Không có nơi nào tối tăm hơn một con đường của vùng cao nguyên Scotland giữa một đêm không trăng. Tôi thỉnh thoảng trông thấy ánh đèn pha của một chiếc xe đi ngang qua lóe lên, rọi sáng hình dáng in nghiêng của mái đầu và hai vai Roger. Chúng chúi về phía trước, như để phòng vệ trước nguy hiểm đang tới gần. Bree cũng ngồi khom người, cuộn tròn vào một góc ghế bên cạnh tôi. Cả ba chúng tôi độc lập, cách ly khỏi nhau, niêm kín trong những chiếc túi cá nhân nhỏ bé của sự im lặng, bên trong một sự im lặng lớn hơn của chiếc xe và cuộc chiến sắp tới.
Hai nắm tay tôi cuộn lại trong túi áo khoác, biếng nhác vốc lên những đồng xu và những mảnh vụn nhỏ: khăn giấy bị xé vụn, một mẩu bút chì, một quả bóng cao su nhỏ xíu bị một bệnh nhân nhí bỏ lại trên sàn phòng làm việc của tôi. Ngón cái xoay tròn và nhận dạng những mép sắc cạnh của một đồng hai mươi lăm cent Mỹ, mặt chạm nổi của một đồng xu Anh, và những mép răng cưa của một chiếc chìa khóa - chìa khóa vào phòng làm việc cá nhân của Gillian Edgars mà tôi đã quên trả lại cho học viện.
Tôi đã cố thử gọi điện lần nữa cho Greg Edgars ngay trước khi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà cũ của mục sư. Điện thoại đổ chuông nhưng không có ai trả lời.
Tôi nhìn chằm chằm vào tấm kính cửa sổ tối đen bên cạnh mình, không trông thấy cả hình ảnh phản chiếu mờ nhạt của bản thân lẫn những hình khối to lớn của các bức tường đá và cây cối rải rác lao qua trong đêm. Thay vào đó, tôi lại thấy hàng sách xếp trên cái giá duy nhất trong căn phòng làm việc cá nhân kia, gọn gàng như chai lọ của người bào chế thuốc. Và bên dưới là cuốn sổ đầy những chữ viết tay xinh đẹp, sắp đặt theo một trật tự nghiêm khắc các tóm tắt và ảo tưởng, trộn lẫn thần thoại và khoa học, rút ra kết luận từ những con người có học thức và truyền thuyết, tất cả đều dựa trên sức mạnh của những giấc mơ. Với bất cứ người quan sát tình cờ nào, cuốn sổ đó có thể là một mớ lộn xộn những suy nghĩ vớ vẩn nửa vời hoặc cùng lắm cũng là bản phác thảo cho một cuốn tiểu thuyết vừa thông minh vừa ngớ ngẩn. Chỉ riêng đối với tôi, nó là cái nhìn tổng thể của một kế hoạch tinh tế, cẩn thận.
Bắt chước phương pháp khoa học, phần đầu của cuốn sổ nghiêng về “các quan sát được”. Nó bao gồm những tài liệu tham khảo chẳng ăn nhập gì với nhau, những bức họa bé tí xíu, những bảng biểu được đánh số cẩn thận. “Vị trí của mặt trời và mặt trăng trong dịp lễ Beltane” là một trong số đó, cùng với danh sách hơn hai trăm cặp số được sắp đặt phía dưới. Những bảng biểu tương tự có mặt trong dịp Hogmanay[1] và ngày Hạ chí, và những cái khác có mặt trong ngày Samhainn[2], lễ hội của tất cả các vị thánh. Những ngày lễ cổ xưa của lửa và mặt trời, và mặt trời Beltane sẽ mọc vào ngày mai.
