Trắng bệch vì phẫn nộ, Jamie mở tung cánh cửa phòng khách của Holyrood đánh sầm một tiếng. Ewan Cameron nhảy dựng lên, làm đổ cả lọ mực đang dùng. Simon Fraser, Công tử Lovat, ngồi bên kia bàn, nhưng chỉ nhướng cặp lông mày rậm màu đen lên với đứa cháu trai đang ở lối vào.
“Chết tiệt!” Ewan nói, mò mẫm trong tay áo lấy ra một chiếc khăn mùi soa để lau vệt nước đang lan ra. “Có chuyện gì với ông thế Fraser? Ồ, chào buổi sáng, bà Fraser,” ông ta nói thêm khi nhìn thấy tôi ở đằng sau Jamie.
“Điện hạ đâu?” Jamie hỏi mà không mào đầu.
“Lâu đài Stirling,” Cameron đáp, từ bỏ việc tìm cái khăn mùi soa. “Có mảnh vải nào không, Fraser?”
“Nếu có, tôi sẽ dùng nó để bịt mồm ông lại,” Jamie nói. Anh hơi thả lỏng khi phát hiện Charles Stuart không có ở nơi này, nhưng hai khóe môi anh vẫn hơi mím lại. “Tại sao các người lại giam giữ người của tôi ở Tolbooth? Tôi vừa gặp họ, họ bị giam ở một nơi mà tôi còn không thả lợn vào nuôi nữa! Thề với Chúa là các người đáng lẽ đã có thể làm điều gì đó!”
Cameron đỏ mặt, nhưng đôi mắt nâu trong veo của ông ta bình thản đón ánh mắt Jamie.
“Tôi đã cố,” ông ta nói. “Tôi đã bảo Điện hạ rằng tôi chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn - phải, ba mươi người bọn họ ở cách đội quân mười dặm khi được tìm thấy, có điều gì đó nhầm lẫn! - bên cạnh đó, cho dù họ thực sự có ý định bỏ trốn, ngài ấy cũng không có được những người đàn ông khỏe mạnh khác để thay thế họ. Tất cả những lý do đó khiến Điện hạ không ra lệnh treo cổ bọn họ ngay tại chỗ,” ông ta nói, bắt đầu trở nên giận dữ khi cú sốc vì sự xuất hiện đột ngột của Jamie nhạt dần. “Chúa ơi, đào ngũ trong thời chiến chính là tội phản bội đấy!”
“Thế ư?” Anh hoài nghi hỏi rồi gật đầu với Simon Trẻ, đẩy một cái ghế về phía tôi trước khi tự mình ngồi xuống. “Vậy ông có ra lệnh treo cổ hai mươi người đã trốn về nhà của ông không, Ewan? Hay bây giờ là hơn bốn mươi rồi nhỉ?”
Cameron càng đỏ mặt hơn và cụp mắt xuống, tập trung vào việc lau đi vết mực bằng mảnh vải Simon Fraser đưa cho.
“Bọn họ đều đã bị bắt,” cuối cùng, ông ta lầm bầm đáp, liếc nhìn Jamie, khuôn mặt mỏng tỏ vẻ thành khẩn. “Hãy đến gặp Điện hạ ở Stirling,” ông ta khuyên. “Ngài ấy đã rất tức giận vì vụ đào ngũ này, nhưng rốt cuộc chính ngài ấy đã ra lệnh cho ông đến Beauly và để người của ông không được trông coi, đúng không? Và ngài ấy luôn nghĩ tốt về ông, Jamie, và gọi ông là bạn. Có thể ngài ấy sẽ tha thứ cho người của ông, và ông hãy cầu xin ngài ấy tha mạng cho họ.”
Nhặt lên miếng giẻ thấm đầy mực, ông ta hồ nghi nhìn nó, rồi lầm bầm một lời cáo lỗi, rời đi để vứt nó ra ngoài, rõ ràng mừng thầm vì thoát được Jamie.
Jamie ngồi ườn ra trên ghế, hơi thở qua hàm răng nghiến chặt tạo thành một tiếng huýt gió khe khẽ, hai mắt dán chặt lên hình gia huy nhà Stuart treo trên tường. Hai ngón tay cứng do trên bàn tay phải chầm chậm gõ lên mặt bàn. Anh đã luôn ở trong tâm trạng như thế kể từ khi Murtagh đến Lallybroch với tin tức ba mươi người của Jamie bị bắt quả tang đang đào ngũ và bị giam cầm tại nhà ngục Tolbooth khét tiếng của Edinburgh, bị kết tội tử hình.
Bản thân tôi không nghĩ Charles định xử quyết họ. Như Ewan Cameron đã chỉ ra, đội quân vùng cao cần đến từng người đàn ông có sức khỏe tráng kiện mà nó có thể tập hợp được. Việc dấn sâu vào nước Anh mà Charles đã tranh cãi để làm bằng được thật hao tiền tốn của, và dòng chảy ủng hộ mà cậu ta tiên đoán sẽ có được từ vùng thôn quê nước Anh đã không thành hiện thực. Không chỉ thế, việc xử tử người của Jamie khi anh vắng mặt sẽ là một hành động ngu ngốc về mặt chính trị và là sự phản bội quá lớn về mặt cá nhân mà ngay cả Charles Stuart cũng không dám tưởng tượng.
