Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN HAI - NHỮNG KẺ ĐÒI VỊ, Le Havre, nước Pháp, Tháng Hai, 1744 - 6
Nổi sóng

❊ ❊ ❊

“Bánh mỳ,” tôi khẽ lẩm bẩm, hai mắt vẫn nhắm nghiền. Thân thể to lớn, ấm áp kề bên tôi chẳng hề đáp lại, không có phản ứng gì ngoài dấu hiệu mờ nhạt của hơi thở.

“Bánh mỳ!” Tôi nói lớn hơn một chút. Chiếc chăn đột nhiên nhấp nhô, tôi túm lấy mép đệm và siết chặt hết mức, hy vọng ổn định các cơ quan nội tạng như đang muốn đảo lộn của mình.

Âm thanh quờ quạng vang lên từ phía mép giường bên kia, tiếp theo là tiếng trượt của ngăn kéo tủ, một câu cảm thán bị bóp nghẹt bằng tiếng Gaelic, tiếng chân trần nhẹ nhàng giẫm lên các ván sàn, và sau đó tấm đệm lún xuống dưới sức nặng của một cơ thể to lớn.

“Đây, Sassenach,” một giọng nói lo âu vang lên, và tôi cảm thấy cái vỏ bánh mỳ khô khốc chạm vào môi dưới của mình, vẫn không mở mắt, tôi mò mẫm rồi cầm lấy nó, bắt đầu nhai một cách thận trọng, ép từng miếng nghẹn ứ trôi qua cái cổ họng khô khốc. Tôi biết tốt hơn mình nên hỏi xin nước.

Vụn bánh mỳ giòn rụm dần dần tìm được cách trôi qua cuống họng để xuống yên vị trong dạ dày tôi, y như những chồng đá dăm nhỏ. Những cơn buồn nôn cuồn cuộn bên trong cơ thể chầm chậm dịu đi, và cuối cùng ruột gan cũng neo chặt ở đúng vị trí của chúng. Tôi mở mắt, trông thấy khuôn mặt lo lắng của Jamie Fraser đang lơ lửng phía trên tôi vài phân.

“A!” Tôi giật mình kêu lên.

“Ổn cả chứ?” Anh hỏi. Tôi gật đầu và ngồi thẳng dậy một cách yếu ớt, anh vòng một cánh tay ra sau lưng tôi để trợ giúp. Ngồi xuống bên cạnh tôi trên chiếc giường thô ráp của phòng trọ, anh dịu dàng kéo tôi lại gần, vuốt ve mái tóc rối bù của tôi.

“Tội nghiệp cưng,” anh nói. “Một ngụm rượu vang có giúp được em không? Trong cái túi bên yên ngựa của anh có một bình dẹt đựng rượu vang trắng của Đức đấy.”

“Không. Không, cảm ơn anh.” Tôi thoáng rùng mình trước ý nghĩ uống rượu vang Đức. Ngay khi nhắc đến nó, dường như tôi đã ngửi thấy mùi quả chín lên men - và buộc phải gồng mình lên.

“Em sẽ khỏe ngay mà,” tôi nói, gắng tỏ ra vui vẻ. “Đừng lo, phụ nữ mang thai cảm thấy nôn nao vào buổi sáng là chuyện bình thường.”

Jamie nhìn tôi vẻ ngờ vực, anh đứng dậy, đi lấy quần áo của mình trên chiếc ghế đẩu gần cửa sổ. Nước Pháp trong tiết tháng Hai lạnh lẽo như địa ngục đóng băng, và các tấm kính trên cửa sổ phủ dày sương giá.

Anh đang ở trần, một mảng da trên vai nổi gai ốc và lông tay, lông chân dựng đứng lên. Do đã quen với cái lạnh nên anh không hề rùng mình cũng như không vội vàng xỏ tất dài hay mặc áo. Trong lúc mặc y phục, anh dừng lại một chút, trở về giường và ôm tôi thật nhanh.

“Chui vào chăn đi,” anh đề nghị. “Anh sẽ bảo phục vụ phòng nhóm lò sưởi. Có lẽ em sẽ nghỉ ngơi được một chút, em đã ăn được rồi. Giờ em không mệt chứ?” Tôi không hoàn toàn chắc chắn nhưng vẫn gật đầu cam đoan.

“Em không nghĩ vậy.” Tôi liếc về phía giường, mấy tấm chăn mền, giống như ở phần lớn những nhà trọ khác, chẳng có cái nào là quá sạch. Dù thế đồng bạc trong túi Jamie cũng đã kiếm cho chúng tôi căn phòng tốt nhất ở quán trọ này, và chiếc giường hẹp được nhồi lông ngỗng thay vì rơm rạ hay len cừu.

“Ừm, có lẽ em sẽ nằm xuống một lát,” tôi lẩm bẩm, rút chân khỏi sàn nhà lạnh lẽo và thọc chúng vào dưới lớp chăn, nhằm tìm chút hơi ấm còn rơi rớt lại. Dạ dày tôi có vẻ đã đủ ổn định để mạo hiểm uống một ngụm nước nên tôi rót đầy một cốc nước từ cái bình bị nứt đặt trong phòng ngủ.

“Anh đang giậm gì vậy?” Tôi hỏi, cẩn trọng uống một ngụm. “Trên này chẳng có nhện đâu nhỉ?”

Jamie vừa thắt chặt chiếc váy của người Scot quanh eo vừa lắc đầu.

“Ồ, không,” anh nói. Đôi tay còn đang bận rộn, anh nghiêng đầu về phía bàn. “Một con chuột thôi. Vì chỗ bánh mỳ, anh nghĩ thế.”

Tôi liếc nhìn xuống, thấy cái khối hình màu xám mềm oặt nằm rũ trên sàn, một hạt máu nhỏ ánh lên nơi mõm nó. Tôi nhào ra khỏi giường ngay lập tức.

“Không sao đâu,” một thoáng sau đó, tôi yếu ớt nói. “Chẳng còn gì để nôn ra nữa.”

“Súc miệng thôi nào, Sassenach, nhưng đừng có nuốt đấy, vì Chúa.” Jamie đưa chiếc cốc đến và lau miệng cho tôi bằng một cái khăn như thể tôi là một đứa trẻ bừa bãi, sau đó bế tôi lên, cẩn thận đặt trở lại giường. Anh cau mày lo lắng nhìn tôi.

“Có lẽ anh nên ở lại,” anh nói. “Anh có thể gửi lời nhắn đi.”

“Không, không, em ổn cả,” tôi nói. Và thật vậy. Cho dù tôi đánh vật thế nào để giữ cho mình khỏi nôn mửa vào mỗi buổi sáng, tôi không thể giữ được thứ gì trong bụng quá lâu. Nhưng một khi cơn khó chịu qua đi, tôi cảm thấy mình hoàn toàn hồi phục. Ngoại trừ vị chua lợm trong miệng và một cơn đau nhẹ nơi cơ bụng, tôi cảm thấy khá giống thường lệ. Tôi đẩy đống chăn ra và đứng dậy để chứng minh.

“Thấy không? Em sẽ khỏe thôi. Vả lại, anh phải đi chứ; không được để người họ hàng của anh chờ đợi thêm nữa.”

Tôi lại bắt đầu cảm thấy vui tươi phấn chấn, cho dù không khí lạnh giá đang luồn qua khe cửa và lùa vào bên dưới những nếp gấp của chiếc váy ngủ. Jamie vẫn do dự, miễn cưỡng rời khỏi tôi. Tôi tới bên và ôm anh thật chặt, để làm anh yên lòng và cũng vì anh ấm áp dễ chịu quá thể.

“Brừ,” tôi rên hừ hừ. “Làm thế quái nào mà anh ấm như một cái bánh mỳ nướng trong khi chẳng mặc gì ngoài một chiếc váy nhỉ?”

“Anh mặc cả áo nữa mà,” Jamie bào chữa, mỉm cười nhìn tôi.

Chúng tôi nép sát vào nhau, tận hưởng hơi ấm từ người kia trong cái se lạnh của buổi sớm nước Pháp. Ngoài hành lang, tiếng loảng xoảng và loẹt quẹt của người hầu phòng kéo lê thùng than nhóm lò sưởi đang dần tới gần hơn.

Jamie khẽ cựa người áp sát vào tôi. Bởi việc di chuyển giữa mùa đông vô cùng khó khăn nên chúng tôi mất gần một tuần mới đi được từ Ste. Anne tới Le Harve. Giữa những lần trú chân tối muộn ở những quán trọ ảm đạm, ẩm ướt, bẩn thỉu, cả người run rẩy vì mệt mỏi cùng lạnh giá, và những lần bất an tỉnh giấc mỗi đêm ngày một gia tăng, cũng như cảm giác ốm yếu hằng sáng ngày càng tồi tệ, chúng tôi hiếm có cơ hội chạm vào nhau kể từ sau đêm cuối cùng tại tu viện.

“Vào giường với em nhé?” Tôi dịu dàng mời chào.

Anh lưỡng lự. Sức mạnh của sự ham muốn hiện rõ qua lần vải của chiếc váy truyền thống xứ Scotland, đôi tay anh ấm áp trên da thịt mát lạnh của tôi, nhưng anh không nhúc nhích.

“Vậy thì...” Anh nói một cách e ngại.

“Anh muốn mà, phải không?” Tôi nói, lần bàn tay se lạnh của mình xuống dưới chiếc váy của anh để chắc chắn.

“Ồ! A… được rồi. Phải, anh có muốn.” Bằng chứng trong tay tôi đã xác nhận lời tuyên bố này. Anh rên rỉ khe khẽ khi tôi khum bàn tay giữa hai chân anh. “Ôi, Chúa ơi. Đừng làm vậy, Sassenach, anh không thể dời tay mình khỏi em mất.”

Rồi anh ôm tôi, bao bọc đôi tay dài quanh người tôi và kéo khuôn mặt tôi áp vào ngực áo sơ mi của anh, nơi còn thoang thoảng mùi bột giặt của tu sĩ Alfonse tại tu viện.

“Tại sao anh phải dời tay khỏi em?” Tôi nói, giọng ngèn nghẹt trên chiếc áo sơ mi vải lanh. “Chắc chắn anh còn thừa thời gian mà, phải không? Chỉ cưỡi ngựa phút chốc là sẽ tới bến tàu.”

“Không phải chuyện đó,” anh nói và vuốt ve mái tóc rối bù của tôi.

“Ôi, hay vì em quá béo?” Thực tế bụng tôi vẫn gần như phẳng lỳ, và tôi còn gầy hơn bình thường bởi ốm nghén. “Hay vì...?”

“Không,” anh mỉm cười, đáp. “Em nói nhiều quá.” Anh cúi đầu, hôn tôi, sau đó nhấc bổng tôi lên rồi ngồi xuống giường, ôm tôi trong lòng. Tôi nằm xuống và kiên quyết kéo anh nằm lên trên người mình.

“Claire, không!” Anh phản đối trong lúc tôi bắt đầu cởi khuy váy.

Tôi chăm chăm nhìn anh. “Lý do là gì vậy?”

“Thôi được,” anh ngượng nghịu nói và hơi đỏ mặt. “Đứa bé… ý anh là, anh không muốn làm đau nó.”

Tôi bật cười.

“Jamie, anh không thể làm đau con được. Đứa bé chẳng lớn hơn đầu ngón tay của em đâu.” Tôi giơ một ngón tay lên để minh họa, sau đó lướt nó quanh đường cong nơi bờ môi dưới đầy đặn của anh. Anh tóm lấy bàn tay tôi và đột ngột cúi người hôn tôi, như để xóa mờ cảm giác kích thích từ sự đụng chạm của tôi.

“Em chắc chứ?” Anh hỏi. “Anh… anh cứ nghĩ thằng nhóc sẽ không thích bị xóc…”

“Cậu nhóc sẽ chẳng bao giờ phát hiện đâu,” tôi cam đoan, rồi hai bàn tay lại cuống quýt bận rộn với nút móc trên chiếc váy của anh.

“Vậy thì… nếu em chắc chắn thế.”

Một tiếng gõ cửa đanh gọn vang lên, với sự lựa chọn thời điểm chuẩn xác đúng kiểu của người Pháp, cô hầu gái đi giật lùi vào phòng, bất cẩn để một thanh củi quệt vào cửa trong lúc quay người lại. Nhìn bề mặt sứt sẹo của cánh cửa, có thể thấy đây là chu trình mở cửa quen thuộc của cô ta.

“Bonjour[1], quý ông, quý bà,” cô ta lẩm bẩm, gật đầu cộc lốc về phía giường trong khi lê bước tới lò sưởi. Thái độ của cô ta như muốn nói chuyện này cũng là bình thường đối với vài người. Đến giờ đã quen với vẻ thản nhiên của những người hầu khi chứng kiến cảnh tượng khiếm nhã của các vị khách trọ, tôi chỉ lầm bầm đáp lại: “Bonjour, quý cô,” và để mặc cô ta. Tôi cũng buông chiếc váy của Jamie ra và trườn xuống dưới chăn, rồi kéo chăn lên để giấu đi hai má đỏ hồng.

Vốn bình tĩnh hơn, Jamie khéo léo đặt một chiếc gối ôm lên ngang đùi, chống hai khuỷu tay lên đó, lòng bàn tay ngửa lên đỡ lấy cằm, bắt đầu chuyện trò vui vẻ với cô hầu phòng, tán dương cách nấu nướng của nhà trọ.

“Các vị mua rượu vang từ đâu thế, quý cô?” Anh lịch sự hỏi.

“Từ chỗ này, chỗ kia thôi.” Cô ta nhún vai, bàn tay thành thạo nhanh nhẹn tiếp nhiên liệu. “Bất cứ nơi nào bán rẻ nhất.” Gương mặt phúng phính của người phụ nữ hơi nhăn lại khi cô ta nghiêng mặt nhìn Jamie từ chỗ lò sưởi.

“Tôi cũng đoán vậy,” anh nói, toét miệng cười, còn cô ta thì khịt mũi thích thú.

“Tôi cược là mình có thể đưa ra giá tương đương với mức các vị đang mua, nhưng chất lượng thì gấp đôi,” anh đề nghị. “Hãy nói với bà chủ của cô thế.”

Một bên lông mày nhướng lên vẻ hoài nghi. “Mức giá của ông là thế nào, thưa ông?”

Anh làm một cử chỉ thể hiện sự xả thân quên mình giống như người xứ Gaul. “Không gì cả, thưa cô. Tôi sắp ghé thăm một người họ hàng bán rượu và có lẽ tôi sẽ mang đến cho ông ấy một vụ làm ăn mới nào đó để đảm bảo mình được chào đón chăng?”

Cô hầu gái gật đầu, trông có vẻ lõi đời trong chuyện này, và cằn nhằn một tiếng khi đứng thẳng lên.

“Tốt thôi, thưa ông. Tôi sẽ nói với bà chủ.”

Cánh cửa sập mạnh sau lưng cô hầu gái, nhờ vào kỹ thuật đánh hông của cô ta khi đi ra ngoài. Để cái gối sang một bên, Jamie đứng lên, bắt đầu cài lại khuy váy.

“Anh nghĩ mình sắp đi đâu hả?” Tôi phản đối.

Anh liếc xuống tôi, một nụ cười miễn cưỡng cong lên nơi khuôn miệng rộng.

“Ồ. Vậy thì… em có chắc mình muốn nó không, Sassenach?”

“Em muốn nếu anh muốn,” tôi đáp, không thể nào kháng cự nổi.

Anh nhìn tôi vẻ kìm nén.

