Chiếc xe ngựa nẩy lên, chầm chậm di chuyển trên đoạn đường mấp mô. Cái giá lạnh của mùa đông cùng những giọt mưa xuân đã khoét xuống mặt đường nhiều lỗ trống và ổ gà. Năm nay là một năm ẩm ướt, thậm chí đến thời điểm này, vào đầu mùa hạ, những khoảng lầy lội vẫn xuất hiện bên dưới các bụi cây căng tràn nhựa sống ở hai bên đường.
Jamie ngồi cạnh tôi trên chiếc ghế băng hẹp được độn bông và thiết kế thành từng chỗ ngồi riêng. Fergus ngả ngốn ngủ trong góc một chiếc ghế khác. Mỗi lần xe xóc đều khiến đầu cậu nhóc lắc lư như đầu của con búp bê máy có gắn lò xo ở cổ. Không khí trong xe khá ấm áp, không những thế, khi chúng tôi sa vào một khoảng đất khô, từng luồng bụi nhỏ vàng óng nhanh chóng lùa qua các ô cửa sổ.
Lúc đầu, chúng tôi chỉ nói những câu rời rạc không đầu không đuôi về khung cảnh đồng quê bên ngoài ô cửa, về những chuồng ngựa hoàng gia ở Argentan nơi chúng tôi đang hướng đến và về nhiều tin đồn được thêu dệt hằng ngày từ các cuộc chuyện trò trong triều đến những buổi họp bàn việc làm ăn. Lẽ ra tôi có thể chợp mắt giống họ, bởi chiếc xe đang đung đưa nhịp nhàng và thời tiết hôm nay khá ấm áp, tuy nhiên những đường nét cơ thể đang thay đổi khiến tôi phải ngồi ở một tư thế không thoải mái và cái lưng cũng ê ẩm vì đường xóc. Đứa bé cũng trở nên năng động hơn, những cử động máy thai ban đầu đã trở thành các cú thúc và đẩy rõ rệt; khá dễ chịu nhưng hay gây sao nhãng.
“Lẽ ra chúng ta nên ở nhà, Sassenach ạ!” Jamie hơi cau mày khi tôi cựa mình để điều chỉnh tư thế một lần nữa.
“Em không sao,” tôi mỉm cười, đáp. “Chỉ khó chịu. Và cảm thấy hổ thẹn bởi đã để lỡ tất cả những điều này.” Tôi hất tay về phía cửa sổ xe. Bên ngoài kia, những cánh đồng lấp lánh một màu xanh sáng của ngọc lục bảo, trải dài giữa các rặng cây dương thẫm màu, đứng vươn thẳng lên bầu trời cao. Sau khi phải ngửi nhiều mùi hôi hám nồng nặc trong thành phố cũng như mùi khó chịu của thuốc men trong nhà thương Des Anges thì dù bụi bặm hay không, không khí tươi mát của miền quê cũng thật thơm ngát và đầy lôi cuốn.
Vua Louis đã cho phép Công tước Sandringham mua bốn con ngựa cái giống từ trại ngựa giống hoàng gia tại Argentan, như một động thái xuất phát từ tình hữu nghị thận trọng giữa hai quốc gia, hướng tới những lời đề nghị mang tính ngoại giao từ phía nước Anh. Những con ngựa này sẽ cải thiện giống nòi của bầy ngựa kéo mà Đức ngài đang nuôi tại nước Anh. Bởi vậy, Đức ngài sẽ đến thăm Argentan ngày hôm nay, ngài đã mời Jamie đi cùng để cho lời khuyên về việc lựa chọn ngựa giống. Lời mời được đưa ra trong một bữa tiệc tối, thế là từ việc này dẫn tới việc kia và kết cục chuyến viếng thăm hoàn toàn trở thành một đoàn dã ngoại, bao gồm bốn chiếc xe ngựa, cùng một vài phu nhân và quý ông trong triều đình.
“Đây là dấu hiệu tốt, anh không nghĩ vậy ư?” Tôi khẽ hỏi và thận trọng đưa mắt liếc các bạn đồng hành để biết chắc họ đã say giấc nồng. “Ý của em là việc Vua Louis cho phép Công tước mua ngựa. Nếu Vua Louis tỏ thái độ hướng tới nước Anh thì có thể đoán ông ta sẽ không nghiêng về phía James Stuart, ít nhất là không công khai.”
Jamie lắc đầu. Anh đã nhất quyết từ chối mang tóc giả, do đó hình thù rõ ràng và gọn gàng của cái đầu cắt ngắn đã gây ra không ít kích động tại triều đình. Nhưng lúc này, nó là lợi thế của anh. Với mái tóc gọn gàng, mồ hôi chỉ xuất hiện một vệt sáng lờ mờ trên sống mũi dài và thẳng tắp của Jamie. Trong khi tôi đã trở nên héo úa bởi nóng nực.
“Không. Bây giờ, anh khá chắc chắn, Louis không định có liên hệ gì với người nhà Stuart, ít nhất là trong việc thúc đẩy chuyện phục vị. Ông Duverney quả quyết với anh rằng, Hội đồng hoàn toàn phản đối điều tương tự. Mặc dù Louis có thể cúi mình trước áp lực của Đức Giáo hoàng để cho phép Charles hưởng một khoản trợ cấp nhỏ nhưng ông ta không hề nguyện ý để nhà Stuart xuất hiện đường hoàng tại Pháp, bởi Vua Geordie nước Anh vẫn luôn theo dõi sát sao.” Hôm nay, anh mặc chiếc áo choàng len và đính một chiếc ghim cài xinh đẹp trên vai, món đồ do chị gái anh gửi từ Scotland đến. Chiếc ghim có hình hai con hươu đực đang chạy, cơ thể chúng được uốn cong thành một vòng tròn với phần đầu và đuôi của hai con chạm vào nhau. Anh đưa một nếp vải áo choàng lên lau mặt.
“Anh nghĩ anh đã nói chuyện với tất cả chủ nhà băng tại Paris về vấn đề thiết thực trong mấy tháng gần đây, và bọn họ liên kết với nhau tỏ thái độ thờ ơ.” Anh mỉm cười tinh ranh. “Tiền không hề thừa thãi nên chẳng ai muốn chống lưng cho một vấn đề mạo hiểm như việc phục vị của nhà Stuart.”
“Và việc đó,” tôi rướn người thẳng dậy, khẽ rên rỉ, “để dành cho Tây Ban Nha.”
Jamie gật đầu. “Hẳn vậy. Cả Dougal MacKenzie nữa.” Anh tỏ ra tự mãn. Tôi ngồi thẳng người, háo hức với vấn đề này.
“Anh có nghe tin gì về ông ta không?” Bất chấp thái độ cảnh giác ban đầu, Dougal đã chấp nhận Jamie như một thành viên Jacobite tận tâm tận lực. Cũng từ đó, lượng thư mã hóa thường được chuyển đến ngày một tăng và bằng một chuỗi những kênh giao tiếp riêng do Dougal gửi về từ Tây Ban Nha. Điều đó có nghĩa là Jamie sẽ đọc chúng trước khi chuyển qua cho Charles Stuart.
“Thực tế là có.” Qua biểu cảm của anh, tôi biết chắc nó là tin tốt mặc dù đối với người nhà Stuart thì không phải thế.
“Philip đã từ chối cho nhà Stuart vay bất kỳ khoản hỗ trợ nào,” Jamie nói. “Ông ta nhận được yêu cầu từ văn phòng giáo hội; theo đó, ông ta phải tránh xa mọi khúc mắc về vấn đề vương quyền của người Scotland.”
“Chúng ta có biết lý do không?” Những tin tức mới chặn được, từ một sứ giả của giáo hội, viết trong vài bức thư, tất cả đều ghi địa chỉ gửi đến James hoặc Charles Stuart. Tuy nhiên, có thể chúng không nhắc đến nội dung trao đổi giữa Đức Giáo hoàng và Tây Ban Nha.
“Dougal nghĩ rằng ông ấy biết.” Jamie cười lớn. “Ông cậu anh có vẻ phẫn nộ. Nghe nói ông ấy vẫn tiếp tục chờ đợi ở Toledo gần một tháng trời và rốt cuộc bị đuổi về cùng với một lời hứa mập mờ về sự giúp đỡ “khi nào thời điểm chín muồi, Deo volente[1]” Chất giọng trầm trầm của anh nhại lại ngữ điệu đạo đức giả thật hoàn hảo, khiến tôi phải bật cười.
“Benedict muốn ngăn ngừa xích mích giữa Tây Ban Nha và Pháp, ông ta không muốn Philip và Louis lãng phí tiền bạc, thứ mà ông ta còn có việc khác phải dùng, em biết đấy,” anh nói vẻ cay độc. “Một giáo hoàng nói ra điều đó thật không phải phép, nhưng Benedict nghi ngờ khả năng của vị vua Công giáo này trong việc lãnh đạo nước Anh. Xứ Scotland có những thủ lĩnh người Công giáo lãnh đạo các thị tộc vùng cao nguyên, nhưng mỗi khi nước Anh có một vị vua Công giáo - có thể nói nó như địa ngục một thời gian dài trước khi họ tiếp tục gây chiến - Deo volente,” anh nói thêm và cười nhe răng.
Anh đưa tay lên cào tóc, vần vò phần tóc hung đỏ phía trên thái dương. “Có vẻ tương lai nhà Stuart rất mờ mịt, Sassenach ạ, nhưng đó là tin tốt. Không có sự trợ giúp nào từ các ông hoàng Bourbon. Điều duy nhất khiến anh băn khoăn vào lúc này là vụ đầu tư mà Charles Stuart đã thỏa thuận với Bá tước St. Germain.”
“Vậy anh không nghĩ nó chỉ là một thương vụ thông thường ư?”
“Phải, nó là một thương vụ,” anh cau mày đáp, “và còn có nhiều điều ẩn phía sau nữa. Anh nghe được vài chuyện.”
Tuy các chủ nhà băng tại Paris đều không đồng tình giúp đỡ Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi giành lại vương quyền xứ Scotland, mặc cho tính chất nghiêm trọng thế nào, nhưng mọi chuyện sẽ dễ dàng thay đổi khi Charles Stuart đột nhiên có tiền đầu tư.