Phần giữa của cuốn sổ ghi chép nghiêng về “các suy đoán”, ít nhất cái đó cũng chính xác, tôi mỉa mai nghĩ. Một trang có ghi chép gọn gàng, chữ viết tay nghiêng nghiêng: “Các tín đồ Druid đã thiêu những nạn nhân hiến tế trong những chiếc lồng làm bằng liễu gai hình người, nhưng các cá nhân lại bị giết bằng cách siết cổ, cắt cổ cho chảy cạn sạch máu. Liệu máu hay lửa là yếu tố cần thiết ở đây?” Sự tò mò máu lạnh của câu hỏi này gợi lên khuôn mặt Geillis Duncan một cách rõ ràng trước mắt tôi - không phải cô sinh viên có mái tóc thẳng, đôi mắt to trong bức ảnh ở học viện, mà là vợ ông biện lý có nụ cười nửa miệng bí hiểm, già hơn mười tuổi, thông thạo việc sử dụng các loại thuốc kích thích và cơ thể để quyến rũ đàn ông cho những mục đích của cô ta, đã bị giết chết mà chưa đi đến cái đích cuối cùng.
Và mấy trang cuối cùng của cuốn sổ, được dán nhãn gọn gàng “Các kết luận”, chính là điều đã dẫn chúng tôi tới hành trình tối tăm này, vào đêm trước lễ hội Beltane. Tôi cuộn các ngón tay lại quanh chiếc chìa khóa, ước ao bằng cả trái tim rằng giá như Greg Edgars trả lời điện thoại.
•••
Roger lái chậm lại, rẽ lên con đường đất gập ghềnh, lầy lội đi ngang qua chân ngọn đồi có tên Craigh na Dun.
“Cháu chẳng nhìn thấy gì cả,” anh nói. Anh đã không nói chuyện trong một khoảng thời gian dài đến nỗi lời tuyên bố này thốt ra khàn khàn, nghe có vẻ thù địch.
“À, dĩ nhiên là không rồi,” Brianna sốt ruột nói. “Anh không thể trông thấy vòng tròn đá đó từ đây.”
Roger cằn nhằn đáp lại, và giảm tốc độ cho xe đi chậm hơn nữa. Rõ ràng thần kinh của Brianna đang căng thắng, nhưng chính anh cũng như vậy. Chỉ có Claire là có vẻ bình tĩnh, không bị ảnh hưởng bởi bầu không khí càng lúc càng căng thẳng trong xe.
“Cô ta ở đây,” Claire đột nhiên nói. Roger đột ngột đạp mạnh phanh khiến cho cả Claire và con gái bà đều chúi về phía trước, va mạnh vào lưng ghế trước mặt.
“Cẩn thận chứ, đồ ngốc!” Brianna giận dữ nạt nộ Roger. Cô thọc một bàn tay vào tóc, gạt nó ra khỏi mặt mình bằng một động tác thật nhanh và nóng nảy. Cô nuốt khan, cúi người nhìn qua ô kính đen sì.
“Ở đâu thế?” Cô hỏi.
Claire hất đầu về phía bên phải, hai bàn tay vẫn thọc sâu trong túi.
“Có một chỗ đỗ xe, ngay đằng sau bụi cây đó.”
Roger liếm môi và cầm vào tay nắm cửa.
“Đó là xe của Edgars. Cháu sẽ đi ra xem; hai người ở yên đây nhé!”
Brianna mở cánh cửa bên phía mình khiến tiếng kim loại rít lên từ cái bản lề không được tra dầu. Cái nhìn khinh bỉ lặng lẽ của cô khiến Roger đỏ bừng mặt trong ánh sáng lờ mờ của vòm trời phía trên đầu.
Cô đã ở phía sau Roger trước khi anh kịp bước hẳn ra khỏi xe.
“Không ai ở đó cả,” cô báo cáo. Cô liếc nhìn lên đỉnh đồi. “Anh có nghĩ…”
Claire cài nốt khuy áo khoác, bước vào màn đêm mà không trả lời câu hỏi của con gái mình.
“Con đường mòn ở lối này,” bà nói.
Bà dẫn đường, tất yếu là thế còn Roger, quan sát hình dáng nhợt nhạt lơ lửng như bóng ma phía trên đỉnh đồi trước mặt, bỗng dưng nhớ đến chuyến đi trước đó lên một ngọn đồi dốc đứng, tới nghĩa địa nhà thờ St. Kilda. Brianna cũng vậy; cô ngập ngừng và anh nghe thấy tiếng cô cằn nhằn giận dữ điều gì đó, nhưng rồi bàn tay cô với lên nắm lấy khuỷu tay anh và siết thật chặt - là để tăng thêm dũng khí hay cầu xin một sự hỗ trợ, anh không biết được. Dù sao thì điều đó cũng cổ vũ anh, và anh vỗ nhẹ lên bàn tay ấy rồi kéo tay cô để nó khoác lên cánh tay mình. Bất chấp những nghi ngờ mơ hồ của anh và những sự kỳ quái không thể phủ nhận của toàn bộ chuyến thám hiểm này, anh cảm thấy một sự kích động khi họ đến gần đỉnh đồi.
