Sau buổi trở về xui xẻo, các vấn đề nhanh chóng gia tăng. Lallybroch ngay lập tức hút lấy Jamie, như thể anh chưa bao giờ rời xa nó và tôi cũng thấy mình dễ dàng bị cuốn theo nhịp sống ở nông trại. Mùa thu đó thật thất thường, thường xuyên có mưa nhưng cũng có những ngày nắng đẹp, khiến máu trong người cất cao tiếng hát. Cuộc sống trong nhà trở nên hối hả, mọi người bận rộn thu hoạch mùa vụ và chuẩn bị cho mùa đông sắp tới.
Lallybroch là một nông trại hẻo lánh trên cao nguyên Scotland. Không có đường dẫn đến đây, nhưng thư từ vẫn được chuyển đến nhờ những người đưa thư, họ vượt qua vách đá cheo leo và nhiều con dốc phủ đầy cây thạch nam, một mối liên hệ với thế giới bên ngoài. Và thi thoảng, thế giới trong hồi ức tựa như một giấc mơ, dường như tôi chưa bao giờ khiêu vũ giữa những tấm gương lớn của lâu đài Versailles. Thế nhưng, khi đọc những lá thư hồi âm từ nước Pháp, tôi có thể thấy lại hai hàng cây dương dọc phố Tremoulins, hay nghe tiếng chuông nhà thờ vang vọng phía trên nhà thương Des Anges.
Louise đã sinh một cậu nhóc, mẹ tròn con vuông. Các bức thư của cô ấy dài dằng dặc, đầy rẫy những lời cảm thán và từ gạch chân, miêu tả qua loa về thiên thần Henri nhỏ bé. Cha của đứa bé, dù trên danh nghĩa hay là cha đẻ, đều không được đề cập đến.
Thư của Charles Stuart đến một tháng sau đó, không nhắc tới đứa trẻ. Nhưng theo Jamie, lời văn rời rạc hơn thường lệ, miêu tả mập mờ về các kế hoạch cùng những mục tiêu lớn lao.
Bức thư của Bá tước Mar được viết chỉn chu và thận trọng, nhưng rõ ràng ông ta không hài lòng về Charles. Vị Hoàng tử Xinh đẹp không cư xử đàng hoàng. Cậu ta thô lỗ và hống hách, đàn áp phần lớn những người trung thành phò trợ, phớt lờ những người có thể giúp đỡ mình, lăng mạ những người không nên xúc phạm, nói chuyện bừa bãi và - ẩn ý trong thư viết - uống rượu vô tội vạ. Dựa trên quan điểm của người đương thời về việc uống rượu, trong một bộ phận các quý ông, tôi nghĩ hành động của Charles hẳn phải thu hút sự chú ý nhiều lắm thì mới gây ra những lời bình luận thế này. Tuy nhiên, tôi cho rằng cậu ta sẽ không thể không biết đến sự ra đời của con trai mình.
Thi thoảng, Mẹ Hildegarde viết những bức thư ngắn, không trịnh trọng, khi bà tranh thủ được vài phút giữa lịch trình công việc dày đặc hằng ngày. Mỗi bức thư đều kết thúc bằng một lời giống nhau: “Bouton gửi lời hỏi thăm.”
Ông chủ Raymond không viết thư, nhưng tôi thường nhận được một bưu kiện, không chữ ký, không con dấu, đựng nhiều thứ kỳ lạ: các loại thảo mộc hiếm có; những viên pha lê nhỏ có các mặt được mài nhẵn; một bộ sưu tập các loại đá có kích cỡ bằng móng tay của Jamie, hình tròn và nhẵn mịn. Mỗi viên đá đều có một mặt được khắc những hình thù nhỏ xíu, vài viên khắc chữ cái kiểu bình thường hoặc viết ngược. Bưu kiện còn chứa cả những mẩu xương - ngón chân gấu còn nguyên móng vuốt to và cong; những đốt sống hoàn chỉnh của một con rắn nhỏ, được nối khớp, treo trên một sợi dây da, nhờ vậy toàn bộ đoạn xương uốn cong như thật; một loạt răng được treo trên sợi dây tròn, Jamie nói những chiếc răng nhọn là của hải cẩu, những chiếc răng đều, có phần chóp như lưỡi hái là của loài hươu và một vài cái giống răng hàm của người một cách kỳ lạ.
Thi thoảng, tôi cho vài hòn đá trơn nhẵn có khắc hình vào túi, thích thú cảm nhận chúng giữa những ngón tay. Tôi biết rõ chúng đã có từ lâu. Ít nhất từ thời La Mã, hoặc có thể lâu hơn. Theo hình ảnh các sinh vật được khắc trên đó, có thể người chạm khắc muốn dùng chúng để làm phép. Chúng có hình dạng giống như thảo dược - có thể chữa bệnh - hoặc một biểu tượng, một loại ký hiệu của pháp thuật bí truyền mà tôi không biết. Dù vậy, chúng có vẻ vô hại nên tôi đã giữ lại.