“Đáng ra anh phải đi ngay. Nhưng anh nghe nói là nên làm vui lòng phụ nữ có mang.” Anh thả rơi chiếc váy xuống sàn nhà và ngồi xuống bên cạnh tôi, trên người chỉ còn độc cái áo sơ mi, chiếc giường kêu kẽo kẹt dưới sức nặng của anh.

Hơi thở anh phả ra như một đám mây khi anh lật tấm chăn lên và kéo căng mặt trước chiếc váy ngủ, làm lộ hai bầu ngực của tôi. Anh cúi đầu hôn lên mỗi bên ngực khiến hai đầu nhũ hoa màu hồng sẫm dựng thẳng lên như có phép thuật, nổi bật trên làn da trắng ngần.

“Chúa ơi, chúng đáng yêu quá,” anh thì thào, khum tay ôm lấy cả hai bầu ngực, ngưỡng mộ chúng.

“Chúng nặng hơn rồi,” anh nói, “chỉ một chút thôi. Còn những nụ hoa cũng sẫm màu hơn.”

Nâng tấm chăn lên, anh lăn mình vào cạnh tôi. Tôi rúc vào vòng tay anh, siết chặt tấm lưng rắn rỏi của anh, hai bàn tay khum lấy hai vòng tròn chắc nịch nơi mông anh. Da thịt trần trụi của anh bị ướp lạnh bởi không khí buổi sáng, nhưng những sợi lông tơ lại mềm mại dưới sự vuốt ve ấm áp của tôi.

Tôi cố mang anh đến với mình ngay lập tức, nhưng anh dịu dàng kháng cự, buộc tôi nằm xuống gối trong khi anh gặm vành tai và cần cổ tôi. Một tay anh trượt ngược lên vế đùi tôi, chất liệu mỏng manh của chiếc váy ngủ trượt đi, vun thành nếp trước sự tấn công đó.

“Jamie,” tôi gọi. “Em muốn anh. Đến đây đi!”

Thở dài cam chịu, anh để mặc tôi kéo anh lên trên người, bụng áp bụng, môi áp môi. Anh mở miệng định phản đối, nhưng tôi đã lập tức hôn anh, và anh chuyển động nhẹ nhàng giữa hai đùi tôi trước khi có thể ngăn bản thân mình lại. Anh rên lên khe khẽ khi tiến vào tôi, cơ bắp căng ra khi anh ghì lấy hai vai tôi.

Anh dịu dàng, chậm rãi, thỉnh thoảng ngừng lại một chút để hôn tôi thật sâu, rồi lại chuyển động chỉ vì sự thúc giục lặng lẽ của tôi. Tôi nhẹ nhàng lướt hai bàn tay xuôi theo vòm lưng anh, thận trọng để không đè nặng lên những vết sẹo đang lành. Những bắp thịt dài dọc theo đùi anh thoáng run rẩy áp vào tôi, nhưng anh kiềm lại được, không muốn chuyển động nhanh như nhu cầu của bản thân.

Tôi nhấc hông áp sát vào người anh, để mang anh tới sâu hơn nữa.

Anh nhắm mắt, lông mày hơi nhíu lại trong sự tập trung cao độ. Miệng anh mở ra, hơi thở trở nên nặng nề hơn.

“Anh không thể…” Anh nói. “Ôi, Chúa ơi, anh không thể giữ được.” Phía sau anh đột nhiên siết lại, căng cứng dưới hai tay tôi.

Tôi thở dài thỏa mãn, kéo anh áp sát vào mình hơn.

“Em ổn chứ?” Một lát sau, anh hỏi.

“Em sẽ không sao đâu, anh biết mà,” tôi nói, mỉm cười nhìn vào mắt anh.

Anh cười khàn khàn. “Có lẽ không đâu, Sassenach, nhưng anh thì có thể.” Anh kéo tôi sát vào người anh hơn, áp má lên mái tóc tôi. Tôi lật chăn lên, bọc nó quanh vai anh, niêm kín chúng tôi trong một cái kén ấm áp. Hơi nóng của lò sưởi chưa tới được giường, nhưng băng tuyết trên cửa sổ đang tan ra, viền cứng của sương muối tan chảy thành những viên kim cương lấp lánh.

Chúng tôi nằm im một lúc, lắng nghe tiếng lách tách của gỗ táo đang cháy trong lò sưởi và những âm thanh mờ nhạt của quán trọ khi bị các vị khách khuấy động bằng những hoạt động sinh hoạt thường ngày. Tiếng gọi nhau í ới vang lên từ chỗ này, chỗ kia trên các ban công của quán trọ, tiếng vụt roi và tiếng lọc cọc của những bộ móng nện xuống mặt đá lầy bùn bên ngoài, thỉnh thoảng có tiếng kêu ré lên từ các chuồng lợn mà bà chủ quán đang nuôi đằng sau cái bếp lò.

“Très françaic, n’est-ce pas?”[2] Tôi nói, mỉm cười trước tiếng cãi vã văng vẳng xuyên qua các tấm ván sàn, một vụ dàn xếp hòa nhã về tài chính giữa vợ chủ quán trọ và người bán rượu vang trong vùng.

“Thằng ôn con mắc dịch của ả điếm gớm ghiếc,” giọng người phụ nữ kia nhấn mạnh. “Rượu brandy tuần trước có vị như phân ngựa.”

Tôi không cần trông thấy người đáp lời mà vẫn tưởng tượng được một cái nhún vai đi kèm với câu nói đó.

“Làm sao bà biết được? Sau cốc thứ sáu, nó đều có vị như nhau cả thôi, không phải vậy sao?”

Chiếc giường khẽ rung lên khi Jamie cười với tôi. Anh nhấc đầu lên khỏi gối và khịt mũi vẻ tán thưởng trước mùi thơm của thịt giăm bông chiên len lỏi qua các kẽ hở của ván sàn.

“Đúng là nước Pháp,” anh tán đồng. “Thức ăn, rượu và tình yêu.” Anh vỗ nhẹ lên bờ hông trần trụi của tôi trước khi kéo chiếc áo nhăn nhúm trùm lên nó.

“Jamie,” tôi khẽ nói, “anh vui vì nó chứ? Về đứa bé?” Sống ngoài vòng pháp luật ở Scotland, bị chia cắt khỏi quê hương, với viễn cảnh mơ hồ trên đất Pháp, cũng là điều dễ hiểu khi anh không mấy nhiệt tình với việc bỗng nhiên phải gánh thêm một bổn phận ngoài ý muốn.

Anh im lặng trong chốc lát, chỉ ôm tôi chặt hơn, rồi thoáng thở dài trước khi trả lời.

“Có chứ, Sassenach.” Bàn tay anh đi lạc xuống phía dưới, nhẹ nhàng vuốt ve bụng tôi. “Anh vui lắm. Và tự hào như thể mình là một con ngựa giống khỏe mạnh vậy. Nhưng anh cũng sợ khủng khiếp.”

“Về việc sinh nở? Em sẽ ổn thôi mà.” Tôi khó có thể trách anh vì chuyện sợ hãi; mẹ của anh đã chết trong khi sinh con, và sinh nở cùng với những sự phức tạp của nó là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cho phụ nữ ở thời đại này. Nhưng tôi tự biết lượng sức mình, và tôi không có ý định đặt an nguy của bản thân vào điều kiện chăm sóc y tế lạc hậu ở đây.

“Đúng vậy, cái đó… và mọi thứ,” anh dịu dàng nói. “Anh muốn bảo vệ em, Sassenach - muốn trải rộng mình ra giống như một chiếc áo choàng để che chở cho em và con bằng thân thể mình.” Giọng anh dịu dàng, hơi khàn khàn và nghẹn ngào. “Anh sẽ làm bất cứ điều gì cho em… nhưng mà… chẳng có điều gì anh có thể làm cả. Vấn đề không phải anh khỏe mạnh thế nào, hay sẵn lòng ra sao, mà là anh không thể đi cùng em tới nơi em phải đến… thậm chí cũng không giúp được gì cho em cả. Và cứ nghĩ đến những gì có thể đã xảy ra mà anh bất lực không ngăn chúng được… Đúng, anh sợ, Sassenach ạ.”

“Thế nhưng” - anh xoay người tôi hướng về phía anh, bàn tay dịu dàng áp trên một bên ngực tôi - “khi anh nghĩ đến em với đứa con của anh đang áp vào bầu ngực em… anh cảm thấy mình trở nên trống rỗng như một trái bong bóng xà phòng, và anh có thể vỡ òa ra vì vui sướng.”

Anh áp tôi vào lồng ngực anh, và tôi cũng ôm anh bằng tất cả sức lực của mình.

“Ôi, Claire, em làm trái tim anh như vỡ ra vì yêu em.”

•••

Tôi ngủ một lúc, và từ từ tỉnh dậy, nghe thấy tiếng chuông nhà thờ ngân nga trên quảng trường bên cạnh. Vừa mới đến từ tu viện Ste. Anne, nơi tất cả các hoạt động ban ngày đều diễn ra theo nhịp điệu của tiếng chuông, tôi tự động liếc nhìn ra cửa sổ để ước lượng mức độ ánh sáng và đoán xem bây giờ là thời điểm nào trong ngày. Sáng trưng rồi, và cửa sổ không có băng. Tiếng chuông rung để cầu kinh Đức Bà, thế thì giờ là buổi trưa.

Tôi duỗi người, hưởng thụ niềm hạnh phúc khi biết mình không cần phải dậy ngay bây giờ. Thời gian đầu mang thai khiến tôi mệt mỏi, sự căng thẳng của chuyến đi càng làm tăng thêm cảm giác mệ t nhọc, vì vậy một đợt nghỉ ngơi lâu dài càng được chào đón gấp đôi.

Trời đã mưa và đổ tuyết liên tục suốt hành trình khi những cơn bão mùa đông ập vào bờ biển nước Pháp. Nhưng nó có thể còn tồi tệ hơn. Dự định ban đầu của chúng tôi là đi tới Rome chứ không phải Le Havre. Chuyến đi đó sẽ mất khoảng ba đến bốn tuần lễ di chuyển trong thời tiết thế này.

Đối mặt với viễn cảnh sống ở nước ngoài, Jamie đã nhận lời đề nghị làm người thông dịch cho James Francis Edward Stuart, vị vua bị lưu đày của Scotland - hay chỉ là Hiệp sĩ St. George, Kẻ Đòi Vị muốn thừa kế ngai vàng, tùy thuộc vào lòng trung thành của bạn - và chúng tôi đã quyết tâm gia nhập vương triều của Kẻ Đòi Vị này ở gần Rome.

Quyết định đó chỉ mới gần đây thôi; chúng tôi đã định điểm đến là Ý, khi ông bác Alexander của Jamie, Cha tu viện trưởng của tu viện Ste. Anne, cho gọi chúng tôi tới phòng làm việc của ông.

“Ta có tin tức về Bệ hạ,” ông thông báo mà không cần mào đầu.

“Vị nào cơ?” Jamie hỏi. Diện mạo hơi giống nhau giữa hai người đàn ông càng được tôn lên bởi dáng điệu của họ - cả hai đều có dáng ngồi thẳng tắp trên ghế, hai vai bành ra. Về phần Cha tu viện trưởng, dáng vẻ đó là do sự tu hành khổ hạnh tự nhiên; còn Jamie là miễn cưỡng vì để cho các vết sẹo mới lành trên lưng không chạm vào lưng ghế gỗ.

“Bệ hạ, Đức vua James,” bác anh đáp, hơi cau có với tôi. Tôi đã cẩn thận giữ cho vẻ mặt mình không biểu lộ gì; sự hiện diện của tôi trong phòng làm việc của Cha tu viện trưởng Alexander là một bằng chứng của sự tin tưởng, và tôi không muốn làm bất cứ điều gì để hủy hoại nó. Ông ấy mới biết tôi chỉ vỏn vẹn có sáu tuần, từ sau lễ Giáng sinh, khi tôi xuất hiện trước cổng tu viện cùng với Jamie gần như sắp chết vì bị tra tấn và giam cầm. Sự hiểu biết sơ sài tiếp theo đoán chừng đã khiến Cha tu viện trưởng có đôi chút tin tưởng đối với tôi. Dù sao, tôi vẫn là người Anh. Mà Đức vua Anh là George chứ không phải James.

“Hả? Không phải ông ấy cần một người thông dịch sao?” Jamie vẫn còn gầy yếu, nhưng anh đã làm việc ngoài trời cùng với các thầy tu - những người chăm sóc cho chuồng trại và đồng áng của tu viện, khuôn mặt anh đang dần lấy lại được sắc diện khỏe mạnh bình thường vốn có.

“Ngài ấy quả là đang cần một người hầu trung thành - một người bạn.” Cha tu viện trưởng Alexander gõ ngón tay lên một lá thư gấp lại đặt trên bàn làm việc của ông, dấu xi mang biểu tượng gia huy đã vỡ. Ông bặm môi, liếc nhìn từ tôi sang đứa cháu trai và ngược lại.

“Những gì ta nói với cháu bây giờ không được phép nhắc lại,” ông nghiêm nghị nói. “Nó sẽ nhanh chóng trở thành thông tin phổ biến thôi, nhưng bây giờ thì...” Tôi cố gắng tỏ vẻ đáng tín và kín miệng; Jamie chỉ gật đầu, với một thoáng thiếu kiên nhẫn.

“Điện hạ, Hoàng tử Charles Edward, đã rời Rome, và sẽ đến Pháp trong tuần này,” Cha tu viện trưởng nói, hơi nhoài người tới trước như để nhấn mạnh tầm quan trọng của những gì đang nói.

Và nó đúng là quan trọng. James Stuart đã cố nhen lên một nỗ lực chết yểu để lấy lại ngai vàng vào năm 1715 - một đội quân liều lĩnh đã thất bại gần như ngay lập tức do thiếu sự ủng hộ. Từ đó - theo như Alexander - James lưu vong của Scotland đã làm việc không biết mệt mỏi, viết thư không biết chán cho bạn bè quý tộc của mình, và đặc biệt cho người họ hàng Louis của nước Pháp, nói đi nói lại về quyền đòi hỏi hợp pháp của ông ta đối với ngai vàng Scotland và Anh, và vị trí của con trai ông ta, Hoàng tử Charles, với tư cách là người thừa kế ngai vàng đó.

“Người họ hàng vương giả của ngài ấy, Louis, đã đau khổ vờ câm giả điếc đối với những lời tuyên bố chính đáng này,” Cha tu viện trưởng nói, cau mày với lá thư như thể nó chính là Louis. “Nếu bây giờ ông ta nhận ra được trách nhiệm của mình trong vấn đề này thì nó sẽ là niềm vui to lớn đối với những người nắm giữ quyền lực thần thánh của vương quyền.”

Nhóm người Jacobite là những kẻ ủng hộ James. Trong đó Đức cha Tu viện trưởng của tu viện Ste. Anne - sinh ra vốn là Alexander Fraser của xứ Scotland - là một thành viên. Jamie đã kể cho tôi biết Alexander là một thông tín viên thường xuyên nhất của vị vua bị lưu đày này, chịu trách nhiệm liên lạc với tất cả những ai vì đại nghĩa của nhà Stuart.

“Ông ấy hợp với nhiệm vụ đó,” Jamie đã giải thích với tôi lúc bàn về chuyện cố gắng lên con thuyền mà chúng tôi sắp đi. “Hệ thống đưa tin của Giáo hoàng xuyên qua khắp Ý, Pháp và Tây Ban Nha nhanh hơn hầu hết các hệ thống tin tức khác. Và những người đưa tin của Giáo hoàng không bị hải quan can thiệp, vậy nên thư từ họ mang đến ít có khả năng bị chặn lại.