Đêm nay là một đêm trời trong, không trăng và rất tối, chẳng có gì ngoài những tia lấp lánh nhỏ xíu của những đốm sáng như mi ca dưới ánh sao soi xuống để phân biệt được các tảng đá to lù lù của vòng tròn đá cổ xưa với bóng tối xung quanh chúng. Bộ ba dừng lại trên đỉnh đồi hơi tròn, túm tụm lại cùng nhau như một đàn cừu lạc lối. Roger nghe tiếng thở của mình to và rõ một cách bất thường.
“Đây,” Brianna rít qua kẽ răng, “là một sự ngu ngốc!”
“Không đâu,” Roger nói. Anh đột nhiên cảm thấy nghẹt thở, như thể có một dải băng co khít lại, siết chặt không khí trong lồng ngực anh. “Có ánh sáng ở đằng kia.”
Nó vừa vặn lóe lên ở phía kia - không hơn gì một ánh sáng lập lòe rồi biến mất ngay lập tức - nhưng cô đã nhìn thấy. Anh nghe được tiếng hít vào sắc bén của cô.
Bây giờ phải làm gì? Roger thắc mắc. Họ có nên hét gọi không? Hay tiếng ồn của các vị khách đến thăm sẽ làm kẻ bị săn tìm sợ hãi và hành động nông nổi? Nếu vậy, hành động đó có thể là gì?
Anh nhìn thấy Claire đột nhiên lắc đầu, như thể cố gắng đuổi đi một con côn trùng đang vo ve. Bà lùi lại một bước, tránh xa tảng đá gần nhất và vấp vào anh.
Anh nắm lấy cánh tay bà, thì thầm: “Bình tĩnh, không nên vội,” như đang dỗ dành một con ngựa. Gương mặt bà lờ mờ dưới ánh sao, nhưng anh có thể cảm thấy sự run rẩy chạy xuyên khắp người bà, giống như một dòng điện chạy qua dây dẫn. Anh đứng đông cứng lại, vẫn nắm cánh tay bà, đờ người ra, không quyết định được.
Mùi xăng nồng nặc đột ngột bốc lên khiến anh giật mình cử động. Anh ngờ ngợ nhận thức được Brianna lao tới trước khi ngửi thấy thứ mùi này, hướng về đầu phía bắc của vòng tròn đá, và rồi anh thả tay Claire ra, sải bước xuyên qua những bụi rậm và các tảng đá xung quanh họ, đi vào trung tâm của vòng tròn nơi một hình người màu đen ngồi thu lu như một chấm mực giữa cái nền tối nhạt màu hơn của thảm cỏ.
Giọng Claire vang lên phía sau anh, mạnh mẽ và thúc giục, xé toang sự im lặng.
“Gillian!” Bà gọi.
Một tiếng gió rít khe khẽ đột ngột nổi lên, và rồi màn đêm sáng bừng lên rạng rỡ. Ánh sáng chói khiến Roger phải lùi ra sau một bước, vấp chân và ngã quỵ xuống.
Trong thoáng chốc, không có gì khác ngoài sự chói mắt vì ánh sáng chiếu vào võng mạc, ánh sáng rực rỡ ấy giấu đi mọi sự vật khác phía sau nó. Anh nghe thấy một tiếng kêu bên cạnh mình, và cảm thấy bàn tay Briarma trên vai anh. Anh chớp mắt thật mạnh, nước mắt chảy ra và thị lực bắt đầu quay trở lại.
Một bóng dáng mảnh mai đứng giữa họ và đống lửa, hình ảnh ngược sáng ấy trông giống như một cái đồng hồ cát. Khi thị lực nhìn rõ hơn, anh nhận ra cô ta đang mặc một chiếc váy dài tới chân và áo chẽn - trang phục của thời đại khác. Cô ta quay lại khi nghe thấy tiếng gọi và anh thoáng nhìn thấy đôi mắt mở to cùng mái tóc tung bay vì gió nóng thổi đến từ đống lửa.