Trong khi thực hiện lịch trình công việc mỗi ngày, tôi thích nhất là được đi thật xa đến các ngôi nhà khác nhau trong điền trang. Tôi luôn mang theo một cái giỏ lớn đựng nhiều đồ trong mỗi chuyến thăm, từ đồ ăn cho trẻ em đến các loại thuốc men cần thiết và phổ biến nhất. Những thứ này được yêu cầu thường xuyên, bởi việc vệ sinh kém hoặc không làm vệ sinh sẽ gây ra những căn bệnh thông thường, và ở vùng bắc Fort William hay phía nam Inverness đều không có bác sĩ.
Tôi sẵn lòng chữa cho những bệnh nhân bị ốm vặt như chảy máu chân răng hay phát ban, biểu hiện đặc trưng của bệnh scorbut nhẹ. Những bệnh khác nằm ngoài khả năng chữa trị của tôi.
•••
Tôi đặt tay lên đầu Rabbie MacNab. Mái tóc xù ướt đẫm ở hai bên thái dương, nhưng miệng của cậu nhóc vẫn mở, uể oải, thả lỏng và nhịp đập ở cổ khá chậm.
“Thằng bé sẽ khỏe ngay thôi,” tôi nói. Mẹ của cậu cũng có thể nhận thấy những dấu hiệu ấy giống như tôi; Rabbie nằm dài trên giường, ngủ thiếp đi, hai má đỏ lựng bởi sức nóng từ lò sưởi không xa. Tuy vậy, cô ấy vẫn căng thẳng và đề phòng, lượn qua lượn lại quanh giường cho đến lúc tôi nói. Dường như cô ấy chỉ đợi tôi miễn xá cho những dấu hiệu mà chính mắt cô ấy cũng nhìn thấy và sẵn sàng tin tưởng ngay lập tức. Đôi vai co rúm đã thả lỏng dưới tấm khăn trùm đầu.
“Tạ ơn Đức Mẹ,” Mary MacNab lẩm bẩm, làm dấu thánh, “và cả bà nữa, phu nhân của tôi.”
“Tôi có làm gì đâu,” tôi phản đối. Câu này đúng theo nghĩa đen của nó; việc duy nhất tôi có thể làm cho Rabbie bé nhỏ là yêu cầu Mary để cậu một mình. Cần có một sức mạnh nhất định mới ngăn cản được Mary cho cậu nhóc ăn cám trộn máu gà trống, vẫy những cái lông cháy dưới mũi cậu hay đổ nước lạnh lên người cậu - không một phương pháp nào trong số đó có tác dụng với người bị co giật động kinh. Khi tôi tới nơi, mẹ của cậu bé liến thoắng bày tỏ sự hối tiếc vì bản thân bất tài không thể chữa trị cho cậu theo phương pháp hiệu quả nhất: uống nước suối trong đầu lâu của người tự tử.
“Thằng bé bị bệnh thế này làm tôi sợ,” Mary MacNab nói, nhìn chăm chú chỗ con nằm. “Gần đây nhất, tôi đã gọi Cha MacMurtry. Ông ấy cầu nguyện rất lâu và tưới nước thánh lên người thằng bé để xua đuổi quỷ dữ. Nhưng không có con nào chịu về nơi của nó.” Cô ấy siết hai bàn tay đang nắm chặt, dường như muốn chạm vào con trai, nhưng không thể bước tới.
“Đây không phải là quỷ dữ,” tôi nói. “Chỉ là một trận ốm và hơn nữa, nó không quá nặng.”
“Phải, thưa phu nhân, dù bà nói gì,” cô ấy lẩm bẩm, chưa sẵn sàng cãi lại tôi, nhưng rõ ràng không bị thuyết phục.
“Thằng bé sẽ khỏe lại.” Tôi thử dỗ dành người phụ nữ này lần nữa, dù không hy vọng sẽ thành công. “Cậu bé luôn tỉnh lại từ những lần ngất xỉu thế này, phải không?” Những cơn ngất này đã xuất hiện từ hai năm trước - tôi nghĩ có lẽ là hậu quả của chấn thương đầu do những trận đòn từ người cha quá cố của cậu bé - và xảy ra thường xuyên, nên chúng khiến mẹ cậu có một nỗi sợ hãi không thể phủ nhận mỗi khi chúng đến.
Cô ấy miễn cưỡng gật đầu, vẫn còn nhiều hoài nghi.
“Vâng… thỉnh thoảng, thằng bé sẽ đập đầu rất mạnh vào một thứ gì đó, hoặc quẫy đạp mỗi khi bị thế này.”
“Đúng vậy, điều đó rất nguy hiểm,” tôi kiên nhẫn nói. “Nếu thằng bé còn làm thế, hãy kéo nó tránh xa bất kỳ vật gì cứng rắn và để nó một mình. Tôi biết, nhìn thì có vẻ tồi tệ, nhưng thực ra nó sẽ ổn thôi. Cứ mặc cơn co giật diễn ra, khi mọi chuyện đã qua, hãy đặt cậu bé lên giường và để cậu bé ngủ.” Tôi biết lời mình nói chẳng có mấy giá trị với cô ấy, dù có thể nó đúng. Tuy nhiên, tôi cần giúp cô ấy yên tâm với những yêu cầu cụ thể.