“Điện hạ nói rằng mình đang thương thuyết với nhà Gobelin,” Jamie kể. “St. Germain là người giới thiệu; nếu không, họ còn chẳng thèm gặp mặt cậu ta. Gobelin cha nghĩ cậu ta lười biếng và xuẩn ngốc, các con trai nhà đó cũng tin như vậy. Không những thế họ còn tuyên bố sẽ đợi để xem; nếu Charles thành công với kế hoạch liều lĩnh này thì cậu ta có thể nắm được những thời cơ khác, bằng cách riêng của mình.”
“Không tốt chút nào,” tôi nhận xét.
Jamie lắc đầu. “Đúng thế. Tiền sinh ra tiền, em biết mà. Nếu cậu ta có một hoặc hai thương vụ lớn thành công thì các nhà băng sẽ bắt đầu lắng nghe. Cậu ta không giỏi suy tính,” anh cười nửa miệng, “tuy nhiên, bản thân Charles vô cùng lôi cuốn. Cậu ta có thể thuyết phục mọi người tin vào những điều trái ngược với lương tri tốt đẹp của chính họ. Dù kế hoạch sẽ chẳng tiến triến nếu Charles không thể kiếm được chút vốn liếng nào với danh tiếng của mình, nhưng cậu ta sẽ có tiền khi thương vụ này thành công.”
“Ừm.” Tôi đổi tư thế thêm lần nữa, ngọ nguậy mấy ngón chân trong đôi giày da nóng nực đang giam hãm chúng. Đôi giày được đo ni vừa vặn, nhưng lúc này bàn chân tôi bắt đầu hơi sưng lên và chiếc tất dài bằng lụa đã ướt sũng mồ hôi. “Chúng ta có thể làm gì đó không?”
Jamie nhún vai, cười nửa miệng. “Anh nghĩ là chúng ta nên cầu cho thời tiết Bồ Đào Nha thật tệ hại. Nói thật, ngoài việc chìm thuyền, anh không thấy cách nào tốt hơn để thương vụ này thất bại. St. Germain đã có những hợp đồng để bán toàn bộ hàng hóa trên thuyền. Cả hắn lẫn Charles Stuart đều ăn lời gấp ba.”
Tôi thoáng rùng mình khi nghe anh nhắc tới gã Bá tước. Những lời suy đoán của Dougal ùa về. Tôi không thể kể với Jamie về chuyến đến thăm của Dougal, cả những lời suy đoán của ông ta về những hoạt động vào ban đêm của Bá tước. Tôi không thích giữ bí mật với anh, nhưng Dougal đã yêu cầu tôi im lặng như cái giá cho việc giúp tôi trong chuyện liên quan tới Jonathan Randall và tôi không có lựa chọn nào ngoài đồng ý.
Jamie bỗng mỉm cười nhìn tôi rồi anh đưa một bàn tay ra.
“Anh sẽ suy nghĩ mấy chuyện đó, Sassenach ạ. Còn giờ thì, đưa chân em đây. Mỗi khi anh xoa bóp chân cho Jenny hồi cả hai còn nhỏ, chị ấy đều nói đỡ đau hơn.”
Tôi không phản đối, liền rút chân khỏi đôi giày nóng ngốt người và đặt chúng lên lòng anh, thở phào nhẹ nhõm. Một luồng gió ùa qua cửa sổ, thổi mát lớp lụa ẩm ướt bao bọc mấy ngón chân.
Hai bàn tay anh tuy to lớn nhưng lúc này đây chúng lại vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng. Anh dùng các đốt ngón tay để xoa bóp xuôi theo đường cong của bàn chân, khiến tôi phải rên lên khe khẽ và ngả lưng ra sau. Chiếc xe lặng lẽ lăn bánh vài phút, trong lúc tôi thả lỏng mình tận hưởng cảm giác hạnh phúc, không âu lo.
Cúi đầu lúi húi xoa bóp những ngón chân mang tất lụa xanh, anh đột nhiên nói: “Thực ra, đó không phải là món nợ, em biết mà.”
“Cái gì không phải cơ?” Được bao bọc trong cảm giác thoải mái nhờ nắng ấm và xoa bóp bàn chân, nên tôi không hiểu anh muốn ngụ ý điều gì.
Anh vẫn tiếp tục công việc của mình, ngước nhìn tôi. Vẻ mặt của anh tuy nghiêm nghị nhưng ánh mắt ẩn chứa nụ cười.
“Em bảo rằng anh nợ em một mạng, Sassenach, bởi em đã cứu mạng anh.” Jamie nắm lấy một ngón chân cái, lắc lắc nó. “Nhưng anh đã tính toán và thấy điều đó không đúng. Nếu xem xét kĩ thì đối với anh chuyện này khá công bằng.”
“Ý của anh là gì?” Tôi cố gắng kéo chân về, nhưng anh giữ chặt nó.
“Nếu em đã cứu mạng anh - mà em đã làm thế thật - thì anh cũng từng cứu mạng em và ít ra việc đó khá thường xuyên. Anh cứu em khỏi Jack Randall tại pháo đài William, em nhớ chưa? Và anh còn đưa em ra khỏi đám hỗn loạn ở Cranesmuir, đúng chứ?”
“Phải,” Tôi thận trọng đáp. Tôi không biết anh sẽ nói gì tiếp theo, nhưng chắc chắn anh sẽ không nói chuyện tào lao. “Tất nhiên, em rất biết ơn điều đó.”
Anh khẽ phát ra một “âm thanh kiểu Scotland” tận sâu trong cổ họng, để tỏ ý cho qua. “Vấn đề không phải nằm ở lòng biết ơn, Sassenach ạ, dù là từ em hay từ anh - ý anh muốn nói là vấn đề cũng không phải ở nghĩa vụ hay bổn phận.” Nụ cười nhạt dần trong mắt anh, anh đã hoàn toàn nghiêm túc.
“Không phải anh trao cho em mạng sống của Randall để đánh đổi với mạng của mình, vì cuộc trao đổi này không công bằng. Ngậm miệng lại, Sassenach,” anh nói thêm, “ruồi sẽ bay vào đó.” Thực sự, lúc này, quanh chúng tôi có rất nhiều côn trùng nhỏ; ba con đang đậu trên ngực áo của Fergus, chúng yên vị tại đó bất chấp sự phồng lên, xẹp xuống của lồng ngực.
“Vậy thì tại sao anh đồng ý?” Tôi ngừng vùng vẫy thoát khỏi anh. Jamie liền dùng hai tay ôm lấy bàn chân tôi và chầm chậm rê ngón tay cái theo đường cong nơi gót chân.
“Chà, không phải bởi bất kỳ lý do nào mà em đưa ra để cố gắng thuyết phục anh. Cả về Frank,” anh nói, “mặc dù, đúng là anh đã cướp vợ của anh ta, và anh thấy thương anh ta vì điều đó - nhiều hơn những điều kia,” anh nói thêm, nhướng một bên lông mày, theo thói quen. “Tuy nhiên, nếu anh ta là đối thủ của anh ngay tại đây thì có gì khác đâu? Em đã được tự do lựa chọn và em đã chọn anh - dù anh ta sở hữu cả những thứ xa hoa như bồn tắm nước nóng. Tiền của!” Tôi giật một bên chân lại, rồi đạp vào xương sườn của anh. Anh ngồi thẳng dậy, kịp tóm lấy bàn chân của tôi trước khi nó tung cú đá tiếp theo.
“Hối hận vì lựa chọn của mình phải không?”
“Chưa đâu,” tôi đáp, vùng vẫy để thu hồi bàn chân về, “nhưng có thể bất cứ lúc nào. Nói tiếp đi!”
“Vậy thì, anh không nghĩ em chọn anh để thay thế cho Frank Randall vì suy tính cá nhân. Hơn nữa,” anh thành thực nói, “anh phải thừa nhận bản thân có chút đố kỵ với người đàn ông đó.”
Tôi tung bàn chân còn lại lên, nhằm vào phần thấp hơn. Nhưng anh đã bắt kịp trước khi nó chạm đích rồi vặn mắt cá chân của tôi một cách khéo léo.
“Về chuyện món nợ mạng sống của anh ta, dựa trên nguyên tắc chung,” anh tiếp tục nói mà không quan tâm đến nỗ lực giải phóng đôi chân của tôi, “thì lý luận của Cha Anselm trong nhà nguyện còn cho em câu trả lời đầy đủ hơn anh. Chắc chắn anh sẽ không nhẫn tâm giết một người vô tội. Nhưng mặt khác, anh sẽ giết người trong chiến trận và điều này thì có gì khác biệt chứ?”
Tôi nhớ đến gã lính cùng cậu bé trong tuyết mà tôi đã giết khi chạy trốn khỏi Wentworth. Tuy những ký ức về họ chẳng còn giày vò tôi nữa nhưng tôi biết chúng sẽ không bao giờ biến mất.
Anh lắc đầu. “Không, em có thể vướng vào rất nhiều cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề này, nhưng đến cuối cùng thì các lựa chọn khác nhau chỉ quy về một: Em sẽ giết người nếu em buộc phải làm và sau đó em sẽ sống cùng nó. Anh nhớ gương mặt của tất cả những người anh từng giết, và sẽ luôn như vậy. Tuy nhiên, sự thật cuối cùng là anh vẫn sống còn họ thì không. Đây chỉ là lời bào chữa của anh, cho dù nó đúng hay sai.”
“Nhưng trong trường hợp này thì không đúng,” tôi đáp lại. “Đây không phải chuyện giết hoặc bị giết.”
Anh lắc đầu để xua một con ruồi đang đậu trên mái tóc. “Bây giờ thì em nhầm rồi, Sassenach. Chuyện giữa anh và Jack Randall sẽ chỉ được giải quyết khi một trong hai người chết đi - hoặc có thể không bao giờ kết thúc. Có nhiều cách để giết người ngoài dao và súng, cũng có nhiều điều tồi tệ hơn là cái chết thể xác.” Giọng anh trở nên dịu dàng hơn. “Tại Ste. Anne, em đã kéo anh trở lại từ một thứ còn hơn cả cái chết, mo duinne, đừng bao giờ nghĩ rằng anh không biết.” Anh lắc đầu. “Xét cho cùng, có lẽ anh còn nợ em, nhiều hơn em nợ anh.”