Anh tận dụng thời gian, chật vật đứng dậy, thắc mắc làm thế nào mà cô ta lôi được một khúc gỗ kích thước lớn thế kia lên đây, và rồi anh nhớ ra. Tối nay, Greg Edgars không ở nhà. Không biết máu hay lửa là yếu tố cần thiết, cô ta đã chọn cả hai.
Anh đẩy Brianna sang bên, chỉ tập trung vào cô gái mảnh mai cao lớn trước mặt, và một khuôn mặt như phản chiếu lại chính hình ảnh của anh. Cô ta nhìn anh đi đến, xoay người và chạy như một làn gió về tảng đá có khe nứt ở cuối vòng tròn đá. Cô ta có một cái ba lô bằng vải bạt thô lủng lẳng trên vai; anh nghe tiếng cô ta cằn nhằn khi nó đu đưa nặng nề đập vào sườn cô ta.
Cô ta dừng lại một chốc, duỗi tay với lên tảng đá và nhìn lại phía sau. Anh có thể thề rằng ánh mắt cô ta chiếu vào anh, đón lấy ánh mắt anh và giữ chặt lấy chúng từ phía bên kia hàng rào lửa sáng rực. Anh mở miệng nhưng không hét ra lời được. Rồi cô ta quay ngoắt đi, ánh sáng như trên sàn nhảy lóe lên, và cô ta biến mất vào khe nứt của tảng đá.
Lửa, người, bản thân đêm tối, vụt biến mất trong một âm thanh chói tai. Roger thấy mình đang nằm sấp trên cỏ, siết chặt lấy mặt đất, điên cuồng tìm kiếm một cảm giác quen thuộc để làm chỗ dựa cho sự tỉnh táo của mình. Cuộc tìm kiếm không mang lại hiệu quả; không có giác quan nào của anh đang thực hiện chức năng của nó - ngay cả sự đụng chạm vào mặt đất cũng không thực, vô định như thể anh đang nằm trên cát lún chứ không phải là đá hoa cương.
Bị lóa mắt, bị điếc vì tiếng rít gào của tảng đá nứt, anh mò mẫm, quẫy đập điên cuồng tới những điểm xa nhất anh có thể chạm vào, chỉ nhận thấy được một sức kéo mạnh mẽ và sự cần thiết phải kháng cự lại nó.
Không có cảm giác về thời gian trôi qua; cứ như thể anh đang vùng vẫy trong sự trống rỗng vô tận. Cuối cùng, khi anh bắt đầu nhận thấy có thứ gì đó ở bên ngoài thì có những bàn tay tóm lấy hai cánh tay anh với một sức mạnh tuyệt vọng, sự mềm mại của bầu ngực áp vào mặt anh.
Thính giác bắt đầu dần dần trở lại, cùng với nó là tiếng gọi tên anh. Thực ra là gọi anh bằng nhiều cái tên, xen giữa tiếng thở hổn hển.
“Anh, đồ ngốc! Anh… đồ ngớ ngẩn! Tỉnh dậy, Roger, anh… đồ chết tiệt!” Giọng cô nghẹn ngào, nhưng cảm xúc đến với anh rất rõ ràng. Bằng một nỗ lực phi thường, anh với tay lên và nắm được hai cổ tay cô. Anh lăn người, cảm giác nặng nề như mở đầu của một trận lở tuyết, rồi thấy mình đang chớp chớp mắt một cách ngốc nghếch, nhìn vào gương mặt đầm đìa nước mắt của Brianna Randall, đôi mắt sẫm lại như những cái hốc trong ánh sáng của đống lửa đang tắt dần.
Mùi xăng và mùi thịt cháy vẫn còn tràn ngập. Anh quay sang bên và nặng nề nôn thốc nôn tháo trên đám cỏ ẩm ướt. Anh quá choáng váng ngay cả khi được an ủi vì khứu giác đã quay trở lại.
Anh chùi miệng bằng cổ tay áo và run rẩy lần mò cánh tay Brianna. Cô cũng đang co người lại, run lẩy bẩy.