Không, tôi cho rằng Cameron nói đúng, những người đàn ông ấy sẽ được tha. Jamie không nghi ngờ gì cũng đã nhận thấy điều đó, nhưng nhận thức đó là sự an ủi nghèo nàn đối với anh, khi phải đối diện với việc nhận ra rằng thay vì để cho người của mình được an toàn rời đi khỏi những nguy hiểm của một chiến dịch thảm hại, những mệnh lệnh của anh đã đặt họ vào một trong những nhà ngục tồi tệ nhất Scotland, bị bêu danh như những kẻ hèn nhát và bị kết án phải chết một cách nhục nhã bằng hình phạt treo cổ.
Điều này, kết hợp với viễn cảnh bỏ mặc người của anh trong ngục tù tăm tối, bẩn thỉu để đến Stirling và đối diện với sự sỉ nhục phải biện hộ với Charles, đã đủ để lý giải vẻ mặt Jamie lúc này - đó là nét mặt của một người vừa mới ăn bữa sáng bằng một cái bát vỡ.
Simon Trẻ cũng im lặng, nhíu mày, vầng trán rộng nhăn lại vì suy nghĩ.
“Ta sẽ đi với cậu tới gặp Điện hạ,” hắn chợt nói.
“Chú ư?” Jamie kinh ngạc nhìn người chú có chung một nửa dòng máu với cha mình, sau đó đôi mắt anh nheo lại nhìn Simon. “Tại sao?”
Simon nhe răng cười. “Rốt cuộc, một giọt máu đào hơn ao nước lã. Hay cậu nghĩ ta đang cố chiếm người của cậu, như cha ta đã làm?”
“Chú sẽ làm thế ư?”
“Có thể,” Simon trả lời thẳng thừng, “nếu ta nghĩ việc đó có lợi cho ta. Nhưng nó có khả năng gây ra rắc rối nhiều hơn những gì ta nghĩ. Ta không muốn đánh nhau với người nhà MacKenzie - hay với cậu, cháu trai ạ,” hắn bổ sung, nụ cười nở rộng thêm. “Tuy Lallybroch màu mỡ thật đấy, nhưng lại cách xa Beauly, và sẽ phải tranh đấu rất dữ dội mới có thể giành được nó, cho dù bằng vũ lực hay tòa án. Ta đã bảo cha ta như vậy, nhưng ông ấy chỉ nghe những gì ông ấy muốn.”
Người đàn ông trẻ lắc đầu và chỉnh đai đeo kiếm quanh hông mình.
“Thà gia nhập quân đội còn hơn; dĩ nhiên là cùng với một vị vua phục vị. Và...” Hắn kết luận, “nếu đội quân đó tiếp tục chiến đấu giống như họ đã làm ở Preston, họ sẽ cần đến từng người đàn ông mà họ có thể kiếm được. Ta sẽ đi cùng cậu,” hắn quả quyết nhắc lại.
Jamie gật đầu, một nụ cười chậm rãi nở trên khuôn mặt anh. “Vậy thì cảm ơn chú, Simon! Điều đó sẽ giúp ích đấy!”
Simon gật đầu. “Phải, đúng thế! Cũng sẽ không hại gì nếu đề nghị Dougal MacKenzie đến nói giúp cho cậu. Lúc này ông ta đang ở Edinburgh mà.”
“Dougal Mackenzie ư?” Đôi lông mày của Jamie nhướng lên vẻ dò hỏi. “Phải, tôi cho rằng điều đó sẽ không hại gì, nhưng...”
“Không hại gì? Trời ơi, cậu chưa nghe tin gì à? Nhà Mackenzie giờ là “con cưng” của Hoàng tử Charles đấy.” Simon uể oải ngồi ngả ra trên ghế, nhìn đứa cháu trai của mình một cách chế giễu.
“Gì cơ?” Tôi hỏi. “Ông ta đã làm cái quái quý gì thế?” Dougal đã mang hai trăm năm mươi người được trang bị vũ khí tới chiến đấu cho sự nghiệp của nhà Stuart, nhưng vẫn còn một số thủ lĩnh thị tộc có những đóng góp lớn hơn.
“Mười nghìn bảng,” Simon nói, thưởng thức những từ này trong khi uốn lưỡi phát âm chúng. “Dougal MacKenzie đã mang mười nghìn bảng tới đặt dưới chân quốc chủ của ông ta. Và nó đến không phải không đúng lúc,” hắn thản nhiên nói, thả người nằm ườn ra. “Cameron đang kể cho ta nghe rằng Charles đã tiêu đến đồng tiền Tây Ban Nha cuối cùng và vài xu chết tiệt đến từ lũ người Anh ủng hộ mà ngài ấy trông chờ viện trợ. Mười nghìn bảng của Dougal ít nhất sẽ giúp cho đội quân có được vũ khí và lương thực trong vài tuần, và nếu may mắn, đến lúc đó ngài ấy sẽ nhận được thêm từ nước Pháp.” Cuối cùng, nhận ra người họ hàng liều lĩnh của mình đang đánh lạc hướng người Anh một cách tuyệt vời, Louis miễn cưỡng đồng ý nhả ra một ít tiền. Mặc dù, còn lâu nữa số tiền đó mới đến nơi.
Tôi nhìn Jamie chằm chằm, gương mặt anh phản chiếu sự hoang mang, bối rối của chính tôi. Dougal MacKenzie kiếm ra mười nghìn bảng từ chỗ quái nào chứ? Tôi chợt nhớ tới nơi mình đã từng nghe nhắc đến số tiền này trước đây - cái hố giam trộm ở Cranesmuir, nơi tôi đã trải qua ba ngày ba đêm như dài bất tận, chờ đợi bị xét xử vì tội sử dụng thuật phù thủy.