Anh buông bàn chân tôi ra và chỉnh lại tư thế cho đôi chân dài của mình. “Và điều đó khiến anh phải ngẫm nghĩ về lương tâm của em cũng như của anh. Em đã không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi em đưa ra quyết định. Đầu tiên, em bỏ rơi một người đàn ông và tiếp theo, em kết án tử hình anh ta.”
Tôi hoàn toàn không thích miêu tả hành động của mình theo ý tứ trên, nhưng tôi không thể né tránh sự thật này. Tôi đã bỏ rơi Frank và mặc dù tôi không thể ân hận về lựa chọn của mình nhưng tôi vẫn làm vậy, rồi luôn luôn ân hận vì hoàn cảnh bắt buộc phải làm thế. Những lời tiếp theo của Jamie vang vọng trong tâm trí tôi một cách kỳ lạ.
Anh nói tiếp: “Nếu em biết việc lựa chọn có ý nghĩa là, ừm, cái chết của Frank - có thể nói như vậy - thì biết đâu em đã lựa chọn khác. Vì em đã chọn anh, liệu anh có quyền khiến những hành động của em gây ra hậu quả nhiều hơn em dự tính không?”
Bởi đắm chìm trong lập luận của mình, anh đã quên mất ảnh hưởng của nó đối với tôi. Đến lúc chợt nhìn thấy khuôn mặt tôi, anh im bặt và lặng lẽ quan sát, trong khi chiếc xe đi qua những bãi cỏ xanh ngát của vùng nông thôn.
“Anh đã không nhìn nhận giống em, để thấy đối với em nó là một tội lỗi như thế nào, Claire ạ,” cuối cùng, anh lên tiếng và đặt tay lên một bàn chân mang tất của tôi. “Anh là chồng hợp pháp của em cũng như anh ta đã từng - hoặc sẽ là. Bởi thậm chí em còn không biết em có thể trở lại với anh ta hay không; mo duinne, em có thể quay trở lại rất xa hoặc đi tiếp đến một thời đại hoàn toàn khác. Em đã hành động khi em nghĩ em phải làm thế và không ai có thể làm tốt hơn.” Anh ngước lên và cái nhìn trong đôi mắt anh đã xuyên thủng tâm hồn tôi.
“Anh đủ thành thực để nói rằng anh không quan tâm đến mặt đúng và sai của nó, chừng nào em còn ở đây với anh, Claire,” anh dịu dàng nói. “Nếu việc em chọn anh là một tội lỗi… thì anh sẽ đi tới trước mặt quỷ dữ và ca tụng hắn vì đã xúi giục em làm điều đó.” Anh nâng bàn chân của tôi lên, nhẹ nhàng hôn vào đầu ngón chân cái.
Tôi đặt tay lên tóc anh; mái tóc ngắn có cảm giác lởm chởm, nhưng mềm mại giống như một con nhím mới đẻ.
“Em không nghĩ lựa chọn này là sai lầm,” tôi khẽ đáp. “Nhưng nếu nó là… thì em sẽ đi gặp quỷ dữ cùng anh, Jamie Fraser.”
Anh nhắm mắt, cúi đầu. Anh giữ bàn chân tôi rất chặt, đến mức tôi có thể cảm thấy những khối xương dài và mảnh khảnh bị ép vào nhau, nhưng tôi vẫn không rút chân về. Tôi dúi những ngón chân vào lớp da đầu của anh, nhẹ nhàng kéo mái tóc lên.
“Vậy thì tại sao hở Jamie? Tại sao anh quyết định để cho Jack Randall sống sót?”
Anh vẫn giữ nguyên bàn chân tôi, chỉ mở mắt rồi mỉm cười.
“Chà, anh đã nghĩ rất nhiều điều, Sassenach ạ, trong khi anh bước từng bước vào tối hôm đó. Có một điều, anh đã nghĩ rằng em sẽ phải trải qua, nếu như anh giết tên bẩn thỉu kia. Anh sẽ, hoặc không, làm tăng thêm cho em nhiều đau khổ, Sassenach, nhưng lương tâm của em nặng đến mức nào nếu so với danh dự của anh?”
“Không.” Anh lắc đầu lần nữa, xua đi lý do này. “Mỗi chúng ta chỉ có thể chịu trách nhiệm cho hành động cũng như lương tâm của chính mình. Việc anh làm không thể đặt trách nhiệm lên em, cho dù tác động của nó thế nào.” Anh chớp chớp, đôi mắt ướt nước bởi gió bụi, anh đưa tay lên vuốt tóc để cố gắng vén gọn những đuôi tóc bị xõa tung nhưng vô ích. Phần tóc mái bị cắt ngắn giờ dựng đứng lên đầy ương ngạnh.
“Vậy thì tại sao?” Tôi gặng hỏi, vươn người tới trước. “Anh đã kể tất cả các lý do tại sao lại không; vậy cái còn lại là gì?”
Anh ngập ngừng trong giây lát, nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Bởi vì Charles Stuart, Sassenach. Cho tới thời điểm này, chúng ta đã chặn đứng mọi mối nguy hiểm, nhưng với vụ đầu tư này, có thể cậu ta sẽ thành công trong việc dẫn quân đến Scotland. Và nếu thế… thì em biết rõ hơn anh chuyện gì sẽ xảy ra, Sassenach ạ!”
Tôi biết và suy nghĩ đó khiến tôi lạnh run người. Tôi không thể ngăn mình ngừng nhớ lại lời miêu tả của một sử gia về số phận của những người vùng cao nguyên tại Culloden - “người chết nằm chồng chất lên nhau, thấm đẫm nước mưa và máu của chính họ.”
Những người cao nguyên bị dẫn dắt sai lầm, bị đói cồn cào và bị tàn sát chỉ sau nửa tiếng quyết định, nhưng họ đã chiến đấu dũng mãnh đến phút cuối cùng. Xác của họ chất thành từng đống, máu chảy thành dòng dưới làn mưa lạnh tháng Tư, đại nghĩa mà họ ấp ủ cả trăm năm cũng chết đi theo họ.
Bỗng nhiên, Jamie vươn mình tới trước để nắm lấy hai bàn tay tôi.
“Anh nghĩ chuyện đó sẽ không xảy ra đâu, Claire; anh nghĩ chúng mình sẽ ngăn cản được cậu ta. Nếu không được thì anh vẫn mong không có chuyện gì xảy ra với mình. Nhưng nếu như…” Anh trở nên hết sức nghiêm túc, giọng nói nhẹ nhàng mà khẩn thiết. “Nếu như chuyện xấu nhất xảy ra thì anh muốn có một nơi chốn dành cho em. Anh muốn có người để em tới bên nếu anh… không ở đó để chăm sóc cho em. Nếu người đó không thể là anh thì anh muốn đó là người đã từng yêu em.” Anh siết chặt hơn những ngón tay tôi. Vì thế, tôi cảm nhận được hai chiếc nhẫn đang ép vào da thịt và cả sự khẩn nài trong bàn tay anh.
“Claire, em biết cái giá của việc anh làm cho em - việc để dành mạng sống của Randall. Hãy hứa với anh nếu thời điểm đó đến, em sẽ quay trở về với Frank.” Đôi mắt anh nhìn khắp gương mặt tôi, đôi mắt xanh ngắt như bầu trời trong khuôn cửa sổ phía sau lưng. “Trước kia, anh đã hai lần thử gửi em trở về. Và tạ ơn Chúa, em đã không đi. Nhưng nếu lần thứ ba tới thì hãy hứa với anh là em sẽ quay lại với anh ta, với Frank. Đó là lý do anh để Jack Randall sống thêm một năm - vì lợi ích của em. Hứa với anh nhé, Claire?”
“Allez! Allez! Montez![2]” Tay xà ích quát to ở phía trên, nhằm khuyến khích cả đoàn leo lên một đoạn dốc. Chúng tôi đã gần đến nơi.
“Thôi được,” cuối cùng tôi đáp. “Em hứa.”
•••
Những chuồng ngựa tại Argentan đều sạch sẽ, thông thoáng, đượm hương mùa hè và mùi ngựa. Trong một ngăn chuồng mở cửa, Jamie đang say mê điều khiển con ngựa cái Percheron chạy vòng quanh, như một con ruồi trâu.
“Ôi chao, cô em mới nhỏ xinh làm sao! Lại đây, em yêu, để ta xem cái mông mập mạp nảy nở của em nào. Ừm, ái chà, thật vĩ đại!”
“Ta mong phu quân của ta cũng nói như thế với ta,” Nữ công tước Neve nhận xét, nhằm gợi lên tiếng cười từ các phu nhân khác trong đoàn. Tất cả đang đứng ở lối đi giữa chuồng ngựa và quan sát.
“Có thể ngài ấy sẽ nói vậy, thưa bà, nếu hình dáng phía sau lưng của bà cũng gây kích thích tương tự. Nhưng xét cho cùng, ngài ấy không có chung quan điểm về một cặp mông đẹp với Đức ngài Broch Tuarach đây.” Bá tước St. Germain đưa mắt quét qua người tôi, cùng lời nói bóng gió tỏ ý khinh miệt. Còn tôi cố gắng tưởng tượng hình ảnh cặp mắt đen kia lóe sáng đằng sau những khe hở của chiếc mặt nạ và đã thành công ngoài mong đợi. Tiếc rằng phần đăng ten viền quanh cổ tay áo của hắn đã rủ xuống quá các đốt ngón tay nên tôi không thể trông thấy khoảng giữa ngón trỏ và ngón cái.
Sau khi nghe được cuộc nói chuyện, Jamie liền thoải mái ngả người ra tấm lưng rộng của con ngựa cái, chỉ có đầu, hai vai và cẳng tay của anh ở trên thân con Percheron.
“Lãnh chúa Broch Tuarach hiểu được giá trị của cái đẹp ở bất kỳ nơi đâu nó hiện diện, thưa Bá tước St. Germain; dù ở động vật hay phụ nữ. Không như một số người, tôi có khả năng kể ra những điểm khác biệt giữa hai đối tượng này.” Anh nở nụ cười ác ý với St. Germain rồi vỗ nhẹ lên vai con ngựa để chào từ biệt trong khi cả đoàn người cùng cười ầm lên.