James của Scotland, lưu vong ở Rome, nhận được sự ủng hộ lớn của Giáo hoàng - người rất có hứng thú muốn thấy nền quân chủ theo Thiên Chúa giáo khôi phục lại trên đất Anh và Scotland. Vì lẽ đó, đa số thư từ riêng của James được hệ thống đưa tin của Giáo hoàng chuyển đi - qua tay những người ủng hộ trung thành trong hệ thống Công giáo, như Cha tu viện trưởng Alexander của tu viện Ste. Anne de Beaupré, người có thể truyền tin tức tới những người ủng hộ James ở Scotland, như thế ít mạo hiểm hơn việc gửi thư từ công khai từ Rome tới Edinburgh và vùng cao nguyên Scotland.

Tôi quan sát Alexander với sự hứng thú, khi ông giải thích chi tiết tầm quan trọng chuyến viếng thăm của Hoàng tử Charles tới Pháp. Một người đàn ông thấp bé và chắc nịch so với chiều cao của tôi, đen và thấp hơn rất nhiều so với người cháu họ của mình, nhưng cũng có đôi mắt xếch, trí thông minh sắc sảo và tài năng nhận thấy được động cơ bị che giấu, điều đó dường như là đặc điểm nổi bật của những người nhà Fraser mà tôi từng gặp.

“Vậy nên,” ông kết luận, tay vuốt bộ râu xồm màu nâu đậm, “ta không thể nói chắc liệu Điện hạ đang ở Pháp theo lời mời của Louis, hay tự ý đến đó nhân danh cha mình.”

“Điều đó chẳng khác biệt là mấy,” Jamie nhận xét, nhướng mày vẻ hoài nghi.

Ông bác anh gật đầu, một nụ cười châm biếm thoáng hiện ra dưới bộ râu dày rậm.

“Thật thế chàng trai ạ,” ông nói, để lộ một dấu vết của dân Scot bản địa trong cách dùng tiếng Anh chính thống. “Rất thật. Và đó là nơi cháu cùng vợ cháu có thể cống hiến sự phục vụ, nếu cháu sẵn sàng.”

Lời đề nghị thật đơn giản; Đức vua James sẽ cấp chi phí đi lại và một khoản lương nhỏ, nếu cháu trai của Alexander - người trung thành với ông ta nhất và là người bạn kính mến nhất - đồng ý tới Paris để trợ giúp cho con trai ông ta, Hoàng tử Charles Edward, bằng bất kỳ phương thức nào khi được yêu cầu.

Tôi sửng sốt. Ban đầu chúng tôi đã định tới Rome bởi vì đó dường như là nơi tốt nhất để bắt tay vào cuộc điều tra nhằm ngăn chặn cuộc nổi dậy thứ hai của phái Jacobite - năm 45. Từ sự hiểu biết về lịch sử của bản thân, tôi biết rằng cuộc nổi dậy này được Pháp cung cấp tài chính và do Charles Edward Stuart tiến hành, sẽ tiến xa hơn so với nỗ lực của cha ông ta vào năm 1715 - nhưng cũng chẳng đủ xa. Nếu các vấn đề tiến triển như tôi nghĩ thì quân đội dưới quyền Hoàng tử Charlie Xinh đẹp sẽ gặp thất bại thảm khốc tại Culloden năm 1746, và những người Scotland sẽ phải chịu hậu quả của thất bại này trong suốt hai thế kỷ sau đó.

Hiện giờ là năm 1744, nhìn bề ngoài thì bản thân Charles mới chỉ đang bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ từ nước Pháp. Đó là nơi thích hợp để nỗ lực ngăn chặn cuộc nổi loạn hơn là ra tay ngăn cản bên phía người khởi xướng dẫn dắt nó.

Tôi liếc nhìn Jamie, anh đang nhìn qua bờ vai của bác mình tới một bàn thờ nhỏ ăn vào tường. Ánh mắt anh dừng lại trên bức tượng mạ vàng của Thánh nữ Anne và bó hoa nhỏ được trồng trong nhà kính đặt dưới chân người, trong khi các ý nghĩ của anh vẫn hoạt động đằng sau khuôn mặt không có biểu cảm gì kia. Cuối cùng anh chớp mắt, mỉm cười với bác mình.

“Điện hạ có thể yêu cầu bất kỳ loại trợ giúp nào ư? Được thôi,” anh khẽ nói, “cháu nghĩ mình có thể làm được. Chúng cháu sẽ đi.”

Và chúng tôi đã lên đường. Thay vì đi thẳng tới Paris, chúng tôi lại đi xuống bờ biển từ Ste. Anne tới Le Havre, để gặp người họ hàng Jared Fraser của Jamie trước.

Jared là một người Scot lưu vong rất thành công, ông là một nhà nhập khẩu rượu vang và rượu mạnh, sở hữu một nhà kho nhỏ và một ngôi nhà lớn ở Paris, cùng một nhà kho rất lớn ở ngay tại Le Havre này, nơi ông đề nghị Jamie đến gặp, khi Jamie viết thư nói chúng tôi đang trên đường tới Paris.

Lúc này đã nghỉ ngơi đầy đủ, tôi bắt đầu cảm thấy đói bụng. Đồ ăn được bày sẵn trên bàn; chắc hẳn Jamie đã bảo cô hầu phòng mang nó lên trong lúc tôi đang ngủ.

Tôi không có váy ngủ, nhưng chiếc áo khoác không tay bằng vải nhung nặng nề thật dễ sử dụng; tôi ngồi dậy, kéo sức nặng ấm áp của nó choàng lên bờ vai mình trước khi đi vệ sinh, bỏ thêm một thanh củi vào lò sưởi, và ngồi xuống ăn bữa sáng muộn của mình.

Tôi trệu trạo nhai ổ bánh mỳ kẹp giăm bông, uống thêm một bình sữa để ép chúng trôi xuống dạ dày. Tôi hy vọng Jamie cũng đang được ăn uống thỏa đáng; anh khăng khăng rằng Jared là một người bạn tốt, nhưng tôi nghi ngờ sự hiếu khách của một vài người họ hàng của Jamie sau khi gặp vài người trong số bọn họ tính cho đến giờ. Thực ra, Đức cha Tu viện trưởng Alexander đã chào đón chúng tôi một cách hết sức đúng mực ở cương vị một tu viện trưởng đối với đứa cháu trai sống ngoài vòng pháp luật cùng với một người vợ đáng ngờ ngoài mong đợi. Nhưng lần tạm trú của chúng tôi với những người họ hàng đằng mẹ của Jamie, nhà MacKenzie của lâu đài Leoch, đã khiến tôi suýt bị giết vào mùa thu trước, khi tôi bị bắt và đối xử như một phù thủy.

“Cứ cho rằng,” tôi nói, “ông Jared này là một người nhà Fraser đi nữa, và họ có vẻ an toàn hơn đôi chút so với những người họ hàng MacKenzie của anh. Nhưng trước đây anh đã bao giờ thực sự gặp ông ta chưa?”

“Anh đã sống cùng với ông ấy một thời gian khi anh mười tám tuổi,” anh kể với tôi, nhỏ giọt sáp nến lên bức thư hồi âm và ấn chiếc nhẫn cưới của cha anh lên chỗ sáp nhão màu xám xanh đó. Một viên ruby nhỏ mài tròn, mặt trên của nó được khắc tôn chỉ của gia tộc Fraser, Je suis prest. Tôi sẵn sàng.

“Ông ấy đã cho anh ở cùng khi anh đến Paris để hoàn thành việc học hành và tiếp thu được đôi chút kiến thức về thế giới. Ông ấy là một người bạn tốt của cha anh và đã rất tử tế với anh. Không người nào biết rõ về xã hội Paris hơn người đàn ông bán đồ uống cho nó,” anh nói thêm, tách chiếc nhẫn ra khỏi dấu xi đã cứng lại. “Anh muốn nói chuyện với Jared trước khi tiến vào triều đình của Louis bên cạnh Charles Stuart; anh muốn cảm thấy chắc chắn rằng mình còn có cơ hội để đi ra khỏi nơi đó,” anh nhàn nhạt nói nốt.

“Tại sao? Anh nghĩ sẽ có rắc rối ư?” Tôi hỏi. “Bất cứ sự trợ giúp nào Điện hạ có thể yêu cầu” dường như là một phạm vi khá rộng.

Anh mỉm cười trước vẻ lo âu của tôi.

“Không, anh không nghĩ có bất kỳ khó khăn nào. Nhưng Kinh Thánh nói gì nhỉ, Sassenach? “Đừng đặt niềm tin của ngươi vào các vị hoàng tử”?” Anh nhổm người hôn thật nhanh lên trán tôi, đút chiếc nhẫn trở vào túi da của mình. “Anh là ai mà lại phớt lờ lời dạy của Chúa, hử?”

•••

Tôi dành buổi chiều hôm đó để đọc một cuốn sách về thảo dược mà người bạn tu sĩ Ambrose của tôi đã ấn cho tôi như một món quà chia tay, sau đó dùng kim chỉ sửa chữa lại nó. Cả hai chúng tôi đều không có nhiều quần áo, dù như thế giúp ích rất nhiều trong việc đi lại nhưng cũng đồng nghĩa với việc những đôi tất thủng lỗ và đường viền áo quần bị sứt cần phải được quan tâm chú ý ngay lập tức. Vì thế túi kim chỉ của tôi cần thiết không kém gì chiếc rương nhỏ đựng thảo mộc và thuốc men mà tôi mang theo bên mình.

Cây kim xâu lên xuống trên vải, lấp lóe dưới ánh sáng đến từ ô cửa sổ. Tôi băn khoăn không biết chuyến thăm Jared của Jamie như thế nào rồi. Tôi còn thắc mắc không biết Hoàng tử Charles trông như thế nào. Ông ta sẽ là nhân vật lịch sử nổi tiếng đầu tiên mà tôi gặp, và mặc dù tôi biết rõ là không nên tin vào tất cả các truyền thuyết được thêu dệt xung quanh ông ta, sự thật về người đàn ông này vẫn là một bí ẩn. Sự thành bại của cuộc nổi dậy năm 1745 sẽ phụ thuộc hầu hết vào cá tính của người đàn ông trẻ tuổi này. Còn việc liệu nó có diễn ra hay không có lẽ còn tùy thuộc vào những nỗ lực của một người đàn ông trẻ khác - Jamie Fraser. Và tôi.

Tôi vẫn đang đắm chìm vào việc may vá và những suy nghĩ của mình thì tiếng bước chân nặng nề trên hành lang làm tôi sực tỉnh, nhận ra đã là chiều muộn; nước từ mái hiên đã rơi chậm hơn khi nhiệt độ hạ xuống, và ánh lửa của mặt trời buổi chiều đang lặn rực rỡ huy hoàng chiếu lên những mũi giáo bằng băng đá chúc xuống từ mái nhà. Cứa mở và Jamie bước vào.

Anh lơ đãng mỉm cười rồi dừng khựng lại bên cạnh chiếc bàn, gương mặt đăm chiêu như đang cố gắng nhớ ra điều gì đó. Anh cởi chiếc áo choàng tay ngắn ra, gấp lại và vắt gọn gàng lên thành giường, rồi đứng thẳng người, bước đến chiếc ghế đẩu kia, ngồi xuống và nhắm mắt lại.

Tôi vẫn ngồi im, bỏ quên công việc may vá để trên đùi mình, thích thú quan sát màn hành động của anh. Sau một lúc, anh mở mắt ra và mỉm cười với tôi, nhưng chẳng nói gì. Anh nghiêng người tới trước, ngắm nghía gương mặt tôi với vẻ cực kỳ chăm chú, như thể anh đã không thấy tôi hàng tuần lễ rồi. Cuối cùng, một biểu cảm sâu xa lướt qua gương mặt anh, và anh thả lỏng, bờ vai rũ xuống khi anh chống hai khuỷu tay lên đầu gối.

“Whisky,” anh nói với sự thỏa mãn vô cùng.

“Em hiểu,” tôi thận trọng đáp. “Thật nhiều phải không?”

Anh chầm chậm lắc đầu, như thể cái đầu trở nên rất nặng. Tôi gần như có thể nghe thấy tiếng óc ách bên trong đó.

“Không phải anh,” anh nói, rất rõ ràng. “Là em.”

“Em?” Tôi phẫn nộ nói.

“Đôi mắt em,” anh nói, mỉm cười sung sướng. Đôi mắt anh êm ái và mơ màng, phủ nét u ám giống như một suối cá hồi dưới trời mưa.

“Mắt em ư? Mắt em thì có liên quan gì…”

“Chúng có màu của rượu whisky ngon, với ánh mặt trời chiếu xuyên qua chúng từ phía sau. Anh đã nghĩ sáng nay chúng trông giống rượu sherry, nhưng anh đã nhầm. Không phải rượu sherry. Không phải brandy. Nó là whisky. Chính là thế.” Anh trông có vẻ rất hài lòng khi nói điều này khiến tôi không thể nín cười.

“Jamie, anh say quá rồi. Anh đã làm gì thế?”

Vẻ mặt của anh trở nên hơi cau có.

“Anh không say.”

“Ôi, không ư?” Tôi đặt công việc may vá sang một bên, đi đến sờ trán anh. Nó mát lạnh và ẩm ướt, dù mặt anh đang đỏ bừng. Anh lập tức vòng tay ôm lấy eo tôi và kéo tôi lại gần, quyến luyến vùi mặt vào ngực tôi. Mùi rượu mạnh váng vất bốc lên từ người anh giống một màn sương mù, đậm đặc đến nỗi gần như có thể nhìn thấy được.

“Lại đây với anh nào, Sassenach,” anh lầm bầm. “Cô nàng có đôi mắt whisky của anh, tình yêu của anh. Để anh đưa em vào giường nào.”

Tôi nghĩ đó đúng là một điểm có thể tranh luận, không biết ai mới là người đưa ai vào giường, nhưng thôi, không tranh cãi làm gì! Lý do tại sao anh nghĩ mình sắp đi ngủ không phải là vấn đề, miễn là anh lên giường được. Tôi cúi xuống, kề vai dưới cánh tay anh để đỡ anh lên, nhưng anh nhoài người đi, từ từ đứng lên một cách đường bệ bằng chính sức lực của mình.

“Anh không cần giúp đỡ,” anh nói, đưa tay lên sợi dây buộc nơi cổ áo sơ mi. “Anh đã bảo em rồi mà, anh không say.”

“Anh nói đúng,” tôi đáp. ““Say” không đủ để miêu tả tình trạng của anh lúc này. Jamie, anh hoàn toàn bí tỉ rồi.”

Ánh mắt anh di chuyển xuống phía trước chiếc váy truyền thống đang mặc trên người, băng qua sàn phòng, lướt lên chiếc váy dài của tôi.

“Không, anh không say bí tỉ,” anh nói với dáng vẻ hết sức đường hoàng. “Anh đã làm thế ở ngoài kia.” Anh bước về phía tôi một bước, rạng rỡ đầy khí thế. “Lại đây với anh, Sassenach; anh sẵn sàng rồi.”

Tôi nghĩ “sẵn sàng” có hơi quá mức trong tình huống này; anh đã tháo một nửa khuy váy, chiếc áo sơ mi treo xộc xệch trên hai bờ vai anh, nhưng đó là mức tối đa anh có thể tự làm mà không cần giúp đỡ.