“Geillis Duncan!” Tôi reo lên, cảm thấy lạnh toát trước ký ức về cuộc nói chuyện diễn ra trong cái hố lầy lội, bẩn thỉu, tối đen như mực ấy, người bầu bạn của tôi không hơn gì một giọng nói vọng ra từ trong bóng tối. Lò sưởi ở phòng khách thật ấm áp nhưng tôi vẫn kéo áo choàng chặt hơn quanh người mình.
“Tôi đã chuyển được gần mười nghìn bảng,” Geillis đã khoe khoang hành vi trộm cắp của mình bằng sự giả mạo khéo léo tên tuổi người chồng quá cố của cô ta. Arthur Duncan, người đã bị cô ta giết bằng thuốc độc, từng là biện lý của vùng này. “Mười nghìn bảng cho đại nghĩa của Jacobite. Khi nào cuộc nổi dậy xảy ra, tôi sẽ tự hào rằng mình đã đóng góp được chút sức mọn.”
“Cô ta đã ăn cắp nó,” tôi nói, cảm thấy một cơn run rẩy chạy ngược lên hai cánh tay trước ý nghĩ về Geillis Duncan, bị kết án vì tội là phù thủy, đã bị thiêu chết bên dưới tán lá của một cây thanh lương trà. Geillis Duncan, người phụ nữ chỉ được hoãn lại cái chết cho đến lúc sinh ra đứa trẻ mà cô ta đang mang với người tình của mình - Dougal MacKenzie. “Cô ta đã ăn cắp nó và đưa cho Dougal; hoặc ông ta đã lấy nó từ Geillis mà không nói ra, cho tới bây giờ.” Bị kích động, tôi đứng dậy và rảo bước đi lại trước lò sưởi.
“Tên con hoang đó!” Tôi nói. “Đó là điều lão đã làm ở Paris hai năm trước!”
“Gì cơ?” Jamie nhăn mày với tôi, Simon há hốc miệng nhìn chằm chằm.
“Đến thăm Charles Stuart. Lão đến để xem xem liệu Charles có thực sự đang lên kế hoạch cho một cuộc nổi loạn không. Có lẽ lão đã hứa hẹn món tiền này, có lẽ đó là điều khuyến khích Charles mạo hiểm trở về Scotland. Nhưng Dougal không thể giao món tiền cho Charles một cách công khai trong khi Colum còn sống - Colum sẽ đặt ra những câu hỏi; ông ta quá trung thực nên sẽ không sử dụng một số tiền ăn cắp, cho dù người đầu tiên đánh cắp nó là ai.”
“Anh hiểu rồi.” Jamie gật đầu, đôi mắt chìm trong suy tư. “Nhưng bây giờ Colum đã chết,” anh khẽ nói. “Và Dougal MacKenzie là sủng thần của Hoàng tử.”
“Điều này - tất cả đều có lợi cho cậu, như ta đã nói đấy,” Simon chen vào, mất kiên nhẫn với cuộc nói chuyện về người mà hắn không biết và những vấn đề mà hắn chỉ hiểu có một nửa. “Hãy đi tìm ông ta; có thể ông ta đang ở quán Tận Cùng Thế Giới vào thời điểm này trong ngày.”
“Theo anh thì ông ta có nói đỡ cho anh với Hoàng tử không?” Tôi lo lắng hỏi Jamie. Dougal từng là cha nuôi của Jamie trong một thời gian, nhưng mối quan hệ của họ có không ít thăng trầm. Có lẽ Dougal sẽ không muốn mạo hiểm đánh mất sự yêu thích mà Hoàng tử mới dành cho mình bằng việc nói đỡ cho một đám hèn nhát và đào ngũ.
Có lẽ Cáo Trẻ còn thiếu sự lão luyện của cha mình, nhưng hắn lại có được sự nhạy bén của ông ta. Cặp lông mày đen nặng nề cong lên.
“MacKenzie vẫn muốn Lallybroch, đúng không? Nếu ông ta nghĩ cha ta và ta có ý định lấy lại mảnh đất của cậu, ông ta sẽ càng hào hứng giúp cậu đưa người của cậu ra khỏi nơi giam giữ, đúng chứ? Chiến đấu với chúng ta sẽ khó khăn hơn là thỏa thuận với cậu, một khi cuộc chiến này kết thúc.” Hắn gật đầu, vui sướng cắn môi trên trong khi nghiền ngẫm những khả năng phát triển của tình huống này.
“Ta sẽ phe phẩy một bản sao tờ danh sách của cha ta dưới mũi Dougal trước khi cậu nói chuyện với ông ta. Cậu hãy đến và nói với ông ta rằng cậu sẽ tống cổ ta xuống địa ngục trước khi ta tuyên bố quyền sở hữu với người của cậu, và sau đó tất cả chúng ta sẽ cùng đến Stirling.” Hắn ngoác miệng cười với Jamie vẻ đồng lõa.
“Tôi luôn nghĩ phải có lý do nào đó khiến từ “Scot” đồng âm với từ “plot”[1],” tôi nhận xét.
“Gì cơ?” Cả hai người đàn ông giật mình, ngước lên.
“Đừng bận tâm,” tôi nói, lắc đầu. “Đúng là dòng nào giống nấy.”
•••
Tôi ở lại Edinburgh trong khi Jamie và ông chủ của anh đi ngựa tới Stirling để trình bày thẳng các vấn đề với Hoàng tử. Trong tình huống này, tôi không thể ở lại Holyrood mà tìm nơi tá túc trong một con phố hẹp phía trên Canongate. Đó là một căn phòng nhỏ, lạnh lẽo, chật hẹp, nhưng tôi không ở đó nhiều lắm.