Jamie khoác tay, dẫn tôi đi tới chuồng ngựa tiếp theo. Đám đông bước chậm rãi phía sau.
“A,” anh thốt lên, hít hà hỗn hợp mùi của ngựa, của yên cương, của phân bón và cỏ khô, tựa như chúng là mùi hương trầm thanh khiết. “Anh nhớ mùi chuồng ngựa quá! Vùng nông thôn khiến anh nhớ về quê hương Scotland.”
“Nơi đây chẳng giống Scotland chút nào,” tôi nheo mắt dưới ánh mặt trời chói chang khi chúng tôi bước ra khỏi bóng râm của chuồng ngựa.
“Phải, nhưng đây là vùng nông thôn,” anh đáp, “sạch sẽ và đầy màu xanh, chẳng có mùi khói trong không khí, cũng như nước bẩn dưới hai bàn chân, trừ phi em tính cả mùi phân ngựa, còn anh thì không đâu.”
Mặt trời đầu hạ trải nắng lên các mái nhà của vùng Argentan đang nép mình giữa những triền đồi xanh mướt. Trại ngựa hoàng gia đặt ngay bên ngoài thị trấn và được xây dựng kiên cố hơn cả nhà cửa của dân chúng ở gần đó. Các kho thóc và chuồng ngựa được dựng lên từ đá tảng khai thác trong mỏ, sàn nhà lát đá và mái nhà lợp ngói đen, luôn được duy trì trong tình trạng sạch sẽ, mà xét trên cùng một góc độ, thì có phần vượt trội hơn nhà thương Des Anges.
Một tiếng hô lớn phát ra từ phía sau góc chuồng. Jamie đột ngột dừng lại và kịp thời tránh được Fergus. Cậu nhóc lao tới trước mặt chúng tôi với vận tốc của một viên đạn bắn khỏi súng cao su và hùng hục đuổi theo phía sau là hai nhóc chăn ngựa to con hơn hẳn. Dựa vào vệt phân tươi màu xanh chảy bên mặt cậu bé đầu tiên, tôi có thể đoán được nguyên nhân của cuộc cãi lộn.
Rất nhanh trí, Fergus tăng tốc gấp đôi, bỏ xa hai kẻ săn đuổi mình. Cậu nhóc chạy vào giữa đoàn người và chẳng hiểu làm thế nào, cậu ta núp được phía sau hông của Jamie. Sau khi trông thấy con mồi tìm được chỗ trốn an toàn, hai kẻ săn đuổi lén quan sát đội hình toàn những cận thần và phu nhân đang tiến tới, chúng nhìn nhau nhất trí, rồi quay người đều tăm tắp, phóng thẳng.
Thấy chúng bỏ đi rồi, Fergus mới ngóc đầu ra khỏi chỗ trốn phía sau chân váy của tôi, hét to một câu tục tĩu bằng tiếng Pháp và bị Jamie cho một cái bạt tai đau điếng.
“Cháu cũng biến đi,” anh nói cộc cằn. “Và vì Chúa, đừng có ném phân ngựa vào những đứa to lớn hơn cháu. Giờ thì đi đi và nhớ tránh khỏi rắc rối.” Để tăng thêm sức mạnh cho lời khuyên của mình, anh vỗ mạnh vào phần mông của cái quần ống túm và đẩy Fergus bước ngược hướng với mấy tay tấn công lúc trước.
Tôi đã băn khoăn về việc có nên đưa Fergus theo trong chuyến đi này hay không, nhưng hầu hết các phu nhân đều đưa thị đồng đi cùng, để chạy việc vặt, mang giỏ trái cây hoặc đồ dùng thiết yếu cho một ngày ở ngoài trời. Vả lại, Jamie muốn chỉ cho cậu bé thấy một góc phong cảnh đồng quê, giống như cho cậu có được một kỳ nghỉ. Mọi thứ đều tốt đẹp, ngoại trừ việc cậu bé Fergus, cả đời chưa ra khỏi Paris, đã bị niềm hân hoan đến từ không khí, ánh sáng cùng những con vật xinh đẹp to lớn làm phiền, cậu nhóc trở nên điên cuồng và bị kích động, liên tiếp vướng vào rắc rối kể từ lúc chúng tôi đến đây.
“Chúa mới biết được nó sẽ làm gì tiếp theo,” tôi buồn rầu nói và nhìn theo cái dáng rút lui của cậu nhóc. “Biết đâu nó lại đốt cháy một đống cỏ khô.”
Jamie tỏ ra bình thản trước lời tôi nói.
“Nó sẽ không sao đâu. Thằng nhóc nào cũng chơi trò ném phân hết.”
“Cả bọn họ sao?” Tôi quay lại để quan sát St. Germain thật kĩ lưỡng. Hắn trông sạch sẽ tinh tươm trong bộ đồ bằng vải lanh trắng, vải xẹc trắng cùng vải lụa trắng và đang kính cẩn khom mình lắng nghe Nữ công tước khi bà ta uốn éo bước qua khoảng sân trải đầy cỏ khô.
“Có thể anh đã chơi trò đó,” tôi nói. “Nhưng hắn thì không. Cả Đức Giám mục cũng không, em nghĩ vậy.” Ít nhất về phần mình, tôi đã tự hỏi liệu chuyến đi này có phải là một ý hay. Nhờ con ngựa Percheron, Jamie đã được đặt vào đúng môi trường của anh và ngài Công tước bị ấn tượng hoàn toàn. Đó chính là mặt tốt của chuyến đi. Nhưng mặt khác, trong suốt quãng đường trên xe ngựa, cái lưng của tôi bị đau nhức kinh khủng, còn đôi chân thì nóng nực chảy mồ hôi, bị gò bó đau đớn trong đôi giày da chật cứng.
Jamie nhìn tôi mỉm cười, ép chặt bàn tay của tôi đang đặt trên cánh tay anh.
“Không lâu nữa đâu, Sassenach. Người hướng dẫn muốn cho chúng ta xem chuồng gây giống. Sau đó, em cùng các phu nhân khác có thể ngồi nghỉ và thưởng thức đồ ăn, trong lúc đám đàn ông đứng chế giễu kích thước “cậu nhỏ” của nhau.”
“Đó là phản ứng chung khi quan sát ngựa gây giống sao?” Tôi thích thú hỏi.
“Ái chà, với đàn ông là vậy. Còn anh không biết các phu nhân phản ứng thế nào. Hãy nghe ngóng nhé, rồi em có thể kể lại với anh.”
Trên thực tế, khi chúng tôi đứng chen chúc trong khu chuồng phối giống chật hẹp, một bầu không khí kích thích bị kìm nén đã xuất hiện giữa những người tham dự. Giống như các tòa nhà khác, khu chuồng này cũng làm bằng đá, tuy nhiên nó không được trang bị những vách ngăn buồng kín, thay vào đó là một hàng rào quây nhỏ với các tấm vách lửng ở hai bên và một thứ có dạng máng dẫn hoặc đường đi chạy dọc phía sau, cùng vài cánh cổng có thể mở ra hoặc đóng vào để kiểm soát hoạt động của ngựa.
Tự thân khu chuồng đã sáng sủa và thoáng khí nhờ vào những ô cửa sổ lớn không có kính, được mở về hai đầu, giúp người bên trong có thể quan sát bãi cỏ giữ ngựa xanh mướt bên ngoài. Tôi có thể trông thấy mấy nàng ngựa giống Percheron khổng lồ đang thẩn thơ gặm cỏ gần ranh giới bãi chăn; một hoặc hai con trong số chúng có vẻ bồn chồn, sau khi phi nước đại vài bước lại quay trở về đi nước kiệu hay dạo bộ, vừa lúc lắc cái bờm vừa hí vang ầm ĩ. Mọi chuyện đang diễn ra bình thường thì đột nhiên có tiếng hí lớn vang lên từ một khoang lửng ở cuối khu chuồng, tấm chắn rung lên dưới cú đá mạnh mẽ của con ngựa bên trong.
“Anh chàng đã sẵn sàng,” một giọng tán dương khẽ thì thầm sau lưng tôi. “Không biết con nào sẽ là cô nàng may mắn đây?”
“Con gần cổng nhất,” Nữ công tước phán đoán, bà ta sẵn sàng đánh cuộc. “Năm livre cho con đó.”
“Ấy, không! Thưa phu nhân, bà nhầm rồi, con ấy còn điềm tĩnh lắm. Phải là con ngựa nhỏ hơn, ở bên dưới gốc cây táo, đang trợn tròn mắt như người phụ nữ làm đỏm kia kìa! Thấy cách nó hất đầu chưa? Tôi chọn con đó.”
Cả bầy ngựa cái nhất loạt dừng lại vì tiếng rống của con ngựa đực, chúng hếch cái mũi hít hà, chớp mắt đầy căng thẳng. Những con ngựa bồn chồn thì hất đầu, khẽ kêu lên; một cô nàng rướn cao cổ và hí một hồi dài cao vút.
“Chính nó,” Jamie khẽ nói, gật đầu về phía nàng ngựa. “Có nghe thấy cô nàng gọi anh ta không?”
“Và cô ta nói gì vậy, thưa ngài?” Đôi mắt của Đức Giám mục lóe lên một tia sáng.
Jamie lắc đầu nghiêm nghị.
“Đây là một bài hát, thưa Đức ngài, nhưng mà một người đàn ông mặc quần áo thì điếc tịt không thể nghe được - phải vậy chăng?” Anh nói thêm rồi bật cười.
Không còn nghi ngờ gì nữa, cô ngựa vừa cất tiếng gọi chính là kẻ được chọn. Cô nàng đột ngột quay đầu, hai lỗ mũi nở ra để đánh hơi trong không khí. Con ngựa đực có thể ngửi thấy mùi của cô nàng, tiếng hí của anh chàng vang dội dưới mái nhà gỗ, ồn ào đến mức không thể trò chuyện thêm nữa.
Dù sao, chẳng có ai muốn nói chuyện vào lúc này. Tôi cảm thấy khó chịu trong người, một cảm giác gai gai râm ran khắp vùng ngực. Đến khi nghe thấy nàng ngựa cái đáp trả tiếng hí của chàng ngựa đực thêm lần nữa thì dạ dày của tôi như bị quặn thắt.