Mặc khác, vòm ngực nở nang của anh đã bị phô bày, lộ ra cái hõm nhỏ ở chính giữa nơi tôi đã quen tì cằm mình lên, và mấy sợi lông nhỏ loăn xoăn nhô lên hết sức vui mắt quanh hai đầu ngực. Anh nhìn tôi quan sát anh, và với tay cầm lấy một bàn tay của tôi, kéo nó áp lên ngực anh. Anh ấm áp đến đáng kinh ngạc, tôi di chuyển về phía anh theo bản năng. Cánh tay kia vòng ra ôm lấy người tôi, rồi anh cúi xuống hôn tôi. Anh hôn một cách triệt để như thế khiến tôi cảm thấy hơi say theo, chỉ vì cùng chia sẻ hơi thở đầy cồn với anh.

“Được rồi,” tôi cười nói. “Nếu anh đã sẵn sàng thì em cũng vậy. Để em cởi quần áo cho anh trước đã, dù sao em đã làm đủ công việc may vá trong ngày hôm nay rồi.”

Anh đứng im khi tôi cởi đồ cho anh, chỉ hơi nhúc nhích một chút. Anh cũng không cử động khi tôi chuyển sang cởi váy áo của mình và quay về chiếc giường.

Tôi trèo lên giường và quay sang nhìn anh, hồng hào và tuyệt đẹp trong ánh hoàng hôn rạng rỡ. Anh được tạo ra đẹp đẽ như một bức tượng Hy Lạp, sống mũi dài và gò má cao y như hình in nghiêng trên đồng tiền xu La Mã. Khuôn miệng rộng mềm mại nhếch lên trong một nụ cười mơ màng, và đôi mắt xếch nhìn xa xăm. Anh hoàn toàn đứng bất động.

Tôi ngắm nghía anh với đôi chút lo lắng.

“Jamie,” tôi nói, “làm thế nào mà anh có thể khẳng định chính xác liệu anh có say rượu hay không?”

Bị đánh thức bởi giọng nói của tôi, anh cảnh giác xoay lưng về một bên, nhưng lại đụng phải thành lò sưởi. Ánh mắt anh lơ đãng nhìn quanh khắp căn phòng, rồi dừng lại trên gương mặt tôi. Trong một khoảnh khắc, chúng sáng rực lên vẻ sạch sẽ, sáng suốt và thông thái.

“À, dễ lắm, Sassenach ạ. Nếu em có thể đứng thẳng, nghĩa là em không say.” Anh rời khỏi bệ lò sưởi, bước về phía tôi một bước, và từ từ đổ người xuống khoảng sàn lát đá trước lò sưởi, đôi mắt đờ đẫn, nụ cười ngọt ngào trên khuôn mặt mơ màng.

“Ồ,” tôi thốt lên.

•••

Tiếng những con gà trống từ trầm thấp chuyển sang lanh lảnh bên ngoài và âm thanh loảng xoảng của nồi xoong bên dưới nhà đánh thức tôi ngay sau bình minh vào sáng hôm sau. Người bên cạnh tôi giật mình, bật dậy, rồi đông cứng lại khi cử động đột ngột vừa rồi làm đầu anh choáng váng.

Tôi nhổm dậy, chống người trên một khuỷu tay để kiểm tra hiện trạng. Không quá tệ, tôi thầm chế giễu. Mắt anh đang nhắm tịt lại vì những tia nắng mặt trời chói lóa, mái tóc dựng lên chĩa ra các hướng y như lông nhím, nhưng làn da thì tái xanh và nhợt nhạt, hai tay đang siết chặt chiếc chăn phủ giường thì vững vàng bình tĩnh.

Tôi mở hé một bên mắt, ngó sát vào mặt anh, nghịch ngợm hỏi: “Có ai ở nhà không?”

Đôi con mắt tôi đang nhìn kia từ từ mở hẳn ra, rồi trừng mắt hiểm ác. Tôi thả bàn tay xuống, cười một cách quyến rũ với anh.

“Buổi sáng tốt lành.”

“Cái đó, Sassenach ạ, hoàn toàn là vấn đề có thể gây tranh cãi đấy,” anh nói, rồi lại nhắm cả hai mắt lại.

“Anh có biết mình nặng bao nhiêu không hả?” Tôi hỏi với vẻ sẵn sàng tranh luận.

“Không.”

Câu trả lời ngay tắp lự cho thấy anh không chỉ không biết, mà còn không buồn quan tâm, nhưng tôi vẫn khăng khăng.

“Ước chừng gần một tạ đấy. Nặng ngang một con lợn lòi đực cỡ lớn. Không may là em không có thanh đòn nào để treo ngược anh lên trên một mũi giáo và mang anh về nhà để làm thịt hun khói.”

Một mắt lại mở ra, nhìn tôi chăm chú, sau đó nhìn nền đá lát trước lò sưởi tít phía bên kia phòng. Khóe miệng anh nhếch lên trong một nụ cười bất đắc dĩ.

“Làm thế nào em đưa anh lên giường được?”

“Em không làm được. Em không thể làm anh nhúc nhích được, nên chỉ đắp cho anh tấm chăn và để anh nằm trên nền đá trước lò sưởi thôi. Anh tỉnh dậy và tự bò lên, chắc là vào lúc nửa đêm.”

Anh có vẻ ngạc nhiên, lại mở nốt mắt bên kia.

“Anh ư?”

Tôi gật đầu, cố vuốt lọn tóc lộn xộn bên vành tai trái của anh.

“Ồ, đúng thế. Rất chuyên tâm, chính là anh đó.”

“Chuyên tâm?” Anh cau mày, ngẫm nghĩ, duỗi người, vươn hai cánh tay qua đầu. Sau đó anh có vẻ giật mình kinh ngạc.

“Không. Anh không thể làm thế.”

“Có đấy, anh có thể. Hai lần.”

Anh liếc nhìn xuống ngực mình, như để xác nhận tình trạng không chắc có thực này, rồi nhìn lại tôi.

“Thực sự? Chà, thật vừa khéo; anh chẳng nhớ gì về chuyện đó cả.” Anh ngập ngừng một lát, vẻ hơi ngượng ngùng. “Vậy ổn cả chứ? Anh không làm điều gì ngu ngốc chứ?”

Tôi ngồi xuống cạnh anh và rúc đầu vào hõm vai anh.

“Không, em sẽ không gọi đó là ngu ngốc. Dù vậy, anh không phải là người hay chuyện.”

“Cảm ơn Chúa vì ân huệ nhỏ bé này,” anh nói, tiếng cười nén lại rung lên trong lồng ngực.

“Ừm. Anh quên cách nói bất cứ thứ gì khác ngoại trừ câu “anh yêu em” rồi, nhưng anh đã nói thế rất nhiều lần.”

Tiếng cười khúc khích lại phát ra, lần này càng lớn hơn. “Ồ, thế ư? Có thể tệ hơn nữa không, anh lo lắm.”

Anh hít vào một hơi, rồi ngừng lại. Anh quay đầu khịt mũi vẻ hoài nghi trước mùi hương quế nhè nhẹ bên dưới cánh tay mình.

“Chúa ơi!” Anh thốt lên. Cố gắng đẩy tôi ra. “Không phải em muốn rúc đầu vào nách anh chứ, Sassenach. Anh có mùi như một con lợi lòi đã chết cả tuần ấy.”

“Và sau đó say khướt vì rượu brandy,” tôi tán đồng, nhích vào gần anh hơn. “Thế quái nào mà anh lại có được - e hèm - cái dáng vẻ say khướt đó hả?”

“Lòng hiếu khách của Jared.” Anh thở dài nhẹ nhõm, đặt mình xuống gối, cánh tay vòng qua vai tôi.

“Ông ấy đưa anh đi xem kho hàng của ông ấy ở bến tàu. Và buồng kho nơi ông ấy giữ những chai rượu nho quý hiếm và rượu brandy Bồ Đào Nha, rum Jamaica.” Anh hơi nhăn nhó, hồi tưởng. “Rượu vang cũng không quá tệ, dù cái đó em chỉ vừa mới thử một ngụm là sẽ nhổ ra sàn ngay. Nhưng không ai trong chúng ta có thể nhìn rượu brandy bị lãng phí như thế. Hơn nữa, Jared nói em cần phải để rượu từ từ đi xuống cổ họng mới đánh giá được nó một cách đầy đủ nhất.”

“Anh đã đánh giá chất lượng của bao nhiêu chai rượu hả?” Tôi tò mò hỏi.

“Từ chai thứ hai là anh không đếm được nữa.” Ngay lúc đó, một hồi chuông nhà thờ vang lên; tập trung mọi người đến làm lễ Misa. Jamie ngồi bật dậy, chăm chú nhìn ra ô cửa sổ sáng sủa dưới ánh nắng sớm.

“Chúa ơi, Sassenach! Mấy giờ rồi?”

“Em nghĩ khoảng sáu giờ,” tôi đoán. “Sao thế?”

Anh hơi thả lỏng dù vẫn ngồi thẳng tắp.

“Ồ, thế thì được. Anh sợ nó là chuông cầu kinh Đức Bà. Anh mất hết khái niệm về thời gian rồi.”

“Em cũng thấy vậy. Có vấn đề gì?”

Trong cơn bùng nổ năng lượng, anh hất tung chăn ra, đứng dậy, hơi lảo đảo, nhưng anh nhanh chóng lấy lại thăng bằng, mặc dù cả hai tay đã đưa lên ôm đầu, hẳn là để chắc chắn nó vẫn còn gắn ở trên đó.

“Ai ui,” anh bật thốt lên, hít vào một hơi. “Bọn anh đã hẹn sáng nay gặp nhau ở bến tàu, chỗ kho hàng của Jared. Hai người bọn anh.”

“Thế à?” Tôi trèo ra khỏi giường, mò mẫm tìm cái bô dưới gầm. “Nếu ông ta định hoàn thành công việc, em không nghĩ là ông ta muốn có nhân chứng.”

Đầu Jamie nhô ra từ cổ chiếc áo sơ mi đang mặc, mày nhướng cao.

“Hoàn thành công việc?”

“À, hầu hết những người họ hàng khác của anh có vẻ đều muốn giết anh hoặc em; tại sao Jared lại không? Ông ta đã có một khởi đầu tốt đẹp trong việc đầu độc anh, đối với em thì có vẻ là vậy đấy.”

“Thật nực cười, Sassenach,” anh thờ ơ nói. “Em có thứ gì trông tươm tất lịch sự để mặc không?”

Tôi vẫn mặc chiếc váy dài bằng vải xẹc kiếm được từ phòng phát chẩn của tu viện Ste. Anne, rất thoải mái và thuận tiện cho việc di chuyển. Nhưng tôi cũng có một bộ váy mang theo trong khi trốn khỏi Scotland, đó là món quà của phu nhân Annabelle MacRannoch, một chiếc váy nhung màu xanh lá cây tuyệt đẹp. Mặc dù nó khiến cho tôi trông khá là xanh xao, nhưng cũng đủ thời trang.

“Em nghĩ là có đấy, nếu chiếc váy không bị nước biển làm bẩn quá nhiều.”

Tôi quỳ gối bên cạnh cái rương đựng đồ nhỏ mang theo suốt chuyến đi, lấy ra chiếc váy nhung xanh. Jamie cũng quỳ xuống cạnh tôi, mở nắp hộp thuốc, ngắm nghía những cái lọ và hộp nhỏ, cùng với mớ dược thảo được bọc trong băng gạc.

“Em có thứ gì ở đây để trị đau đầu nặng không, Sassenach?”

Tôi nhòm qua vai anh rồi với tay chạm vào một cái lọ.

“Bạc hà đắng có thể giúp đỡ đau, nhưng cũng không phải là thứ tốt nhất. Trà vỏ cây liễu cùng với một ít thì là sẽ có hiệu quả khá tốt, nhưng nó mất thời gian pha chế. Nói cho anh thứ này - à, mà sao em không làm cho anh một công thức phòng bệnh xơ gan nhỉ? Phương thuốc tuyệt vời chữa choáng váng khó chịu sau khi say rượu.”

Anh cúi xuống nhìn tôi bằng đôi mắt xanh đầy nghi hoặc.

“Cái đó nghe có vẻ khiến người ta buồn nôn.”

“Đúng thế,” tôi hớn hở nói. “Nhưng anh sẽ cảm thấy tốt hơn rất nhiều sau khi nôn hết ra.”

“Hừm.” Anh đứng dậy, đẩy cái bô về phía tôi bằng một ngón chân.

“Nôn mửa vào buổi sáng là công việc của em, Sassenach,” anh nói. “Làm cho xong việc đó đi rồi mặc váy áo vào. Anh sẽ chiến đấu với cơn đau đầu này.”

•••

Jared Munro Fraser là một người đàn ông nhỏ con, gầy gò, mắt đen. Ông ta có nét hao hao giống với người họ hàng xa Murtagh, một thành viên khác trong nhà Fraser, người đã đồng hành cùng chúng tôi tới Le Havre. Khi tôi nhìn thấy Jared lần đầu tiên, ông ta đang đường hoàng oai vệ đứng trước mấy cánh cửa mở toang hoác của kho hàng, khiến cho đám người hành nghề bốc vác ở bến tàu đang khuân vác những thùng tô nô buộc phải đi vòng qua ông ta. Trông ông ta giống Murtagh đến nỗi tôi phải chớp chớp, dụi mắt mình mấy lần. Murtagh, theo như những gì tôi biết, vẫn đang ở quán trọ và chăm sóc một con ngựa què cơ mà.

Jared cũng có mái tóc đen, thẳng và đôi mắt sắc sảo; cũng vóc người gân guốc, giống như khỉ. Nhưng những nét giống nhau chỉ dừng ở đó, khi chúng tôi tới gần, Jamie lịch lãm dùng khuỷu tay và vai để mở một con đường quang cho tôi đi xuyên qua nhóm người kia, lúc đó tôi cũng có thể thấy được những điểm khác biệt ở ông ta. Khuôn mặt Jared thuôn thuôn, gần giống kiểu mặt lưỡi cày, cùng với cái mũi hếch vui vẻ đã thành công hủy đi dáng vẻ cao quý, trang trọng mà bộ đồ cắt may khéo léo và chiếc xe ngựa của ông ta tạo ra từ khoảng cách xa.

Một thương gia thành công còn hơn là một tên săn trộm gia súc, ông ta cũng biết cách mỉm cười như thế nào - không giống Murtagh, người có vẻ mặt tự nhiên lúc nào cũng khắc khổ - và một nụ cười tươi rói chào đón vỡ òa trên gương mặt Jared khi chúng tôi chen lấn đi lên đoạn đường dốc thoai thoải đến trước mặt ông ta.

“Cô gái thân mến!” Jared thốt lên, giữ chặt cánh tay tôi và khéo léo kéo tôi ra khỏi lối đi của hai công nhân bốc vác to con lực lưỡng đang lăn một chiếc thùng tô nô khổng lồ đi qua cửa lớn. “Thật vui vì cuối cùng cũng được gặp cô!” Chiếc thùng tô nô lăn ầm ĩ trên những tấm ván của con đường dốc, và tôi có thể nghe rõ tiếng ùng ục bên trong khi nó lăn ngang qua chỗ tôi.

“Các vị có thể đối xử với rượu rum như thế,” Jared nhận xét, quan sát quá trình thùng rượu khổng lồ lóng ngóng đi xuyên qua kho hàng bề bộn đầy vật cản, “nhưng không phải ở cảng. Tôi luôn bán được thứ đó cùng với rượu vang đóng chai. Thực ra, tôi đang định lên đường đi xem một chuyến hàng mới cập cảng Belle Rouge đây. Hai người có lẽ có hứng thú đồng hành cùng tôi chứ?”