Khi tôi quay người định ra về thì nghe thấy tiếng lạch cạch nho nhỏ trong túi váy và một ý nghĩ thú vị lóe lên trong đầu. Tôi thọc sâu vào túi, lấy ra hai hoặc ba viên đá yểm bùa trơn mượt do Raymond gửi tới. Tôi chọn một viên màu trắng sữa - có lẽ là canxedon - khắc hình một người đàn ông bé xíu quằn quại ở mặt bên. Tôi nghĩ, viên đá là dành cho dịp này.
“Hãy khâu nó vào túi thằng bé,” tôi nói, đặt viên đá vào tay người phụ nữ một cách khoa trương. “Nó sẽ bảo vệ thằng bé khỏi… khỏi quỷ dữ.” Tôi húng hắng giọng. “Cô không cần lo cho thằng bé, dù có bị lên cơn lần nữa thì nó sẽ thoát ra an toàn thôi.”
Sau đó, tôi bỏ đi. Ngay lập tức, tôi cảm thấy vô cùng ngu ngốc nhưng có phần hài lòng, bởi những lời cảm ơn có vẻ nhẹ nhõm của cô ấy. Tôi không biết mình đang trở thành một y sĩ giỏi hơn hay chỉ là tay lang băm tập sự. Tuy nhiên, nếu tôi không làm được gì cho Rabbie thì tôi có thể giúp mẹ của cậu nhóc - hay ít nhất, để cô ấy tự giúp chính mình. Việc chữa bệnh xuất phát từ việc làm lành vết thương, không phải từ bác sĩ. Đó là điều Raymond đã dạy tôi.
•••
Tiếp theo, tôi rời khỏi nhà, thực hiện các việc vặt trong ngày. Tôi được mời tới hai ngôi nhà nhỏ gần ranh giới phía tây của trang viên. Mọi chuyện đều diễn ra suôn sẻ ở nhà Kirby và nhà Weston Fraser, vì thế tôi xử lý công việc một cách nhanh chóng và quay về nhà. Trước khi đi bộ một quãng dài, tôi quyết định ngồi nghỉ dưới tán một cây sồi lớn trên đỉnh dốc. Mặt trời dần lặn về phía tây, nhưng chưa chạm đến ngọn của rặng thông đằng xa và cả thế giới bừng sáng bởi những màu sắc của một ngày cuối thu.
Những quả sồi rụng mát lạnh và trơn tuột bên dưới chỗ tôi ngồi, nhưng cành cây phía trên vẫn có rất nhiều lá vàng loăn xoăn. Tôi ngả người, tựa lên lớp vỏ cây trơn nhẵn sau lưng và nhắm mắt, để ánh sáng vàng chói lóa trên cánh đồng lúa mạch chín trở thành một màu đỏ sậm bên dưới mi mắt tôi.
Không gian sinh sống chật chội của các chủ trại nhỏ làm tôi choáng váng. Tôi tựa đầu vào thân cây, bắt đầu thở chậm và sâu để luồng không khí tươi mát lấp đầy hai lá phổi, bắt đầu cái việc mà tôi thường nghĩ đến như là “sự quay trở vào”.
Đây là một nỗ lực không được hoàn hảo của bản thân tôi để lặp lại cảm nhận về quá trình mà ông chủ Raymond đã chỉ dạy cho tôi tại nhà thương Des Anges; tập trung cái nhìn và cảm nhận ở mỗi bộ phận nhỏ, hình dung chính xác hình dáng và cảm nhận của từng cơ quan và hệ thống khác nhau trong cơ thể khi chúng đảm nhận các chức năng của mình.
Tôi ngồi yên, hai bàn tay thả lỏng trong lòng, lắng nghe nhịp trái tim. Ban đầu, nó đập dồn dập vì tôi đã ráng sức leo dốc, sau đó nó nhanh chóng đập chậm dần thành nhịp thảnh thơi. Cơn gió nhẹ mùa thu nâng những lọn tóc xoăn ở cổ tôi bay lên và làm mát đôi má đang đỏ bừng.
Tôi ngồi yên và nhắm mắt, lần theo đường đi của các mạch máu. Từ những ngăn bí mật với vách dày trong trái tim tôi, dòng máu chảy qua các động mạch phổi và chuyển thành máu đỏ khi các túi phổi thải ra khí ôxy. Sau đó, nó tràn lên động mạch chủ, rồi đổ xuống, tỏa đi qua các động mạch cảnh, động mạch thận, động mạch dưới xương đòn, tới những ống mao dẫn nhỏ nhất chảy bên dưới bề mặt da. Tôi lần theo đường đi của dòng máu đến khắp cơ thể trong khi hồi tưởng cảm giác của sự hoàn hảo, của sức khỏe, của bình an.