“Ôi, Chúa ơi,” cô thốt ra. “Ôi, Chúa ơi! Em không nghĩ mình có thể ngăn anh lại. Anh đang bò thẳng về phía nó. Ôi, Chúa ơi!”
Cô không phản kháng khi anh kéo cô vào lòng, nhưng cũng không đáp lại anh. Cô chỉ tiếp tục run rẩy, nước mắt chảy tràn ra từ đôi mắt to thất thần, lặp đi lặp lại: “Ôi, Chúa ơi,” ngắt quãng như một đoạn ghi âm đĩa bị lỗi.
“Suỵt,” anh nói, vỗ nhẹ vào người cô. “Sẽ ổn cả thôi! Suỵt!” Cảm giác quay cuồng trong đầu anh giảm dần, mặc dù anh vẫn thấy mình như bị tách ra thành nhiều mảnh nhỏ và bị quay mạnh trong vòng xoay tròn của chiếc com-pa.
Có tiếng nổ lốp bốp yếu ớt từ vật thể màu đen nằm trên mặt đất, nhưng sau những tiếng nức nở máy móc của Brianna, sự tĩnh lặng của màn đêm quay trở lại. Anh đưa hai tay lên bịt tai, như thể âm thanh giết chóc kia vẫn còn vang vọng.
“Em cũng nghe thấy nó, đúng không?” Anh hỏi. Brianna tiếp tục khóc, nhưng vẫn gật đầu, ngẩn ngơ như một con rối.
“Em có…” Anh mở lời, vẫn còn vất vả chắp nối các ý nghĩ, sau đó bật ngồi dậy như một người bỗng chốc biến hình hoàn thiện.
“Mẹ em!” Anh thốt lên, mạnh mẽ tóm lấy hai cánh tay Brianna. “Claire! Bà ấy đâu rồi?”
Miệng Brianna há hốc vì sốc, cô lồm cồm bò dậy, điên cuồng quét mắt nhìn quanh phạm vi vòng tròn đá vắng vẻ, nơi những hòn đá cao bằng thân người hiện ra lờ mờ trong bóng của đống lửa đang tắt dần.
“Mẹ!” Cô gào lên. “Mẹ, mẹ ở đâu?”
•••
“Ổn cả thôi,” Roger nói, cố gắng để giọng nói nghe có tác dụng trấn an. “Bà ấy sẽ ổn cả thôi.”
Thực ra, anh cũng không biết liệu Claire Randall có ổn không nữa. Ít nhất bà còn sống, và đó là tất cả những gì anh có thể bảo đảm.
Họ đã tìm thấy bà nằm trên đám cỏ gần rìa vòng tròn đá, mất hết tri giác, trắng nhợt như mặt trăng đang lên trên cao, không có gì ngoài dòng máu đang rỉ ra trên hai lòng bàn tay sây sát minh chứng rằng trái tim của bà vẫn đập. Trong hành trình như địa ngục đi xuống con đường mòn để trở về chỗ chiếc xe, với trọng lượng cơ thể chết lặng của bà vắt qua vai, anh vụng về, loạng choạng khi những hòn đá lăn dưới chân và những cành cây nhỏ vướng móc vào quần áo, anh không muốn nhớ gì về nó nữa.
Chuyến đi xuống ngọn đồi bị nguyền rủa đã làm anh kiệt sức; còn Brianna, nét mặt cô đanh lại vẻ tập trung trong khi lái xe đưa họ trở về nhà, hai bàn tay siết chặt vô lăng như hai cái mỏ cặp. Ê ẩm ngồi trên ghế phụ bên cạnh cô, Roger nhìn qua kính chiếu hậu vào hình ảnh mờ nhạt cuối cùng của đỉnh đồi đằng sau họ, nơi một đám mây nhỏ lơ lửng trôi giống như một cụm khói súng đại bác, bằng chứng câm lặng của trận chiến trong quá khứ.
Lúc này, Brianna đang lởn vởn quanh chiếc xô pha nơi mẹ cô nằm bất động y như một bức tượng tùy táng trên chiếc quan tài bằng đá. Roger rùng mình, tránh cái lò sưởi nơi ngọn lửa âm ỉ đang ngủ yên, thay vào đó mở chiếc lò sưởi điện mà mục sư dùng để sưởi ấm chân vào những đêm mùa đông. Những thanh ngang của nó nóng bỏng và sáng rực màu cam, phát ra tiếng u u ồn ào và thân thiện, bao trùm sự im lặng trong phòng làm việc.