Percheron là giống ngựa cỡ lớn. Nếu một con ngựa to đứng thẳng, vai nó có thể cao trên một mét rưỡi, mông của một con ngựa cái được ăn uống đầy đủ có thể rộng gần một mét bề ngang. Chúng thường có màu xám nhạt điểm đốm hoặc màu đen sáng, được tô điểm bởi chiếc bờm đen dài như thác đổ với phần chân bờm dày tương đương cánh tay tôi.
Con ngựa đực bỗng lao khỏi vách ngăn của nó, phi tới chỗ nàng ngựa đang bị buộc dây, hành động này khiến tất cả mọi người phải lùi khỏi hàng rào. Những cái móng khổng lồ gõ xuống nền đất của bãi rào kín làm bụi bẩn bay lên thành nhiều đám mây nhỏ, vài giọt nước miếng của anh chàng cũng bắn ra từ cái miệng đang mở lớn. Tay quản ngựa vừa mở cánh cửa thì nhảy ngay sang một bên, nếu đứng trước cơn cuồng nhiệt vĩ đại đang dần mất kiểm soát này, ông ta cũng trở nên nhỏ bé và chẳng đáng kể gì.
Nàng ngựa chồm lên, kêu ré đầy khiếp đảm, nhưng chàng ta đã ở trên nàng. Hàm răng của ngựa đực đã kề bên cái cổ săn chắc của ngựa cái, ép đầu nàng cúi xuống khuất phục. Trong khi đó, cái đuôi to lớn của nàng giương cao để phơi bày toàn bộ phần kín đáo trước cơn thèm khát của bạn tình.
“Jesus[3],” ngài Prudhomme thì thầm.
Mọi chuyện diễn ra rất nhanh, nhưng dường như họ đã dành nhiều thời gian hơn thế để quan sát, những mạn sườn ướt thẫm mồ hôi phập phồng lên xuống, ánh sáng nô đùa trên cái xoáy lông, sự bóng bẩy của những thớ cơ to lớn và cả trạng thái căng thẳng cũng như mệt mỏi trong đau đớn cực độ của công việc giao phối.
Mọi người đều giữ yên lặng tới khi chúng tôi rời khỏi chuồng ngựa. Cuối cùng, ngài Công tước cười phá lên, thúc cùi chỏ vào Jamie, nói: “Cậu đã quen với những cảnh tượng thế này, phải vậy không Broch Tuarach?”
“Đúng vậy,” Jamie đáp. “Tôi đã nhìn thấy rất nhiều lần.”
“À?” Công tước nói. “Vậy thì hãy nói ta nghe, cảnh tượng này khiến cậu cảm thấy thế nào, sau rất nhiều lần?”
Khóe miệng của Jamie khẽ giật giật, nhưng anh vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh.
“Rất bình thường, thưa Đức ngài,” anh đáp.
•••
“Cảnh tượng tuyệt vời quá!” Nữ công tước Neve thốt lên. Bà ta cắn miếng bánh quy rồi nhai trệu trạo với đôi mắt lim dim mơ màng. “Thật khêu gợi, đúng không?”
“Ý của bà là cái của quý đó,” bà Prudhomme nói khá thô tục. “Tôi ước gì Philibert có một cái như thế. Khi nó…” Bà ta hất một bên lông mày về phía cái đĩa đựng xúc xích, mỗi chiếc dài chừng năm phân và tất cả các phu nhân đang ngồi trên tấm thảm dã ngoại cùng cười khúc khích.
“Paul, mang cho ta một miếng thịt gà,” Nữ bá tước St. Germain ra lệnh cho thị đồng của mình. Cô ta hãy còn trẻ, nên cuộc chuyện trò tục tĩu của các vị phu nhân nhiều tuổi khiến cô ta thẹn đỏ mặt. Tôi tự hỏi không biết cuộc hôn nhân giữa cô ta và St. Germain là kiểu gì; bởi hắn không bao giờ đưa phu nhân của mình đến nơi công cộng, chỉ trừ những dịp như thế này, khi sự có mặt của Đức Giám mục không cho phép hắn đưa một trong những ả nhân tình tới.
“Ô hay!” bà Montresor kêu lên, bà ta là một trong những thị nữ trong cung điện, có chồng là bạn của Đức Giám mục. “Kích cỡ không phải là tất cả. Nếu cái đó có kích cỡ của con ngựa đực mà không trụ được quá một phút thì sao? Hoặc ít hơn hai phút? Tôi xin hỏi, thế thì tốt cái gì? Vấn đề không phải là họ có gì bên trong cái quần ống túm, như tôi đã nói; vấn đề là họ làm được gì với cái đó.”
Bà Prudhomme khịt mũi. “Ái chà, nếu bà tìm được một người biết làm nhiều chuyện với cái đó, tôi có hứng thú muốn biết cái đó còn làm được việc gì khác.”
“Ít ra thì bà có người để vui thú,” Nữ công tước Neve lên tiếng, ném ánh mắt ghê tởm về phía chồng mình. Ông này đang đứng túm năm tụm ba cùng những người khác gần một bãi tập, quan sát con ngựa cái đã được đóng yên thực hiện bước chạy nước kiệu.
“Không phải tối nay, phu nhân yêu quý,” bà ta bắt chước y hệt kiểu giọng mũi oang oang của chồng. “Tôi mệt lắm!” Bà ta đặt tay lên lông mày, trợn tròn hai mắt. “Áp lực công việc vô cùng mệt mỏi.” Được khuyến khích bởi những tiếng cười, bà ta tiếp tục trò bắt chước của mình, lần này là mở to hai mắt và bắt tréo hai tay trên lòng. “Cái gì, lần nữa? Bà có biết tiêu hao tinh túy của người đàn ông một cách vô cớ thì chỉ có chuốc bệnh vào người không? Ham muốn của bà đã hút hết xương tủy của tôi, Mathilde! Bà muốn tôi phát bệnh ư?”
Các phu nhân bắt đầu phì cười, có người cười khúc khích, có người cười ha hả, đủ ồn ào để thu hút sự chú ý của Đức Giám mục. Ông ta quay sang vẫy tay và mỉm cười bao dung với chúng tôi, nhưng vô tình khơi thêm nhiều tiếng cười hơn trước.
“Ôi, ít ra thì ông ta không tiêu hao cái tinh túy của đàn ông vào nhà thổ - hoặc mấy chỗ khác,” bà Prudhomme liếc Nữ bá tước St. Germain với vẻ thương hại.
“Không,” Mathilde âu sầu đáp. “Ông ta tích trữ nó như tích trữ vàng. Bà nghĩ xem chẳng còn gì hơn, cái cách ông ta… Ôi chao, Đức ngài! Đức ngài không có rượu sao?” Bà ta cười duyên với ngài Công tước, người đàn ông này đã âm thầm tiến tới từ phía sau. Ông ta đứng nhìn các phu nhân và mỉm cười, một bên lông mày thanh tú hơi cong lên. Nếu có nghe được nội dung câu chuyện của chúng tôi thì ông ta cũng chẳng tỏ thái độ gì.
Đức ngài ngồi xuống bên cạnh tôi, trò chuyện một cách tự nhiên và hóm hỉnh cùng các vị phu nhân, chất giọng cao kỳ lạ của ông ta không khác là bao so với giọng nói của họ. Tuy Công tước tỏ vẻ tập trung vào cuộc nói chuyện nhưng tôi phát hiện, thi thoảng ánh mắt của ông ta lại lạc tới chỗ đám đàn ông đang tụm năm tụm ba bên hàng rào quây khu đất. Chiếc váy của Jamie khá nổi bật, dù đứng giữa những bộ quần áo bằng vải nhung lộng lẫy hay vải lụa hồ cứng.
Tôi có hơi ngần ngại khi gặp lại ngài Công tước, bởi chuyến viếng thăm gần đây của chúng tôi đã kết thúc bằng vụ bắt giữ Jonathan Randall, dựa trên lời cáo buộc của tôi rằng hắn phạm tội cưỡng hiếp bất thành. Tuy nhiên, trong chuyến dạo chơi này, Công tước vẫn tỏ ra lịch thiệp, duyên dáng, không nhắc đến hai anh em nhà Randall. Không những vậy, tin tức về vụ bắt giữ chẳng hề lộ ra ngoài; cho thấy các hoạt động ngoại giao của Công tước, bất kể chúng là gì, cũng đủ tầm quan trọng, xứng đáng với sự im lặng được hoàng gia bảo đảm.
Nhưng trên tất cả, vào lúc này, tôi rất hoan nghênh sự hiện diện của ngài Công tước ở tấm thảm này. Vì một lý do, đó là sự hiện diện của ngài giúp tôi tránh được câu hỏi của các phu nhân - mà nhiều người trơ trẽn thường xuyên hỏi tại những bữa tiệc, rằng đàn ông Scotland mặc gì bên trong váy của họ. Dựa trên bầu không khí của bữa tiệc, tôi không nghĩ câu trả lời lấy lệ: “Ôi, như bình thường” có thể thỏa mãn họ.
“Chồng của cô có đôi mắt nhìn ngựa rất tinh tường,” Công tước quan sát tôi, nhân lúc Nữ công tước Neve ngồi cạnh ngài đang bận vươn người nói chuyện với bà Prudhomme ở bên kia tấm thảm. “Cậu ấy kể rằng cả cha và cậu của mình đều có những chuồng ngựa nhỏ nhưng khá chất lượng ở quê nhà.”
“Vâng, đúng vậy.” Tôi hớp một ngụm rượu. “Mà ngài đã tới thăm ông Colum MacKenzie tại lâu đài Leoch, chắc chắn ngài đã tự mình quan sát chuồng ngựa của ông ấy.” Thực ra, lần đầu tiên tôi gặp Công tước là tại Leoch vào năm ngoái, dù cuộc gặp mặt chỉ diễn ra chóng vánh. Không lâu sau, ông ta tham gia vào đoàn đi săn, sau đó tôi bị buộc tội dùng tà thuật. Tôi đinh ninh ông ta đã biết chuyện, nhưng có vẻ không phải vậy.