Tôi ngồi yên, thở thật chậm, cảm thấy uể oải và nặng nề như thể vừa tỉnh dậy sau hành động yêu đương. Làn da dường như mỏng đi, đôi môi hơi căng ra và áp lực của quần áo lên cơ thể giống cảm giác khi bàn tay của Jamie chạm nhẹ vào. Việc tôi gọi tên anh như một liều thuốc cứu chữa, không phải sự lựa chọn ngẫu nhiên. Dù là sức khỏe của cơ thể hay linh hồn thì tình yêu mà tôi dành cho anh cũng cần thiết như máu hay hơi thở. Tâm trí tôi vươn tới anh, lúc ngủ cũng như lúc thức và luôn kiếm tìm anh, những suy nghĩ về anh đem đến cảm giác thỏa mãn. Cơ thể tôi đỏ bừng và sáng rực, mỗi khi tràn đầy sinh lực, nó lại khao khát anh.
Cơn đau đầu đã biến mất. Tôi ngồi hít thở thêm một lúc. Sau đó, tôi đứng dậy và đi bộ xuống đồi, trở về nhà.
•••
Tôi chưa bao giờ có một gia đình thực sự. Tôi mồ côi từ khi lên năm và sống một cuộc đời lang bạt nghiên cứu học thuật với bác Lamb suốt mười ba năm tiếp theo. Trong các túp lều nơi những cánh đồng đầy bụi, trong hang núi trên đồi, trong những căn phòng được quét dọn và trang hoàng lộng lẫy của một kim tự tháp rỗng không. Quentin Lambert Beauchamp, M.S., Ph.D., vân vân… đã dựng hàng loạt trại tạm ở những nơi ông làm công việc khảo cổ, thứ giúp ông nổi tiếng trước khi vụ tai nạn xe hơi giết chết em trai ông và quẳng đứa cháu gái tới chỗ ông. Không phải là người quan tâm đến những chi tiết nhỏ như một đứa cháu gái mồ côi, bác Lamb lập tức đăng ký cho tôi vào học một trường nội trú.
Và vì cũng không phải là người chịu chấp nhận thói đỏng đảnh của số phận mà không từng đấu tranh, vậy nên tôi kiên quyết từ chối đến trường. Bác đã cân nhắc nhiều lần, rồi nhận ra điều gì đó ở tôi, cuối cùng bác nhún vai, đưa ra một quyết định gây sốc, đó là bác sẽ mang tôi theo mãi mãi, từ thế giới của nội quy và lề thói, từ những phép toán số học, chăn ga sạch sẽ và tắm rửa hằng ngày tới lối sống lang thang nay đây mai đó.
Cuộc sống dịch chuyển được tiếp tục cùng với Frank, nhưng là sự chuyển đổi từ cánh đồng đến các trường đại học, vì việc nghiên cứu của một nhà sử học thường được tiến hành trong phạm vi bốn bức tường. Vì vậy, khi chiến tranh năm 1939 ập tới, nó ít ảnh hưởng đến tôi hơn phần lớn những người khác.
Tôi chuyển từ căn phòng thuê của hai vợ chồng vào khu ký túc dành cho y tá bậc thấp của bệnh viện Pembroke và sau đó chuyển tới một căn cứ chiến tranh ở Pháp, rồi lại quay lại Pembroke trước khi chiến tranh kết thúc. Vài tháng tiếp theo trôi qua với Frank, sau đó chúng tôi tới Scotland để tìm lại nhau, để rồi đánh mất nhau mãi mãi khi tôi đi vào trong vòng tròn đá, vì hành động liều lĩnh ấy nên tôi bước sang một thế giới khác, bước vào quá khứ và giờ thì quá khứ đã trở thành hiện tại của tôi.
Ngày hôm đó, một điều kỳ lạ và tuyệt vời đã xảy ra. Tôi thức dậy trong phòng ngủ ở tầng trên của Lallybroch bên cạnh Jamie và khi đang quan sát ánh bình minh chiếu lên gương mặt anh, tôi chợt nhận ra anh đã chào đời trên chính chiếc giường này. Tất cả những âm thanh trong căn nhà, từ tiếng cầu thang kẽo kẹt dưới bước chân của những người hầu dậy sớm đến tiếng mưa lộp bộp trên mái ngói đen, anh đã nghe hàng ngàn lần trước kia, nghe thường xuyên đến độ anh không còn nghe thấy chúng nữa. Tôi thì có.
Mẹ của anh, mẹ Ellen, đã trồng một bụi hồng nở muộn bên ngoài cửa. Mùi hương thơm ngát men theo các bức tường và ùa vào qua ô cửa sổ phòng ngủ, tựa như bà đang vươn tới, nhẹ nhàng chạm vào anh khi đi ngang qua. Và chạm vào tôi để chào mừng.
Phần bên kia của Lallybroch là những cánh đồng, những kho thóc, làng mạc và trại nhỏ. Anh từng câu cá ở dòng suối chảy ra từ khu đồi, trèo lên những cây sồi và leo tới đỉnh những cây thông rụng lá, chúng thường được sử dụng để đốt lò ở các trang trại nhỏ. Nơi đây chính là mảnh đất của anh.