Tôi liếc nhìn Jamie, anh gật đầu, thế là chúng tôi lập tức theo chân Jared, vừa đi vừa tránh đường cho những chiếc thùng tô nô và thùng rượu cỡ lớn rầm rầm di chuyển, xe ngựa, xe ba gác chở hàng, đàn ông và các cậu choai choai đủ các dạng người mang vác những súc vải, thùng ngũ cốc, thực phẩm, những cuộn dây đồng, những bao tải bột mỳ và bất cứ thứ gì có thể vận chuyển được bằng tàu thuyền.

Le Havre là trung tâm giao thông đường thủy quan trọng, và các bến thuyền chính là trái tim của thành phố này. Một cầu tàu vững chãi chạy dài gần một phần tư dặm quanh rìa bến cảng, với những vũng đậu nhỏ nhô ra từ đó, những chiếc thuyền buồm ba cột và các thuyền nhỏ hơn, thuyền đánh cá và thuyền ga lê[3] bỏ neo dọc theo bến đậu, đủ loại thuyền để cung cấp lương thực, thực phẩm cho nước Pháp.

Jamie nắm chặt khuỷu tay tôi, sẵn sàng kéo tôi tránh khỏi đường đi của những chiếc xe cút kít sắp đến gần, những thùng tô nô lăn trên đường, các thương lái và các thủy thủ bất cẩn - những người này có vẻ chẳng thèm nhìn xem mình đang đi đâu mà chỉ phó mặc hoàn toàn cho lực đẩy quán tính để xuyên qua đám đông hỗn độn nơi bến thuyền.

Khi chúng tôi ra đến bến cảng, Jared nói như thét vào tai tôi từ phía bên kia, chỉ ra những thứ thú vị khi chúng tôi đi ngang qua, giải thích về lịch sử và quyền sở hữu của nhiều con thuyền khác nhau bằng cử chỉ ngắt quãng, rời rạc. Arianna, con thuyền mà chúng tôi đang trên đường đi xem, thực ra là một trong số những con thuyền do Jared sở hữu. Những con thuyền, tôi kết luận, có thể thuộc về một người chủ sở hữu, hình thức ấy thường thấy hơn là thuộc về một công ty của các thương lái sở hữu tập thể, hoặc đôi khi thuộc về một thuyền trưởng có hợp đồng với thuyền lớn, thủy thủ đoàn và các dịch vụ cần thiết cho một chuyến hải trình. Trông thấy số lượng thuyền lớn của một công ty sở hữu, so sánh tương đối với một số thuyền do các cá nhân sở hữu, tôi bắt đầu mường tượng được khối tài sản rất đáng nể của Jared.

Thuyền Arianna nằm ở giữa hàng thuyền đang neo đậu, gần một nhà kho lớn có cái tên FRASER - những con chữ dốc nghiêng được vẽ lên bằng vôi trắng. Nhìn thấy cái tên ấy khiến tôi hơi rùng mình một cách kỳ quái, cảm giác về một sự liên kết và ý thức rằng mình thuộc về nó bất chợt ập đến, cùng với việc nhận ra rằng tôi cũng đã chia sẻ cái tên ấy và thừa nhận mối quan hệ họ hàng cùng với những người mang cái tên ấy.

Arianna là một chiếc thuyền buồm ba cột, có lẽ dài tới hơn mười tám mét, với mũi thuyền rộng, có hai khẩu đại bác ở bên mạn thuyền đối diện với bến đậu; phòng trường hợp bị cướp trên biển, tôi cho là vậy. Những người đàn ông di chuyển thành đoàn trên khắp boong thuyền, tôi đoán là để làm chuyện gì đó, mặc dù trông có vẻ chẳng khác gì một bầy kiến vỡ tổ.

Tất cả buồm đều được cuốn lên và buộc lại, nhưng thủy triều lên khiến con thuyền hơi lay động, đung đưa đẩy mũi thuyền về phía chúng tôi. Nó được trang trí bằng một bức tượng chạm ở mũi thuyền có bộ mặt dữ tợn, bộ ngực trần khủng khiếp và những lọn tóc quăn rối bời, tất cả đều bị phủ đầy muối biển, trông quý bà này có vẻ hoàn toàn chẳng thích thú hưởng thụ bầu không khí biển cả gì sất.

“Người đẹp nhỏ bé ngọt ngào, đúng không?” Jared hỏi, khoát tay một cách cởi mở. Tôi cho rằng ông ta ám chỉ con thuyền chứ không phải bức tượng chạm ở mũi thuyền.

“Rất đẹp.” Jamie lịch sự đáp. Tôi bắt gặp ánh mắt anh liếc nhanh nhìn mực nước của con thuyền vẻ băn khoăn lo lăng. Ở chỗ đó, những con sóng nhỏ xám đen đang táp vào thân thuyền. Tôi có thể nhận ra anh đang thầm hy vọng rằng chúng tôi sẽ không được phép lên boong thuyền. Một chiến binh dũng cảm, hào hiệp, xuất sắc, gan dạ và quả cảm trên chiến trường, Jamie Fraser, lại đồng thời là kẻ sợ đi biển.

Rõ ràng không phải là vấn đề dũng cảm hay gan dạ ở đây, đã từng có những người Scot chuyên đi biển săn bắt cá voi từ Tarwathie hay du hành trên biển đi khắp thế giới để tìm kiếm sự giàu có, còn anh lại phải chịu đựng cơn say sóng kịch liệt đến nỗi chuyến hành trình băng qua eo biển Anh của chúng tôi đã gần như giết chết anh, làm anh suy yếu ngang với khi bị tra tấn và giam cầm, nó chẳng giúp anh tăng thêm được khả năng chịu đựng sóng biển một chút nào.

Tôi có thể thấy những ký ức đen tối ấy đang lướt qua trên gương mặt anh khi anh lắng nghe người họ hàng của mình tán dương sự vững chắc và tốc độ của Arianna. Tôi liền thu hẹp khoảng cách đủ gần để có thể thì thầm với anh.

“Chắc sẽ không sao chứ? Nó đã được neo đậu rồi mà.”

‘Anh không biết, Sassenach,” anh đáp, kèm theo một cái nhìn về phía con thuyền, bao hàm trong đó sự ghê tởm và cam chịu được trộn lẫn một cách vừa khéo. “Nhưng anh cho là chúng ta sẽ khám phá ra sớm thôi.” Jared đã đi được nửa đường lên ván cầu, chào hỏi thuyền trưởng bằng những tiếng hò hét hồ hởi oang oang. “Nếu anh trở nên tái xanh, em có thể giả vờ chóng mặt hay đại loại thế không? Sẽ là một ấn tượng tồi tệ nếu anh nôn mửa lên đôi giày của Jared.”

Tôi vỗ nhẹ lên cánh tay anh, đảm bảo. “Đừng lo! Em tin tưởng anh.”

“Không phải là anh,” anh nói, kèm theo cái liếc mắt nấn ná lần cuối về phía mặt đất vững vàng dưới chân, “mà là cái dạ dày của anh.”

Dưới chân chúng tôi, con thuyền đứng yên ở một mức độ tương đối dễ chịu, cả Jamie lẫn cái dạ dày của anh đã hành xử rất tốt - có lẽ được trợ giúp bởi cốc brandy mà vị thuyền trưởng kia rót ra mời chúng tôi.

“Ngon đấy,” Jamie nói, đưa cái cốc lướt qua dưới mũi và nhắm mắt lại cảm nhận mùi hương nồng nàn của nó. “Của Bồ Đào Nha, đúng không?”

Jared cười vui vẻ và huých vị thuyền trưởng.

“Ông thấy sao, Portis? Tôi đã bảo ông là cậu ấy rất sành mà. Cậu ấy mới chỉ nếm qua nó có một lần thôi đấy!”

Tôi cắn vào bên trong má và tránh ánh mắt của Jamie. Viên thuyền trưởng, một mẫu người cao lớn, lôi thôi lếch thếch, trông có vẻ chán nản, nhưng vẫn lịch sự nhăn nhó hướng về phía Jamie, trưng ra ba cái răng vàng. Một người đàn ông thích mang theo sự giàu có của mình đi khắp nơi.

“Này,” ông ta nói. “Đây là anh chàng sắp làm phụ tá cho ông, đúng không?”

Jared đột nhiên trông có vẻ ngượng ngùng, một màu ửng hồng nổi lên dưới lớp da mặt dày của ông ta. Tôi để ý thấy một bên tai ông ta đeo khuyên, trông thật quyến rũ, và tôi thắc mắc không biết từ xuất phát điểm như thế nào đã dẫn dắt ông ta tới được thành công ngày nay.

“Ầy, à thì,” ông ta ậm ừ thốt ra, lần đầu tiên trong giọng nói để lộ trọng âm của người Scot, “cái đó để còn xem đã. Nhưng tôi nghĩ…” Ông ta liếc nhanh xuyên qua bến cảng đến chỗ vũng đậu đang hết sức nhộn nhịp, rồi quay lại với cốc rượu của thuyền trưởng mời, uống cạn nó bằng ba hớp lớn trong khi những người còn lại đều đang nhấm nháp từng ngụm. “Ừm, tôi bảo này, Portis, ông để tôi mượn dùng ca bin một lát nhé? Tôi cần hội ý với cháu trai tôi và vợ của nó - và tôi thấy là ở đuôi thuyền có vẻ như hơi gặp rắc rối với mấy cái lưới hàng đấy, nghe âm thanh là biết.” Lời nhận xét láu cá bổ sung thêm này đủ để tống thuyền trưởng Portis ra khỏi ca bin nhanh như một chú lợn lòi được nạp nhiên liệu, chất giọng của ông ta khàn khàn cao vút tuôn ra một loại thổ ngữ pha trộn Tây Ban Nha - Pháp khiến tôi thấy may mắn vì mình không hiểu gì.

Jared tế nhị bước tới bên cánh cửa và đóng nó lại cẩn thận sau khi bóng dáng lực lưỡng của viên thuyền trưởng rời khỏi, chặn lại âm thanh huyên náo bên ngoài. Ông ta quay lại bên chiếc bàn bé tẹo của viên thuyền trưởng và khách sáo rót đầy lại mấy cốc rượu trước khi nói. Sau đó, ông ta nhìn từ Jamie sang tôi và mỉm cười một lần nữa, dáng vẻ khẩn nài quyến rũ.

“Chuyện này có hơi đường đột hơn ta định đề nghị một chút,” ông ta nói. “Nhưng ta thấy là vị thuyền trưởng tốt bụng này đã bán đứng ta rồi. Sự thật là” - ông ta nâng cốc rượu lên nên những hình ảnh phản chiếu từ mặt nước của bến cảng rung rung xuyên qua chất lỏng của rượu brandy, đập vào những mảng sáng lượn sóng của các món đồ làm bằng đồng thau trong ca bin - “ta cần một người.” Ông ta nghiêng cái cốc về phía Jamie, rồi lại đưa nó lên môi và uống.

“Một người tốt,” ông ta nói thêm, hạ cốc rượu xuống. “Cháu thấy đấy, cậu cháu yêu quý của ta,” ông ta cúi đầu với tôi, “ta có cơ hội tiến hành một cuộc đầu tư hiếm cho một nhà máy rượu vang mới ở vùng Moselle. Nhưng ta không thấy thoải mái nếu ủy quyền cho một thuộc cấp đi đánh giá nó; ta cần phải thân chinh xem xét các điều kiện và đưa ra lời khuyên cho sự phát triển của nhà máy. Việc đó sẽ đòi hỏi một khoảng thời gian tới vài tháng.”

Ông ta nhìn vào cốc rượu của mình vẻ đăm chiêu suy nghĩ, khẽ lắc thứ chất lỏng màu nâu thơm phức đó khiến mùi hương của nó ngập tràn ca bin nhỏ. Tôi chỉ nhấp vài hớp trong cốc rượu của mình, nhưng đã bắt đầu cảm thấy hơi chếnh choáng, đa phần là vì cảm giác phấn khích đang dâng lên hơn là do uống rượu.

“Đó là một cơ hội quá tốt không thể bỏ lỡ,” Jared nói. “Và cơ hội để ký kết vài hợp đồng béo bở với các nhà máy rượu vang dọc theo sông Rhône; hàng ở đó rất tuyệt, nhưng lại tương đối hiếm ở Paris. Chúa ơi, số lượng bọn chúng bán cho giới quý tộc như tuyết giữa mùa hè vậy!” Đôi mắt đen sắc sảo của ông ta thoáng ánh lên vẻ hám lợi, rồi chuyển sang long lanh hài hước khi nhìn tôi.

“Nhưng...” Ông ta nói.

“Nhưng,” tôi hoàn thành nốt câu nói cho ông ta, “ông không thể bỏ công việc kinh doanh ở đây mà không có bàn tay chèo chống chứ gì?”

“Thông minh lại còn xinh đẹp và quyến rũ nữa. Chúc mừng cháu, người họ hàng của ta.” Ông ta nghiêng cái đầu được chải chuốt bóng mượt về phía Jamie, một bên lông mày nhướng lên trong một biểu hiện hài hước tán thành.

“Ta thú nhận rằng ta đã chuẩn bị tinh thần chịu tổn thất,” ông ta nói, đặt cốc rượu xuống chiếc bàn nhỏ với khí thế của một người đàn ông gạt sang lề hành vi phù phiếm mang tính xã giao để bàn tới lợi ích kinh doanh nghiêm túc. “Nhưng khi cháu viết thư từ Ste. Anne tới, nói rằng cháu dự định đến thăm Paris…” Ông ta ngập ngừng giây lát rồi mỉm cười với Jamie, hai bàn tay hơi run rẩy một cách kỳ lạ.

“Biết rằng cháu, chàng trai của ta” - ông ta gật đầu với Jamie - “có một cái đầu giỏi tính toán, ta vô cùng tin tưởng rằng việc cháu đến chính là đáp án cho lời cầu nguyện của ta. Nhưng ta đã nghĩ là có lẽ chúng ta nên gặp mặt và bắt đầu làm quen lại trước khi ta đưa ra một lời đề nghị chắc chắn với cháu.”

Ý ông là ông nghĩ mình nên xem xem chúng tôi hiện giờ là “mặt hàng” thế nào hả, tôi bất mãn nghĩ, tuy thế vẫn mỉm cười với ông ta. Tôi bắt được ánh mắt Jamie và một bên mày anh giật giật nhướng cao lên. Rõ ràng tuần lễ này của chúng tôi là dành cho những lời đề nghị. Với một người bị tước quyền thừa kế phải sống ngoài vòng pháp luật và một người bị nghi ngờ là gián điệp của nước Anh, sự phục vụ của chúng tôi có vẻ như khá là được chào đón.

Lời đề nghị của Jared còn hơn cả hào phóng; để đổi lấy việc Jamie điều hành công việc kinh doanh tại Pháp trong suốt sáu tháng sắp tới, Jared sẽ không chỉ trả lương hằng tháng cho anh mà còn để cho chúng tôi tùy ý sử dụng một ngôi nhà trong khu phố lớn của Paris cùng với toàn bộ người làm ở đó.

“Không có gì đâu, không có gì đâu,” ông ta nói khi Jamie cố khước từ việc cho mượn nhà này. Ông ta ép một ngón tay lên chóp mũi, cười toe toét với tôi một cách quyến rũ. “Một phụ nữ xinh đẹp tổ chức những bữa tiệc tối là một sắp đặt tuyệt vời trong việc kinh doanh rượu vang, người họ hàng của ta ạ. Cháu sẽ không biết được mình có thể bán bao nhiêu rượu vang đâu, nếu cháu để cho các khách hàng nếm thử chúng trước.” Ông ta lắc đầu vẻ kiên quyết. “Không, đó sẽ là một sự giúp đỡ to lớn đối với ta nếu vợ cháu cũng đồng ý dính vào phiền phức này bằng cách tiêu khiển nói trên.”