Những tù nhân của Tolbooth không thể ra ngoài, nhưng chẳng có gì ngăn cản khách đến thăm họ. Fergus và tôi đến thăm nhà ngục này hằng ngày, chỉ cần một món hối lộ nhỏ đúng đắn là đủ để cho phép tôi chuyển thức ăn và thuốc men vào cho những người đàn ông của Lallybroch. Về mặt lý thuyết, tôi không được phép nói chuyện riêng với tù nhân, nhưng ở đây, hệ thống này có một mức độ sai sót nhất định, khi được bôi trơn thích hợp, tôi xoay xở được nói chuyện riêng với anh thợ rèn Ross hai, ba lần.
“Đó là lỗi của tôi, thưa phu nhân,” anh ta nói ngay khi tôi gặp anh ta lần đầu tiên. “Đáng lẽ tôi nên nhạy bén chia cả đoàn thành những nhóm nhỏ ba hay bốn người, chứ không phải tập trung lại như chúng tôi đã làm. Có điều, tôi sợ bị lạc mất ai đó; hầu hết bọn họ chưa bao giờ đi xa nhà quá năm dặm.”
“Anh không cần tự trách,” tôi trấn an. “Từ những gì tôi nghe nói, chỉ vì xui xẻo nên các anh mới bị bắt thôi. Đừng lo lắng, Jamie đã đến Stirling để gặp Hoàng tử; chẳng bao lâu nữa anh ấy sẽ đưa các anh ra khỏi đây.”
Anh ta gật đầu, mệt mỏi vuốt mái tóc ra sau. Trông anh ta thật bẩn thỉu, nhếch nhác và bị sút cân đôi chút so với anh thợ thủ công tráng kiện, vạm vỡ của mấy tháng trước. Nhưng anh ta vẫn cười và cảm ơn tôi về đồ ăn.
“Nó không thể đúng lúc hơn,” anh ta bộc trực nói. “Chúng tôi chả có gì ngoài thức ăn lỏng. Phu nhân có nghĩ…” Anh ta ngập ngừng. “Phu nhân có thể thu xếp mang cho chúng tôi mấy chiếc chăn không, thưa phu nhân? Tôi không muốn đòi hỏi đâu, chỉ có điều bốn người đã bị sốt rét, và…”
“Tôi sẽ tìm cách,” tôi nói.
Tôi rời khỏi ngục, tự hỏi chính xác mình sẽ phải xoay xở như thế nào? Mặc dù đạo quân chủ lực đã đi về phía nam, xâm nhập vào nước Anh, nhưng Edinburgh vẫn là một thành phố bị chiếm đóng. Với lính tráng, các lãnh chúa và những kẻ theo đóm ăn tàn không ngừng ra vào, mọi loại hàng hóa đều thiếu thốn và đắt đỏ. Chăn len và quần áo ấm có thể tìm được, nhưng chúng rất tốn kém, mà tôi thì chỉ còn đúng mười si-linh trong ví.
Ở Edinburgh có một ông chủ ngân hàng, ông Waterford, trước đây từng xử lý vài vụ kinh doanh và đầu tư ở Lallybroch, nhưng vài tháng trước Jamie đã rút hết tiền của anh ở ngân hàng vì sợ rằng chúng có thể bị nhà cầm quyền chộp lấy. Tiền đã được chuyển thành vàng, một ít được gửi tới Jared ở Pháp để cất giữ, phần còn lại được giấu ở điền trang. Tất cả chỗ vàng đó giờ phút này đều không động tới được.
Tôi dừng lại trên đường để suy nghĩ, khách bộ hành chen lấn đi qua bên cạnh tôi trên con phố rải sỏi. Nếu không có tiền, tôi vẫn có vài thứ đáng giá. Viên pha lê Raymond cho tôi ở Paris - dù bản thân nó không có giá trị đặc biệt, nhưng cái khung của nó và sợi dây chuyền thì đáng giá. Những chiếc nhẫn cưới của tôi - không, tôi không muốn rời xa chúng, cho dù là tạm thời. Nhưng chuỗi ngọc trai… tôi sờ vào trong túi, kiểm tra xem chuỗi vòng cổ ngọc trai mà Jamie đã tặng tôi vào ngày hôn lễ và được khâu vào đường chỉ của váy có còn an toàn không.
Nó vẫn còn đó, những hạt ngọc nhỏ không đều nhau của những con trai nước ngọt cứng rắn và mượt mà dưới những ngón tay tôi. Không đắt giá bằng những viên ngọc trai phương Đông, nhưng nó vẫn là một chiếc vòng cổ đẹp với những viên tròn tròn nhỏ xíu bằng vàng xâu xen kẽ giữa các viên ngọc trai. Nó từng thuộc về mẹ của Jamie, Ellen. Tôi nghĩ bà sẽ muốn thấy nó được sử dụng cho việc an ủi những người đàn ông này.
•••
“Năm bảng,” tôi dứt khoát nói. “Nó đáng giá mười bảng, và tôi có thể có được sáu bảng nếu chịu khó cuốc bộ lên đồi tới cửa hàng khác.” Tôi không biết liệu việc này có đúng hay không, nhưng tôi đã đưa tay ra như thể định cầm lấy chuỗi vòng trên mặt quầy, giả bộ như sắp sửa rời khỏi hiệu cầm đồ này. Ông chủ hiệu, Samuels, nhanh nhẹn đặt bàn tay lên chuỗi vòng, vẻ hồ hởi của ông ta cho tôi biết đáng ra mình nên đòi sáu bảng ngay từ đầu.
