tôi sởn cả da gà. Tôi lại nhớ đến lời đàm tiếu của Marguerite về Bá tước St. Germain và lời cảnh báo của bà de Ramage. Tôi kể lại cho Jamie nghe, cả những gì Raymond đã nói nữa.

“Ông ta nhắc tới nó một cách qua loa,” tôi nói nốt, “nhưng đơn giản là ông ta biết rõ người nào không làm gì, hoặc người nào ông ta muốn giữ cho tránh xa chiếc tủ của ông ta, đúng không?”

Jamie gật đầu. “Phải. Anh có nghe được đôi chút - chỉ một chút thôi - về những chuyện như thế đang diễn ra trong triều. Lúc đó anh không để tâm vì nghĩ chỉ là chuyện ngớ ngẩn, nhưng giờ thì anh sẽ khám phá thêm về nó.” Anh bật cười, đột nhiên kéo tôi lại gần. “Anh sẽ để Murtagh theo dõi Bá tước St. Germain. Thế là ngài Bá tước sẽ được tặng cho một con quỷ thật để chơi cùng.”

[1] Tiếng Pháp: hiệp sĩ.

[2] Người định cư ở Philistia (vùng đất ở miền tây nam Palestine cổ đại) thế kỷ mười hai trước Công nguyên.

[3] Nguyên văn: Tympanic bullae.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.