Ý nghĩ làm chủ những bữa tiệc tối xã giao của người Paris khiến tôi hơi e ngại. Jamie nhìn sang tôi, cặp lông mày nhướng lên vẻ dò hỏi, nhưng tôi nuốt khan và mỉm cười, gật đầu. Đó là một lời chào mời hay ho, nếu anh cảm thấy có thể đảm đương việc điều hành một công việc kinh doanh quan trọng thì việc tối thiểu tôi có thể làm là ra lệnh nấu bữa tối và trau chuốt vốn giao tiếp tiếng Pháp của mình.

“Không có gì,” tôi lầm bầm, nhưng Jared đã cho rằng sự đồng ý của tôi là điều đương nhiên và tiếp tục gắn chặt cặp mắt đen láy vào Jamie.

“Và sau cùng, ta nghĩ có lẽ cháu đang cần một sự chính thức hóa cho lợi ích có được từ những món lợi khác đã khiến cháu đến Paris.”

Jamie cười lấp lửng. Thấy thế, Jared bật ra một tiếng cười ngắn và nâng cốc brandy lên. Chúng tôi mỗi người đồng thời được phục vụ một cốc nước để tráng miệng giữa những lần nhấm nháp và ông ta dùng tay còn lại kéo một ly nước lại gần.

“Nào, hãy nâng cốc!” Ông ta hô lên. “Vì sự liên kết của chúng ta, người họ hàng ạ - và vì Bệ hạ!” Ông ta nâng ly brandy lên chào, rồi chuyển nó qua phía trên ly nước một cách phô trương và đưa lên môi.

Tôi ngạc nhiên quan sát cử chỉ kỳ quái này, nhưng nó hiển nhiên có ý nghĩa nào đó đối với Jamie, vì anh mỉm cười với Jared, cũng nâng ly của mình lên và đưa nó qua phía trên cốc nước kia.

“Vì Bệ hạ,” anh lặp lại. Sau đó, thấy tôi nhìn anh chằm chằm vẻ ngơ ngác, anh cười và giải thích: “Vì Bệ hạ - vượt biển, Sassenach.”

“Ồ?” Tôi thốt ra, sau đó chợt hiểu rõ. “Ồ!” Vị vua vượt biển - Vua James. Điều này lý giải được phần nào thái độ thúc giục đột ngột của mọi người muốn thấy Jamie và tôi nhanh chóng ổn định vững vàng ở Paris, hơn nữa điều này dường như là một sự trùng hợp có thể chấp nhận được.

Nếu Jared cũng là một Jacobite, vậy thì quan hệ thư từ qua lại với Đức cha Tu viện trưởng Alexander rất có thể còn hơn cả tình cờ; có thể lá thư của Jamie thông báo việc chúng tôi tới đây đã đến cùng với một lá thư của Alexander, giải thích nhiệm vụ từ Đức vua James. Và nếu sự hiện diện của chúng tôi ở Paris vừa khít với những kế hoạch của Jared, vậy thì không còn gì tốt hơn. Cùng với một thoáng cảm khái ngưỡng mộ đối với mạng lưới phức tạp của Jacobite, tôi nâng ly của mình lên uống vì cuộc vượt biển của Bệ hạ và sự cộng tác mới của chúng tôi với Jared.

Sau đó, Jared và Jamie quay ra bàn bạc về công việc rồi nhanh chóng chụm đầu, cúi người trên những giấy tờ dây đầy mực, rõ ràng là các bảng kê khai hàng hóa trên thuyền và vận đơn. Căn ca bin nhỏ xíu nồng nặc khói thuốc lá, mùi rượu mạnh và mùi thủy thủ không tắm rửa, tôi lại bắt đầu cảm thấy hơi buồn nôn. Thấy mình nhất thời không cần thiết có mặt ở đây nên tôi lặng lẽ đứng dậy và tìm đường đi lên boong thuyền.

Tôi thận trọng tránh những cuộc cãi lộn vẫn đang diễn ra xung quanh chỗ cửa hầm chứa hàng phía đuôi thuyền, tìm đường đi qua những cuộn dây thừng, các đồ vật mà tôi cho là những cái cọc để cắm thuyền và những đống vải buồm lộn xộn, để đến một chỗ yên tĩnh ở mũi thuyền. Từ đây, tôi có được một tầm nhìn xuyên suốt bao quát cả cảng biển.

Tôi ngồi trên một cái rương tựa vào lan can, tận hưởng làn gió biển mặn mòi hiu hiu thổi tới và mùi hắc ín, mùi cá trên các con thuyền và bến cảng. Trời vẫn còn lạnh, nhưng với chiếc áo choàng không tay quấn chặt quanh người, tôi đã thấy đủ ấm rồi. Con thuyền chầm chậm lắc lư dâng lên theo dòng thủy triều đang lên; tôi có thể thấy những dải tảo gần cầu tàu đang bập bềnh dềnh lên và xoáy lộn, làm tối đi những vệt đen bóng của những con trai xen giữa chúng.

Những con trai gợi cho tôi nhớ đến món trai hấp bơ mà tôi đã ăn vào tối hôm trước, và tôi đột nhiên cảm thấy đói ngấu. Sự tương phản vô lý khi mang thai khiến tôi luôn thấy nghi ngờ hệ tiêu hóa của mình; nếu tôi không phải đang nôn mửa thì là đang đói cồn cào. Ý nghĩ về đồ ăn dẫn dắt tôi liên tưởng tới các thực đơn, rồi lại dẫn dắt tôi trầm ngâm suy tính về thú tiêu khiển mà Jared đề cập. Những bữa tiệc tối ư? Có vẻ như là một phương thức lạ lùng để bắt đầu công việc giải cứu Scotland, nhưng tôi thực sự không nghĩ ra được điều gì tốt hơn.

Ít nhất nếu tôi mời được Charles Stuart tham dự một bữa tối do mình chủ trì, tôi có thể để mắt trông chừng ông ta. Nghĩ đến đây, tôi tủm tỉm cười một mình trước sự hài hước này. Nếu ông ta bày tỏ những dấu hiệu về việc đáp thuyền đi Scotland, tôi có thể thả thứ gì đó vào món xúp của ông ta.

Dù sao có lẽ điều đó không quá buồn cười. Ý nghĩ này nhắc tôi nhớ đến Geillis Duncan, và nụ cười của tôi nhạt dần. Vợ của viên biện lý tại Cranesmuir, cô ta đã giết chồng mình bằng cách cho bột xyanua vào đồ ăn của ông ta tại một buổi yến tiệc. Ngay sau đó, cô ta nhanh chóng bị kết tội là phù thủy, bị bắt trong khi tôi đang ở cùng với cô ta, và chính tôi cũng đã bị liên lụy; Jamie đã giải cứu tôi. Những ký ức về mấy ngày bị giam trong cái hố giam trộm tối tăm, lạnh lẽo ở Cranesmuir vẫn còn y như mới khiến cơn gió thổi đến bỗng trở nên lạnh buốt.

Tôi rùng mình nhưng không hoàn toàn vì cảm giác lạnh buốt đó. Tôi không thể nghĩ tới Geillis Duncan mà không cảm thấy lạnh sống lưng. Không hẳn vì những gì cô ta đã làm mà vì việc cô ta là ai. Cũng là một Jacobite; một trong những kẻ ủng hộ nhà Stuart còn hơn cả điên cuồng. Tồi tệ hơn thế, cô ta giống tôi - một kẻ du hành xuyên thời gian qua những tảng đá dựng đứng.

Tôi không biết cô ta đi đến quá khứ một cách tình cờ giống như tôi hay chuyến du hành của cô ta là có chủ đích. Tôi cũng không biết chính xác cô ta từ đâu đến. Nhưng hình ảnh cuối cùng của cô ta, đang gào thét kháng cự trước các quan tòa kết tội cô ta phải chịu hỏa thiêu, là một người phụ nữ đẹp, cao lớn, hai cánh tay dang rộng, phô ra vết sẹo tiêm chủng hình tròn trên một cánh tay. Tôi vô thức lần tìm bên dưới những nếp gấp của chiếc áo choàng vết sẹo nhỏ trên làn da đã trở nên thô ráp nơi cánh tay và rùng mình khi tìm thấy nó.

Những ký ức không vui này bị cắt ngang bởi một trận ồn ào ngày càng lớn ở bến cảng. Một nhóm lớn những người đàn ông đã tụ tập lại bên một cầu tàu, có tiếng la ó và xô đẩy. Không phải là một trận đánh nhau; tôi ngó sang nhìn cuộc cãi vã đó, đưa tay lên che mắt cho khỏi chói, nhưng nhanh chóng nhận thấy là họ không hề sử dụng vũ lực. Thay vào đó, một nỗ lực dường như đã ngầm mở ra một lối đi xuyên qua đám đông hỗn độn đó để tới cánh cửa của một nhà kho lớn ở mạn cuối bến cảng. Đám đông đang bướng bỉnh kháng cự lại tất cả những nỗ lực như thế, lùi xuống như thủy triều sau mỗi lần xô lên.

Jamie đột ngột xuất hiện đằng sau tôi, theo sát là Jared, ông ta nheo mắt nhìn cảnh tượng đám đông bên dưới. Bị tiếng la ó át đi, tôi không nghe rõ họ nói gì.

“Chuyện gì thế?” Tôi đứng lên và tựa vào Jamie ở phía sau, gắng hết sức chống lại sự đu đưa ngày càng tăng của con thuyền dưới chân. Tôi ý thức được sự gần gũi đến từ mùi hương của anh; anh đã tắm lúc ở quán trọ nên có mùi sạch sẽ và ấm áp, cùng với mùi thoang thoảng của mặt trời và bụi đường. Khứu giác trở nên sắc bén là một hiệu ứng khác của việc mang thai, rõ ràng là vậy; tôi có thể ngửi thấy anh giữa vô số mùi khó chịu và mùi cảng biển, cũng như bạn có thể nghe thấy một giọng nói trầm khẽ ngay sát bên mình giữa một đám đông ồn ào ầm ĩ.

“Anh không biết. Có vài rắc rối nào đó xảy ra với con thuyền kia, hình như thế.” Anh đưa tay đỡ lấy khuỷu tay tôi để giúp tôi đứng vững. Jared quay ra và khàn khàn xổ một mệnh lệnh bằng tiếng Pháp với một viên thủy thủ ở gần đó. Người đàn ông này lập tức nhảy qua lan can và đu xuống cầu tàu bằng một sợi dây thừng, bím tóc tết đen như hắc ín lủng lẳng trên mặt nước. Chúng tôi quan sát từ trên boong thuyền, thấy anh ta gia nhập đám đông, gợi chuyện với một thủy thủ khác trong đám người và nhận được một câu trả lời, hoàn tất bằng những cử chỉ khoa tay múa chân ấn tượng.

Jared đang cau mày, cùng lúc đó người đàn ông tóc đuôi sam chen ngược lên ván cầu đông nghịt người. Viên thủy thủ nói điều gì đó với ông ta cũng bằng một thứ tiếng Pháp khàn khàn như thế, quá nhanh nên tôi không thể nghe kịp. Sau vài từ trao đổi thêm, Jared quay ngoắt lại, đi tới đứng cạnh tôi, hai bàn tay nắm lấy thành lan can.

“Cậu ta nói có người ốm ở trên chiếc Patagonia.”

“Ốm thế nào cơ?” Tôi không nghĩ đến việc mang hộp thuốc theo người, cho nên tôi chẳng làm được gì trong trường hợp này, nhưng tôi vẫn tò mò. Jared trông có vẻ lo lắng và không vui.

“Họ sợ nó có thể là bệnh đậu mùa, nhưng họ không biết rõ. Thanh tra và ông trưởng cảng đã được gọi đến.”

“Ông có muốn tôi qua xem không?” Tôi đề nghị. “Ít nhất tôi có thể nói cho ông biết liệu nó có phải là bệnh truyền nhiễm hay không.”

Hai hàng lông mày của Jared nhướng cao lên, biến mất dưới mái tóc bằng đen nhánh rủ xuống. Jamie trông hơi lúng túng.

“Vợ cháu có thể chữa được bệnh, bác ạ,” anh giải thích, nhưng sau đó lại quay sang lắc đầu với tôi.

“Không, Sassenach ạ! Không an toàn.”

Tôi có thể dễ dàng trông rõ ván cầu của chiếc Patagonia; lúc này đám đông tụ tập đột nhiên lùi lại, xô đẩy, giẫm cả lên chân nhau. Hai thủy thủ bước xuống từ boong thuyền, một tấm vải bạt dài lủng lẳng giữa họ như một cái cáng. Tấm vải buồm trắng võng xuống nặng nề dưới trọng lượng của người đàn ông họ khiêng, một cánh tay trần rám nắng thõng xuống từ cái võng tạm.

Những người thủy thủ đeo một mảnh vải buộc quanh mũi và miệng, ngoảnh mặt khỏi cái võng, đầu nghiêng nghiêng né đi mỗi khi cằn nhằn nói với nhau. Hai người khiêng võng khéo léo di chuyển gánh nặng của họ qua những tấm ván rời rạc bắc làm cầu, đi qua dưới những cái mũi khó chịu của đám đông và biến mất vào một nhà kho gần đấy.

Tôi nhanh chóng đưa ra một quyết định, quay sang hướng về phía tấm ván cầu của chiếc Arianna.

“Đừng lo,” tôi nói với lại qua vai, “nếu đó là bệnh đậu mùa, em sẽ không bị nhiễm đâu.” Một trong số các thủy thủ nghe thấy tôi nói, liền dừng khựng lại và há hốc miệng, nhưng tôi chỉ mỉm cười với anh ta và đi lướt qua.

Đám đông giờ đã yên tĩnh, không còn chen lấn xô đẩy nữa, nên không quá khó để mở đường đi qua giữa những đám thủy thủ đang xì xào bàn tán, nhiều người cau có hoặc có vẻ giật mình khi tôi cúi người đi ngang qua họ. Cái nhà kho đã bị bỏ hoang; không có các kiện hàng hay những thùng tô nô chất đầy trong bóng tối âm u của gian phòng rộng lớn, nhưng mùi mùn cưa, mùi thịt hun khói và mùi cá vẫn còn phảng phất ở đó, có thể dễ dàng phân biệt với các mùi khác.

Người đàn ông mắc bệnh bị vứt xuống vội vàng ở gần cửa, trên một đống rơm bỏ đi dùng để nhồi hàng. Những người theo phục vụ anh ta dạt sang bên, hăm hở tránh ra xa khi tôi bước vào.

Tôi thận trọng tiến đến gần anh ta, còn cách vài bước chân thì dừng lại. Anh ta đỏ bừng vì sốt, sắc da mang một màu đỏ sậm đáng ngờ, những nốt mụn trắng đã đóng vảy dày. Anh ta rên rỉ và đầu vật vã liên tục hết bên này tới bên kia, miệng lảm nhảm hình như đòi nước.

“Lấy cho tôi ít nước,” tôi nói với một thủy thủ đang đứng gần đó. Người đàn ông này lùn tịt, cơ bắp, với bộ râu thủy thủ chia thành hai chỏm nhọn, chỉ nhìn chằm chằm như thể gã bỗng nhiên nhận ra mình bị một con cá điểm danh.

Nóng nảy quay lưng về phía gã, tôi quỳ xuống bên cạnh người bệnh và cởi chiếc áo sơ mi bẩn thỉu của anh ta ra. Anh ta bốc mùi hôi thối ghê tởm; có lẽ bình thường anh ta cũng không quá sạch sẽ, lại còn bị bỏ mặc nằm trong đống rác bẩn của mình, những gã bạn sợ chạm vào anh ta. Hai cánh tay anh ta tương đối nhẵn nhụi, những nốt mủ tập trung dày đặc trên ngực và bụng anh ta, da anh ta nóng như thiêu khi chạm vào.