“Vậy thì ba bảng mười xu,” ông ta nói. “Nó khiến gia đình tôi lụn bại mất, nhưng vì phu nhân xinh đẹp như bà…”
Chiếc chuông nhỏ phía trên cửa ra vào ngân lên đằng sau tôi khi cánh cửa mở ra, tiếng bước chân ngập ngừng vang lên trên ván sàn cũ mòn của hiệu cầm đồ.
“Xin lỗi,” giọng một cô gái cất lên, tôi quay phắt ra sau, quên luôn cả chuỗi vòng cổ ngọc trai, để rồi nhìn thấy bóng của những trái bóng tròn trong hiệu cầm đồ in lên gương mặt Mary Hawkins. Cô bé đã lớn hơn và cũng đầy đặn hơn. Trong cung cách của cô có một vẻ chín chắn và đường hoàng, nhưng cô vẫn còn rất trẻ. Cô chớp mắt một lần, rồi nhào lên người tôi với tiếng kêu ré sung sướng, chiếc cổ áo cao của cô chọc vào mũi tôi khi cô ôm tôi thật chặt.
“Em đang làm gì ở đây thế?” Tôi hỏi khi cuối cùng cũng gỡ được mình ra.
“Chị gái của cha em sống ở đây,” cô đáp. “Em đ-đang ở với bà. Hay bà định hỏi tại sao em ở đây à?” Cô vẫy tay về phía khu vực bẩn thỉu trong cửa hàng của ông Samuels.
“Ồ, cả điều đó nữa,” tôi nói. “Nhưng chuyện đó để từ từ đã.” Tôi quay sang ông chủ hiệu cầm đồ. “Bốn bảng sáu, hoặc tôi sẽ đi ngược lên trên đồi,” tôi bảo ông ta. “Ông quyết định đi, tôi đang vội.”
Lầm bầm cằn nhằn vài tiếng, ông Samuels với xuống quầy tìm hộp đựng tiền mặt, trong khi tôi quay lại với Mary.
“Tôi phải mua vài chiếc chăn len. Em có thể đi cùng tôi không?”
Cô ấy liếc nhìn ra ngoài, nơi có một người đàn ông nhỏ con trong bộ chế phục của người hầu đứng cạnh cửa, rõ ràng là đang đợi cô ấy. “Vâng, nếu sau đó bà đi cùng em được. Ôi, Claire, em rất vui được gặp bà!”
“Anh ấy đã gửi thư cho em,” Mary kể khi chúng tôi đi bộ xuống đồi. “Alex. Một người bạn đã mang lá thư của anh ấy đến.” Gương mặt cô sáng bừng lên khi nhắc đến tên anh ta, nhưng hai hàng lông mày hơi nhíu lại.
“Khi em biết anh ấy ở Edinburgh, em đ-đã đòi cha cho em đến thăm bác Mildred. Ông không thèm quan tâm,” cô cay đắng nói thêm. “Cha em thấy phát ớn mỗi khi nhìn em, sau chuyện xảy ra ở Paris. Ông rất vui mừng vì có thể tống em ra khỏi nhà.”
“Vậy em đã gặp Alex chưa?” Tôi hỏi. Tôi băn khoăn chàng linh mục trẻ sống như thế nào kể từ lần cuối cùng tôi gặp anh ta. Tôi cũng thắc mắc làm thế nào mà anh ta có được can đảm để viết thư cho Mary.
“Gặp rồi. Anh ấy không yêu cầu em đến,” cô vội bổ sung. “Em tự mình đ-đến.” Cằm cô hếch lên trong dáng vẻ thách thức, nhưng vẫn hơi run run khi nói: “Anh ấy… anh ấy không định viết thư cho em, nhưng anh ấy nghĩ mình đang ch-chết dần, và muốn em biết… biết…” Tôi quàng tay qua vai cô và nhanh chóng rẽ vào một con ngõ cụt, tách khỏi dòng người chen lấn xô đẩy trên đường.
“Sẽ ổn cả thôi,” tôi nói với cô, vỗ nhẹ vào người cô vẻ bất lực, vì biết rằng tôi chẳng thể làm gì được. “Em đã đến, em đã gặp anh ta, đó mới là điều quan trọng.”
Cô bé gật đầu, không nói gì và hỉ mũi. “Vâng,” cuối cùng, cô nghẹn ngào nói. “Chúng em còn… hai tháng. Em v-vẫn tự nhủ rằng còn hơn hầu hết người khác, hai tháng hạnh phúc… nhưng bọn em đã mất quá nhiều thời gian mà mình có thể có, và… nó không đủ. Claire, nó không đủ!”
“Không,” tôi khẽ nói. “Một đời cũng không đủ cho một tình yêu như thế.” Cùng với một cảm giác nhói đau bất chợt, tôi tự hỏi Jamie đang ở đâu và anh có đang đi trên đường không.
Mary, giờ đã điềm tĩnh hơn, nắm chặt lấy tay áo tôi. “Claire, bà có thể đi cùng em đến gặp anh ấy không? Em biết bà kh-không thể làm được gì nhiều...” Giọng cô lạc đi, và cô nỗ lực thấy rõ để tự trấn tĩnh lại. “Nhưng có lẽ bà có thể… giúp.” Cô bắt gặp ánh nhìn của tôi về phía người hầu đứng lãnh đạm bên ngoài con phố hẹp, nổi bật giữa dòng người qua lại. “Em trả tiền cho ông ta,” cô đơn giản nói. “Bác gái em nghĩ là em đi d-dạo vào mỗi buổi chiều. Bà sẽ đến chứ?”