Roger ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp bên cạnh xô pha, cảm thấy mệt rũ và không có sức sống. Với chút quyết tâm còn lại sau cùng, anh tiến về phía bàn để điện thoại, bàn tay lơ lửng trên nó vài phân.
“Chúng ta có nên…” Anh phải dừng lại để hắng giọng. “Chúng ta có nên… gọi bác sĩ? Hay cảnh sát?”
“Không.” Giọng Brianna thẫn thờ, gần như lơ đãng, cô cúi xuống thân hình nằm im lìm trên xô pha. “Bà đang đi đâu loanh quanh thôi.”
Hai mí mắt máy động, thoáng khép chặt khi ký ức đau đớn kia quay trở lại, rồi thả lỏng và mở ra. Đôi mắt bà trong trẻo, dịu dàng như mật ong. Chúng lờ đờ nhìn quanh, lướt qua Brianna, nhìn lên thân hình cao lớn, cứng ngắc của Roger bên cạnh và dán chặt vào mặt anh.
Đôi môi Claire tái nhợt như phần còn lại của khuôn mặt; cố gắng mấp máy thốt ra lời bằng giọng thì thào khàn đặc.
“Cô ta đã… đi về quá khứ rồi à?”
Các ngón tay bà đang vặn xoắn lấy lớp vải của chân váy, và anh thấy vết máu sẫm màu do chúng để lại. Hai tay anh theo bản năng cũng nắm chặt lấy đầu gối, lòng bàn tay như kim châm. Bà cũng đã phải nắm chặt, níu lấy cỏ và sỏi đá xung quanh để chống lại lực hút của quá khứ. Anh nhắm mắt chống lại ký ức về cái vết nứt hút người ấy, rồi gật đầu.
“Phải,” anh nói. “Bà ấy đã đi rồi.”
Đôi mắt trong sáng kia lập tức hướng đến khuôn mặt cô con gái, hai hàng lông mày nhướng lên như cánh cung vẻ dò hỏi. Nhưng chính Brianna lại là người đặt câu hỏi.
“Vậy nó là sự thật ư?” Cô ngập ngừng rồi nói tiếp. “Mọi chuyện là sự thật ư?”
Roger thấy thân hình cô gái hơi run rẩy, và không nghĩ ngợi gì, anh đưa tay ra nắm lấy tay cô. Anh bất giác nhăn mặt khi cô siết chặt lấy nó và đột nhiên trong ký ức văng vẳng một đoạn trích trong Kinh Thánh của mục sư: “Chúa ban phước lành cho họ, những người không nhìn thấy nhưng lại tin tưởng.” Còn những người phải thấy để tin tưởng thì sao? Kết quả của lòng tin có được nhờ việc chứng kiến đang sợ hãi run rẩy bên cạnh anh, kinh hoàng trước điều gì đó giờ đây phải được tin tưởng.
Trong khi cô con gái tự ôm siết lấy người mình để chấp nhận một sự thật mà cô đã chứng kiến, thì những đường nét trên thân thể hồi hộp lo lắng của Claire lại thả lỏng. Đôi môi tái nhợt cong lên thành nụ cười, và một vẻ bình an sâu sắc làm dịu đi gương mặt căng thẳng trắng bệch, để lại ánh rạng rỡ trong đôi mắt màu hổ phách kia.
“Đó là sự thật,” bà nói. Sắc diện ửng hồng đã trở lại trên hai gò má xanh xao. “Mẹ của con có nói dối con không nào?” Và bà lại nhắm mắt lại.
•••
Roger đưa tay tắt lò sưởi điện. Ban đêm lạnh, nhưng anh không thể ở trong phòng làm việc - nơi trú ẩn tạm thời của anh - lâu hơn nữa. Anh cảm thấy đứng không vững nhưng không thể trì hoãn lâu hơn. Quyết định này phải được thực hiện.