Jamie đã bước vào nhà kho trong khi tôi kiểm tra người bệnh, Jared đi theo sau. Cùng với họ là một người đàn ông nhỏ con, dáng người như quả lê, mặc một chiếc áo khoác công vụ dập họa tiết vàng và hai người đàn ông khác, một người quý tộc hoặc thuộc giai cấp tư sản giàu có, căn cứ vào trang phục của ông ta; người kia cao lớn, vóc dáng gầy gò, nhìn vào nước da thì rõ ràng ông ta là một người đi biển, có lẽ là viên thuyền trưởng của con thuyền có bệnh dịch, nếu đây đúng là bệnh đậu mùa.

Và có vẻ đúng thế thật. Tôi đã trông thấy bệnh đậu mùa nhiều lần trước đây, ở những vùng chưa được khai hóa văn minh trên thế giới do ông bác Lamb, một nhà khảo cổ học xuất chúng, đã đưa tôi đi cùng trong suốt những năm tháng thơ bé của tôi. Người đàn ông này không đi tiểu ra máu như đôi khi có trường hợp bệnh chạy vào thận, nhưng dù sao anh ta cũng có mọi triệu chứng điển hình của bệnh đậu mùa.

“Tôi e rằng đây là bệnh đậu mùa,” tôi nói.

Viên thuyền trưởng của con thuyền Patagonia đột nhiên rú lên một tiếng đau đớn, bước về phía tôi, khuôn mặt nhăn nhó, giơ một bàn tay lên như thể định đánh tôi.

“Không!” Ông ta quát lên. “Đồ đàn bà ngu ngốc! Salope! Femme sans cervelle![4] Cô muốn hủy hoại ta à?”

Lời cuối cùng bị tắc nghẹn thành tiếng ằng ặc khi bàn tay Jamie tóm siết lấy cổ họng ông ta, tay kia vặn xoắn ngực áo, nâng ông ta lên đến khi chỉ còn đầu mũi chân chạm đất.

“Tôi nên nhắc nhở ông cư xử tôn trọng với vợ tôi, thưa ông,” Jamie nói, giọng khá là hòa ái. Viên thuyền trưởng, đỏ mặt tía tai, cố gắng gật đầu một cái, và Jamie thả ông ta xuống. Ông ta lùi lại một bước, thở khò khè, tay xoa xoa cổ họng, khép nép lánh vào sau người đi cùng ông ta như thể tìm một chỗ ẩn náu.

Viên thanh tra công vụ béo phệ, lùn tịt đang thận trọng cúi xuống quan sát người bệnh, tay cầm một quả cầu sáp lớn bằng bạc có dây xích đưa lên sát mũi. Bên ngoài, tiếng ồn ào bỗng đột ngột lắng xuống khi đám đông lùi ra sau, cách xa cánh cửa nhà kho để cho một cái võng bạt khác đi vào.

Người đàn ông trước mặt chúng tôi ngồi bật dậy, làm viên thanh tra giật nẩy mình, gần như ngã ngửa. Anh ta nhìn chòng chọc quanh nhà kho một cách điên dại, rồi trợn ngược mắt và ngã phịch trở lại đống rơm như thể vừa bị đánh bằng một cái búa tạ. Dù không phải thế nhưng kết quả cuối cùng cũng giống nhau.

“Anh ta chết rồi,” tôi nói một cách không cần thiết.

Viên thanh tra công vụ, lấy lại dáng vẻ đường hoàng, đưa quả cầu sáp hương lên gần mũi rồi bước tới lần nữa, quan sát kĩ càng xác nạn nhân, sau đó đứng thẳng dậy và tuyên bố: “Bệnh đậu mùa. Phu nhân đây đã đúng. Tôi rất lấy làm tiếc, thưa ông Bá tước, nhưng ông biết rõ luật lệ như bất cứ ai.”

Người đàn ông mà ông thanh tra nhắc đến thở dài nôn nóng. Ông ta trừng mắt nhìn tôi, rồi gật mạnh đầu với viên thanh tra.

“Tôi chắc chắn chuyện này có thể dàn xếp được, thưa ông Pamplemousse. Làm ơn cho tôi được trao đổi riêng vài câu…” Ông ta ra hiệu về phía căn lều tạm bị bỏ không của người đốc công cách đó một khoảng xa, một khối kiến trúc nhỏ bé vô chủ bên trong khu nhà kho lớn. Nhà quý tộc, căn cứ theo cách thức ăn mặc cũng như tước vị của ông ta, là kiểu người lịch lãm, dong dỏng cao, với hai hàng lông mày rậm rạp và cặp môi mỏng. Toàn bộ phong thái của ông ta cho thấy ông ta đã quen xử lý sự việc theo cách thức của mình.

Nhưng viên thanh tra đã lùi ra xa, giơ hai tay về phía trước như để tự vệ.

“Non[5], ông Bá tước,” ông ta nói, “Je le regrette, mais c’est impossible[6]… Điều đó không thể được đâu. Quá nhiều người biết chuyện rồi. Tin tức hẳn đã lan truyền khắp bến cảng.” Ông ta liếc ánh mắt vô vọng về phía Jamie và Jared, rồi vẫy tay về phía cửa nhà kho, nơi những cái đầu lố nhố của đám khán giả hắt bóng vào, mặt trời chiều muộn bao bọc bọn họ bằng những quầng sáng vàng rực.

“Không,” ông ta nhắc lại, dáng người mập lùn trở nên cứng rắn, cương quyết. “Xin thứ lỗi cho tôi, thưa các ông - và bà nữa,” ông ta muộn màng bổ sung thêm, như thể lần đầu tiên nhận thấy sự có mặt của tôi. “Tôi phải đi để bắt đầu các quy trình tiêu hủy con thuyền kia.”

Gã thuyền trưởng phát ra một âm thanh tức tối, chán nản và tóm chặt ống tay áo của viên thanh tra, nhưng viên thanh tra giật tay ra, vội vã rời khỏi nhà kho.

Bầu không khí sau khi ông ta rời đi có hơi căng thẳng, cả Bá tước và viên thuyền trưởng đều trừng mắt với tôi, Jamie gầm gừ với họ vẻ đe dọa, và người đàn ông đã chết vẫn nhìn chăm chăm vô hồn lên cái trần kho cao tới hơn mười hai mét.

Ông Bá tước bước một bước về phía tôi, ánh mắt lóe lên. “Bà có ý thức được mình đã làm gì không hả?” Ông ta gầm lên. “Coi chừng đó, thưa bà; bà sẽ phải trả giá cho việc làm ngày hôm nay!”

Jamie đột ngột di chuyển về phía Bá tước, nhưng Jared còn nhanh hơn, tóm lấy cổ tay Jamie, khẽ đẩy tôi về phía cửa ra vào và lẩm bẩm điều gì đó khó hiểu với viên thuyền trưởng, người này chỉ lắc đầu đáp lại.

“Chó chết,” Jared nói khi ra ngoài, lắc lắc đầu. “Gớm!” Ngoài bến cảng, trời lúc này đã rét buốt, một cơn gió lạnh xám xịt làm lắc lư những con thuyền đang thả neo, nhưng Jared lại lau mặt và cổ bằng một chiếc khăn tay lớn bằng vải buồm đỏ chóe đến phi lý, rút từ trong túi áo khoác ra. “Đi nào, chúng ta đi tìm một quán rượu. Ta cần uống một ly.”

An toàn ngồi gọn lỏn trên chiếc ghế bành trong căn phòng ở tầng trên của một trong những quán rượu cạnh bến cảng, với một bình rượu vang trên bàn, Jared tự quạt cho mình và thở phì phò.

“Chúa ơi, may thế!” Ông ta rót đầy rượu vang vào cốc của mình, nốc cạn nó và lại rót một cốc khác. Thấy tôi nhìn chằm chằm, ông ta ngoác miệng cười và đẩy bình rượu về phía tôi.

“À, rượu vang đó, cô gái,” ông ta giải thích, “đó là thứ cô uống để quét sạch bụi bặm. Nốc nó thật nhanh, trước khi cô có thời gian nếm nó, và nó mang lại hiệu quả tốt lắm.” Làm theo đúng lời khuyên của mình, ông ta uống cạn cốc rượu và lại với đến cái bình lần nữa. Tôi bắt đầu mường tượng được chính xác điều gì đã xảy ra với Jamie ngày hôm trước.

“Hên hay xui?” Tôi tò mò hỏi Jared. Tôi đã cho rằng câu trả lời là “xui”, nhưng dường như không khí vui vẻ hồ hởi trên người vị thương gia bé nhỏ này quá dễ nhận thấy để có thể quy công cho món rượu vang đỏ, thứ chẳng khác gì acid mạnh. Tôi đặt cốc của mình xuống, hy vọng men răng của mình còn nguyên vẹn.

“Xui cho St. Germain, may mắn cho tôi,” ông ta nói một cách súc tích, ngắn gọn, nhổm dậy khỏi ghế và ngó ra ngoài cửa sổ.

“Tốt lắm,” ông ta nói, ngồi trở lại với vẻ thỏa thuê. “Bọn chúng sẽ đưa rượu vang xuống và cho vào kho hàng lúc mặt trời lặn. An toàn và kín tiếng.”

Jamie ngả người trên ghế nhướng mày dò xét người họ hàng của mình, nụ cười treo trên môi.

“Có phải thuyền của Bá tước St. Germain cũng chở rượu mạnh không, thưa bác?”

Một nụ cười rộng ngoác tới tận mang tai đáp lại câu hỏi này, phô ra hai cái răng vàng ở hàm dưới, chúng làm cho Jared trông càng giống cướp biển hơn.

“Một chuyến hàng tốt nhất từ Pinhão,” ông ta vui vẻ nói. “Tiêu tốn của hắn cả một gia tài đấy. Một nửa rượu vang từ các vườn nho xứ Noval và trong một năm sẽ chẳng còn hàng.”

“Và tôi đồ là nửa còn lại đang được bốc dỡ đưa vào kho hàng của ông?” Tôi bắt đầu hiểu nỗi niềm vui sướng của ông ta.

“Đúng thế, cô gái ạ, trúng phóc!” Jared cười như nắc nẻ, hầu như chìm đắm trong ý nghĩ đó. “Cô có biết điều gì sẽ đến khi thứ đó được bán ra ở Paris không?” Ông ta hỏi, rồi ngả người về đằng trước, dằn mạnh cốc rượu lên bàn. “Cung cấp có giới hạn và tôi được độc quyền kiểm soát! Chúa ơi, lợi nhuận cả năm của tôi!”

Tôi đứng dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ. Con thuyền Arianna nổi bập bềnh ở chỗ neo đậu, rõ ràng đã cao hơn mặt nước, khi những lưới hàng khổng lồ đung đưa hạ xuống từ cần cẩu đặt trên boong sau, được cẩn thận dỡ xuống, chai nọ san sát chai kia, và được đặt vào những chiếc xe kéo tay để chớ tới nhà kho.

“Tôi không muốn làm ông cụt hứng,” tôi nói, có hơi rụt rè, “nhưng có phải ông nói rằng lô hàng của ông và lô hàng của St. Germain đến từ cùng một nơi?”

“Phải, đúng thế!” Jared đi tới đứng cạnh tôi, nheo mắt nhìn quá trình bốc dỡ bên dưới. “Noval làm ra thứ hàng thượng hạng trên toàn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; tôi vốn muốn lấy tất cả số rượu nhưng không đủ vốn. Sao thế?”

“Chỉ là nếu những con thuyền cùng đến từ một bến cảng, vậy thì có khả năng một số thủy thủ của ông cũng mắc bệnh đậu mùa,” tôi nói.

Ý nghĩ này làm hai gò má ửng hồng vì rượu của Jared tái nhợt đi, ông ta với tay lấy cốc rượu để uống một ngụm lớn hòng lấy lại tinh thần.

“Chúa ơi, cái ý nghĩ gì thế!” Ông ta thốt lên, hổn hển thở khi đặt cốc xuống. “Nhưng tôi nghĩ sẽ ổn thôi,” ông ta nói, tự trấn an. “Hàng đã bốc dỡ được một nửa rồi. Nhưng dù sao tốt hơn hết là tôi nên nói chuyện với thuyền trưởng,” ông ta cau mày, nói thêm. “Tôi sẽ bảo ông ta trả lương cho đám thủy thủ ngay khi dỡ hàng xong - và nếu có ai trông có vẻ bị ốm, họ có thể cầm tiền công và rời đi ngay lập tức.” Ông ta quay người lại một cách quả quyết và lao bắn ra khỏi phòng, dừng lại ở cửa vừa đủ lâu để ngoái đầu lại nói: “Cứ gọi bữa tối đi nhé!” Sau đó, ông ta biến mất xuống lầu với tiếng ồn ào huyên náo như của một bầy voi nhỏ.

Tôi quay sang Jamie, anh đang sửng sốt nhìn chằm chằm vào cốc rượu vang chưa uống của mình.

“Ông ta không nên làm thế!” Tôi thảng thốt kêu lên. “Nếu ông ta có thủy thủ bị bệnh đậu mùa trên thuyền thật thì rất có thể sẽ khiến căn bệnh lây lan ra cả thành phố bằng việc để các thủy thủ lên bờ.”

Jamie chậm chạp gật đầu.

“Vì vậy anh cho rằng chúng ta sẽ phải hy vọng trên thuyền ông ấy không có thứ đó,” anh bình thản nêu ý kiến.

Tôi quay ra phía cửa trong dáng vẻ không chắc chắn. “Nhưng… không phải chúng ta nên làm gì đó sao? Ít nhất em có thể đi kiểm tra các thủy thủ của ông ta. Và nói với họ phải làm gì với thi thể của những người trên con thuyền kia…”

“Sassenach.” Giọng nói trầm ấm vẫn ôn hòa nhẹ nhàng, nhưng mang theo một dấu hiệu cảnh cáo không thể nhầm lẫn.

“Gì?” Tôi quay lại, thấy anh đã nghiêng người tới trước, nhìn tôi qua thành miệng cốc. Anh suy tư nhìn tôi một phút trước khi nói:

“Em có nghĩ những gì chúng ta quyết tâm làm là quan trọng không, Sassenach?”

Bàn tay tôi rời khỏi tay cầm của cánh cửa.

“Ngăn người nhà Stuart khơi lên cuộc nổi dậy ở Scotland ư? Có, dĩ nhiên rồi. Tại sao anh hỏi vậy?”

Anh gật đầu, kiên nhẫn như một người thầy với đứa học trò chậm hiểu.

“Vậy thì đúng rồi. Nếu em thấy nó quan trọng, thế thì em hãy đến đây, ngồi xuống và uống rượu vang của mình cho tới khi Jared quay lại. Và nếu em không...” Anh ngừng ngang và thổi ra một hơi dài làm lay động phần tóc mái trước trán.

“Nếu em không uống, vậy thì em sẽ xuống dưới lầu, tới chỗ cầu tàu đầy nhóc đám thủy thủ và thương nhân, những người nghĩ rằng phụ nữ ở gần tàu thuyền là rất xui xẻo, họ đang truyền đi lời đồn nhảm rằng em đã nguyền rủa con thuyền của St. Germain, vậy mà em còn định nói với họ những gì họ phải làm ư? Nếu may mắn, họ sẽ quá sợ hãi mà không cưỡng hiếp em trước khi cắt cổ và ném em ở bến cảng, sau đó là đến lượt anh. Nếu chính St. Germain không siết cổ em trước. Em không nhìn thấy vẻ mặt của hắn ta à?”