“Phải, tất nhiên rồi.” Tôi liếc nhìn xuyên qua giữa hai tòa nhà cao sừng sững, đánh giá vị trí của mặt trời phía trên các đỉnh đồi bên ngoài thành phố. Trời sẽ tối trong một giờ nữa; tôi muốn mua chăn để đưa đến nhà ngục trước khi trời tối vì khi đó các bức tường đá ẩm ướt của Tolbooth càng lạnh hơn. Đột nhiên đưa ra quyết định, tôi quay sang Fergus vẫn đang kiên nhẫn đứng cạnh, quan sát Mary với vẻ thích thú. Cùng quay trở lại Edinburgh với những người đàn ông Lallybroch, cậu nhóc đã thoát khỏi tù ngục bởi ưu thế là một công dân Pháp, và đã kiên cường sống sót bằng cách quay trở lại với nghề nghiệp quen thuộc của mình. Tôi đã tìm thấy nó đang quanh quẩn gần Tolbooth, mang thức ăn đến cho những người bạn đồng hành bị giam cầm.
“Cầm lấy số tiền này,” tôi nói, đưa cho cậu nhóc cái ví của mình, “và đi tìm Murtagh. Bảo ông ấy mua càng nhiều chăn len càng tốt, và đảm bảo đưa chúng cho cai ngục ở Tolbooth. Ông ta đã được đút lót rồi, nhưng cứ giữ lại vài si-linh, đề phòng cần dùng.”
“Nhưng thưa bà,” cậu nhóc phản đối, “cháu đã hứa với ông chủ là cháu sẽ không để bà đi một mình…”
“Ông chủ không ở đây,” tôi kiên quyết nói, “còn ta thì ở đây. Đi đi, Fergus!”
Cậu nhóc liếc nhìn từ tôi sang Mary, rõ ràng quyết định rằng cô ấy không phải là một mối đe dọa đối với tôi, trong khi sự tức giận của tôi đối với cậu ta thì có, vì vậy cậu bèn rời đi, vừa nhún vai vừa cằn nhằn bằng tiếng Pháp về sự ngoan cố của phụ nữ.
•••
Căn phòng nhỏ nằm trên tầng cao nhất của tòa nhà đã thay đổi đáng kể từ sau chuyến viếng thăm lần cuối của tôi. Nó đã được dọn dẹp sạch sẽ, với vẻ long lanh sáng bóng trên từng bề mặt nằm ngang. Trong tủ bát đĩa có thức ăn, trên giường có một chiếc chăn lông và rất nhiều tiện nghi nho nhỏ khác dành cho người bệnh. Trên đường tới đây, Mary kể rằng cô ấy đã lén đem cầm đồ trang sức của mẹ mình để lấy tiền đảm bảo cho Alex Randall được thoải mái nhất có thể.
Điều tiền bạc làm được cũng chỉ trong giới hạn, nhưng gương mặt Alex sáng rỡ như ánh nến khi Mary bước qua cửa, tạm thời che khuất đi sự tàn phá của bệnh tật.
“Em mang Claire tới đây, anh thân yêu!” Mary thả chiếc áo choàng xuống ghế và quỳ xuống bên cạnh, nắm lấy bàn tay gầy gò, nổi gân xanh của anh ta.
“Bà Fraser.” Giọng anh ta nhẹ nhõm và nín thở, mặc dù mỉm cười với tôi. “Thật tuyệt khi lại được nhìn thấy một gương mặt thân thiện.”
“Đúng thế.” Tôi cười với anh ta, để ý thấy mạch trên cổ anh ta rung động liên hồi, và làn da anh ta trong suốt. Đôi mắt màu hạt dẻ dịu dàng và ấm áp, nắm giữ gần như tất cả sự sống trong cơ thể mong manh của anh ta.
Thiếu dụng cụ y tế, tôi chẳng thể làm gì được cho anh ta, nhưng tôi đã kiểm tra cẩn thận, thấy anh ta được dựa người về phía sau một cách thoải mái, đôi môi hơi tím tái do chút gắng sức khi thăm khám.
Tôi che đậy vẻ lo lắng trước tình trạng cơ thể của Alex, và hứa hôm sau sẽ mang đồ nghề y tế đến để giúp anh ta ngủ dễ dàng hơn. Anh ta không để ý đến những lời trấn an của tôi; tất cả sự chú ý của anh đều dồn cả vào Mary, người đang lo lắng ngồi bên cạnh, nắm lấy tay anh ta. Tôi thấy cô gái liếc mắt ra ngoài cửa sổ, nơi ánh sáng đang nhanh chóng yếu dần, và nhận ra nỗi lo lắng của cô ấy; cô ấy sẽ phải quay về nhà bác gái mình trước khi trời tối.
“Vậy tôi đi đây,” tôi bảo với Alex, tự rời đi để nhường lại cho họ những khoảnh khắc quý giá được ở riêng với nhau.
Anh ta liếc nhìn từ tôi sang Mary, rồi mỉm cười vẻ biết ơn.
“Chúa phù hộ cho bà, bà Fraser,” anh ta nói.
“Hẹn gặp anh vào ngày mai,” tôi nói rồi rời khỏi đó.
•••
Những ngày kế tiếp, tôi đều bận rộn. Những người ở Lallybroch bị tịch thu hết vũ khí khi họ bị bắt, dĩ nhiên là thế, và tôi đã cố gắng hết sức để giành lại những gì có thể, bằng cách hăm dọa, ép buộc, hối lộ, quyến rũ, chỗ nào cần thì áp dụng. Tôi cầm thêm hai chiếc ghim cài áo mà Jared tặng tôi làm quà chia tay và mua đủ thức ăn để đảm bảo rằng những người đàn ông của Lallybroch được ăn uống như trong quân đội - dù có thể bị ốm đau khó ở.