“Tất nhiên,” đôi mắt màu xanh dương be bé mà sắc sảo của ngài Công tước hết đảo trái lại đảo phải để dõi theo thứ mình đang quan sát, sau đó ông ta chuyển sang dùng tiếng Anh. “Chồng của cô nói với ta rằng cậu ấy không cư trú tại điền trang mình sở hữu bởi vướng vào một lời cáo buộc không may - nhầm lẫn thì đúng hơn - về tội giết người do Hoàng gia Anh đưa ra. Ta tự hỏi, thưa phu nhân, rằng lời cáo buộc ấy còn hiệu lực hay không?”
“Anh ấy vẫn bị truy nã,” tôi thẳng thắn trả lời.
Vẻ quan tâm ngoài mặt của Công tước không hề thay đổi. Ông ta lơ đãng nhặt lấy một chiếc xúc xích nhỏ trong đĩa.
“Vấn đề này vẫn có cách,” ông ta khẽ nói. “Sau cuộc đụng độ giữa ta và chồng cô ở Leoch, ta có vài yêu cầu, à, ta đảm bảo với cô đây là sự thận trọng thích đáng, phu nhân thân mến ạ! Ta nghĩ mọi việc có thể sắp xếp được không quá khó khăn, chỉ cần một lời nói với đúng người, từ đúng nguồn.”
Chuyện này thật thú vị! Ban đầu, Jamie kể với Công tước Sandringham về vấn đề sống ngoài vòng pháp luật là do Colum MacKenzie đề nghị, với hy vọng ngài Công tước có thể bị thuyết phục và can thiệp vào vụ án. Bởi Jamie thực sự không phạm phải tội ác mà anh bị tình nghi, họ có quá ít bằng chứng để chống lại anh. Công tước hoàn toàn có khả năng sắp xếp để loại bỏ cáo trạng, chỉ cần một tiếng nói có quyền lực từ tầng lớp quý tộc của nước Anh.
“Tại sao?” Tôi đáp. “Ngài muốn được đền đáp điều gì?”
Đôi lông mày thô kệch cong lên, ông ta mỉm cười, để lộ hàm răng trắng nhỏ đều tăm tắp.
“Lời nói của ta, cô đã thông suốt phải không? Chuyện này không thể xuất phát từ việc ta đánh giá cao ý kiến chuyên môn cũng như sự trợ giúp của chồng cô trong việc chọn ngựa và muốn thấy cậu ấy trở lại đúng vị trí có thể sử dụng kỹ năng của mình một cách có ích hay sao?”
“Có thể, nhưng không phải,” tôi đáp. Ánh mắt sắc sảo của bà Prudhomme đang quan sát chúng tôi. Tôi liền mỉm cười vui vẻ với Công tước. “Tại sao?”
Ông ta ném cả cái xúc xích vào mồm, rồi nhai thật chậm. Khuôn mặt tròn trĩnh dịu dàng chỉ phản chiếu niềm hân hoan được tận hưởng một ngày đẹp trời và bữa ăn ngon. Cuối cùng, ông ta đã nhai xong, khẽ vỗ chiếc khăn tay bằng vải lanh lên miệng thật tế nhị.
“Ái chà,” ông ta nói, “chỉ là một giả thiết, cô hiểu chứ…”
Tôi gật đầu, ông ta tiếp tục. “Theo một giả thiết thì, chúng ta cho rằng chồng của cô vừa xây dựng mối quan hệ bạn bè với… ừm, một nhân vật quan trọng nào đó tới từ Rome phải không? A, ta thấy rằng cô có hiểu ý ta. Phải. Chúng ta hãy nghĩ là tình bạn này đã trở thành một vấn đề cần bận tâm của một vài phe phái nào đó, họ thích nhân vật kia được trở về Rome bình an hơn - hoặc có thể lựa chọn cách ở yên tại Pháp, dù sao Rome cũng tốt hơn, an toàn hơn, cô hiểu chứ?”
“Tôi hiểu.” Tôi lấy một cái xúc xích cho mình. Chúng được tẩm ướp nhiều gia vị, mỗi khi cắn một miếng, mùi tỏi nồng nặc lại xộc lên mũi tôi. “Và những phe phái kia nhìn nhận nghiêm túc về tình bạn này nên đưa ra lời đề nghị xóa bỏ cáo trạng cho chồng tôi, đổi lại việc cắt đứt mối quan hệ? Vậy một lần nữa, câu hỏi đặt ra là tại sao? Chồng của tôi không phải là người hết sức quan trọng.”
“Bây giờ thì không phải,” Công tước đồng tình. “Nhưng trong tương lai thì có thể. Cậu ấy sở hữu mối liên hệ với một vài gia đình là chủ nhà băng người Pháp rất có quyền lực, cũng như các thương nhân. Cậu ấy còn được đón tiếp tại triều đình và có cơ hội tiếp cận Louis. Nếu hiện tại cậu ấy chưa nắm giữ quyền điều khiển lượng tiền thực tế cùng khả năng tác động thì cũng sẽ nhanh chóng đạt được thôi. Hơn nữa, chàng trai này là thành viên của không chỉ một, mà là hai thị tộc hùng mạnh của vùng cao nguyên. Và các phe phái mong muốn nhân vật quan trọng trong nghi vấn kia quay trở về Rome, vẫn nuôi dưỡng một nỗi sợ vô lý rằng tầm ảnh hưởng của chồng cô có thể bị sử dụng vào những phương diện ngoài mong muốn. Sẽ tốt hơn rất nhiều nếu chồng của cô quay trở về vùng đất của mình tại Scotland, cùng với danh tiếng đã được phục hồi, cô không nghĩ vậy ư?”
“Đây chỉ là suy nghĩ,” tôi đáp. Nó cũng là sự hối lộ, một điều kiện hấp dẫn. Cắt đứt mọi liên lạc với Charles Stuart, tự do quay trở về Scotland và Lallybroch, chẳng còn mối hiểm nguy nào lơ lửng trên đầu. Sự ra đi của một kẻ phiền phức ủng hộ nhà Stuart mà không gây tốn kém cho hoàng gia cũng là một đề nghị hấp dẫn từ phía nước Anh.
Tôi quan sát ngài Công tước, cố gắng hình dung xem ông ta có vai trò nào trong kế hoạch này. Với bề ngoài là một sứ giả của George II tức Tuyển Hầu tước xứ Hanover và Vua của nước Anh, chừng nào James Stuart còn ở Rome, có thể chuyến thăm nước Pháp lần này của ông ta nhằm đến mục đích kép. Dàn xếp với Louis bằng cách thương lượng khéo léo thông qua phép lịch sự cũng như đe dọa, những điều cấu thành nên ngoại giao, đồng thời dập tắt nỗi ám ảnh về một cuộc nổi dậy mới của người Jacobite chăng? Vài nhóm ủng hộ thường xuyên của Charles gần đây đã biến mất, họ viện cớ vì sức ép của công việc ngoại thương. Tôi tự hỏi là họ bị hối lộ hay sợ hãi?
Vẻ mặt dịu dàng không mảy may lộ ra manh mối nào, Công tước đẩy mái tóc giả ra sau cái trán hói, gãi đầu mà không hề e thẹn.
“Nghĩ về điều đó nhé, phu nhân thân mến,” ông ta thuyết phục. “Và khi nào cô nghĩ ra, hãy nói với chồng mình.”
“Tại sao ông không tự nói với anh ấy?”
Công tước nhún vai và lấy thêm ba cái xúc xích nữa. “Tôi phát hiện ra đàn ông thường nghe theo lời nói của người nhà, người mà họ tin tưởng, hơn những gì họ nhận ra khi bị thế giới bên ngoài thúc ép.” Ông ta mỉm cười. “Bởi họ cân nhắc về niềm kiêu hãnh; điểm này phải được lợi dụng một cách tinh vi. Mà nhắc đến chuyện xử lý tinh tế thì họ hay nói đến “cái chạm của phụ nữ”, phải không nhỉ?”
Tôi chưa kịp đáp lại thì một tiếng thét lớn từ khu chuồng chính đã thu hút mọi ánh mắt về hướng đó.
Một con ngựa đang tiến về phía chúng tôi, đi ngược lên từ lối đi hẹp giữa khu chuồng chính và khu nhà dài có mái che nơi đặt xưởng rèn. Một con Percheron non, không quá hai hoặc ba tuổi, dựa theo vết đốm trên da của nó. Những con Percheron non thường to lớn, nhưng con ngựa này thuộc dạng khổng lồ. Nó chạy nước kiệu qua lại một cách chậm rãi, cái đuôi quất từ bên này sang bên kia. Có thể thấy, con ngựa non này chưa được lắp yên cương; đôi vai đồ sộ của nó lắc mạnh nhằm hất bỏ hình hài nhỏ bé đang cưỡi trên cổ, hai tay thọc sâu vào trong cái bờm dày đen nhánh của nó.
“Ôi quỷ thần ơi, đó là Fergus!” Các vị phu nhân bị tiếng hét khuấy động liền đứng cả dậy, chăm chú quan sát cảnh tượng một cách thích thú.
Tôi không nhận ra nhóm đàn ông đã tới bên cạnh cho đến khi một phụ nữ kêu lên: “Nhưng trò này mới nguy hiểm làm sao! Nếu bị ngã, thằng bé chắc chắn sẽ bị thương!”
“Nếu thằng nhóc không tự làm mình bị thương vì ngã ngựa thì chính tay anh sẽ chăm sóc nó, anh sẽ trừng trị ngay thằng lỏi con này,” một giọng nói dữ tợn vang lên sau lưng tôi. Tôi quay lại và thấy phía trên đầu mình, Jamie chăm chú quan sát con ngựa đang phi nhanh tới.
“Anh có nên đưa nó xuống không?” Tôi hỏi.
Anh lắc đầu. “Không, hãy để con ngựa làm việc đó.”
Con ngựa có vẻ bối rối nhiều hơn hoảng sợ bởi sức nặng khác thường ở trên lưng. Bộ da màu xám chấm đốm giật giật và run rẩy, tựa như bị đám ruồi bâu quanh, con ngựa non lúc lắc đầu vẻ bối rối, giống như tự hỏi chuyện gì đang xảy ra.