Tuy nhiên, anh cũng từng sống trong sự chia rẽ và đổi thay. Bị bắt giữ và trốn chạy khỏi vòng pháp luật, sống cuộc sống vất vưởng của một chiến binh đánh thuê. Bị bắt giữ lần nữa, bị cầm tù và tra tấn, lại trốn chạy và sống cuộc sống lưu vong mà cho tới gần đây mới kết thúc. Nhưng anh đã sống ở một nơi cố định trong mười bốn năm đầu đời. Thậm chí vào tuổi đó, anh đã bị gửi đi theo tục lệ và trở thành con nuôi của cậu mình, Dougal MacKenzie, trong hai năm. Cuộc sống nơi đây mong chờ người đàn ông này, người sẽ quay về sống trên mảnh đất của mình mãi mãi, để chăm sóc cho những người nông dân, cho điền trang của gia đình, trở thành một phần của cộng đồng lớn. An cư chính là định mệnh của anh.
Nhưng ngoài định mệnh đó còn có thêm khoảng thời gian vắng mặt, cùng kinh nghiệm về những điều bên ngoài biên giới của Lallybroch, thậm chí ở bên kia bờ biển gập ghềnh đá của xứ Scotland. Jamie đã nói chuyện với các vị vua, đã ra vào triều đình, đã buôn bán, chứng kiến những việc mạo hiểm, bạo lực và ma thuật. Tôi tự hỏi, một khi đã vượt qua ranh giới gia đình, liệu số phận có còn giữ nổi chân anh?
Trong lúc đi xuống từ đỉnh đồi, tôi trông thấy anh ở dưới, đang bê các tảng đá mòn để sửa chữa một vết nứt ở con đê bao quanh một trong những cánh đồng nhỏ. Một cặp thỏ nằm gần chỗ anh đứng, chúng đã được làm ruột sạch sẽ nhưng chưa lột da.
“Người thủy thủ trở về nhà từ biển cả, người thợ săn trở về nhà từ núi đồi.” Tôi trích dẫn, mỉm cười khi bước tới bên cạnh anh.
Anh cười tươi đáp lại, lau mồ hôi trên trán, sau đó giả bộ rùng mình.
“Đừng nhắc đến biển cả với anh, Sassenach. Sáng nay, anh trông thấy hai thằng nhóc chèo một mảnh gỗ trong hồ chứa nước ở xưởng xay, và chỉ nhìn thôi, anh đã cảm thấy bữa sáng dâng lên trong họng.”
Tôi bật cười. “Anh không muốn trở lại Pháp sao?”
“Chúa cả, không. Thậm chí vì rượu brandy cũng không.” Anh bê hòn đá cuối cùng đặt lên thành đê. “Em đang về nhà à?”
“Vâng. Anh có muốn em cầm hai con thỏ về không?”
Anh lắc đầu, cúi xuống nhặt chúng lên. “Không cần đâu. Anh sẽ tự mang về. Ian cần anh giúp một tay, làm hầm mới để chứa khoai tây.”
Kỳ thu hoạch của vụ khoai tây đầu tiên được trồng trên Lallybroch sẽ đến sau vài ngày nữa, và - theo lời khuyên rụt rè, không chuyên của tôi - một căn hầm nhỏ sẽ được đào để chứa sản phẩm. Cũng vì thế, mỗi lần nhìn thấy ruộng khoai tây, tôi lại có nhiều cảm xúc khác nhau. Một mặt, tôi cảm thấy niềm kiêu hãnh lớn lao trong những dây leo bò trên mặt đất. Mặt khác, tôi cảm thấy vô cùng hoảng sợ khi nghĩ đến thức ăn mùa đông của sáu mươi gia đình phụ thuộc vào sản phẩm bên dưới đám dây leo kia. Dựa theo lời khuyên hấp tấp của tôi cách đây một năm - một cánh đồng lúa mạch loại tốt đã được chuyển sang trồng khoai tây, một vụ thu hoạch chưa từng thấy ở cao nguyên.
Tôi biết, vào thời điểm thích hợp, khoai tây sẽ trở thành một phần quan trọng ở vùng cao nguyên, bởi chúng ít có nguy cơ bị tàn rụi và mất mùa hơn lúa mạch hay yến mạch. Tôi đã đọc điều đó trong một cuốn sách địa lý từ rất lâu trước đây, nhưng việc biết chuyện và việc chịu trách nhiệm cho cuộc sống của những con người sẽ ăn vụ mùa đó là khác xa nhau.
Tôi tự hỏi, liệu hành động nhận lấy hiểm nguy thay người khác có dễ dàng hơn không. Jamie thường làm điều đó, quản lý công việc của điền trang và những người nông dân, như thể anh sinh ra để dành cho nó. Nhưng đúng là anh được sinh ra để đảm nhận công việc này.
“Tầng hầm sắp hoàn thành chưa?” Tôi hỏi.