Tôi thuyết phục cai ngục cho phép mình được vào các xà lim trong ngục để chăm sóc các tù nhân đau ốm, đủ các loại bệnh, từ bệnh scorbut chứng thiếu dinh dưỡng xuất hiện phổ biến vào mùa đông, tới các vết sưng tấy, trầy xước, cước tay chân, viêm khớp và đủ kiểu bệnh về đường hô hấp.
Tôi đến thăm các thủ lĩnh thị tộc và lãnh chúa còn ở Edinburgh - cũng không nhiều - những người có thể giúp Jamie nếu chuyến viếng thăm tới Stirling của anh thất bại. Tôi không nghĩ có khả năng đó, nhưng cẩn tắc vô áy náy.
Xen giữa các hoạt động trong những ngày này, tôi dành thời gian đến thăm Alex Randall mỗi ngày một lần. Tôi cố gắng đến đó vào mỗi buổi sáng để không ảnh hưởng đến khoảng thời gian riêng tư của anh ta với Mary. Alex ngủ ít và ốm yếu; hậu quả là anh ta có xu hướng bị mệt mỏi và ủ rũ vào buổi sáng. Anh ta không muốn trò chuyện, nhưng thường mỉm cười chào đón khi tôi đến. Tôi sẽ cho anh ta dùng một liều nhẹ hỗn hợp của bạc hà và oải hương khuấy vài giọt si rô anh túc; thứ này cho phép anh ta ngủ được vài tiếng, cho nên anh ta có thể tỉnh táo khi Mary đến vào buổi chiều.
Ngoài tôi và Mary, không thấy có người nào khác đến thăm. Vì thế, tôi đã ngạc nhiên khi một buổi sáng, đi lên cầu thang dẫn tới phòng anh ta, tôi nghe thấy những giọng nói đằng sau cánh cửa đóng kín.
Tôi gõ cửa một lần, thật nhanh, đúng như thói quen đã thống nhất giữa chúng tôi, và tự mình đi vào. Jonathan Randall đang ngồi bên giường em trai, mặc bộ quân phục đại úy với màu đỏ và nâu vàng. Hắn đứng dậy khi tôi đi vào và cúi chào đúng cách thức, mặt lạnh tanh.
“Chào cô,” hắn nói.
“Đại úy,” tôi đáp. Rồi chúng tôi đứng lúng túng giữa phòng, nhìn nhau chằm chằm, mỗi người đều không sẵn sàng tiến xa hơn.
“Johnny,” giọng nói khàn khàn của Alex cất lên từ phía giường. Nó có ngữ điệu dỗ dành, đồng thời cũng có tính mệnh lệnh, và Jonathan Randall khó chịu nhún vai khi nghe thấy nó.
“Em trai tôi gọi tôi đến để cho cô biết một tin tức,” hắn nói, môi mím chặt. Sáng nay hắn không đội tóc giả, mái tóc đen được buộc lại sau đầu, sự giống nhau giữa hai anh em khiến tôi kinh ngạc. Alex nhìn tái nhợt và mỏng manh, trông giống như bóng ma của Jonathan.
“Bà và ông Fraser đã thật tử tế với Mary của tôi,” Alex nói, lật người nằm nghiêng để nhìn tôi. “Và cả với tôi nữa. Tôi… biết thỏa thuận của anh trai tôi với bà” - một ráng hồng nhàn nhạt gần như khó thấy nổi lên trên hai má anh ta - “nhưng tôi cũng biết điều bà và chồng bà đã làm cho Mary… ở Paris.” Anh ta liếm đôi môi nứt né và khô khốc do sức nóng thường trực trong căn phòng. “Tôi nghĩ bà nên nghe tin tức Johnny mang về từ lâu đài ngày hôm qua.”
Jack Randall nhìn tôi với vẻ chán ghét, nhưng hắn vẫn nói rõ ràng.
“Hawley đã kế nhiệm Cope, như tôi đã nói với cô trước đây,” hắn nói. “Hawley có chút tài lãnh đạo, có được sự tin tưởng mù quáng từ những người dưới quyền mình. Điều đó sẽ có ích cho ông ta hơn là súng đại bác của Cope.” Hắn nhún vai vẻ thiếu kiên nhẫn. “Có lẽ vì thế, Tướng Hawley đã trực tiếp hành quân về phía bắc để lấy lại lâu đài Stirling.”
“Vậy ư?” Tôi nói. “Ông có biết ông ta có bao nhiêu quân không?”
Randall gật đầu. “Vào lúc này, ông ta có tám nghìn quân, trong số đó có một nghìn ba trăm kỵ binh. Ông ta cũng đang mong ngóng từng ngày sáu nghìn lính đánh thuê.” Hắn nhíu mày, suy nghĩ. “Tôi nghe nói người đứng đầu của thị tộc Campbell cũng đang gửi một nghìn người đến hội họp với quân lực của Hawley, nhưng tôi không thể nói chắc liệu thông tin đó có đáng tin cậy không; có vẻ như không có cách nào dự đoán được dân Scot sẽ làm gì.”
“Tôi hiểu.” Chuyện này thật nghiêm trọng; vào thời điểm này, quân đội vùng cao có khoảng sáu đến bảy nghìn người. Nếu chỉ chống lại Hawley, không tính đến số quân tiếp viện mà ông ta đang mong mỏi, bọn họ còn có thể xoay xở được. Nếu đợi cho đến khi đám lính đánh thuê và đội quân của Campbell đến thì rõ ràng là điên rồ, chưa kể cái thực tế là kỹ năng chiến đấu của người vùng cao phù hợp để tấn công hơn là phòng vệ. Phải mang tin tức này đến chỗ Lãnh chúa George Murray ngay lập tức.