Về phần Fergus, hai chân của cậu nhóc giạng ra, gần như vuông góc với tấm lưng to như cái phản của con Percheron, bàn tay nắm chặt cái bờm của nó, thứ duy nhất giữ cậu trên lưng con ngựa. Như vậy, cậu có thể tìm cách trượt xuống hoặc ít nhất dù có ngã xuống cũng không bị thương và các nạn nhân trong cuộc chiến ném phân lúc trước sẽ không hoàn thành được kế hoạch báo thù của mình.
Hai, ba tay quản ngựa đang đuổi theo sau ở một khoảng cách thận trọng và chắn ngang lối đi, trong con ngách hẹp sau lưng nó. Một người khác kịp vượt lên trước, mở cánh cổng dẫn vào một bãi tập trống, gần chỗ chúng tôi. Cánh cổng nằm giữa nhóm người tham quan dã ngoại và đoạn cuối con ngách nhỏ giữa hai dãy nhà; rõ ràng họ có ý dồn con ngựa vào trong bãi tập, tại đây, tùy vào sự lựa chọn của nó mà Fergus sẽ bị giày xéo hoặc không, nhưng ít nhất thì bản thân con ngựa không thể chạy trốn hay bị thương.
Trước khi công cuộc dồn đuổi hoàn thành, có một người khéo léo thò đầu qua ô cửa sổ nhỏ của gác xép, ngay phía trên con ngách. Tất cả người quan sát đều đổ dồn sự chú ý vào con ngựa, không ai nhận ra điều đó ngoài tôi. Cậu nhóc trên gác xép quan sát rồi thụt vào và lại hiện ra ngay tức thì, hai tay cầm một tảng cỏ lớn. Cậu ta phán đoán chính xác và thả rơi tảng cỏ xuống khi Fergus cùng con ngựa chạy qua ngay bên dưới.
Hiệu ứng xảy ra giống như một vụ nổ bom. Bịch cỏ lớn bị tung ra ở ngay nơi Fergus vừa đi qua. Con ngựa non hoảng sợ hí vang, phần thân sau của nó bị tảng cỏ rơi trúng, nó lồng lên như vừa thắng giải Derby, rồi quay đầu tiến thẳng về phía nhóm người đang quan sát. Thấy vậy, họ chạy tán loạn tứ phía, kêu la thất thanh như một bầy ngỗng.
Jamie đẩy tôi ra khỏi đường đi của con ngựa, ngã nhào tới trước, giữ chặt tôi trên nền đất trong lúc nó băng qua. Giờ thì anh kéo tôi đứng dậy và chửi thề lưu loát bằng tiếng Gaelic. Anh không kịp hỏi thăm tình hình của tôi đã vội vã đuổi theo hướng đi của Fergus.
Con ngựa chồm lên rồi vặn mình, nó đã hoảng loạn hoàn toàn, hai chân trước khua khoắng loạn xạ, ngay trước mặt mấy tay quản ngựa và đám nhóc chăn ngựa. Tất cả bọn họ đều mất đi vẻ điềm tĩnh chuyên nghiệp khi nghĩ tới một trong những con ngựa quý giá của nhà vua đang tự hủy hoại trước mắt họ.
Không hiểu bằng phép lạ của tính ương ngạnh hay nỗi sợ hãi mà Fergus vẫn ngồi nguyên trên lưng ngựa. Đôi chân gầy guộc đập liên hồi vào thân con ngựa khi cậu nhóc bị trượt xuống và nẩy tưng tưng trên tấm lưng nặng nề. Những tay quản ngựa đều la hét bảo cậu xuống, nhưng cậu nhóc phớt lờ lời khuyên này, hai mắt nhắm nghiền còn hai tay nắm thật chặt vào bờm ngựa như đang níu sợi dây sự sống. Một tay quản ngựa mang theo cái chĩa rơm; ông ta khua nó trong không khí để đe dọa và khiến bà Montresor la hét thất thanh khiếp đảm, bởi bà nghĩ ông ta sẽ xiên thằng bé.
Tiếng thét chẳng hề xoa dịu nỗi sợ hãi của con ngựa. Nó nhảy chồm, vội vã lùi lại để tránh xa đám người bắt đầu bao vây xung quanh. Mặc dù tôi đinh ninh tay quản ngựa sẽ không đâm Fergus chỉ để hất cậu nhóc xuống, nhưng cậu nhóc thực sự có nguy cơ bị giày xéo nếu ngã xuống đất, và tôi không thấy có cách nào để cậu nhóc tránh được vận mệnh bất hạnh đó lâu hơn nữa. Con ngựa đột nhiên xông tới một bụi cây nhỏ mọc gần bãi tập, có thể nó muốn chui vào để trốn tránh đám đông, hoặc có thể nó nghĩ đến việc dùng cành cây để gạt cơn ác mộng đang đè trên lưng xuống.
Vào lúc con ngựa ở bên dưới cành cây thứ nhất, tôi đã thoáng trông thấy nền vải kẻ ô vuông màu đỏ giữa lùm xanh, rồi một ánh chớp đỏ lóe lên, Jamie đã nhảy xổ ra từ chỗ nấp phía sau một cái cây. Anh lao người sượt qua con ngựa non, ngã nhào trên nền đất. Nếu là người tinh mắt thì qua hành động trên, họ có thể thấy quý ông Scotland kia chẳng mặc gì bên dưới chiếc váy của mình.
Tất cả đoàn người cùng đổ xô tới và tập trung chú ý vào Lãnh chúa Broch Tuarach trong khi mấy tay quản ngựa tiếp tục đuổi theo con ngựa đã biến mất bên kia lùm cây.
Jamie nằm ngửa dưới hàng cây sồi, khuôn mặt trắng xanh như mặt người chết, hai mắt và miệng mở lớn. Đôi tay anh ôm chặt người Fergus, thằng bé đang nằm yên trên ngực anh như một con đỉa. Jamie chớp mắt nhìn tôi, cố gắng mỉm cười yếu ớt khi tôi lao tới bên anh. Tiếng khò khè phát ra từ bên dưới hơi thở hồng hộc giúp tôi thấy lòng nhẹ nhõm; anh chỉ bị khó thở.
Sau khi nhận ra bản thân không còn chuyển động nữa, Fergus mới thận trọng ngóc đầu lên. Rồi cậu nhóc ngồi thẳng dậy trên bụng ông chủ của mình và reo lên vui sướng: “Vui quá, ngài ơi! Chúng ta làm lại lần nữa nhé?”
•••
Jamie bị căng cơ ở bắp đùi suốt thời gian sơ cứu tại Argentan và anh phải đi khập khiễng trên đường trở về Paris. Jamie sai Fergus - kẻ không thể làm trò mạo hiểm nào để bị mắng thậm tệ hơn nữa - xuống nhà bếp chuẩn bị bữa tối, rồi ngồi xuống chiếc ghế cạnh lò sưởi, xoa bóp cái chân bị sưng vù.
“Đau lắm ư?” Tôi hỏi.
“Một chút. Anh chỉ cần nghỉ ngơi thôi.” Anh đứng dậy và vươn người thật kiểu cách, hai cánh tay dài suýt chạm tới thanh xà bằng gỗ sồi đen phía trên mặt lò sưởi. “Bị chuột rút trong xe ngựa; lẽ ra anh nên cưỡi ngựa.”
“Ừm, em cũng vậy.” Tôi đưa tay xoa bóp cái lưng nhỏ bé của mình, tình trạng căng thẳng của chuyến đi khiến nó bị nhức mỏi. Cảm giác đau đớn lan qua vùng xương chậu xuống đến hai chân góp thêm vào cơn đau do quá trình dãn nở lúc mang thai.
Tôi thử đưa tay lướt dọc cẳng chân của Jamie, rồi ra hiệu về phía ghế nằm.
“Hãy nằm nghiêng người. Em có ít thuốc mỡ tốt, nếu xoa lên chân, anh sẽ đỡ đau một chút.”
“Vậy, nếu em không phiền.” Anh chật vật chuyển tư thế và nằm nghiêng bên trái, chiếc váy kéo cao qua đầu gối.
Tôi mở hộp thuốc của mình, lục lọi để tìm cái lọ. Cỏ long nha, hồng du, tầm ma… A, đây rồi! Tôi lôi ra lọ thủy tinh nhỏ màu xanh dương mà ông Forez đã cho tôi và vặn nắp. Tôi cẩn thận ngửi mùi của nó; những loại thuốc mỡ thường dễ bị ôi, nhưng cái này được cho một tỉ lệ muối thích hợp để bảo quản. Nó có mùi thơm dịu và màu sắc đẹp mắt - màu vàng nhạt của kem tươi.
Tôi xúc ra ít thuốc mỡ, xoa lên phần cơ dài của bắp đùi và kéo chiếc váy lên cao quá hông để tránh dính thuốc. Da thịt của anh tỏa ra hơi ấm nhưng không giống sức nóng do bị sưng tấy nhiễm trùng, chỉ là hơi ấm bình thường từ cơ thể một người đàn ông khỏe mạnh có rèn luyện và có thể chất khỏe mạnh. Tôi nhẹ nhàng xoa bóp để lớp kem thấm vào trong da, đồng thời cảm nhận phần gồ lên của những cơ bắp săn chắc và lần ra chỗ phân chia của cơ bốn đầu[4] và cơ gân khoeo. Jamie khẽ kêu một tiếng, có vẻ tôi đã xoa bóp hơi mạnh tay.
“Đau ư?” Tôi hỏi.
“Ừ, một chút, nhưng đừng dừng lại,” anh đáp. “Anh thấy có vẻ khá hơn rồi.” Jamie cười khúc khích. “Anh không thừa nhận với ai ngoài em, Sassenach ạ, nhưng lúc đó vui thật. Đã nhiều tháng rồi anh không di chuyển như thế.”
“Mừng vì anh thấy vui,” tôi đáp cộc lốc, lấy thêm một ít kem nữa. “Cá nhân em cũng cảm thấy ngày hôm nay thật thú vị.” Thế là tôi kể anh nghe về lời đề nghị của ngài Sandringham mà không hề ngơi tay.
Anh đáp lại bằng những tiếng cằn nhằn và nhăn mặt khi nhắc đến vấn đề nhạy cảm. “Vậy thì Colum đã đúng, cậu anh cho rằng người đàn ông đó có thể giúp anh bác bỏ những lời buộc tội.”