“Ồ, Sắp rồi. Ian đã xây cửa và đào hố gần xong. Chỉ phải đắp thêm ít đất mềm gần cuối hầm, mà cái chân giả của anh ấy bị mắc kẹt khi đứng ở đó.” Tuy Ian xoay xở rất giỏi với cái chân giả bằng gỗ thay thế cho phần chân dưới bên phải, nhưng vẫn có những dịp lúng túng thế này.
Jamie nhìn ngọn đồi phía sau chúng tôi với vẻ trầm ngâm. “Chúng ta cần làm xong hầm và khóa lại lúc trời tối. Trước bình minh, trời sẽ đổ mưa lần nữa.”
Tôi đưa mắt nhìn theo. Trên con dốc chẳng có gì ngoài cỏ, cây thạch nam, một vài cây lớn và những vỉa đá hoa cương nhô lên giữa đám cây bẩn thỉu.
“Làm thế quái nào mà anh biết được?”
Anh mỉm cười, hất cằm về phía đỉnh đồi. “Nhìn thấy cây sồi nhỏ kia không? Và cây tần bì gần đó nữa?”
Tôi liếc qua mấy cái cây và lúng túng. “Vâng. Có chuyện gì với chúng?”
“Lá của chúng, Sassenach ạ. Em có thấy cả hai cái cây đều sáng hơn bình thường không? Khi không khí ẩm ướt, lá cây sồi và tần bì sẽ lật lại, nên em sẽ thấy mặt dưới của chúng. Toàn bộ tán lá trông sẽ sáng hơn vài độ.”
“Có thể anh nói đúng,” tôi đồng tình, dù vẫn hồ nghi. “Nếu anh biết màu lá lúc bình thường của cây này.”
Jamie cười lớn, khoác lấy cánh tay tôi. “Có thể anh không có khiếu âm nhạc, Sassenach ạ, nhưng anh biết quan sát. Và anh đã thấy mấy cái cây này cả vạn lần ở trong mọi thời tiết.”
Cánh đồng cách nông trại khá xa. Chúng tôi lẳng lặng sánh bước bên nhau trên phần lớn quãng đường, vừa đi vừa tận hưởng ánh nắng ấm áp của buổi chiều trên lưng. Tôi ngửi mùi không khí và nghĩ rằng Jamie nói đúng, trời sẽ đổ mưa. Tất cả những mùi thường thấy của mùa thu đều trở nên đậm đặc, từ mùi nhựa thông hăng hắc đến mùi lúa chín. Tôi nghĩ mình phải tự học để trở nên hòa hợp với nhịp điệu, khung cảnh và mùi hương ở Lallybroch. Có lẽ một lúc nào đó, tôi sẽ nhận biết được như Jamie. Tôi khẽ siết cánh tay anh và cảm thấy bàn tay anh ấn lên tay tôi để đáp lại.
“Em nhớ nước Pháp không, Sassenach?” Anh bỗng cất lời.
“Không,” tôi giật mình hỏi. “Tại sao?”
Anh nhún vai, không nhìn tôi. “Chỉ là anh đang nghĩ, khi thấy em đi xuống đồi cùng cái giỏ trong tay, ánh mặt trời chiếu lên mái tóc nâu của em, trông em mới đáng yêu làm sao, như thể em là một trong những cái cây non mọc lên ở đó - giống như em là một phần của nơi này. Và rồi một suy nghĩ chợt xuất hiện trong đầu anh, có thể đối với em, Lallybroch chỉ là một nơi nhỏ bé, nghèo nàn, không xa hoa, to lớn như nước Pháp, thậm chí không có công việc thú vị như lúc em đến làm ở nhà thương.” Anh nhìn tôi e thẹn. “Anh sợ rằng đến một lúc nào đó, em sẽ cảm thấy nơi này nhàm chán.”
Tôi dừng lại một lúc trước khi trả lời, dù tôi đã từng nghĩ về điều này.
“Đến một lúc nào đó,” tôi nói một cách cẩn thận. “Jamie ạ - em đã từng chứng kiến rất nhiều điều trong cuộc đời mình và đã ở nhiều nơi. Ở nơi em ra đi - có nhiều thứ làm em nhung nhớ. Em muốn được đi xe bus một lần nữa, hay cầm điện thoại lên và nói chuyện với một người ở rất xa. Em muốn mở vòi nước ra là có nước nóng, không cần phải ra giếng múc và đun trong vạc. Em thích tất cả những điều đó - nhưng em không cần chúng. Còn về cuộc sống xa hoa, em không thích nó kể cả lúc em có nó. Có quần áo đẹp thì cũng tuyệt đấy, nhưng phải sống chung với những lời đồn đại, mưu đồ, nỗi lo lắng và những bữa tiệc xuẩn ngốc hay nghi thức xã giao vụn vặt thì… không. Em thà chỉ mặc váy lót mà được nói bất cứ điều gì em muốn.”
Anh bật cười và tôi lại siết tay anh lần nữa.