Tôi quay trở lại bàn và ngồi xuống, có hơi đột ngột. Hai đầu gối run run.

“Em đã trông thấy nó,” tôi nói. “Nhưng ông ta có thể nào… ông ta sẽ không…”

Jamie nhướng mày và đẩy một cốc rượu vang tới chỗ tôi.

“Hắn ta có thể, và hắn ta sẽ làm thế nếu hắn ta nghĩ điều đó có thể thực hiện một cách kín đáo. Vì Chúa, Sassenach, em đã làm người đàn ông đó thiệt hại một năm thu nhập! Và hắn ta không phải là loại người bình thản cam chịu một tổn thất như thế. Không phải chính em đã bảo với viên thanh tra cảng rằng đó là bệnh đậu mùa sao? Lại còn dõng dạc lớn tiếng nói ra trước mặt các nhân chứng, trong khi mấy món hối lộ kín đáo vốn dĩ sẽ giải quyết được vấn đề này. Em nghĩ tại sao Jared lại phải nhanh chóng mang chúng ta lên đây như thế? Vì rượu ở đây ngon hay sao?”

Đôi môi tôi cứng đờ, như thể vừa uống phải acid sulfuric vậy.

“Ý anh là… chúng ta đang gặp nguy hiểm à?”

Anh ngả người ra sau, gật đầu.

“Giờ em đã hiểu rồi chứ?” Anh chân thành nói. “Anh cho là Jared không muốn làm em hoảng sợ. Anh nghĩ ông ấy đã đi dàn xếp cho chúng ta một người hộ vệ, đại loại thế, đồng thời xem xét đoàn thủy thủ của mình. Ông ấy có thể đủ an toàn - mọi người đều biết ông ấy và đoàn thủy thủ của ông ấy cùng những người bốc dỡ đang ở ngay ngoài kia.”

Tôi xoa xoa hai cánh tay đang nổi hết da gà. Trong lò sưởi là một ngọn lửa cháy đượm, căn phòng ấm áp và đầy mùi khói, nhưng tôi vẫn thấy lạnh.

“Sao anh biết được Bá tước St. Germain có thể làm quá mức như thế?” Tôi không hề nghi ngờ Jamie. Tôi nhớ như in ánh nhìn trừng trừng tăm tối đầy ác ý mà Bá tước phóng vào tôi lúc ở nhà kho, nhưng tôi cũng thắc mắc làm thế nào anh biết về người đàn ông đó.

Jamie nhấp một ngụm nhỏ rượu vang, nhăn mặt và để cốc xuống.

“Vì một điều, hắn ta có tiếng là tàn nhẫn, độc ác - và cả những chuyện khác nữa. Anh đã nghe nói đôi chút về hắn ta khi sống ở Paris trước đây, mặc dù anh may mắn chưa bao giờ va chạm với người đàn ông đó. Mặt khác, ngày hôm qua Jared cũng đã cảnh báo anh về hắn ta; hắn chính là ông chủ doanh nghiệp đối thủ của Jared ở Paris.”

Tôi tỳ hai khuỷu tay lên chiếc bàn mòn vẹt, hai nắm tay chống dưới cằm.

“Em đã gây ra một mở rắc rối rồi phải không?” Tôi ảo não nói. “Làm anh trượt chân ngay bước khởi đầu tốt đẹp trong công việc.”

Anh cười, rồi đứng lên đi đến sau tôi, cúi người, vòng hai tay ôm lấy tôi. Tôi vẫn còn mất bình tĩnh vì những tiết lộ bất ngờ của anh, nhưng thấy khá hơn nhiều khi cảm nhận được sức mạnh và thân thể cao lớn của anh ở phía sau mình. Anh hôn nhẹ lên đỉnh đầu tôi.

•••

Gần một tiếng sau, Jared mới quay lại, hai tai đỏ ửng vì lạnh, nhưng cổ họng còn nguyên không bị cắt thủng, và nhìn bề ngoài không có gì tệ hơn. Tôi mừng vì được thấy ông ta.

“Ổn cả rồi,” ông ta tuyên bố, vẻ mặt rạng ngời. “Không có gì khác ngoài bệnh scorbut[7], kiết lỵ thông thường và cảm lạnh ở trên thuyền. Không có đậu mùa.” Ông ta nhìn quanh căn phòng, xoa hai bàn tay vào nhau. “Bữa tối đâu rồi?”

Hai má ông ta bị gió thổi đỏ ửng, trông ông ta phấn khởi và đầy năng lực. Có vẻ việc giải quyết các đối thủ kinh doanh chuyên dàn xếp những bất đồng bằng cách ám sát là tất cả công việc trong một ngày làm việc của vị thương gia này. Và sao lại không chứ? Tôi mỉa mai nghĩ. Xét cho cùng thì ông ta là một người Scot khát máu mà.

Như để khẳng định cho quan điểm này, Jared gọi phục vụ bữa tối, kiếm về loại rượu vang tuyệt hảo đi kèm với bữa ăn bằng cách đơn giản là sai người đến nhà kho của chính ông ta để mang nó về, rồi ngồi xuống và bắt đầu cuộc thảo luận thân ái, ấm áp với Jamie ngay trên bàn ăn về các phương thức và phương tiện làm việc với giới thương nhân Pháp.

“Quân ăn cướp,” ông ta nói. “Những gã đó sẽ đâm dao vào lưng cháu ngay khi trông thấy cháu. Năm mươi tên trộm. Không có tin cha con thằng nào sất. Đặt cọc một nửa, giao hàng một nửa, và đừng bao giờ bán chịu cho một gã quý tộc.”

Mặc dù Jared đảm bảo rằng ông ta đã cắt cử hai người đứng canh chừng bên dưới, nhưng tôi vẫn thấy lo lắng bất an, và sau bữa tối, tôi thân chinh án ngữ cạnh cửa sổ, từ chỗ đó có thể nhìn thấy rõ kẻ đến người đi dọc theo cầu tàu. Việc tôi tự canh chừng bên ngoài cũng không mang lại hiệu quả mấy, tôi nghĩ thầm; đối với tôi, mọi gã lảng vảng ở cầu cảng này trông đều giống kẻ sát nhân.

Mây đang kéo về trên bến cảng; đêm nay sẽ lại có tuyết rơi. Những cánh buồm đã được cuốn lại vẫn vỗ đập điên cuồng trong cơn gió nổi, cọ vào cột buồm, kêu kẽo kẹt, ồn ào đến mức gần như lấn át cả những tiếng hò hét của đám cửu vạn. Bến cảng sáng lóa lên trong chốc lát với ánh sáng xanh lục đục mờ khi mặt trời bị những đám mây ép tới đang lặn xuống mặt biển.

Khi trời mỗi lúc một tối hơn, âm thanh hối hả rộn ràng đi qua đi lại dần lắng xuống, những người bốc xếp hàng hóa cùng với những chiếc xe cút kít của họ biến mất ngược lên các con phố dẫn vào thị trấn, đám thủy thủ biến mất sau những cánh cửa sáng đèn của các quán rượu giống nơi tôi đang ngồi lúc này. Thế nhưng vẫn còn có chỗ không hề vắng vẻ; cụ thể là có một nhóm nhỏ vẫn tụ tập gần con thuyền Patagonia bất hạnh. Những người đàn ông mặc cùng một kiểu đồng phục tạo thành một hàng rào ở chân ván cầu; không nghi ngờ gì nữa, đó là để ngăn chặn bất cứ ai định lên thuyền đưa hàng hóa xuống. Jared đã giải thích rằng các thành viên khỏe mạnh của thủy thủ đoàn sẽ được phép lên bờ, nhưng không được mang bất cứ thứ gì xuống thuyền ngoại trừ quần áo họ mặc trên người.

“Còn tốt hơn những gì họ làm nếu ở Hà Lan,” ông ta nói, đưa tay gãi hàm râu đen lởm chởm đang bắt đầu lún phún mọc lên dọc theo quai hàm. “Nếu một con thuyền xuất phát từ một cảng biển có bệnh dịch thì những tên người Hà Lan trời đánh đó sẽ bắt các thủy thủ trần truồng bơi vào bờ.”

“Bọn họ mặc gì khi lên được bờ?” Tôi tò mò hỏi.

“Tôi không biết,” Jared lơ đãng nói, “nhưng vì bọn họ sẽ tìm ngay một nhà chứa sau khi bước chân lên đất liền nên tôi cho là bọn họ sẽ chẳng cần bất cứ - ôi xin thứ lỗi, cô gái thân yêu,” ông ta vội vàng bổ sung vì đột nhiên nhớ ra rằng mình đang nói chuyện với một quý bà.

Lấp liếm sự bối rối thoáng qua bằng sự vui vẻ nồng nhiệt, ông ta đứng lên, đi tới cạnh tôi và cùng ngó ra ngoài cửa sổ.

“A,” ông ta thót lên. “Bọn họ đang chuẩn bị thiêu con thuyền rồi. Căn cứ vào những gì “cô nàng” đang chở, bọn họ tốt nhất phải kéo nó ra xa bến cảng trước đã.”

Những sợi dây thừng để kéo đã được gắn vào chiếc Patagonia bất hạnh, và nhiều thuyền nhỏ đã vào vị trí với các tay chèo đang đứng sẵn sàng, chờ đợi hiệu lệnh. Công việc này được trao cho ông trưởng cảng, người có sợi dây tết bằng vàng trên trang phục có thể nhìn rõ khi ánh hoàng hôn rực lên trước lúc lịm tắt sau một ngày. Ông ta hò hét, chầm chậm vẫy cả hai tay qua lại trên đầu như tín hiệu semaphore[8].

Tiếng hét của ông ta vang vọng tới chỗ thuyền trưởng của những con thuyền chèo tay và các thuyền ga lê, rồi những sợi thừng kéo từ từ nâng lên khỏi mặt nước khi chúng căng ra, nước rào rào chảy xuống từ các đường xoắn của sợi gai dầu nặng nề, tiếng nước bắn tung tóe nghe thấy rõ trong sự yên tĩnh đột ngột của bến tàu. Những tiếng quát thét từ các con thuyền kéo là âm thanh duy nhất khi hình thù nặng nề tối om của con thuyền bị kết án kêu kẽo kẹt, rùng rùng chuyển mình trong gió, dây chằng cột buồm rên rỉ kêu khi cô nàng ra khơi trong chuyến hành trình ngắn ngủi cuối cùng của mình.

Họ để cô nàng ở giữa vịnh cảng, cách những con thuyền khác một khoảng an toàn. Trên boong của cô nàng bị tưới đẫm dầu, khi những sợi thừng kéo bị quăng đi và các thuyền ga lê đã rút lui, bóng dáng tròn vo lùn tịt của ông trưởng cảng đứng lên khỏi chỗ ngồi của chiếc xuồng chèo tay đã đưa ông ta ra khơi. Ông ta cúi xuống, đầu gần sát với một người cũng ngồi trên đó, rồi lại bất ngờ đứng lên cùng một ngọn lửa sáng rực trên cây đuốc trong tay.

Người chèo thuyền phía sau ông ta ngửa người ra xa khi ông ta vung cánh tay về phía sau để lấy đà ném ngọn đuốc. Đó là một cây gậy nặng quấn giẻ tẩm dầu, nó xoay tròn, ngọn lửa co lại thành một đốm lửa sáng màu xanh lam và đáp xuống chỗ khuất tầm nhìn phía sau lan can thuyền. Ông trưởng cảng không đợi để xem kết quả hành động của mình; ông ta ngồi xuống ngay lập tức, điên cuồng ra hiệu với người chèo thuyền, anh này ra sức vung hai mái chèo, con thuyền nhỏ phóng đi băng băng qua mặt nước đen ngòm.

Một lúc lâu chẳng có gì xảy ra, nhưng đám đông trên cầu cảng vẫn đứng im, lặng lẽ rì rầm nói chuyện. Tôi có thể thấy hình ảnh phản chiếu nhợt nhạt của gương mặt Jamie lơ lửng phía trên mặt tôi trong tấm kính cửa sổ tối đen. Tấm kính lạnh lẽo, nhanh chóng mờ hơi nước vì hơi thở của chúng tôi; tôi cọ sạch nó bằng vạt chiếc áo khoác tay ngắn của mình.

“Trông kìa,” Jamie khẽ nói. Ngọn lửa đột nhiên lan ra từ phía sau lan can thuyền thành một đường sáng nhỏ màu xanh lam. Sau đó, một ánh lửa bập bùng và các dây thừng chằng cột buồm phía trước bật ra, những đường thẳng màu đỏ cam nổi bật trên nền trời. Một sự bùng lên lặng lẽ, những lưỡi lửa nhảy múa dọc theo các thành lan can ướt đẫm dầu và một cánh buồm cuộn bén lửa bùng cháy.

Trong chưa đầy một phút, những sợi dây chằng cột buồm đã bắt lửa và cánh buồm chính bung xổ ra, dây chão của nó cháy hết, một tấm vải cháy rơi xuống. Đám cháy lan ra quá nhanh nên người ta không kịp xem hết quá trình của nó; mọi thứ dường như bốc cháy cùng một lúc.

“Giờ thì,” Jared đột nhiên nói. “Xuống lầu thôi. Khoang thuyền sẽ bắt lửa trong vòng một phút nữa, đó là thời điểm tốt nhất để chúng ta đi ra. Sẽ không ai để ý đến chúng ta.”

Ông ta nói đúng; khi chúng tôi thận trọng lẻn ra khỏi quán rượu, hai người đàn ông xuất hiện bên cạnh Jared - đó là các thủy thủ của ông ta, được trang bị súng lục và mũi tách tao để xoắn chập[9] - nhưng không có ai khác để ý đến sự xuất hiện của chúng tôi. Mọi người đều hướng về phía bến đậu nơi tầng trên của con thuyền Patagonia lúc này đã trông y như một bộ xương đen bên trong cơ thể bị ngọn lửa rì rầm thiêu cháy. Một loạt tiếng nổ lổp bốp liên tiếp vang lên như tiếng súng máy, rồi một vụ nổ dữ dội bùng lên từ trung tâm của con thuyền làm bắn tung tóe những tia lửa và gỗ cháy.

“Đi thôi!” Jamie nắm chắc cánh tay tôi, tôi không hề phản đối. Bám theo sau Jared, được các thủy thủ bảo vệ, chúng tôi lẻn ra khỏi bến cảng, lén lút như thể chúng tôi đã châm lửa đốt con thuyền.

[1] Tiếng Pháp, có nghĩa là “xin chào”.

[2] Tiếng Pháp: Rất đặc trưng Pháp, phải không?

[3] Loại thuyền sàn thấp, chạy bằng buồm và chèo, thường do nô lệ hoặc tù nhân chèo.

[4] Tiếng Pháp: Chó cái! Đồ phụ nữ không có đầu óc!

[5] Tiếng Pháp: Không.

[6] Tiếng Pháp: Tôi xin lỗi, nhưng điều đó là không thể.

[7] Bệnh về máu do thiếu vitamin C trong đồ ăn thường ngày, thời xưa các thủy thủ đi biển dài ngày thường mắc phải bệnh này.

[8] Hệ thống tín hiệu bằng cách đặt tay hoặc hai lá cờ theo một vị trí nào đó để biểu thị những con chữ của vần chữ cái.

[9] Một dụng cụ được thủy thủ sử dụng trên các tàu thuyền có hình dáng giống một cái dùi hay cái đinh lớn, có thể dùng làm vũ khí.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.