Trời đã sáng trước khi cảnh sát và bác sĩ hoàn thành công việc của họ đêm hôm trước, điền đầy đủ các mẫu lấy lời khai, mang đi khẩu cung và mô tả nhân dạng, làm hết sức mình để lý giải sự thật. “Họ, những người không nhìn thấy, được ban phước,” anh lại nghĩ, “nhưng họ đã tin.” Đặc biệt là trong trường hợp này.
Cuối cùng, họ đã rời đi, với các mẫu lời khai, phù hiệu, ô tô cùng đèn pha sáng lóa, để giám sát việc di dời xác Greg Edgars từ trên vòng tròn đá, để phát lệnh bắt giữ vợ hắn ta, người đã dụ dỗ chồng mình đi tới chỗ chết và đã trốn khỏi hiện trường. Không phóng đại, Roger sửng sốt nghĩ.
Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, Roger để hai mẹ con Randall lại cho bác sĩ và Fiona chăm sóc, anh lên giường đi ngủ, không buồn thay quần áo hay lật chăn ra, chỉ thả người vào sự quên lãng đang chào đón. Bị đánh thức lúc sắp hoàng hôn vì cơn đói cồn cào, anh loạng choạng xuống nhà để thấy các vị khách của mình, vẫn im lặng như thế, đang giúp Fiona chuẩn bị bữa tối.
Đó là một bữa ăn lặng lẽ. Bầu không khí không căng thẳng; như thể sự giao tiếp đã chạy đi mất hút giữa mấy người trên bàn ăn. Brianna ngồi sát cạnh mẹ, thỉnh thoảng lại chạm vào bà trong lúc chuyển thức ăn qua, như để trấn an bản thân về sự hiện diện của mẹ mình. Thi thoảng cô liếc nhìn Roger, ánh mắt rụt rè từ dưới hàng mi, nhưng không nói chuyện với anh.
Claire nói rất ít và hầu như chẳng ăn gì, bà ngồi lặng lẽ, im lìm và bình yên như một hồ nước dưới ánh mặt trời, những ý nghĩ của bà đã chuyển hướng vào sâu trong nội tâm. Sau bữa tối, bà cáo lỗi và đến chỗ ngồi bên cửa sổ ở cuối hành lang, viện lý do mệt mỏi. Brianna liếc nhanh về phía mẹ mình, bóng bà in trên nền ánh sáng rực rỡ cuối cùng của buổi chiều tà vì đang quay mặt về phía cửa sổ, rồi cô đi vào bếp giúp Fiona dọn đĩa ăn. Roger đã vào phòng làm việc để suy nghĩ, bữa ăn ngon lành của Fiona làm anh nặng bụng.
Hai giờ sau, anh vẫn còn đang suy nghĩ và không có mấy hiệu quả rõ rệt. Những cuốn sách chồng đống bừa bãi trên những chiếc bàn, để mở la liệt trên ghế sau lưng xô pha, những cái lỗ trống hoác trên các giá sách chật cứng minh chứng cho nỗ lực tra cứu tìm kiếm hú họa của anh.
Mất một khoảng thời gian nhưng anh đã tìm ra nó - những đoạn viết ngắn mà anh nhớ là mình đã thấy trong lần tra cứu trước cho Claire Randall. Các kết quả đó đã mang đến cho bà sự an ủi và bình yên; còn cái này thì không - nếu anh nói cho bà biết. Nhỡ anh đúng thì sao? Nhưng anh chắc chắn nó đúng; nó giải thích cho ngôi mộ đặt không đúng chỗ đó, cách xa Culloden.
Anh đưa tay lên xoa mặt, cảm thấy bộ râu ram ráp. Chẳng có gì ngạc nhiên vì anh đã quên cạo râu, cùng với mọi thứ khác. Khi nhắm mắt lại, anh có thể ngửi thấy mùi khói và máu; nhìn thấy ánh sáng chói lòa của đống lửa trên núi đá tối đen, và những lọn tóc sáng màu, tung bay ngay ngoài tầm với của những ngón tay anh. Anh rùng mình trước ký ức ấy, thấy một cảm giác oán giận đột ngột dâng tràn. Claire đã hủy hoại sự bình an trong tâm trí anh; có phải anh chẳng còn gì nợ bà nữa không? Và Brianna - nếu cô biết sự thật… liệu cô có nên biết tất cả về nó không?