“Về chuyện công việc thì… ở đây em cũng có công việc mà.” Tôi nhìn xuống cái giỏ đựng thảo mộc và thuốc trong tay. “Em có thể làm việc có ích. Và nếu em nhớ Mẹ Hildegarde hay những người bạn khác - chà, tuy không nhanh như điện thoại nhưng lúc nào cũng có thể viết thư.”
Tôi ngừng lời, nắm lấy cánh tay anh và ngước nhìn. Mặt trời đang lặn dần, ánh nắng chiếu lên một bên khuôn mặt anh, làm nổi bật các mảng xương chắc khỏe.
“Jamie ơi… em chỉ muốn ở nơi nào có anh. Không cần gì khác.”
Anh đứng lặng người một lúc, sau đó cúi xuống, hôn lên trán tôi rất dịu dàng.
•••
“Thật thú vị,” tôi nói. Chúng tôi đã leo đến đỉnh quả đồi cuối cùng dẫn xuống nhà. “Em đã tự hỏi những điều tương tự về anh. Liệu anh có hạnh phúc ở đây, sau những việc anh đã làm ở Pháp?”
Anh mỉm cười phiền muộn và ngắm nhìn ngôi nhà ba tầng, làm bằng đá vôi trắng đang chói lọi sắc hoàng kim và hổ phách trong buổi hoàng hôn.
“Chà, đến nhà rồi, Sassenach. Đó là nơi thuộc về anh.”
Tôi dịu dàng chạm vào cánh tay anh. “Và anh được sinh ra để cai quản nó, ý anh là thế à?”
Anh hít vào một hơi thở sâu và với tay ra đặt lên hàng rào bằng gỗ phân cách cánh đồng thấp hơn này với khoảng đất gần ngôi nhà.
“Chà, thực ra anh không được sinh ra để cai quản nơi này, Sassenach ạ! Đáng lẽ Willie mới là địa chủ ở đây. Nếu anh ấy còn sống, chắc anh sẽ trở thành một người lính - hoặc có thể là một thương gia như bác Jared.”
Anh trai của Jamie, Willie, đã chết vì bệnh đậu mùa khi lên mười một tuổi, để lại người em nhỏ, lên sáu tuổi, trở thành người thừa kế Lallybroch.
Anh làm một điệu bộ kỳ quặc, nửa nhún vai nửa không, để chỉnh lại chỗ áo sơ mi trên vai. Anh thường làm thế mỗi khi cảm thấy lúng túng và bất an. Tôi đã không thấy anh hành động như vậy trong nhiều tháng trời.
“Nhưng Willie đã chết. Và anh là địa chủ.” Anh liếc tôi, hơi e thẹn, sau đó cho tay vào túi và lôi ra thứ gì đó. Một con rắn bằng gỗ anh đào, do Willie khắc tặng anh như một món quà sinh nhật, đầu của nó quay lại, có vẻ ngạc nhiên khi thấy cái đuôi theo sau.
Jamie chạm nhẹ vào con rắn bằng gỗ sáng màu và dày dặn, những đường cong trên thân nó sáng long lanh như lớp vảy dưới ánh trời chiều chạng vạng.
“Thi thoảng, anh trò chuyện với Willie trong đầu,” Jamie nói. Anh nghiêng con rắn trên lòng bàn tay. “Nếu anh còn sống, anh trai, nếu anh là địa chủ, anh sẽ làm như em đang làm chứ? Hay anh sẽ tìm được cách tốt hơn?” Anh liếc tôi, mặt ửng hồng. “Nghe có ngớ ngẩn không?”
“Không.” Tôi chạm vào cái đầu trơn nhẵn của con rắn bằng một ngón tay. Tiếng hót lảnh lót của một con sáo vọng tới từ cánh đồng đằng xa, trong trẻo như viên pha lê giữa trời đêm.
“Em cũng làm vậy,” một lúc sau, tôi nói khẽ. “Với bác Lamb. Và cha mẹ em. Đặc biệt là mẹ. Hồi còn nhỏ, em… em không nghĩ về bà nhiều, chỉ thi thoảng mơ về một người dịu dàng và ấm áp, với giọng hát đáng yêu. Nhưng khi em bị ốm, sau… chuyện của Faith - đôi lúc em hình dung rằng bà ở đó. Với em.” Nỗi buồn lại ập đến và những ký ức về mất mát quay lại.
Jamie chạm vào gương mặt tôi thật dịu dàng, lau giọt lệ đang đọng nơi khóe mắt nhưng không chảy xuống.
“Thi thoảng, khi anh làm vậy, anh cảm thấy cái chết an ủi chúng ta,” anh nói nhỏ. “Đi thôi, Sassenach. Hãy dạo bộ một chút, vẫn còn thời gian trước giờ ăn tối.”
Anh quàng tay tôi, ép chặt bên người, và chúng tôi bước chầm chậm men theo bờ rào, bãi cỏ khô cọ vào chân váy của tôi.