Giọng nói của Jack Randall kéo tôi quay lại từ trong dòng suy nghĩ.
“Chúc cô một ngày tốt lành,” hắn nói, trịnh trọng như thường thấy, và không hề có dấu vết nào của nhân tính trên khuôn mặt điển trai, khắc nghiệt lúc hắn cúi chào tôi và rời đi.
“Cảm ơn anh,” tôi nói với Alex Randall, đợi đến khi Jonathan đi xuống một đoạn dài trên chiếc cầu thang xoắn ốc rồi mới rời khỏi phòng. “Tôi biết ơn anh rất nhiều.”
Anh ta gật đầu. Quầng thâm dưới hai mắt anh ta càng sâu hơn; lại một đêm tồi tệ nữa.
“Không có gì,” anh ta đơn giản nói. “Tôi cho là bà sẽ để lại cho tôi thứ thuốc nào đó chứ? Tôi nghĩ sẽ mất một thời gian nữa mới có thể gặp lại bà.”
Tôi dừng lại, choáng váng trước giả định của anh ta rằng tôi sẽ tự mình đến Stirling. Đó là việc mà mỗi tế bào trong cơ thể tôi đều đang thúc giục tôi làm, nhưng tôi vẫn còn vướng chuyện những người đàn ông trong ngục Tolbooth.
“Tôi không biết,” tôi nói. “Nhưng phải, tôi sẽ để thuốc lại.”
•••
Tôi chầm chậm đi bộ về nơi ở tạm thời của mình, đầu óc vẫn quay cuồng. Hiển nhiên tôi phải nhắn cho Jamie ngay lập tức. Murtagh sẽ phải đi, tôi nghĩ vậy. Dĩ nhiên, Jamie sẽ tin nếu tôi viết thư cho anh. Nhưng liệu anh có thể thuyết phục được Lãnh chúa George, Công tước Perth, hay các chỉ huy quân đội khác?
Tôi không thể nói cho anh biết từ đâu mình có được thông tin này; các chỉ huy có sẵn sàng tin tưởng những lời lẽ vô căn cứ do một người phụ nữ viết ra không, cho dù đó là lời của một phụ nữ được cho là có năng lực siêu nhiên? Tôi bất chợt nghĩ đến Maisri và rùng mình. Đó là một lời nguyền, bà ta đã nói thế. Phải, nhưng có được lựa chọn không? Tôi không có sức mạnh nào ngoài sức mạnh không nói ra điều tôi biết. Tôi cũng có sức mạnh đó, nhưng không dám mạo hiểm sử dụng nó.
Tôi kinh ngạc thấy cánh cửa căn phòng nhỏ của mình đang mở, những tiếng loảng xoảng, rầm rập phát ra từ bên trong. Tôi cất các món vũ khí lấy về được dưới gầm giường, và khi gầm giường hết chỗ, những thanh kiếm và dao đủ loại được chất đống để cạnh lò sưởi, cho tới khi sàn nhà không còn chỗ trống, ngoài một khoảnh nhỏ hình vuông trên sàn gỗ nơi Fergus trải những chiếc chăn len của mình.
Tôi đứng trên cầu thang, ngạc nhiên trước cảnh tượng mình nhìn thấy qua khung cửa mở. Murtagh đang đứng trên giường, giám sát việc phân phát vũ khí cho những người đàn ông đang tụ tập trong phòng tới mức tràn cả ra ngoài - những người đàn ông của Lallybroch.
“Thưa bà!” Tôi xoay người khi nghe tiếng kêu, và thấy Fergus ở ngay sát cạnh mình, mặt mày rạng rỡ, một nụ cười toe toét nở trên gương mặt bủng beo của cậu.
“Thưa bà! Điều này không tuyệt vời sao? Ông chủ đã xin được lệnh ân xá cho người của mình - một người đưa tin đã từ Stirling đến vào sáng nay, mang theo lệnh phóng thích họ, và chúng ta được lệnh tới chỗ ngài ở Stirling ngay lập tức!”
Tôi ôm chầm lấy cậu nhóc, chính mình cũng cười toe toét. “Điều đó quá tuyệt vời, Fergus!” Vài người đàn ông đã phát hiện ra và quay sang tôi, mỉm cười, giật giật ống tay áo của nhau. Bầu không khí vui vẻ và phấn khích tràn đầy căn phòng nhỏ. Murtagh, chễm chệ trên khung giường như một ông vua Gnome[2] ngồi trên cây nấm của mình, cũng nhìn tôi và mỉm cười - một biểu cảm làm cho người ta gần như không thể nhận ra ông, vì nó khiến khuôn mặt ông biến đổi quá nhiều.
“Ông Murtagh sẽ đưa mọi người đến Stirling à?” Fergus hỏi. Cậu nhóc đã nhận được một thanh đoản kiếm trong lúc chia chác số vũ khí, vừa nói vừa luyện tập rút ra rồi lại tra vào vỏ.
Tôi bắt gặp ánh mắt của Murtagh và lắc đầu. Xét cho cùng, tôi nghĩ, nếu Jenny Cameron có thể dẫn người của em trai mình tới Glenfinnan thì tôi cũng có thể đưa đội quân của chồng mình tới Stirling chứ. Lãnh chúa George và Điện hạ cứ thử xem nhẹ tin tức của tôi mà xem, tôi sẽ đích thân truyền nó tới cho từng người.
“Không,” tôi nói. “Ta sẽ đi.”
[1] Tiếng Anh: Âm mưu, mưu đồ.
[2] Một nhân vật trong xê ri truyện Phủ thủy xứ Oz của L. Frank Baum.