“Có vẻ như vậy. Em nghĩ vấn đề là: Anh có muốn ông ta nhận lời giúp đỡ không?” Tôi cố gắng không nín thở trong lúc chờ đợi câu trả lời. Bởi một lẽ, tôi biết kết cục sẽ là thế nào; gia đình Fraser nổi tiếng là những người ương ngạnh, mặc dù mẹ của anh là người nhà MacKenzie, nhưng Jamie là một người Fraser hoàn toàn. Một khi hình thành trong đầu suy nghĩ phải ngăn cản Charles Stuart thì anh sẽ không từ bỏ nỗ lực đó. Tuy nhiên, đề nghị này quả là một miếng mồi hấp dẫn đối với tôi, cũng như chính anh. Để có thể trở về Scotland, về quê hương anh; sống trong yên bình.
Nhưng tất nhiên, vẫn có một cản trở khác. Nếu chúng tôi quay về thật, để mặc kế hoạch của Charles cứ tiếp tục xoay vần và dẫn đến tương lai như tôi đã biết thì sự yên bình tại Scotland sẽ chỉ như gió thoảng.
Jamie khẽ khịt mũi, dường như anh đang dõi theo dòng suy nghĩ của tôi. “Anh nói em nghe, Sassenach. Nếu anh nghĩ Charles Stuart sẽ thành công trong việc giải phóng Scotland khỏi luật lệ của nước Anh thì anh đã bỏ hết đất đai, tự do và cả mạng sống để phò tá cậu ta. Cậu ta có thể ngu ngốc, nhưng là một kẻ ngu ngốc cao quý và không phải một kẻ thiếu can đảm, anh nghĩ vậy.” Anh thở dài. “Nhưng anh biết con người này, anh đã nói chuyện với cậu ta cũng như tất cả những người Jacobite từng chiến đấu bên cạnh phụ hoàng của cậu ta. Mặc dù tai họa em từng kể sẽ xảy ra nếu cuộc nổi dậy tái diễn… nhưng anh không còn lựa chọn khác ngoài ở lại, Sassenach ạ. Ngay khi cậu ta dừng lại, chúng ta sẽ có một cơ hội để quay về - hoặc không. Tuy nhiên, vào lúc này, anh đành phải từ chối lời đề nghị của Đức ngài cùng với lời cảm ơn.”
Tôi vỗ nhẹ vào đùi anh. “Em đã biết anh sẽ nói thế.”
Anh mỉm cười với tôi, liếc mắt nhìn lọ kem vàng. “Cái gì đây?”
“Ông Forez cho em. Ông ấy không nói tên nó. Em nghĩ nó không có bất kỳ hoạt chất nào, chỉ là một loại thuốc mỡ tốt thôi.”
Cả người anh đột nhiên cứng lại, Jamie liếc qua vai, nhìn cái lọ màu xanh.
“Ông Forez cho em cái này à?” Anh ái ngại hỏi.
“Vâng,” tôi ngạc nhiên đáp. “Có vấn đề gì sao?”
Anh đặt hai bàn tay xoa kem của tôi sang bên và vung chân ngồi dậy, với lấy cái khăn.
“Cái lọ này có hình hoa ly trên nắp phải không, Sassenach?” Anh vừa hỏi vừa chùi thuốc mỡ trên chân.
“Vâng, có đây,” tôi đáp. “Jamie, thuốc mỡ này có vấn đề ư?”
Nét mặt của anh kỳ quái tột độ, nó lập lờ giữa vẻ thất kinh và sự thích thú.
“Ồ, anh không nói nó có vấn đề, Sassenach ạ,” cuối cùng, anh đáp. Sau khi chùi kĩ đùi đến mức phần lông xoăn màu hung trên chân dựng thẳng đứng trên bề mặt da đỏ ửng, anh quẳng cái khăn sang bên và nhìn cái lọ vẻ trầm ngâm.
“Ông Forez đánh giá em khá cao đấy, Sassenach,” anh nói. “Thứ này đắt tiền lắm.”
“Nhưng…”
“Chẳng phải anh không hiểu rõ giá trị của nó,” anh vội vã cam đoan. “Chỉ là trong vòng một ngày, suýt nữa anh đã trở thành thành phần làm ra nó, cho nên anh cảm thấy rùng mình.”
“Jamie!” Tôi thấy mình đang cao giọng. “Thứ này là gì?” Tôi chộp lấy cái khăn tắm, vội vã chùi hai bàn tay dính thuốc.
“Mỡ của người bị treo cổ,” anh miễn cưỡng đáp.
“Ng-ng-ng…” Tôi không thể thốt nên lời, liền hỏi lại. “Ý của anh là…” Hai cánh tay tôi sởn hết gai ốc, còn chân tóc thì dựng đứng như ghim cài trên gối.
“Ừ, phải. Mỡ thu được từ những tù nhân bị treo cổ.” Anh vui vẻ nói, lấy lại vẻ điềm tĩnh nhanh chóng ngang với khi tôi làm mất nó. “Rất tốt cho thấp khớp và đau khớp, họ bảo thế.”
Tôi nhớ lại lối làm việc gọn gàng của Forez khi ông ta thu dọn kết quả của những nghiên cứu cá nhân trong nhà thương Des Anges, cả ánh mắt kỳ quặc trên khuôn mặt của Jamie khi anh trông thấy chirurgien cao lớn ấy hộ tống tôi về nhà. Hai đầu gối tôi nhũn ra và ruột gan như đảo lộn.
“Jamie! Rốt cuộc ông Forez là nhân vật quái quỷ nào thế?” Tôi suýt hét lên.
Anh giơ bàn tay lên thể hiện vẻ thích thú.
“Ông ta là người phụ trách treo cổ công khai của Quận 5, Sassenach ạ. Anh cứ nghĩ là em đã biết.”
•••
Sau khi kỳ cọ bản thân ở khu chuồng ngựa, Jamie quay vào nhà, toàn thân ướt đẫm và lạnh toát. Công việc tắm rửa của anh yêu cầu một không gian rộng rãi hơn là chỉ một cái chậu đặt trong phòng ngủ.
“Đừng lo, hết sạch rồi,” anh cam đoan, cởi nốt chiếc áo sơ mi rồi chui vào chăn. Người anh lạnh toát và nổi da gà, cả cơ thể thoáng run lên khi ôm lấy tôi.
“Chuyện gì thế Sassenach? Người anh không còn mùi đó phải không?” Anh thắc mắc bởi tôi đang co mình dưới chăn, hai cánh tay ôm lấy người.
“Không,” tôi đáp. “Em sợ quá. Jamie ơi, em đang chảy máu.”
“Chúa ơi,” anh thốt lên. Những lời của tôi đã truyền cảm giác rùng mình, sợ sệt sang anh, y hệt như những gì đã xảy ra với tôi. Anh ôm tôi sát lại, đưa tay xoa đầu và vỗ vào lưng tôi. Nhưng chúng tôi đều cảm thấy bất lực khi đối diện với điều bất hạnh đang xảy ra, khiến cho những hành động của anh trở nên vô ích. Anh mạnh mẽ như vậy nhưng không thể bảo vệ được tôi; dù anh có sẵn sàng thì cũng không thể giúp được. Lần đầu tiên, tôi không an toàn ngay cả khi ở trong vòng tay của anh và nhận thức đó khiến cả hai cùng khiếp sợ.
“Em có nghĩ…” Anh cất lời dở dang rồi im bặt. Tôi có thể cảm nhận được chuyển động trên cổ anh, cả âm thanh khi anh nuốt nỗi sợ hãi vào lòng. “Hiện tượng này là xấu à, Sassenach? Em có phán đoán được tình hình không?”
“Không,” tôi đáp, ôm anh chặt hơn, cố gắng tìm kiếm một điểm tựa. “Em không biết. Nó chưa bao giờ chảy nhiều máu thế này.”
Ngọn nến vẫn tỏa sáng. Anh nhìn tôi, đôi mắt nhuốm màu lo lắng.
“Anh có nên gọi ai đó tới cho em không, Claire? Một thầy thuốc, một người ở nhà thương?”
Tôi lắc đầu, liếm đôi môi khô khốc.
“Không. Em không… em không nghĩ họ có thể giúp được gì.” Đây là lời cuối cùng tôi muốn thú nhận, hơn hết thảy mọi điều. Tôi cũng ước cả hai có thể tìm ra một người biết cách giải quyết chuyện này ổn thỏa. Thế nhưng tôi nhớ lại khóa huấn luyện y tá đầu tiên của mình, khi đó tôi thực tập tại khoa sản. Vị bác sĩ sau khi rời khỏi giường của một bệnh nhân sẩy thai đã nhún vai và bảo: “Trên thực tế, cô không thể làm được gì cả. Nếu họ phải mất đứa bé thì thường là họ sẽ mất nó, dù cô có cố gắng thế nào. Nghỉ ngơi trên giường là điều duy nhất có thể làm, dù không hiệu quả lắm.”
“Có thể chuyện này không gây ảnh hưởng gì đâu,” tôi cố gắng động viên anh cũng như chính mình. “Thi thoảng phụ nữ chảy máu trong thai kỳ là hoàn toàn bình thường.” Nhất là vào ba tháng đầu tiên. Nhưng tôi đã mang thai hơn năm tháng nên điều này không hề bình thường. Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến chảy máu và chỉ một số trong đó là nghiêm trọng.
“Có thể mọi chuyện sẽ ổn,” tôi nói, đặt tay lên bụng, ấn nhẹ. Đứa bé ở bên trong liền đáp lại, một cú thúc uể oải làm căng da bụng giúp tôi khá hơn ngay tức thì. Tôi cảm thấy biết ơn sâu sắc và chợt rơi nước mắt.
“Sassenach ơi, anh có thể làm gì?” Jamie thì thầm. Bàn tay anh đặt lên tay tôi, ôm lấy cái bụng đang gặp nguy hiểm.
Tôi đặt bàn tay kia lên và nắm lấy tay anh.
“Hãy cầu nguyện,” tôi đáp. “Cầu nguyện cho chúng ta, Jamie.”
[1] Tiếng Latinh: Theo ý Chúa.
[2] Tiếng Pháp: Đi nào! Đi nào! Lên!
[3] Tiếng Pháp: Chúa ơi!
[4] Phần cơ ở mặt trước của đầu gối.