“Anh hiểu điều em nói, Sassenach,” Jamie lên tiếng. “Đôi khi anh nghe thấy giọng cha, trong kho thóc hay trên cánh đồng, ngay cả khi anh không nghĩ về ông. Những lúc như thế anh sẽ quay đầu lại ngay lập tức, như thể nghe thấy tiếng ông cười với một người nông dân ở đằng sau, trong khi anh đang vuốt ve một con ngựa.”
Anh bỗng bật cười, hất đầu về phía góc bãi cỏ trước mặt chúng tôi.
“Thật kỳ lạ, anh chưa bao giờ nghe thấy tiếng ông ở đây.”
Đó là một chỗ hoàn toàn bình thường, một cánh cổng gỗ gắn trên hàng rào đá chạy song song, với con đường.
“Thật sao? Ông từng nói gì ở đây?”
“Thường là: “Nếu con định nói chuyện. Jamie, hãy quay người lại và cúi xuống.””
Chúng tôi bật cười và dừng lại, ngắm nghía dãy hàng rào. Tôi cúi gập người sát bề mặt gỗ.
“Vậy đây là nơi anh bị đánh sao? Em không thấy dấu răng nào,” tôi nói.
“Không, không đến mức đó,” anh vẫn cười và đưa tay vuốt ve hàng rào.
“Thỉnh thoảng, Ian và anh bị dằm gỗ đâm vào tay. Bọn anh sẽ về nhà để nhờ bà Crook hoặc Jenny gắp hộ chúng ra - lúc nào họ cũng mắng bọn anh.”
Anh liếc về hướng tòa nhà chính, tất cả các cửa sổ dưới tầng một đều tỏa ánh sáng lung linh, tương phản với trời đêm bên ngoài. Những dáng hình đen thẫm di chuyển nhanh qua các ô cửa sổ; những cái bóng nhỏ, nhanh nhẹn trong cửa sổ bếp là nơi bà Crook và những người hầu đang chuẩn bị bữa tối. Một dáng người cao và mảnh khảnh như thanh hàng rào bỗng hiện ra trong một ô cửa sổ ở phòng khách nhỏ. Ian đứng đó một lúc, bị sấp bóng dưới ánh sáng, giống như được gọi ra bởi hồi ức của Jamie. Sau đó, anh kéo rèm và ô cửa sổ mờ đi, chỉ còn ánh sáng dìu dịu do bị che khuất.
“Anh luôn cảm thấy vui sướng khi có Ian ở bên,” Jamie nói, vẫn quan sát ngôi nhà. “Ý của anh là khi bọn anh bị bắt vì những trò nghịch ngợm và bị đánh đòn.”
“Cặp đôi cùng cảnh ngộ ư?” Tôi mỉm cười.
“Gần như vậy. Anh không cảm thấy mình hư đốn, khi cả hai cùng phạm tội. Nhưng anh thường cảm thấy xấu hổ khi phải phụ thuộc vào Ian để gây ra nhiều tiếng ồn hơn.”
“Chuyện gì vậy, la hét ư?”
“Phải. Anh ấy luôn rú lên và tạo ra những âm thanh đáng sợ, còn anh biết anh ấy sẽ làm vậy nên anh không cảm thấy quá xấu hổ bởi tiếng ồn của mình, nếu anh có khóc lóc.” Trời đã quá tối nên tôi không thể nhìn thấy gương mặt anh, nhưng tôi có thể thấy động tác nhún vai mỗi khi xấu hổ hoặc cảm thấy khó chịu của anh.
“Anh luôn cố gắng không khóc, tất nhiên rồi, nhưng anh không thể kìm được. Cha anh nghĩ việc khóc lóc xứng đáng bị đánh đòn và ông luôn nói, nước mắt chỉ dành cho những lúc đặc biệt. Và cha của Ian có cánh tay phải cứng như một thân cây.”
“Anh biết đấy,” tôi nói, liếc nhìn ngôi nhà, “em chưa bao giờ nghĩ về chuyện này, nhưng tại sao cha lại đánh anh ở ngoài trời, Jamie? Chắc chắn trong nhà - hoặc nhà kho - có đủ chỗ để làm việc đó.”
Jamie im lặng một lúc, sau đó lại nhún vai.
“Anh không hỏi. Nhưng anh đoán, cha hành động giống vua nước Pháp.”
“Vua nước Pháp?” Một câu kết luận không có cơ sở làm tôi lùi lại một chút.
“Đúng. Anh không biết nữa,” anh đáp cộc lốc, “gần giống việc tắm, mặc đồ và đại tiện ở nơi công cộng, nhưng anh có thể nói em nghe, việc đứng ở đây và giải thích với một trong số các nông dân của cha em rằng em đã làm gì để mông bị quất như thế này là một trong những việc gây mất thể diện nhất.”
“Em có thể tưởng tượng ra,” tôi nói, sự đồng cảm trộn lẫn với cảm giác buồn cười. “Bởi vì anh sẽ là địa chủ, phải không? Đó là lý do cha anh đánh anh ở đây?”
“Anh đoán vậy. Các nông dân sẽ biết anh hiểu đạo lý - ít nhất là từ cái kết cục nhận được.”