Claire vẫn ở chỗ cuối hành lang; hai chân khoanh lại trên chỗ ngồi bên cửa sổ, nhìn chằm chằm ra khoảng trống tối om trải rộng trên mặt kính lấp đầy màn đêm ấy.
“Claire?” Giọng anh nghe khào khào vì lâu không nói chuyện, anh hắng giọng và thử lại lần nữa. “Claire? Cháu… có chuyện muốn nói với cô.”
Bà quay ra ngước nhìn anh, không gì hơn ngoài một chút xíu tò mò hiện trên nét mặt. Bà mang dáng vẻ điềm tĩnh, cái nhìn của một người chịu đựng sợ hãi, tuyệt vọng và đau thương, cùng với gánh nặng khủng khiếp của việc sống sót - kéo dài. Nhìn vào bà, anh đột nhiên cảm thấy mình không thể làm được việc đó.
Nhưng bà đã kể cho anh biết sự thật; anh cũng phải làm như thế.
“Cháu tìm thấy vài điều.” Anh giơ cuốn sách lên trong dáng vẻ bất lực. “Về… Jamie.” Nói ra cái tên đó lớn tiếng dường như khiến anh phải gắng hết sức, như thể chính người đàn ông Scot to lớn ấy đã hiện ra qua câu nói của anh, đứng đó vững chãi và sừng sững, giữa vợ ông ta và Roger. Roger hít vào thật sâu để chuẩn bị.
“Cái gì thế?”
“Điều cuối cùng ông ấy định làm. Cháu nghĩ… cháu nghĩ ông ấy đã thất bại.”
Gương mặt bà đột nhiên tái xanh, và bà liếc đôi mắt mở to về phía cuốn sách.
“Việc cứu người của ông ấy ư? Nhưng cô nghĩ là cháu đã tìm thấy…”
“Đúng thế,” Roger ngắt lời bà. “Không, cháu khá chắc chắn là ông ấy đã thành công trong việc đó. Ông ấy đã đưa những người đàn ông của Lallybroch ra khỏi trận đánh; ông ấy đã cứu họ khỏi Culloden, và sắp xếp cho họ lên đường về nhà.”
“Nhưng sau đó…”
“Ông ấy đã định quay trở lại - trở lại trận chiến đó - và cháu nghĩ ông ấy cũng đã làm thế.” Anh càng có vẻ miễn cưỡng, nhưng đó là điều phải được nói ra. Không tìm được từ ngữ, anh giở cuốn sách ra và đọc lên thật to:
“Sau trận chiến cuối cùng ở Culloden, mười tám sĩ quan chỉ huy phái Jacobite, tất cả đều bị thương, ẩn náu trong một ngôi nhà cũ trong hai ngày, vết thương của họ không được chăm sóc, họ nằm đó trong đau đớn; rồi họ bị đưa ra ngoài xử bắn. Một trong số họ, một người họ Fraser của quân đoàn do Lovat chỉ huy, đã trốn thoát khỏi cuộc tàn sát; những người còn lại bị chôn ở rìa khuôn viên của ngôi nhà.”
“Một người đàn ông, một người họ Fraser của quân đoàn do Lovat chỉ huy, đã trốn thoát…” Roger khẽ lặp lại. Anh ngước lên khỏi trang sách để nhìn vào mắt bà, đôi mắt mở lớn và không trông thấy gì, y như đôi mắt của một chú nai bị ánh đèn pha ô tô đang đi đến chiếu rọi vào.
“Ông ấy đã định chết trên chiến trường Culloden,” Roger thì thầm. “Nhưng lại không chết.”
HẾT TẬP 2
CHUỒN CHUỒN HỔ PHÁCH
[1] Đêm Giao thừa ở Scotland và một số vùng phía bắc nước Anh.
[2] Một lễ hội của người Gael, đánh dấu kết thúc mùa thu hoạch và bắt đầu mùa đông trong năm. Nó được tổ chức từ lúc mặt trời lặn ngày 31 tháng 10 đến thời điểm mặt trời lặn của ngày mùng 1 tháng 11, nghĩa là khoảng thời gian giữa của Thu phân và Đông chí. Nó là một trong bốn mùa lễ hội lớn của người Gael, những lễ hội khác là Imbolc, Beltane và Lughnasadh.